NIẾT-BÀN THEO QUAN ĐIỂM BỒ TÁT LONG THỌ

 

ĐẠI-LĂN

 

 

     Từ khi đức Phật tuyên bố: “Sarvam Sùnyam” (Mọi vật đều không), từ sự gợi ư của ba pháp ấn: “Vô thường-Khổ-Vô ngă” và sau đó các pháp được quan niệm như là “Mọi vật đều vô thường, mọi vật đều vô ngă,” th́ vấn đề Niết-bàn (Nirvàịa), sau khi đức Thế tôn diệt độ đă được các bộ phái nêu ra đặt vấn đề trở lại theo quan niện hiểu biết của họ về Niết-bàn, và cũng từ đó mọi tranh luận về nó cũng như các phần giáo lư khác trở nên gay gắt. Niết-bàn, vấn đề hiện hữu hay không hiện hữu, có (bhàva) hay không (abhàva), một đề tài làm nảy sanh ra mọi sự tranh luận, càng ngày càng gay gắt giữa Hữu bộ hay c̣n gọi là Nhứt thiết hữu bộ (Sarvàsti-vàdin) và Kinh bộ c̣n gọi là Kinh lượng bộ (Sùtra-vàdin), giữa các nhà Tiểu thừa và Đại thừa Không tông (Sùnyatà-vadin), và vấn đề này không c̣n dừng lại nơi đây mà c̣n tiến xa hơn nữa, trong việc ḥa giải giữa hai quan điểm nói trên bằng cách gọp chúng lại rồi chấp nhận cả hai để có một cái Niết-bàn hiện hữu theo sự ḥa giải của họ, hay phủ nhận cả hai là chẳng phải có, chẳng phải không; đó là bốn thứ quan điểm của các bộ phái, nhưng theo ngài Nàgàrjuna (Long Thọ) th́ đức Phật chưa từng nói ra một thứ Niết-bàn nào như vậy, ngay cả khi Ngài c̣n tại thế, hay sau khi Ngài vào Niết-bàn, Ngài nói:

 

     Khi Như lai hiện hữu,

     Chẳng nói có cùng không;

     Cũng chẳng nói có-không,

     Hay chẳng có, chẳng không.

     Và:

     Sau khi Như Lai diệt,

     Chẳng nói có cùng không;

     Cũng chẳng nói có-không,

     Hay chẳng có, chẳng không.

 

     Đối với Bồ tát Long Thọ, th́ những quan niệm như vậy của các bộ phái đối với Niết-bàn là hoàn toàn không chính xác, và không hiểu được ư nghĩa “Sarvam Sùnyam” cho nên có những quan niệm sai lầm như vậy về ư nghĩa Niết-bàn. Từ sự hiểu lầm này nên đă đi lệch con đường Trung đạo của Ngài, và có những kiến thủ lệch lạc về các pháp nói chung và Niết-bàn nói riêng. V́ con đường Trung đạo của đức Phật không rơi vào Hữu hay Vô, không rơi vào vừa Có vừa Không, cũng không rơi vào chẳng phải có chẳng phải không, của những quan điểm thiên kiến tà chấp trói buộc này, mà con đường Trung đạo là con đường giải thoát mọi sự trói buộc khổ đau giữa hai bờ.

     Đối với các nhà Tiểu thừa Hữu bộ, thứ nhất họ hiểu “Mọi vật đều Không” chỉ dành cho các pháp hữu vi mà thôi c̣n các pháp vô vi như Niết-bàn, th́ không bị lệ thuộc vào chúng, thứ hai “Mọi vật đều không” chỉ dành cho Nhơn không chứ không dành cho Pháp không, thứ ba “Mọi vật không” th́ không này là không trống rỗng, không có ǵ hết, không này là không đối lập lại với cái có. Do đó họ mới có những cật vấn như vầy:

 

     Nếu tất cả pháp không,

     Th́ không sanh, không diệt;

     Làm sao có  đoạn-diệt,

     Đểø gọi là Niết  bàn ?

