YẾT-MA YẾU CHỈ KARMAVACANĀBINDUSĀRA

HT. Thích Tri Thủ Giảng thuật

Tỳ-kheoThích Đỗng Minh & Thích Nguyên Chứng Biên tập


CHƯƠNG BA
TRUYỀN  GIỚI,  THỌ  GIỚI (I)

TIẾT 1. BƯỚC ĐẦU XUẤT GIA

1. DẪN KHỞI

Theo ư nghĩa thông thường nhất, thọ giới là một h́nh thức chấp nhận nội qui để một người có thể trở thành thành viên của một cộng đồng, cùng sinh hoạt và cùng hỗ trợ để đạt tới mục đích lư tưởng. Trên danh nghĩa, cộng đồng đệ tử của đức Thích Tôn được phân thành bốn nhóm, nhưng trong thực tế sinh hoạt th́ chỉ có hai nhóm là xuất gia và tại gia. Do h́nh thức sinh hoạt thường nhật, cũng như do những quan hệ xă hội khác nhau, mà những người tại gia và những người xuất gia có những qui ước sinh hoạt không giống nhau. Dù vậy, mục tiêu cuối cùng của đệ tử Phật, bất kể tại gia hay xuất gia, đều chỉ có một, đó là giải thoát và giác ngộ. Cho nên tất cả những chế định của đức Thích Tôn về các qui ước sinh hoạt cho các chúng đệ tử đều có ư hướng nhằm phát triển tâm linh, nâng cao phẩm chất đạo đức của mỗi người để làm chất liệu bồi dưỡng trí tuệ. Bản chất của những qui ước này là khả năng pḥng hộ, là bờ đê[1] ngăn cản những ḍng nước đục từ bên ngoài theo các ngơ thân và ngữ chảy tràn vào tâm tư, làm vẩn đục nó đi. Cho nên, sự thọ giới không chỉ đơn giản là một h́nh thức tuyên thệ để được chấp nhận vào một đoàn thể như thông thường ờ thế gian.

Luận tạng của các học phái Phật giáo, mặc dù xu hướng nhiều về những phân tích tâm lư và khảo sát các nguyên tố cấu tạo vũ trụ và tác thành con người, nhưng không bao giở bỏ sót không nhấn mạnh đến tính quan trọng của sự thọ giới và tŕ giới. Sự tŕ giới, chấp hành nghiêm chỉnh những chế định của đức Thích Tôn để bồi dưỡng tâm tư và trí huệ đương nhiên là quan trọng, nhưng sự thọ giới lại càng quan trọng không kém. Mặc dù, xét theo thời gian tính, tŕ giới là phận sự mà đệ tử Phật phải chấp hành cho đến trọn đời, c̣n việc thọ giới chỉ giới hạn trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng nó là khởi điểm của quá tŕnh tu dưỡng. Bước chân đầu tiên bao giờ cũng quan trọng. Nó phải có hiệu lực tác động ngay vào tâm tư, làm thay đổi bản chất tâm tư cố cựu để dẫn người thọ giới vào một cuộc đời mới, với những sinh hoạt theo các qui ước mới. Nói theo thuật ngữ của những nhà Hữu bộ,[2] nếu sự truyền giới và thọ giới mà không đủ sức mạnh làm phát sinh giới thể vô biểu trong thân tâm của người thọ giới, th́ những lời tuyên thệ trong lúc thọ giới không có hiệu lực để chi phối và hướng dẫn người tŕ giới chấp hành đúng đắn nghiêm chỉnh. Giới thể vô biểu cũng gọi là giới thể vô tác, do đó được coi như là bản chất tồn tại của giới. Một người, sau khi đă thọ giới, nếu rủi gặp trường hợp đưa đến phá giới mà có thể cưỡng chế được, đó là do khả năng pḥng hộ của giới thể vố tác ấy. Cũng như bờ đê nếu không kiên cố, gặp cơn nước lũ sẽ bị vỡ. Cũng vậy, giới thể vô tác nếu không đủ mạnh, sẽ bị hủy trước những cám dỗ của tội lỗi.

Chính do quan niệm rất cụ thể về bản chất của giới như vậy, mà sự thọ giới phải được thực hiện theo một số nguyên tắc tất yếu, tùy theo đặc tính của giới. Những nguyên tắc này không phải được thiết định một cách tự nhiên. Chúng được thiết định theo các tính cách hỗ tương tác dụng và ảnh hưởng giữa các hoạt động tâm lư và vật lư của con người. Cho nên, nếu chúng không được tuân hành một cách nghiêm chỉnh, giới thể vô biểu không đủ điều kiện để phát sinh, và như vậy, khả năng pḥng hộ của giới sẽ rất yếu hoặc không có ǵ cả.

Tuy giữa các học phái đă xảy ra nhiều thảo luận khác nhau về bản chất và sự tồn tại của giới thể vô tác hay vô biểu, nhưng trên đại thể, họ đều nhất trí với nhau về tính thực tại của khả năng pḥng hộ của giới. Cho nên, trong vấn đề truyền và thọ giới, không phải chỉ cần chú trọng nội dung là đủ, mà h́nh thức truyền thọ cũng là khía cạnh cần phải được coi trọng không kém.

Bản chất của giới tại gia là sự toàn thiện về đạo đức cá nhân nên sự truyền thọ có thể được thực hiện giữa một nhóm người với một người. Nhưng giới xuất gia bao gồm cả đạo đức cá nhân và tập thể, do sự truyền thọ cần phải thông qua tập thể theo thủ tục yết-ma, tức thủ tục hành sự của Tăng. Do ảnh hưởng bởi sự phát triển suy lư của Luận tạng, các luật sư của từng bộ phái thỉnh thoảng cũng dẫn chứng quan điểm của tông phái ḿnh để nhấn mạnh tác dụng tâm lư trong khi thọ và ảnh hưởng của nó đối với vấn đề chấp hành giới luật sau này. Sự dẫn chứng của họ đôi khi đi xa đến chủ nghĩa h́nh thức, nếu so với những trường hợp được ghi chép trong Kinh tạng. Theo tinh thần của Kinh tạng, nếu nói riêng về giới xuất gia, th́ h́nh thức truyền thọ sở dĩ cần được chú trọng là v́ để tránh những sự chia rẽ trong Tăng. Một người mới xuất gia, được chấp nhận là một thành viên của cộng đồng đệ tử xuất gia của Phật, không phải đơn giản là vấn đề cá nhân mà trách nhiệm nhiều lắm chỉ là mối quan hệ thầy tṛ. Ở đây, nó là trách nhiệm liên đới. Sự tiến bộ hay sa đọa của một người xuất gia không phải chỉ mang lại hậu quả cá biệt cho một người, mà có quan hệ đến cả sự hưng thịnh và suy đồi của Phật Pháp. Cho nên, trong vấn đề truyền thọ giới xuất gia, kể từ sa-di cho đến tỳ-kheo, tư cách của người thọ cũng như phẩm chất của người truyền là những vấn đề mà Tăng có trách nhiệm chung phải kiểm nghiệm, không để cho truyền thọ bừa băi khiến cho cộng đồng xuất gia trở thành một tập thể hỗn tạp. Chính do ư nghĩa này mà các pháp yết-ma áp dụng cho các việc truyền thọ giới xuất gia cần phải được Tăng chấp hành một cách nghiêm chỉnh.

