YẾT-MA YẾU CHỈ KARMAVACANĀBINDUSĀRA

HT. Thích Tri Thủ Giảng thuật

Tỳ-kheoThích Đỗng Minh & Thích Nguyên Chứng Biên tập


CHƯƠNG SÁU
 AN  CƯ  VÀ  TỰ  TỨ

TIẾT 1. AN  CƯ

1. DUYÊN KHỞI VÀ Ư NGHĨA         

Theo luật Tứ phần[1] duyên khởi để đức Phật qui định mùa an cư của chúng tỳ-kheo xảy ra khi Ngài đang trú tại Xá-vệ, trong vườn của ông Cấp Cô Độc. Nguyên do của việc chế định này là bởi v́ sự than phiền của các người cư sĩ đối với nhóm sáu tỳ-kheo. Nhóm sáu tỳ-kheo này thường du hành trong dân gian bất cứ vào mùa nào. Khi mùa mưa đến, họ dẫm đạp chết vô số côn trùng. Các cư sĩ than phiền rằng những tu sĩ ngoại đạo hằng năm vẫn có ba tháng cố định tại một chỗ; ngay đến các loài cầm thú vẫn c̣n có mùa trú ẩn của chúng; huống chi những người Sa-môn họ Thích lại không biết nghỉ chân vào mùa mưa, trái lại du hành bất cứ mùa nào. Đức Phật hay biết sự này, và Ngài đă khiển trách nhóm tỳ-kheo sáu người ấy.

Ở đây, chúng ta có thể rút ra hai nhận xét. Thứ nhất sự than phiền của các cư sĩ chứng tỏ rằng an cư mùa mưa đă trở thành tục lệ chung cho mọi tu sĩ của các giáo phái tôn giáo thời bấy giờ. Các tỳ-kheo do bởi không chấp hành tục lệ này nên bị các cư sĩ chỉ trích. Thứ hai sự khiển trách của đức Phật chứng tỏ rằng mặc dù trước đó Ngài chưa qui định việc an cư mùa mưa,[2] nhưng các Thánh Tăng hay các tỳ-kheo sống tri túc và tŕ luật nghiêm chỉnh đều không đi lang thang trong các mùa mưa. Như vậy, sự ấn định ba tháng an cư mùa mưa của Phật là hợp pháp hóa một thông lệ hay một tập tục đă được chấp hành một cách tự nhiên giữa các tỳ-kheo nói riêng, và cũng chung cho mọi tu sĩ của các giáo phái ngoài đạo Phật đương thời.

Tuy nhiên, xét theo thực tế hành tŕ của giáo đoàn Tăng lữ về việc an cư mùa mưa, th́ sự an cư này không chỉ giới hạn bởi sự việc lại gây tổn hại cho các sâu bọ và các thứ cây cỏ sinh trưởng nhiều trong mùa mưa. Tham khảo thêm trong các kinh điển, chúng ta sẽ thấy việc an cư c̣n có những mục đích khác hơn thế nữa.

Trước hết, một đoạn ngắn trong kinh Điển tôn[3] có ghi sự kiện như vầy. Đức Phật kể lại một câu chuyện quá khứ. Trong một tiền kiếp xa xưa, lúc đức Thích Tôn c̣n hành Bồ-tát đạo. Bấy giờ Ngài thọ sanh làm vị đại thần có tên là Điển Tôn. Vị đại thần này được mọi người tôn kính, cho rằng là đă từng thấy Phạm thiên. Nhưng thực tế th́ Điển Tôn chưa từng thấy Phạm thiên. Điển Tôn tự suy nghĩ rằng, theo truyền thuyết các bực tôn túc nói lại, nếu ai tu tập bốn vô lượng tâm trong suốt bốn tháng mùa mưa sẽ được hội kiến với Phạm thiên. Do vậy, đại thần Điển Tôn xin phép nhà vua được nghỉ ngơi để có thể tu tập bốn vô lượng tâm trong suốt bốn tháng mùa mưa. Sau bốn tháng, quả nhiên Điển Tôn được hội kiến với Thường Đồng H́nh Phạm Thiên, và được phạm thiên đích thân giảng giải đạo lư cho.