 

     Ở trên là cách tiếp thu “Mọi vật đều không” và theo đó các nhà Tiểu thừa đặt vấn đề là, nếu tất cả các pháp đều không, không có ǵ hết, th́ sẽ không có hiện tượng sanh diệt, khi đă không có hiện tượng sanh diệt th́ mọi vấn đề được đặt ra theo sau đó, chúng không hiện hữu. Vậy th́ đoạn cái ǵ, diệt cái ǵ để có thể gọi là Niết bàn? Cho nên theo họ, tất cả các pháp không phải không, mà các pháp phải có thật. V́ các pháp chẳng phải không, nên nó đoạn trừ được tất cả mọi phiền năo nghiệp hoặc, tiêu diệt được năm ấm để đưa đến  Niết bàn. Để trả lời cho nạn vấn này, ngài Long Thọ cũng đứng trên lập trường của họ, hỏi nghịch trở lại:

 

     Nếu các pháp là có,

     Thời không sanh không diệt;

     Đoạn ǵ, diệt chỗ nào,

     Mà gọi là Niết bàn ?

 

     V́ các nhà Tiểu thừa không hiểu thấu được chỗ sâu xa của pháp Không (Dharmasùnyatà), nên đă nhầm lẫn, cho rằng pháp Không là pháp trống rỗng, hư vô, không có ǵ hết; pháp không này đối lại pháp có của họ, nên sanh ra kiến giải sai lầm về các pháp, và từ đó đưa ra nạn vấn như trên. Cũng đứng trên lập trường kiến giải sai lầm này, ngài đặt ngược lại vấn đề rằng: Nếu các pháp chẳng phải không tức là có,  và v́ xưa nay chúng luôn luôn hiện hữu, chúng luôn luôn là có nên chúng sẽ không có sanh, không có diệt;  vậy khi đă không sanh không diệt th́ làm sao chúng có chỗ để đoạn có chỗ để diệt mà gọi là Niết bàn ? Ở đây hai cửa hữu-vô (Bhàva-Abhàva) không phải là cửa đi đến Niết-bàn, mà Niết-bàn phải được gọi là :

 

     Không được, cũng không đến,

     Chẳng đoạn, cũng chẳng thường;

     Chẳng sanh, cũng chẳng diệt,

     Đó gọi là Niết bàn.

 

     Ở đây, mọi sự hiện hữu nô lệ, lệ thuộc, chấp thủ thiên kiến nhị nguyên như : đắc-thất, đến-đi, đoạn-thường, sanh-diệt v.v... đều bị phủ định. Trong phủ định mới xem ra như là mang cả hai tính chất vừa đập phá vừa xây dựng. Nhưng  ở đây, nếu được xác định như vậy, th́ lập tức rơi vào đoạn-thường (Ucchada-Nitya) ngay. Do đó, mọi xác định đều cũng bị phủ nhận, để từ đó mở ra một con đường rộng thênh thang không bị trói buộc, đó là con đường Trung đạo đi đến Niết-bàn. Nghĩa là sau khi chúng ta thực hiện vô sự đối với các pháp, th́ tự nó là con đường, tự nó là Niết-bàn không phải một cũng không phải khác. Ở đây, hành-quả không phải là chỗ để đạt được, không phải là chỗ để đến, không phải là chỗ để đoạn trừ, chẳng có pháp để phân  biệt; chẳng sanh chẳng diệt, cho nên Niết-bàn chẳng phải có, chẳng phải chẳng không, chẳng chấp thủ tất cả các pháp, bên trong tịch diệt gọi đó là Niết-bàn. V́ sao ? V́ tất cả mọi hiện tượng hiện hữu của vạn vật để mắt chúng ta nhận thấy, luôn luôn ở trong trạng thái sanh diệt biến hoại, chỉ là tướng lăo tử bị vô thường sanh diệt chi phối nên không phải là Niết-bàn. Nếu có một Niết-bàn nào để mắt chúng ta nhận thấy là có th́ Niết-bàn ấy cũng chỉ là tướng lăo tử, mà tướng lăo tử không phải là tướng Niết-bàn, cho nên  Niết-bàn không gọi là có được, v́ nó xa ĺa tướng lăo tử.