Cho nên, dù nói theo Kinh, hay Luật tạng hay theo Luận tạng, không bao giờ có vấn đề cho phép một người tự thọ giới. Giới xuất gia không được phép đă đành, mà giới tại gia cũng không hề được phép.[3] Trừ trường hợp các vị đă đạt đến địa vị vô học của một thánh giả A-la-hán. C̣n ngay cả đến các Thánh giả hữu học cũng chưa thấy kinh điển nào đề cập đến trường hợp tự thọ.[4] Bởi v́, trong một ư nghĩa nào đó, tự thọ có nghĩa là không biết đến sự tồn tại của cộng đồng đệ tử Phật, và đấy là nguyên nhân chủ yếu sẽ dẫn đến t́nh trạng chia rẽ giữa các đệ tử Phật.

Nói một cách tổng quát, việc truyền thọ giới xuất gia phải tuân theo những qui định như sau:

- Tư cách làm thầy phải được Tăng nghiệm xét và chấp nhận. Nếu Tăng chưa chấp thuận cho phép thâu nhận đệ tử, mà cứ tự ư thâu nhận th́ đó là việc làm phi pháp.

- Sự thâu nhận đệ tử phải được cáo tri cho Tăng biết. Nếu Tăng không chấp thuận, phải chấp hành nghiêm túc phán quyết ấy.

- Tăng phải kiểm nghiệm cẩn thận tư cách của người thọ giới, không được truyền thọ bừa băi.

Đó là những điểm tổng quát. Sự áp dụng vào các trường hợp khác nhau đối với sa-di, sa-di-ni, thức-xoa-ma-na, tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni sẽ được nói riêng trong các phần sau.

2. TƯ CÁCH LÀM THẦY 

Trừ những người v́ mục đích lợi dưỡng mà ngụy trang xuất gia th́ không kể, tất cả những người xuất gia đều phải hướng đến mục đích cao thượng, đó là giải thoát và giác ngộ. Không phải tất cả đều có thể thành đạt mục đích ấy ngay trong đời này, nhưng cuộc sống thanh tu là nền tảng nâng cao phẩm giá của người xuất gia. Bởi v́ đó là đời sống học tập theo Thánh giả A-la-hán, mặc dù tâm tư vẫn c̣n nhiều ô nhiễm. Cho nên, sự giáo dục phẩm cách đạo đức của người xuất gia trở thành trách nhiệm trọng đại của những bậc thầy trong Tăng chúng. Làm bậc thầy thâu nhận đệ tử mà không biết giáo dục là một trọng tội. Vả lại, một người phát tâm xuất gia, nương theo thầy mà học đạo, là gởi trọn cả cuộc đời của ḿnh cho thầy. Nên hay hư đều đặt tất cả niềm tin của ḿnh vào thầy.

Trách nhiệm giáo dục, tài bồi phẩm cách đạo đức cho đệ tử đă quan trọng như vậy, tư cách làm thầy phải như thế nào mới được coi là xứng đáng? Luật tạng ghi chép rất nhiều đức tính mà một vị thầy cần phải có.[5] Trong số nhiều đức tính này, ở đây có thể tổng quát bao gồm hai khía cạnh, khía cạnh vật chất và khía cạnh tinh thần. Về khía cạnh vật chất, người làm thầy phải có khả năng cung cấp các phương tiện sống cho đệ tử theo tiêu chuẩn thiểu dục tri túc của người xuất gia. Nhưng quan trọng hơn cả là những đức tính thuộc khía cạnh tinh thần. Theo đó, người thầy phải đủ khả năng hướng dẫn đệ tử hành tŕ giới luật và học kinh điển, tu tập thiền định, có đủ kinh nghiệm để giải quyết những tâm tư khúc mắc của đệ tử. Nói chung, trách nhiệm làm thầy cũng như trách nhiệm làm cha.Nhưng bổn phận làm cha phần lớn tập trung vào việc nuôi dưỡng lớn sắc thân, c̣n bổn phận làm thầy là phải nuôi lớn pháp thân của đệ tử, cho nên bổn phận đó c̣n trọng đại hơn cả người cha nữa.

Nói một cách cụ thể, tổng hợp những đức tính mà các Luật bộ[6] quy định về tư cách làm thầy, có năm điều chính yếu như sau:

1. Tuổi đạo phải đủ mười hạ.

2. Phải biết rơ các trường hợp tŕ và phạm, khinh và trọng về giới luật.

3. Kiến thức phải rộng răi.

4. Có đủ khả năng giải quyết những tâm tư khúc mắc của đệ tử.

5. Có khả năng đoạn  trừ tà kiến cho đệ tử.

Nói tóm lại, làm thầy phải biết giáo dục đệ tử về các mặt giới, định và tuệ, đó là ba khoa mục học hỏi mà người học đạo cần phải theo đuổi trong quá tŕnh tấn tu đạo nghiệp. Nếu tự nhận thấy quá yếu kém trong các khoa mục đó, th́ khoan làm thầy vội, mà bản thân cần phải tự cố gắng để đạt đến tŕnh độ khả quan, chứ không nên thâu nhận đệ tử một cách cẩu thả vội vàng, vô trách nhiệm.

3. YẾT MA SÚC CHÚNG

Yết-ma súc chúng[7] là thủ tục hành sự của Tăng chấp thuận một tỳ-kheo được phép thâu nhận đệ tử thế phát xuất gia, truyền giới sa-di và cụ túc, sau khi đă kiểm nghiệm xét cẩn thận tư cách của vị tỳ-kheo ấy. Ư nghĩa của nó cũng giống như một người đă học xong ngành y, tự xét hội đủ khả năng và điều kiện để trị bệnh cho người, th́ phải thông qua sự chấp thuận của hội đồng bác sĩ, mới được phép hành nghề. Thật vậy, việc chấp thuận của Tăng, ngoài mục đích kiểm nghiệm tư cách làm thầy để bảo đảm tương lai cho những người sẽ xuất gia và tu tập dưới sự hướng dẫn và giáo dục của thầy tỳ-kheo ấy, nó c̣n có mục đích duy tŕ sự ḥa hiệp của Tăng. Nếu một người tự ư xác nhận tư cách của ḿnh, rồi tự ư thâu nhận đệ tử, th́ trong nhiều trường hợp có thể tạo thành nhóm sư môn biệt lập không cần biết đến sự hiện diện của Tăng, bất chấp thẩm quyền của Tăng trong các vấn đề xử trị. Đấy là nguyên nhân có thể đưa đến sự chia rẽ trong Tăng. Gây chia rẽ trong Tăng là một trong năm tội đại nghịch không bao giờ được tha thứ trong Phật pháp.

Trong khoảng thời gian đầu của cuộc đời hóa đạo, th́ chính đức Thích Tôn thường trực tiếp truyền giới cho các tỳ-kheo. Về sau, do sự phát triển rộng răi trong nhiều địa phương, sự việc đưa một người đến trực tiếp với Ngài thật là khó khăn phiền phức, nên Ngài cho phép các tỳ-kheo được truyền giới cụ túc.[8] Nhưng rồi, có người chỉ mới được một hai hạ đă thâu nhận đệ tử và truyền giới cụ túc.[9] Với số tuổi đạo c̣n ít, công phu tu dưỡng chưa bao nhiêu, nên các tỳ-kheo này thiếu sót bổn phận làm thầy. Do đó, đức Phật chế định rằng tỳ-kheo phải đủ mười hạ mới được phép thâu nhận đệ tử. Có người vừa đủ mười tuổi hạ nhưng sự học tập của họ về giới luật chưa thông suốt, nên sau khi thâu nhận đệ tử rồi th́ cũng không đủ khả năng để dạy dỗ. Đức Phật lại chế định, dù đủ mười tuổi hạ, nhưng phải đủ các đức tính làm thầy. Một số tỳ-kheo tự thấy ḿnh đă hội đủ tất cả các điều kiện như thế, bèn tự tiện thâu nhận đệ tử. Do đó, Ngài chế định thêm rằng, sau khi đủ mười tuổi hạ, có trí tuệ và khả năng dạy dỗ rồi, nếu tỳ-kheo nào muốn thâu nhận đệ tử xuất gia truyền giới sa-di hay cụ túc, phải tŕnh cho Tăng biết, để Tăng nghiệm xét.[10] Sau khi nghiệm xét tư cách làm thầy của tỳ-kheo đó, nhận thấy không có điều nào thiếu sót, mới bạch nhị yết-ma cho phép. Tỳ-kheo nào chưa được Tăng yết-ma cho phép th́ không bao giờ được thâu nhận đệ tử. Việc bạch Tăng xin phép này chỉ cần thực hiện một lần. Từ đó về sau, nếu muốn độ người xuất gia, tỳ-kheo ấy khỏi phải bạch Tăng xin lại.[11]