Câu chuyện kể như vậy chứng tỏ việc an cư cố định tại một chỗ để tu tập vào mùa mưa là một quan niệm đă có từ xưa, trước thời đức Thích Tôn rất lâu xa. Cho nên, việc an cư, hạn chế sự đi lại trong mùa mưa, không chỉ v́ tránh dẫm đạp côn trùng và cây cỏ, mà mùa mưa c̣n được quan niệm từ xa xưa là thời gian thích hợp nhất cho sự tu tập để có những tiến bộ tâm linh đáng kể. Chính do điều này mà kinh Chánh pháp niệm xứ nói rằng vào thời kỳ an cư mùa mưa các tỳ-kheo ngoại trừ các việc đi đại và tiểu tiện, c̣n lại phải thường xuyên ngồi kiết già tại một chỗ để tu tập thiền định.[4]

Ngoài ra, sự an cư mùa mưa c̣n có một ư nghĩa quan trọng khác nữa. Đó là biểu hiện cho tinh thần sống chung ḥa hợp của cộng đồng Tăng lữ tại một trú xứ. Điều này được thấy rơ trong luật Tứ phần.[5] Lúc bấy giờ đức Thích Tôn trú tại Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc. Sau ba tháng an cư mùa mưa, một số đông các tỳ-kheo ở Câu-tát-la đến hầu thăm Ngài. Đức Thế Tôn theo thông lệ hỏi thăm đời sống của họ như thế nào trong ba tháng an cư. Họ tŕnh bày với Ngài sinh hoạt thường nhật của họ. Theo đó, các tỳ-kheo này giao ước với nhau trong suốt mùa an cư rằng không ai nói chuyện với ai bất cứ điều ǵ. Nếu có những việc cần thiết mà người này cần đến sự giúp đỡ của người khác th́ chỉ được phép ra dấu chứ không được phép nói. Sinh hoạt này cũng thường xảy ra giữa các nhóm tỳ-kheo và được biết nhiều nhất là nhóm ba tỳ-kheo ḍng họ Thích gồm tôn giả A-na-luật, tôn giả Nan-đề và tôn giả Kim-tỳ-la.[6] Các tỳ-kheo khi th́ ở Bát-na-nạn-xà khi th́ ở Sa kê đế, và luôn luôn được Phật khen ngợi. Nhưng trong trường hợp các tỳ-kheo ở Câu-tát-la này, thay v́ được khen ngợi, đă bị đức Thế Tôn khiển trách. Ngài nói các tỳ-kheo này là những người ngu si, sống chung như vậy là khổ nhưng lại tưởng là an lạc; chẳng khác nào những kẻ thù cùng sống trong một trú xứ.[7] Nhiệm vụ các tỳ-kheo sống chung là phải giáo giới lẫn nhau, chỉ điểm và sách tấn nhau, chứ không thể sống như những người câm với nhau. Cùng một lề lối sinh hoạt, nhưng có trường hợp Phật khen ngợi, lại có trường hợp bị Ngài khiển trách, ấy là thế nào? Đức Phật luôn luôn ca ngợi đời sống trầm lặng của các tỳ-kheo, sống xa lánh những nơi ồn ào náo nhiệt. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa rằng một tỳ-kheo nên sống tách biệt ngoài cộng đồng Tăng lữ. Sống chung và ḥa hợp trong cuộc sống thánh thiện cao cả, giáo giới và sách tấn lẫn nhau, đó là sinh mệnh của Tăng đoàn. Đời sống của một tỳ-kheo là sống không gia đ́nh, không cố định vĩnh viễn tại một trú xứ nào, nhưng các tỳ-kheo được nối kết nhau thành một cộng đồng thống nhất bằng giới bổn mà họ phải cùng nhau ḥa hiệp để tụng đọc trong mỗi nửa tháng. Và sự ḥa hiệp ấy được củng cố bằng ba tháng an cư vào mùa mưa.