     Hơn nữa, nếu Niết bàn là có (hữu), th́ cái có này, hay Niết-bàn này thuộc vào tướng hữu vi. Nhưng tướng hữu vi, theo đức Phật dạy th́ chúng luôn ở trong trạng thái biến diệt không thật có. V́ sao ? V́ chúng hiện hữu có được là nhờ vào các duyên mà thành. Do đó, tất cả mọi pháp đang hiện hữu giữa chúng ta không có bất cứ một pháp nào gọi là hữu vi cả, cho dù là pháp thường  mà giả gọi là vô vi  dùng lư để t́m hiểu nó. Pháp vô thường c̣n không có, huống chi là pháp  thường không thể thấy, không thể đạt được. Lại nữa, theo Ngài:

 

     Nếu Niết bàn là có,

     Sao gọi không chấp thủ;

     Vô-hữu không từ chấp (thủ),

     Mà gọi là có pháp.

 

     Nếu thật sự Niết bàn là thật có th́ tại sao trong kinh, đức Phật lại bảo Niết bàn là không chấp thủ (vô thọ, hay Vô dư y: nirupadhizewa)? Đă là không chấp thủ th́ cho dù pháp đó là pháp ǵ đi nữa cũng không thể hiện hữu ở đây được. Nếu có pháp nào để hiện hữu được th́ ở đó không phải là chỗ vô thọ, v́ theo kinh th́ Niết-bàn là vô thọ, nên không có pháp không chấp thủ ở đây. Vậy Niết-bàn chẳng phải có.

     Nạn vấn :

     Nếu hữu không phải là Niết-bàn, vậy th́ vô là Niết-bàn ?

     Ngài bảo :

 

     Hữu chẳng phải Niết-bàn,

     Huống chi đối với Vô;

     Niết-bàn không có Hữu,

     Nơi nào sẽ có Vô ?

 

     Quá rơ ràng như bài kệ trên đă bảo Hữu-Vô không từ chấp thủ mà có. Vậy th́ tại sao ở đây lại đặt vấn đề Vô trở lại đối với Niết-bàn được ? V́ sao ? V́ nhờ vào hữu mà có vô. Nếu không có hữu th́ làm sao có vô được. Nếu nói trước có nay không, th́ vật này là vô. Nhưng Niết-bàn chẳng phải vậy, v́ không có pháp có nào lại là không được, cho nên vô cũng không thể tạo nên Niết-bàn được.

     Lại nữa, thử đặt vô là Niết-bàn đi. Nhưng ở đây, chúng ta không giải quyết được vấn đề không chấp thủ là Niết-bàn như đức Phật đă dạy trong kinh. Nếu vô là Niết-bàn th́ đức Phật đă không nói không chấp thủ là Niết-bàn như kinh đă dạy. V́ sao ? V́ không có pháp không chấp thủ nào gọi là pháp vô cả, cho nên Niết-bàn không thể gọi là vô được.

     Hơn nữa, 

 

     Như trong kinh Phật bảo:

     Đoạn có, đoạn chẳng có;

     Biết đó là Niết-bàn,

     Chẳng có cũng chẳng không.

 

     Chính đức  Phật đă dạy nếu đoạn trừ cả hai : Có và chẳng có này th́ Niết-bàn sẽ hiện hữu. V́ sao ? V́ Có là chỉ cho tam hữu (tam giới) và chẳng có chỉ cho tam hữu đă được đoạn diệt. Nếu đoạn trừ cả hai chướng ngại hữu-vô này, th́ biết rằng Niết-bàn chẳng phải có (phi hữu) cũng chẳng phải không (phi vô), đó mới gọi là Niết-bàn.