Tỳ-kheo muốn bạch Tăng xin phép yết-ma súc chúng, trước hết lễ thỉnh các tỳ-kheo tập họp. Sau khi Tăng họp tỳ-kheo xin yết-ma súc chúng bước ra lễ Tăng ba lễ, rồi qú xuống, chấp tay bạch rằng:

Đại đức Tăng, xin lắng nghe, tôi tỳ-kheo…. Yêu cầu xin được độ người, truyền giới cụ túc. Kính mong Tăng chấp thuận, tôi tỳ-kheo…. Được phép độ người, tuyền giới cụ túc, tứ mẫn cố.

Bạch như vậy ba lần. Sau khi Tăng nghiệm xét, nếu nhận thấy tỳ-kheo này chưa đủ điều kiện và khả năng, có thể bác bỏ thỉnh cầu bằng cách tuyên bố rằng:

Này đại đức, thôi đi, hăy khoan độ người.

Trái lại, nếu nhận thấy đủ tư cách, th́ Tăng tiến hành yết-ma súc chúng. Thầy yết-ma bạch:

Đại đức Tăng,xin lắng nghe. tỳ-kheo… này nay thỉnh cầu Tăng cho phép độ người, Truyền thọ giới cục túc, nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, mong Tăng chấp thuận. Tăng nay cho phép tỳ-kheo… được độ người, truyền thọ giới cụ túc. Đây là lời tác bạch.

Đại đức Tăng, xin lắng nghe, tỳ-kheo…. Này, thỉnh cầu Tăng cho phép độ người, Truyền thọ giới cụ túc Tăng. Nay cho phép tỳ-kheo…. Này được độ người, truyền thọ giới cụ túc. Các trưởng lăo nào chấp thuận, Tăng cho phép tỳ-kheo… được độ người, truyền thọ giới cụ túc, th́ im lặng. Ai không chấp thuận, hăy nói.

Tăng đă chấp thuận cho tỳ-kheo… được độ người truyền thọ giới cụ túc, v́ im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.

4. THẾ PHÁT XUẤT GIA – THỌ GIỚI SA-DI

Theo những điều được ghi chép trong Kinh tạng cũng như Luật tạng, vào thời kỳ đầu của giáo đoàn Tăng lữ, những người thâm tín Phật pháp, cầu xuất gia, liền được xuống tóc và truyền thọ cụ túc để trở thành tỳ-kheo ngay. Bấy giờ đức Phật cũng chưa qui định số tuổi thấp nhất để thọ tỳ-kheo. Nhưng về sau, khi nhóm thiếu niên gồm mười bảy người, tuổi chưa đủ hai mươi, thọ cụ túc rồi mà không kham nổi phận sự của tỳ-kheo, không chịu đựng nổi việc không ăn phi thời, nên ban đêm kêu khóc. Đức Phật khiển trách các tỳ-kheo truyền giới mà không biết nhận định. Người chưa đủ hai mươi, không kham nổi đời sống khổ hạnh, không chịu đựng nổi các thứ muỗi ṃng, nóng lạnh đói khát, nhẫn nhịn những lời thô bạo của người dời, th́ làm sao có thể chấp hành được học xứ của tỳ-kheo. Do đó, đức Phật chế định rằng, nếu tỳ-kheo độ người chưa đủ hai mươi tuổi thọ giới cụ túc, phạm ba-dật-đề.[12]

Sa-di[13] là cấp bực đầu tiên của giới xuất gia. Trẻ nhỏ ít nhất là bảy tuổi, có thể đuổi quạ được, có thể làm sa-di.[14] Tuổi từ bảy đến mười ba được thọ giới làm sa-di, th́ được gọi là khu ô sa-di, nghĩa là sa-di chỉ có một phận sự là đuổi quạ. Từ mười bốn đến mười chín được gọi là ứng pháp sa-di, tức sa-di thực thụ học tập đầy đủ các phận sự của người xuất gia. Từ hai mươi đến bảy mươi gọi là danh tự sa-di, tức sa-di trên danh nghĩa.[15]

Theo nguyên tắc, nếu người được phép cạo tóc xuất gia th́ phải được truyền giới sa-di ngay.[16] Nếu dù đă xuống tóc mà chưa thọ sa-di th́ chưa thể gọi là người xuất gia được. Tuy nhiên, theo thông lệ phổ biến ở nước ta, cũng như của Trung quốc từ xưa, bất kể tuổi đời lớn nhỏ bao nhiêu, sau khi được thầy cho cạo tóc xuất gia, phải trải qua một thời gian tối thiểu ba tháng, thọ tŕ tam qui và ngũ giới, làm tịnh nhân để tập sự. Trong thời gian đó, ông thầy phải theo dơi quan sát tư cách và chí hướng, nếu nhận thấy chí hướng đă vững vàng th́ mới cho thọ giới sa-di. Mặc dù điều này không được qui định trong Luật tạng, nhưng sự thực hành không phải là vô ích. V́ có như thế mới tránh được nhiều trường hợp xuất gia v́ lợi dưởng, hay v́ mục đích nào khác chứ không phải để cầu đạo giải thoát. V́ đây không phải là điều mà Luật tạng bắt buộc, trong khi thực hành cũng cần phải linh động. Nếu nhận thấy người đă có tín tâm vững chắc nơi Phật Pháp, chí nguyện đă kiên cường, và tuổi đă đủ hai mươi th́ có thể cho xuất gia thọ sa-di và cụ túc ngay, không nên diên tŕ thời gian làm trở ngại sự nghiệp tiến tu của người cầu đạo.

i. Bạch Tăng thế phát

Về nghi thức làm lễ xuất gia, sẽ được nói trong tập sách khác với đầy đủ chi tiết. Ở đây, trong phạm vi các pháp yết-ma chỉ đề cập những đ̣i hỏi phải thực hiện giữa Tăng.

Tỳ-kheo đă được Tăng làm yết-ma cho súc chúng rồi th́ có thể độ người xuất gia bất cứ lúc nào nhưng một năm không được nuôi hai sa-di và truyền giới cụ túc cho hai người.[17] Nếu việc độ người thế phát được thực hiện ngoài phạm vi đại giới của Tăng, th́ không cần phải cáo tri cho Tăng biết. Nhưng nếu ở trong phạm vi đại giới của Tăng, tỳ-kheo làm thế độ bổn sư có bổn phận phải bạch cho tất cả Tăng trong già lam được biết. Tăng cùng tập họp cả vào một chỗ th́ tốt, bằng không thể tập họp th́ phải dẩn người xin xuất gia đi đến từng pḥng mà giới thiệu.[18]

Sau khi Tăng đă tập họp, thầy yết-ma hướng dẫn giới tử tác bạch:[19]

Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Thiện nam tứ…. Kia muốn cầu tỳ-kheo….cho xuống tóc. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, mong Tăng chấp thuận, cho thiện nam tử… xuống tóc. Đây là lời tác bạch.

