bản dịch Việt: TUỆ SỸ
Duy-ma-cật bất tư nghị kinh, đấy là tên gọi chỉ cho chỗ tuyệt diệu tận cùng của huyền vi tạo hoá. Ư chỉ của nó u huyền như vực thẳm, không thể thăm ḍ bằng ngôn tượng. Đạo lư ấy siêu việt ba không, không phải là chỗ luận nghị của Nhị thừa. Khi biểu lộ th́ vượt lên trên quần số; là cảnh giới dứt tuyệt hữu tâm. Mịt mờ vô vi mà không ǵ là không tác vi. Không dễ ǵ biết v́ sao như nhiên, mà vẫn có thể như nhiên. Đấy là chỗ bất tư nghị.
Sao vậy?
Thưa, Thấnh trí vốn vô tri, mà muôn vàn phẩm loại đều được soi tỏ. Pháp thân vốn vô tượng, nhưng lại ứng hiện theo từng h́nh tướng đặc thù. Vần điệu chí cao th́ vẫn không lời, mà thư tịch huyền vi khắp nơi quảng bá. Thiện quyền bí ẩn th́ không toan tính, mà động tĩnh thảy tương ưng sự thể. Do vậy mà có thể cứu vớt tổng thể quần sinh, phơi bày vật để hoàn thành trách vụ. Lợi, được thấy khăp thiên hạ, với ta th́ vô vi; kẻ mê hoặc trông thấy mà cảm được ánh chiếu. Nhân đó gọi là Trí. Quán, ứng theo h́nh, th́ gọi là Thân; liếc nh́n thư tịch huyền vi, bèn bảo đó là Ngôn. Thấy sự biến động mà bảo đó là Quyền. Thế th́, chỗ chí cực của Đạo, há có thể bằng H́nh, Ngôn, Quyền, Trí, mà nói lên được cảnh vực thần diệu của nó sao?
Vả, chúng sinh măi ngủ vùi, phi ngôn th́ lấy ǵ để đanh thức? Đạo không vận chuyển đơn côi. Đạo hoằng do người. Cho nên, Như Lai sai Văn-thù nơi phương khác; triệu Duy-ma từ quốc độ kia; cùng tụ hội Tỳ-da-ly để chung truyền Đạo ấy.
Điểm thuyết minh của Kinh này, để thống hợp vạn hạnh, th́ lấy quyền trí làm chủ; trồng cội đức, th́ lấy sáu độ làm rễ; cứu vớt kẻ ngu khờ mê hoặc th́ lấy từ bi làm đầu. Cực điểm của ngữ tông, th́ lấy bất nhị làm cửa. Chúng thuyết này đều là gốc của bất tư nghị vậy.
Cho đến như, mượn ṭa của Phật Đăng Minh; xin cơm từ Hương thổ; tay đón căn nhà đại thiên bao trùm cả vũ trụ. Đấy là dấu tích của bất tư nghị vậy. Không dấu tích, không sao hiển bày bản nguyên. Bản và tích tuy sai thù, mà là Nhất thể bất tư nghị vậy. Do đó, sai thị giả nêu đó làm tiêu danh.
Đấng Thiên vương của nước Đại Tần vốn thần minh tuấn kiệt, siêu việt thế thường, tầm huyền vi riêng minh tỏ ngộ. Mở rông nền thống trị chí tôn trên cả vạn cơ; hiển dương Đạo hoá truyền xuống ngh́n đời sau. Rồi mkối khi t́m đến thưởng ngoạn kinh điển này, cho rằng đây là am thất cho tinh thần trú ngụ. Nhưng tiếc v́ bản dịch của Chi Khiêm để cho lư bị nghẽn bởi văn, thường sợ tông chỉ huyền vi rơi mất v́ người dịch.
Vận của Trời cơi bắc mà được vận chuyển thông suốt là có lư do vậy. Vào niên hiệu Hoăng thỉ thứ 8, tuế thứ thuần hỏa (AD. 406), mệnh sai Đại tướng quân Thường sơn công, Hữu tướng quân An Thành Hầu, cùng với 1 200 Sa-môn nghĩa học, tại Trường an Đại tự, thỉnh La-thập trùng dịch chính bản.
Thập, bằng cái lượng cao hơn đời, tâm mờ chân cảnh, đă suốt hết trong cơi tuần hoàn, lại rành các địa phương ngữ. Khi ấy, tay cầm Phạn bản, miệng tự tuyên dịch. Kẻ tục, người đâo chăm chăm. Một lời, lặp lại ba lần. Hun đúc thành tinh vi, cốt cầu giữ cho được ư Thánh. Văn giản dị mà hài hoà. Ư chỉ uyển chuyển mà rơ ràng. Ngôn từ vi ẩn sâu xa thật là sáng tỏ. Tôi vào cái tuổi c̣n kém trí, mà may được dự nghe. Tuy tư duy chưa vươn tới lẽ huyền, nhưng cũng có thể ghiểu được ư văn một cách sơ lược. Rồi theo chơ được nghe mà làm chú giải, tóm tăt ghi thành lựi. Chỉ thuật chớ không phải sáng tác.