     Nạn vấn :

     Nếu hữu hay vô không phải Niết bàn th́ bây giờ hợp cả hữu và vô lại, có phải là Niết bàn không ? Ngài bảo :

 

     Đối hữu-vô, nếu bảo:

     Hợp lại là Niết-bàn;

     Hữu-vô là giải thoát,

     Thời điều này chẳng đúng.

 

     Ở phần trên hữu-vô đă bị phủ định, nhưng người nạn vấn vẫn đem chúng đặt vấn đề trở lại. Ở đây, lại nảy sanh một phi lư khác nữa, đó là việc hợp nhất giữa hữu-vô lại để có một cái Niết-bàn theo quan điểm của họ. Nhưng theo ngài, nếu hợp cả hữu và vô lại là Niết-bàn, tức là hợp cả hữu và vô lại là giải thoát, điều này chỉ thông cho Niết-bàn và giải thoát thôi. C̣n ngay chính nó, hữu và vô, trong một vế mà tự mâu thuẫn nhau với chính ḿnh, vậy th́ làm sao thông với vế thứ hai được. V́ sao ? V́ hữu và vô chúng tương phản nhau, làm sao hiện diện cùng lúc cùng một chỗ được. Do đó, hợp cả hai hữu và vô lại là Niết-bàn th́ không đúng. Lại nữa :

 

     Đối hữu-vô, nếu bảo:

     Hợp lại là Niết-bàn;

     Niết-bàn là chỗ chấp,

     Cả hai từ chấp sanh.

 

     Ở trên, tự chúng đă không thông rồi. Nếu ở đây mà hợp chúng lại là Niết-bàn có thể chấp nhận đi, với điều kiện  tự chúng không mâu thuẫn nhau; nhưng ở đây tự thân Niết-bàn không phải là chỗ chấp thủ, trong khi đó hữu-vô từ chỗ chấp thủ sanh ra, cùng nhờ vào nhau mà hiện hữu. Vậy th́ cả hai vế mâu thuẫn và không thông nhau được, do đó chúng không phải là Niết-bàn.

     Lại nữa, Niết bàn là Vô vi, nó vượt lên trên  hữu-vô của hữu vi. Trong khi hữu-vô hợp lại mà thành th́ không thoát khỏi hữu vi, nghĩa là chúng thuộc pháp hữu vi. Nhưng pháp hữu vi là pháp sanh diệt như đức Phật đă dạy, trong khi pháp vô vi là pháp không sinh diệt. Vậy th́ làm sao bảo hữu-vô hợp lại thành là Niết-bàn ?

Hay,

 

     Cộng hai việc hữu-vô

     Làm sao là Niết-bàn ?

     Hai việc không cùng chỗ

     Như sáng tối không hợp.

 

     Ở trên, hợp hai việc có-không đă không thành là một vấn đề. Ở đây, lại là một vấn đề khác nữa trong việc cộng hai khái niệm này lại để có Niết-bàn hiện  hữu, th́ làm sao chúng ta có thể làm được. V́ sao? V́ có-không chúng tự tương phản mâu thuẫn nhau nên không thể cùng hiện hữu một nơi được. Như ánh sáng và bóng tối, không thể nào cùng  hiện hữu cùng một  lúc được. Khi nào Có hiện hữu th́ Không sẽ không hiện hữu, ngược lại khi nào Không hiện hữu th́ có sẽ không hiện hữu. Vậy th́ làm sao có-không cùng hợp nhau lại mà gọi là Niết-bàn ?

     Lại nạn vấn :

     Nếu Có-Không cùng hợp nhau lại không là Niết-bàn, th́ bây giờ chẳng phải có chẳng phải không là Niết-bàn được không ?

     Ngài bảo :

 

     Nếu chẳng có chẳng không,

     Gọi đó là Niết-bàn;

     Chẳng có chẳng không này,

     Làm sao mà phân biệt ?

 

Cập nhật : 30/03/2004