Phép này chỉ một lần đơn bạch mà không có yết-ma.

ii. Truyền giới sa-di

Mặc dù chưa chính thức là một thành phần của Tăng, nhưng người đă thọ giới sa-di là đă chính thức bước vào đời sống xuất gia học tập và đời sống của một thánh giả vô học A-la-hán. Do thế, địa vị của sa-di được tôn trọng trên địa vị một người tại gia dù đó là một thánh giả Tu đà ḥan (tức Dự lưu) hay Tư đà hàm (tức Nhứt lai).[20] Giới của sa-di gồm 10 điều khoản. Đó là một phần quan trọng trong toàn bộ đời sống siêu xuất thế gian của thánh giả A-la-hán. Là những điều khoản mà một người tại gia dù trên mặt tu chứng đă đạt đến địa vị Thánh giả nhưng do những ràng buộc thế gian mà không thể chấp hành được.

Để xứng đáng với địa vị được tương đối tôn trọng trong hàng đệ tử của Phật gồm cả tại gia và xuất gia, sự hành tŕ cố nhiên phải nghiêm cẩn đă đành mà sự truyền trao và lănh thọ cũng không thể làm một cách chiếu lệ được. Nội dung của sự truyền thọ là đ̣i hỏi sự thanh tịnh của Tăng và tâm niệm chí thành khẩn thiết của người thọ. Hai điều kiện chủ yếu này là cơ sở để nâng tâm tư của người thọ lên hàng xứng đáng được kính trọng. c̣n về mặt h́nh thức th́ điểm chính là Tăng phải thực hiện đúng pháp yết-ma. Những h́nh thức tổ chức khác chỉ là phụ thuộc có mục đích làm hiển lộ tính chất thanh tịnh của Tăng một cách cụ thể và kích phát tâm niệm chí thành của người thọ giới đến mức độ cao nhất.

Về nghi thức thọ sa-di các Quảng luật của các bộ phái đều quy định đại cương giống nhau gồm có việc thọ tam quy và tiếp theo là thọ 10 giới. Tứ phần, có  thêm phần bạch Tăng trước khi thọ tam quy và 10 giới.[21]  Trong Tăng yết-ma của Ḥai Tố c̣n có thêm phần thỉnh Ḥa thượng và A-xà-lê[22] trước khi bạch Tăng thọ tam quy và 10 giới. Hướng dẫn bảo:

Nay các người lễ thỉnh sư

Văn bạch trong các bộ yết-ma này[23] như sau:

(1) Thỉnh Ḥa Thượng:

Đại đức nhất tâm niệm, con (nói tên hay pháp danh) nay thỉnh Đại đức làm Ḥa thượng truyền 10 giới. Nguyện Đại đức v́ con làm Ḥa thượng truyền 10 giới. Con nương nơi Đại đức mà được thọ giới sa-di. Từ mẫn cố (nói ba lần).

(2) Thỉnh A-xà-lê:

Đại đức nhất tâm niệm, con… nay thỉnh Đại đức làm A-xà-lê truyền 10 giới. Nguyện đại đức v́ con làm A-xà-lê truyền 10 giới. Con nương nơi Đại đức mà được thọ giới sa-di. Từ mẫn cố. (nói ba lần)

iii. Thọ sa-di pháp

a. Yết ma bạch tăng[24]

Đại đức Tăng, xin lắng nghe. (nói tên hay pháp danh giới tử) này cầu xin xuất gia theo tỳ-kheo (pháp hiệu). Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận cho… xuất gia. Đây là lời tác bạch.

b. Thọ Tam quy:

(Lời chú của Tùy cơ yết-ma có ghi thêm ở phần này là phải hỏi các già nạn trước khi truyền thọ tam quy).[25]

Con… quy y Phật, quy y pháp, quy y Tăng. Con nay theo Phật xuất gia, Ḥa thượng của con là… đức Như lai bậc chí chân, đẳng chánh giác là Thế Tôn của con. (nói ba lần)

c. Thọ mười giới:

Ḥa thượng hỏi:[26]

(1) Trọn đời không được  sát sanh. Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ tŕ được không?[27]

Đáp: Được.

(2) Trọn đời được không trộm cắp.[28] Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ tŕ được không?

 Đáp: Được.

(3) Trọn đời không được dâm dục.[29] Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ tŕ được không?

Đáp: Được.

(4)Trọn đời không được  nói lời hư dối. Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ tŕ được không?

Đáp: Được.

(5)Trọn đời không được  uống rượu.[30] Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ tŕ được không?

Đáp: Được.

(6)Trọn đời không được đeo tràng hoa, và thoa xức dầu, hương thơm. Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ tŕ được không?

Đáp: Được.

(7)Trọn đời không được  ca, múa, diễn kịch và đi nghe xem. Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ tŕ được không?

Đáp: Được.

(8)Trọn đời không được ngồi trên giường ghế cao rộng. Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ tŕ được không?

Đáp: Được.

(9)Trọn đời không được  ăn phi thời. Đây là giới của sa-di, ngươi

Đáp: Được.có thể thọ tŕ được không?

Đáp: Được.

(10)Trọn đời không được cầm nắm và cất giữ các thứ vàng, bạc,[31] bảo vật trang sức. Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ tŕ được không?

Đây là giới của sa-di, suốt đời không được vi phạm.

 

Ở đây cần thảo luận một số điểm trong nghi thức được giới thiệu trên.

Về việc thỉnh Ḥa-Thượng và A-xà-lê, đây là khoản được thêm vào sau này. Tuy trong các Quảng luật không đề cập việc này, nhưng trong Bách nhất yết-ma của căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ có quy định.[32]

Điểm đáng lưu ư việc hỏi các già nạn như được ghi trong Tùy cơ yết-ma của Đạo Tuyên. Trong Quảng luật của các bộ phái, chúng không được đặt ra trong trường hợp thọ sa-di một cách minh nhiên. Nhưng trong Bách nhất yết-ma của căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ có quy định thành một tiết mục sau phần thỉnh Ḥa thượng A-xà-lê.[33]

Nhận xét tổng quát mà nói, th́ khởi thủy nghi thức thọ sa-di vốn đơn giản, nhưng về sau quá tŕnh phát triển của Luật tạng trong các bộ phái khác nhau bao gồm cả hai mặt thực tế hành tŕ và cơ sở thực tế. Chính do thực tế của hành tŕ mà một số tiết mục cần thiết được thêm vào để tăng gia tầm vóc quan trọng của giới sa-di. Đây là điểm cần lưu ư trong áp dụng để được linh động tùy theo ḥan cảnh. Mặt khác, dưới tầng sâu của từng tiết mục c̣n chứa đựng những cơ sở tư tưởng được giải thích tùy theo lập trường của mỗi bộ phái. Đó cũng là điều không thể không biết đến.

Những sai biệt trong các trường hợp thọ giới sa-di chủ yếu là do tŕnh độ trí năng có nhiều biến chuyển khác nhau trong khoảng từ bảy đến hai mươi tuổi. Như trẻ nhỏ bảy cho đến mười ba tuổi, thực tế chưa đủ tŕnh độ ư thức rơ rệt về việc xuất gia của ḿnh, và các già nạn nếu được đặt ra cho chúng th́ quả là không thích hợp v́ dù cố gắng đến đâu cũng khó mà giải thích cho chúng hiểu. Ngoại trừ những trẻ nhỏ phi thường. Mà trường hợp phi thường như chú bé Tô- đà-di, không những chỉ được xuất gia làm sa-di mà đức Phật tự thân chấp nhận cho xuất gia làm tỳ-kheo ngay, dù chỉ mới bảy tuổi.[34] Nhưng trừ Phật ra th́ có lẽ không ai đủ khả năng để quyết định trường hợp phi thường như vậy.

Trường hợp các già nạn thực sự có ư nghĩa là các h́nh đồng, tức những người xuất gia thọ sa-di khoảng từ hai mươi đến bảy mươi. H́nh đồng sa-di, cũng gọi là danh tự sa-di. Những vị này tuy h́nh tướng là sa-di, nhưng với tuổi tác trưởng thành th́ cung cách xử sự không khác tỳ-kheo, và tất nhiên đă từng tham gia nhiều thế sự. Cho nên các già nạn được đặt ra cũng cần thiết.

Mặc dù, trong các nghi tiết hành sự không nên có sự chấp nhất một cách máy móc theo một truyền thống nào nhưng nếu có sự thêm bớt cần thiết nào cho phù hợp với thực tế của ḥan cảnh th́ những thêm bớt ấy cần phải được qui định bởi Tăng, chứ không thể tự tiện theo quan điểm cá nhân để khiến có thể dẫn đến t́nh trạng chia rẽ bất nhất trong toàn thể Tăng-già của một xứ.

iv. ngoại đạo xuất gia [35]

a. Tổng luận

Ngoại đạo là chỉ chung tất cả những đạo giáo ngoài đạo Phật. Trong thời đức Phật, và cả trong lịch sử phát triển của đạo Phật tại Ấn độ, vấn đề quan hệ với ngoại đạo là một vấn đề rất trọng yếu. Nó không đơn giản chỉ là vấn đề dị biệt tư tưởng, mà c̣n là vấn đề trong những sinh hoạt thực tế của Tăng đoàn. Lịch sử Ấn độ nổi bật với những vấn đề giai cấp và tôn giáo. Tất cả bốn giai cấp của xă hội Ấn trong thời đức Phật, trừ Chiên-đà-la không được kể là một giai cấp và bị liệt xuống ngang hàng súc vật, đều có người xuất gia hành đạo và tổ chức thành giáo đoàn riêng biệt theo xu hướng tư tưởng đặc thù của giai cấp ḿnh. Cho nên sự xung đột tư tưởng bấy giờ cũng được coi là sự xung đột về giai cấp. Bản chất giai cấp và bản chất tư tưởng tôn giáo khó mà tách thành hai phần khác nhau trong xă hội Ấn thời cổ. Đức Phật bằng nhiều phương tiện đă đưa giáo đoàn của Ngài vượt ngoài sự chi phối của bản chất giai cấp. Điều này không phải là đơn giản. Trong một tập thể sống chung như Tăng đoàn, trong đó trộn lẫn đủ mọi thành phần giai cấp, kể cả những người Chiên-đà-la thuộc giai cấp hạ tiện, th́ sự b́nh đẳng và ḥa hợp là cả vô số vấn đề.

Trong các kinh điển, sự việc những người dị giáo sau quay sang đạo Phật được ghi nhận rất nhiều và những điều phiền toái xảy ra cho chính bản thân người cải giáo cũng không phải là ít. Như trường hợp Ưu-ba-ly[36] (không phải trưởng lăo Ưu-ba-ly của Luật tạng). Một đệ tử tại gia có uy tín bậc nhất của Ni-kiền Thân Tử, sau khi t́m đến đức Phật để tranh luận, và được Phật thuyết phục, ông ngơ lời qui y Phật. Nhưng Phật không chấp thuận ngay mà khuyên ông nên thận trọng suy nghĩ trong sự cải giáo, v́ một người có uy tín và có địa vị trong đạo giáo cũng như trong xă hội mà cải giáo không phải sự việc đơn giản.[37]  Quả thật, một số sự việc rắc rối đă xảy ra cho Ưu-ba-ly sau khi nguồn tin ông bỏ Ni-kiền Thân Tử để theo Phật được lan truyền. Đương nhiên, trong địa vị và uy tín có sẵn, ông giải quyết vấn đề rất ổn. Và trường hợp khác, hai người Bà- la-môn thuộc ḍng họ Phả-la-đọa[38] muốn xuất gia theo Phật. Ngài chấp nhận nhưng phải trải qua bốn tháng sống chung[39] với Tăng trước khi chính thức xuất gia thọ cụ túc làm tỳ-kheo. Trong thời gian bốn tháng đó, có lần đức Phật đă hỏi hai ông là có sự chống đối nào xảy ra trong gia đ́nh và ḍng họ không. Hai người tŕnh bày những chống đối gay gắt từ mọi phía về quyết định xuất gia làm tỳ-kheo của ḿnh.[40]

Như vậy, chấp nhận một người khác đạo giáo vào trong Tăng đoàn thực sự luôn có hai khía cạnh của vấn đề. Đó là tư tưởng và xă hội. Hai khía cạnh này không được đặt ra ngay từ đầu, sau này sẽ có thể dẫn đến những trường hợp chia rẽ của Tăng. Trong lịch sử đao Phật chỉ sau Phật Niết-bàn hơn 100 năm, giáo đoàn Tăng lữ đă bị phân hóa. Các bộ phái Phật giáo khi nói về sự phân hóa này đại bộ phận đều qui kết vào nguyên nhân là do sự trà trộn của ngoại đạo. Những người này khi vào đạo Phật, có thể do tín tâm, nhưng tín tâm chưa đủ sâu và mang theo cả tập quán suy tư về tôn giáo của ḿnh nữa, và đồng thời chưa thanh lọc hết bản chất giai cấp trong tác phong đời sống, cho nên khi họ có địa vị ảnh hưởng trong Tăng, th́ ảnh hưởng ấy dẫn đến sự phá kiến và phá giới, tức tạo nên sự chia rẽ tư tưởng và phân hóa tổ chức.

Trong lịch sử nước ta, sự việc ấy chưa từng xảy ra. Nguyên do bối cảnh tôn giáo và xă hội của nước ta không phức tạp như của Ấn độ. Vả lại, với nỗ lực ḥa đồng tôn giáo dưới khẩu hiệu tam giáo đồng nguyên, nên không hề xảy ra cuộc phân hóa trầm trọng nào trong giáo hội Tăng già.

Kể từ khi nước ta bị đặt dưới sự đô hộ của người Pháp, tư tưởng phương Tây bắt đầu tràn ngập. Dù vậy, vẫn chưa hề có sự nứt rạn nào đáng kể trong tư tưởng và tổ chức của Tăng. Do thế, vấn đề những người khác đạo xuất gia theo đạo Phật thực sự chưa được đặt thành vấn đề trong Tăng. Nhưng Luật tạng, do phát sinh từ bối cảnh Ấn độ, đă tự liệu điều ấy, và các tổ sư truyền luật vẫn phải nhắc nhở đến. Tuy vậy, do bối cảnh xă hội nước ta trước đây, nên vấn đề chỉ được đặt ra một cách chiếu lệ chứ không được triển khai, v́ không có sự va chạm của thực tế. Sau này nếu thực tế ấy xuất hiện, th́ nhiệm vụ của Tăng là phải nghiên cứu và phân loại bản chất của tôn giáo để qui định các nguyên tắc cần chấp hành. Khi chấp nhận một người khác tôn giáo vào trong cộng đồng Tăng lữ, nếu không rơ được bản chất tôn giáo của người muốn cải đạo th́ nhất thiết phải thận trọng, trừ khi đă có sự xác định của Tăng.

Về vấn đề ngoại đạo xuất gia, văn bản các luật tạng qui định như sau (cụ thể, theo luật Tứ phần).

b. Truyền tam quy và giới sa-di

Trước hết, cho cạo tóc, khoác ca-sa,[41] đến trước Tăng quỳ xuống và tự tác bạch:

Đại đức Tăng, xin lắng nghe. con (nói tên) nguyên là ngoại đạo, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Con nay cầu xin xuất gia theo đức Thế tôn. «Đức Thế tôn là Như lai chí chân, đẳng chính giác, là thầy của con. (nói ba lần)

Con (nói tên) nguyên là ngoại đạo, đă quy y Phật, đă quy y Pháp, đă quy y Tăng, cầu xin xuất gia học đạo theo đức Thế tôn. Đức Như lai chí chân, đẳng chính gíac, là thầy của con.», (nói ba lần)

Tiếp đến, hướng dẫn thọ 10 giới. Văn thọ, như sa-di.

c. Cho bốn tháng cộng trú

Sau phần quy y và thọ giới, người ấy lại đến giữa Tăng tự tác bạch xin bốn tháng sống chung:

Đại đức, xin lắng nghe. Con (nói tên) nguyên là ngoại đạo, thỉnh cầu Tăng cho bốn tháng sống chung mong Tăng chấp thuận, từ mẫn cho con bốn tháng sống chung. (tác bạch ba lần)

Tác bạch xong, lui ra khỏi chỗ Tăng đang họp, cách khoảng đủ để mắt nh́n thấy Tăng chứ không nghe rơ Tăng đang nói. Bấy giờ thầy yết-ma bạch Tăng:

Đại đức Tăng, xin lắng nghe (nói tên) kia nguyên là ngoại đạo, nay thỉnh cầu Tăng bốn tháng sống chung. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận cho vị ngoại đạo kia (nói tên) bốn tháng sống chung. Đây là lời tác bạch.

Đại đức Tăng, xin lắng nghe, vị (nói tên) kia nguyên là ngoại đạo, thỉnh cầu Tăng bốn tháng sống chung, Tăng nay cho người ấy bốn tháng sống chung. Các trưởng lăo nào chấp thuận Tăng cho người ấy bốn tháng sống chung, th́ im lặng. Ai không chấp thuận hăy nói.

Tăng đă chấp thuận cho người ấy bốn tháng sống chung, v́ đă im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.

Sau phần bạch nhị yết-ma, vị ngoại đạo kia được phép sống chung giữa Tăng, và chấp hành các phận sự như sa-di. Luật Ma-ha Tăng-kỳ c̣n qui định thêm rằng, địa vị của người ấy ở dưới sa-di, nhưng không nói rơ có cho thọ sa-di hay không.[42]

Qua bốn tháng sống chung giữa Tăng, nếu Tăng nghiệm xét thấy người ấy đă thuần thục niềm tin trong pháp luật của Phật hay chưa. Trong bốn tháng ấy nếu nghe có người nói xấu đạo cũ của ḿnh mà không sinh tâm thù hận; nghe ca ngợi đạo Phật th́ hoan hỷ, và thường nhật không lân la lui tới những chỗ quen biết trước kia.[43] Nói gọn lại, người ấy đă xóa bỏ hẳn các tập quán tư tưởng và nếp sống cũ trước kia. Đây có thể coi là quá tŕnh phi giai cấp hóa. Điều quan trọng trong bốn tháng sống chung giữa Tăng này là để người ngoại đạo ấy quen với cung cách sống không giai cấp của cộng đồng Tăng lữ; một cộng đồng tập hợp đủ mọi thành phần xă hội và tôn giáo. Qua bốn tháng mà Tăng chưa hài ḷng về cung cách sống chung không giai cấp và không cuồng tín tôn giáo cũ của người ấy, th́ phải bạch nhị yết-ma gia hạn thêm bốn tháng sống chung nữa.

Việc truyền 10 giới sau khi thọ tam qui ở trên là theo Tứ phần. C̣n Ngũ phần, Ma ha Tăng-kỳ, Thập tụngThiện kiến, đều không thấy ghi. Riêng Thập tụng qui định là bạch tứ thay v́ bạch nhị yết-ma như các bộ khác.

Sau bốn tháng, nếu Tăng hài ḷng, sẽ bạch tứ yết-ma cho người ấy thọ cụ túc.

TIẾT 2: GIỚI CỤ TÚC

1. TỔNG LUẬN VỀ GIỚI CỤ TÚC

i. Tính chất của giới cụ túc

Giới cụ túc, tiếng Phạn gọi là upasampāda. Hán cũng dịch là cận viên.[44] Ở Trung quốc, xưa người ta thường giải thích cận viên có nghĩa là «sự gần gũi với Niết-bàn viên tịch,»[45] và cho rằng sở dĩ được gọi như vậy v́ loại giới này có khả năng tiến gần đến Niết-bàn viên tịch. Giải thích như thế là do suy diễn từ chữ Hán. Trong tiếng Phạn, nó không có nghĩa ǵ là viên tịch cả. Chữ viên trong tiếng Hán có nghĩa là viên măn, do dịch chữ sampāda của tiếng Phạn. Theo nghĩa đen, sampāda có nghĩa là «cùng đến nơi» tức chỉ cho sự thành công, hay thành tựu. Chữ cận trong tiếng Hán là do dịch chữ upa, có nghĩa là gần gũi, hay ở trên. Do thế, upasampāda; theo nghĩa thường dùng nhất, được hiểu là sự thành tựu trọn vẹn, cũng có khi được hiểu là bước lên chỗ cao.

Giới tỳ-kheo sở dĩ được nói là cụ túc, v́ nó thể hiện trọn vẹn mẫu mực đời sống của một thánh giả A-la-hán. Trong khi tất cả các loại khác của Thanh văn không được gọi là cụ túc, v́ chúng chỉ mô phỏng một phần nhỏ đời sống cao thượng của A-la-hán.[46]

Đời sống cao thượng của A-la-hán gồm có bốn sự thanh tịnh. Đó là sự thanh tịnh về biệt giải thoát luật nghi, sự thanh tịnh về pḥng hộ căn môn hay căn luật nghi, sự thanh tịnh về phương tiện sinh sống hay mạng thanh tịnh, và sự thanh tịnh do chánh niệm tỉnh giác. Giới tỳ-kheo được gọi là cụ túc, v́ nó thể hiện trọn vẹn tất cả bốn sự thanh tịnh ấy.[47] Trong bốn sự thanh tịnh kể trên, biệt giải thoát luật nghi chỉ cho sự hộ tŕ nghiêm chỉnh tất cả các học xứ hay điều khoản được quy định bởi giới bổn, thấy nguy hiểm trong những tội lỗi nhỏ nhặt nhất. Ở đây, luật nghi có nghĩa là sự pḥng hộ.[48]  Đó là khả năng đề kháng những ḍng nước lũ ô nhiễm từ bên ngoài ngang qua các hành vi hay nghiệp đạo tràn ngập vào tâm làm cho tâm dơ bẩn.[49] Nó là một danh từ thường dùng để thay thế cho chữ giới.[50] Biệt giải thoát luật nghi như vậy có nghĩa là sự kiểm soát và pḥng hộ các hành vi thuộc thân và ngữ bằng biệt giải thoát. Gọi là biệt giải thoát nghĩa đen là giải thoát theo từng đối tượng cá biệt của hành vi; v́ khi thọ tŕ một học xứ do đức Phật chế định, th́ học xứ ấy có khả năng loại bỏ một hành vi bất thiện không cho nó len lỏi vào trong tâm

Về căn luật nghi,[51] hay sự pḥng hộ căn môn, đó là sự kiểm soát các giác quan, những cánh cửa mà ô nhiễm có thể đi xuyên vào trong tâm. Tức là, khi con mắt tiếp thu đối tượng là sắc, tỳ-kheo luôn kiểm soát sự sinh khởi và hoại diệt của các cảm thọ; pḥng hộ cẩn thận không để cho tham ái các thứ thừa cơ xâm nhập. Cho đến ư khi tiếp thu đối tượng của nó là pháp cũng vậy.

Mạng thanh tịnh,[52] hay trong sạch trong sự sống, trong các phương tiện nuôi sống sinh mạng. Tức là sinh sống theo bốn truyền thống của chư Phật, gọi là bốn thánh chủng.[53] Thánh chủng nghĩa là ḍng họ hay ḍng dơi cao quư. Ḍng họ Bà la môn sinh sống bằng cách tế tự; ḍng họ Sát-đế-lỵ sinh sống bằng cách chiến đấu với vũ khí; ḍng họ Phệ-xá sinh sống bằng các nghề tự do buốn bán, làm thợ, hay gieo trồng; ḍng họ Thủ-đà-la sinh sống bằng cách làm thuê, làm nô lệ; nhưng ḍng họ của chư Phật th́ không sinh sống theo các h́nh thức mang tính chất cạnh tranh và áp bức người khác hay bị người khác áp bức. Cho nên, trong ḍng họ chư Phật có bốn sự truyền thừa. Đó là, che thân bằng ba y phấn tảo. Nuôi lớn nhục thân bằng một cái b́nh bát. Ngủ nghỉ th́ nương dưới gốc cây, rừng vắng hay trong các hang động. Sống cuộc đời chuyên cần tu tập để đoạn trừ.[54] Nói cách khác, đó là truyền thống sống không gia đ́nh, ḥan toàn không một tư hữu, ngoài ca-sa và b́nh bát cần thiết như hai cánh chim bay đến và đi bất cứ nơi nào.

Thành tựu chánh niệm chánh tri,[55] hay đời sống thanh tịnh do chánh niệm và tỉnh giác trong bốn cử chỉ đi, đứng, nằm, ngồi. Khi bước tới, biết rơ ḿnh bước tới, bước lui, biết ḿnh đang bước lui… luôn luôn thấy rơ và biết rơ ḿnh đang làm ǵ. Niệm thanh tịnh cũng được thay thế bằng thọ dụng thanh tịnh; sự thọ dụng trong sạch và như pháp đối với các vật dụng nhu yếu và ẩm thực.

Do học tập bốn sự trong sạch ấy cho đến học tập 3.000 oai nghi, tám vạn tế hạnh nên giới của tỳ-kheo được gọi là cụ túc.

ii. Vấn đề đắc giới

Nói theo h́nh thức, th́ sự đắc giới có nghĩa là người thọ đă hội đủ tư cách để làm tỳ-kheo và hành sự của Tăng ḥan toàn hợp pháp. Nhưng nói theo khía cạnh triết lư của vấn đề th́ đắc giới là sự phát khởi của giới thể vô tác hay vô biểu trong thân tâm người thọ. Giới thể vô tác hay vô biểu, cần được hiểu rằng giới thể hay bản chất tồn tại của giới chính là vô biểu. Vô tác hay vô biểu là những thế lực điều động các hoạt động của thân, ngữ và không biểu lộ ra bên ngoài cho người khác có thể thấy.[56] Thế lực đó là khả năng pḥng hộ của giới. Nó giống như sự phản xạ có điều kiện của một người học vơ do tập luyện lâu ngày, có khả năng pḥng vệ sinh mạng của ḿnh trong bất cứ lúc nào và dưới bất cứ trường hợp nào. Luật nghi biệt giải thoát là khả năng pḥng hộ thân và ngữ không cho đi vào các hoạt động bất thiện, do đó thế lực của giới thể vô tác có ảnh hưởng trực tiếp ngay trên những phản xạ của thân và ngữ.

Giới của tỳ-kheo, tức giới cụ túc, không phải chỉ bao gồm các điều khoản với 227 điều theo truyền thống Pàli hay 250 điều theo tuyền thống của Đàm-vô-đức (tức luật Tứ Phần) mà bao gồm cả bốn sự thanh tịnh như đă nói. Các điều khoản sở dĩ được nêu lên một cách cụ thể với những con số có hạn định như vậy chính là để có một cơ sở hiện thực cho sự hộ tŕ, và cho có sự ḥa hiệp nhất trí giữa đời sống một tỳ-kheo trong cộng đồng Tăng lữ. Cho nên sự đắc giới ở đây không có nghĩa là thành tựu từng điều khoản một trong 227 điều hay 250 điều khi thọ. Do ư nghĩa này, các sớ giải về Luật tạng cũng như của Luận tạng đều có đề ra nhiều trường hợp đắc giới khác nhau.

Theo các nhà giải thích luật của phái Tỳ-bà-sa (Nhất thiết hữu bộ), có 10 trường hợp đắc giới cụ túc.[57]

a. Tự nhiên đắc giới:[58]

chỉ trường hợp đặc biệt của phật Chánh giác và Độc giác, do tự ḿnh chứng ngộ mà không có sư truyền.

b. Kiến đế đắc giới:[59]

Hay nhập chánh tánh đắc giới, chỉ cho vị chứng bốn Thánh đế, bước vào thánh đạo. Theo ư nghĩa th́ một vị đă chứng nghiệm bốn Thánh đế và bắt đầu bước vào thánh đạo là một vị Tu đà-ḥan hay quả Dự lưu. Nhưng một người tại gia cũng có thể chứng đắc quả vị Tu-đà-ḥan mà không bao giờ trở thành tỳ-kheo, nếu vị ấy không xuất gia thọ giới cụ túc. Nếu vị Thánh giả Tu-đà-ḥan là một người tại gia, th́ luật nghi của vị ấy là luật nghi cận sự, chỉ thành tựu năm giới, không đương nhiên thành tựu giới cụ túc vốn là sự viên măn về đời sống cao thượng của A-la-hán. Do đó, trong thực tế, trường hợp thấy Thánh đế mà đắc giới cụ túc chỉ duy nhất xảy ra cho năm vị đệ tử đầu tiên của đức Thích Tôn, tức nhóm tôn giả Kiều Trần Như.[60]

c. Thiện lai tỳ-kheo:[61]

Đắc giới cụ túc do đức Phật gọi: «Đến đây, này tỳ-kheo.»[62] Đây là trường hợp đắc giới trực tiếp do chính đức Phật truyền cho. Nếu không phải do chính Phật trực tiếp truyền thọ th́ không thể gọi là đắc giới theo trường hợp thiện lai này được. Người đầu tiên được đức Phật truyền thọ như vậy là tôn giả Da-xá. Tuy nhiên, theo các giải thích khác th́ chính nhóm tôn giả Kiều-trần-như mới là những người đầu tiên đắc giới theo cách Phật gọi: «Đến đây, này tỳ-kheo.»[63]

d. Do xác nhận Phật là Đại sư:[64]

Đây chỉ cho trường hợp tôn giả Đại Ca-diếp,[65] khi gặp đức Phật Thích Tôn, liền tuyên bố rằng: «Đây là Đạo sư của tôi,»[66] bấy giờ liền tự nhiên trở thành tỳ-kheo không qua cách thức truyền thọ nào cả. Đây là trường hợp độc nhất trong các đệ tử của đức Thích Tôn.

e. Do khéo trả lời:[67]

Cũng là một trường hợp đặc biệt độc nhất chỉ xảy ra một lần cho Tô-đà-di, khi vừa mới 7 tuổi nhưng đă trả lời câu hỏi của đức Phật một cách khéo léo. Phật hỏi: «Nhà con ở đâu.» Tô-đà-di đáp: «Ba cơi không đâu là nhà.» Do thế, Phật khiến Tăng bạch yết-ma cho thọ cụ túc liền.

f. Do thọ 8 kỉnh pháp:[68]

Chỉ trường hợp bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề, di mẫu của đức Thích Tôn, chấp thuận 8 phép tôn trọng đối với Tăng mà được xuất gia làm tỳ-kheo-ni.

g. Do gởi đại diện:[69]

Trường hợp đặc biệt cho ni Pháp Thọ (cũng dịch là Pháp Dữ). Nàng đẹp nổi tiếng trong xứ. Khi hay tin nàng sẽ xuất gia thọ giới làm tỳ-kheo-ni, nhiều thanh niên tổ chức đón đường bắt cóc, do đó Phật cho phép nàng gởi người đại diện đến giữa Tăng mà thọ, sau đó về truyền lại.

h. Do người thứ năm là người tŕ luật:[70]

Người trí luật ở đây được giải thích là người thông thạo các nghi thức yết-ma. Đây là trường hợp dành cho những vùng biên cương, nơi không thể tập họp đủ số Tăng gồm 10 người, cho nên chỉ cần 5 tỳ kheo trong đó ít nhất có một vị thông suốt luật.

i. Thọ với Tăng gồm 10 tỳ-kheo:[71]

Dành cho mọi trường hợp, và bắt buộc đối với những vùng đô thị nơi có khả năng tập họp Tăng đủ số 10 người.

j. Tam ngữ đắc giới:[72]

Thọ cụ túc bằng cách chỉ đọc ba lần qui y Phật, Pháp và Tăng. Đây là trường hợp xảy ra thường xuyên trước khi Phật qui định sự thọ giới cụ túc với pháp bạch tứ yết-ma. Tức là khi giáo đoàn phát triển rộng, các Thánh đệ tử đi giáo hóa mọi nơi, gặp người muốn xuất gia, không thể dẫn về để Phật trực tiếp truyền thọ cụ túc, th́ họ được phép chỉ đọc ba lần những lời qui y Tam bảo là đắc giới. Nhưng từ khi Phật qui định pháp bạch tứ yết-ma để truyền giới th́ cách thọ này không c̣n được áp dụng cho giới cụ túc nữa.

Trong trường hợp đắc giới dẫn chứng bởi các Luật gia của Hữu bộ trên đây, bảy trường hợp đầu là những trường hợp hy hữu. Tất cả các bộ phái đều chính thức truyền thừa theo ba trường hợp sau, và riêng giới cụ túc th́ bắt buộc chỉ áp dụng các trường hợp thứ tám và thứ chín, gọi chung là trường hợp bạch tứ yết-ma.[73] Như vậy, bạch tứ yết-ma là qui tắc tổng quát và cơ bản để thọ cụ túc. Nó được thực hành dưới ba trường hợp khác nhau. Trường hợp thứ nhất, và thứ hai được áp dụng bởi Tăng số năm và mười đă nói.

Trường hợp thứ ba, nó được áp dụng giữa hai bộ Tăng, tức sự tập họp Tăng gồm 10 tỳ kheo và 10 tỳ kheo ni để truyền giới cụ túc cho tỳ-kheo-ni. Trường hợp này sẽ nói chi tiết trong mục truyền thọ cụ túc cho tỳ-kheo-ni đoạn sau, chương IV.

iii. Tư cách người thọ giới

Theo sự ghi chép trong Kinh tạng và Luật tạng, th́ nguyên thủy những vị xuất gia liền thọ cụ túc ngay. Vị sa-di đầu tiên của Giáo hội là tôn giả La-hầu-la.[74] Lúc bấy giờ số tỳ-kheo Tăng đệ tử đức Thích Tôn được ghi nhận là trên một ngh́n người. Trong tất cả những vị này không một ai đă từng thọ giới sa-di cả. cho nên, việc thọ sa-di trước khi thọ cụ túc không phải là điều bắt buộc. Tuy vậy, trong sự thực hành của cả hai truyền thống Bắc và Nam tông, cho đến nay, trước khi thọ cụ túc phải thọ sa-di, chứ không có trường hợp từ cư sĩ với năm giới đi thẳng lên cụ túc.[75] Mục đích của sự thực hành này nhắm giải trừ tối đa những trường hợp mà chí nguyện xuất gia không bền vững. Nhưng trong nhiều trường hợp nếu nhận thấy tư cách giới tử đă trọn vẹn và thời gian học tập làm sa-di không cần thiết, th́ cho thọ cụ túc ngay. Trong trường hợp này, sự truyền thọ sa-di và cụ túc cho một giới tử tiến hành liên tục trong một lúc.

Về sự nghiệm xét tư cách của người thọ giới, trong nguyên thủy chỉ đặt trọng tâm vào sự tin tưởng Phật pháp và đời sống phạm hạnh. Nhưng sự nghiệm xét này tỏ ra chưa đủ khi mà giáo hội Tăng-già được mở rộng cho mọi thành phần xă hội khác nhau, do đó về sau cần có thêm những nhận xét về h́nh thức của giới tử nữa. Sự nghiệm xét này được gọi là hỏi về các già nạn, cũng gọi là các pháp chướng ngại.[76] Công việc này được thực hiện bởi Tăng; nó thuộc về giai đoạn chính thức tiến hành tác pháp.

Khi giáo hội càng được mở rộng, th́ công việc nghiệm xét tư cách giới tử càng trở nên phức tạp. Do đó, trưóc khi Tăng chính thức thẩm vấn người thọ. Lại c̣n đặt thêm một giai đoạn nghiệm xét dự bị nữa. Công việc này do vị Ḥa thượng chịu trách nhiệm. Trọng tâm của sự thẩm tra này là nhằm vào nghi biểu của giới tử. Một số trường hợp điển h́nh được kể trong các Luật bộ, theo dó những người mà sáu căn không đầy đủ, tức mù, què, điếc, câm, ngọng v..v.. đều không được chấp nhận.[77] Các điều này vốn được triển khai chi tiết từ một trong các già nạn, sẽ được đề cập trong đoạn sau, phần chính thức tiến hành tác pháp. Nói một cách vắn tắt, nguyên tắc mà Phật qui định từ nguyên thủy rằng những người sáu căn không đầy đủ, ḥang môn, lại cái, không được chấp nhận là với lư do rằng những người này không thể có tiến bộ trong Thánh pháp luật, tức sự tàn khuyết của h́nh hài khiến người ấy không đủ khả năng sống đời sống phạm hạnh cho đến đạt mục đích cuối cùng, tức Niết-bàn ngay trong hiện tại.[78] Thế nhưng khi qui định loại trừ tất cả những người xấu xí, các bộ phái này muốn rằng Tăng chỉ gồm những thành viên có tướng mạo khả quan. Có lẽ trong quá tŕnh phát triển, một số bộ phái đă bị áp lực của thành kiến giai cấp và chủng tộc trong truyền thống Ấn. Trong xă hội của ta, từ xưa đến nay vấn đề giai cấp và nguồn gốc chủng tộc không trở nên thành kiến trầm trọng, nên các qui định chi tiết trong một số luật của các bộ phái hầu như không có thực tế để trắc nghiệm giá trị hiện thực của chúng.

Theo thông lệ được duy tŕ cho đến nay ̖