Như vậy, an cư mùa mưa không phải đơn giản chỉ có nghĩa là hạn chế sự đi lại của các tỳ-kheo để tránh làm tổn thương các sinh vật bé nhỏ và các thứ cây cỏ non.

Trong lịch sử phát triển của đạo Phật, sinh hoạt an cư kiết hạ là một nhân tố tích cực để các đệ tử tại gia có điều kiện thuận tiện tham gia vào sự nghiệp củng cố và phát triển giáo đoàn Tăng lữ. Tăng đoàn thanh tịnh và ḥa hiệp là tiêu biểu của sức sống cụ thể của giáo pháp mà đức Thích Tôn đă từng giảng dạy. Đó cũng là nơi nương tựa tinh thần vững chắc, và là niềm tin chân chính cho những người tại gia sống giữa cuộc đời hỗn tạp, đầy những hận thù và tranh chấp.

Một Phật tử tại gia, có niềm tin thuần tịnh trong sáng đối với Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới, luôn luôn được ghi nhận với bốn đức tính: thân cận thiện sĩ, học hỏi chánh pháp, suy nghĩ sâu sắc những điều đă học hỏi, và hành tŕ những điều đă được chiêm nghiệm.[8] Trong bốn đức tính ấy, đức tính thứ nhất, thân cận thiện sĩ, tức gần gũi các bậc thiện tri thức, những bậc đạo cao đức trọng. Mỗi năm, vào mùa mưa, khi các tỳ-kheo tạm thời dừng chân tại một trú xứ, th́ đây là thời gian mà những người tại gia có điều kiện thích hợp nhất để thường xuyên gần gũi các bậc thiện sĩ, học hỏi chánh pháp. Do thế, họ có thể phát huy các đức tính đặc trưng của một Phật tử tại gia có niềm tin thuần tịnh đối với chánh pháp.

Trong thời gian đức Thích Tôn c̣n tại thế, các Phật tử tại gia hoặc tự lực cá nhân nếu có đủ điều kiện, hoặc những người thân thuộc nhau, hoặc những người cùng sống trong một làng, một thành phố, hợp tác nhau thỉnh các tỳ-kheo về tại trú xứ của ḿnh an cư kiết hạ, và hỗ trợ các tỳ-kheo  các nhu cầu cần thiết để các ngài có điều kiện thuận tiện cho sự tu tập suốt trong ba tháng mùa mưa. Các truyện kư của Phật giáo thuộc các nền văn học bản sanh và bản duyên thường ghi nhận có nhiều tỳ-kheo đă chứng đắc quả A-la-hán trong thời gian an cư này, nhờ sự hỗ trợ của các cư sĩ về các nhu cầu hằng ngày.

Một cộng đồng thanh tịnh và ḥa hiệp, cùng học và cùng tu như sữa với nước vậy, quả là niềm tin và hy vọng cho con người sống giữa cảnh đời náo nhiệt; và nó chứng tỏ rằng Chánh pháp mà đức Thích Tôn đă giảng thuyết, nếu được thực hành một cách trọn vẹn, sẽ là cơ sở cho một thế giới an lành. Đây là điều mà vua Ba-tư-nặc đă bày tỏ với đức Thế Tôn về niềm tin của ḿnh đối với chính pháp được Thế Tôn giảng dạy và chúng đệ tử thực hành trọn vẹn.[9]

Nói tóm lại, duyên khởi của sự an cư kiết hạ của chúng tỳ-kheo dù đơn giản được nói là do đức Thế Tôn tùy thuận theo ước muốn của các đệ tử tại gia, nhưng trong ư nghĩa sâu xa th́ nó là sinh mạng tồn tại của Chánh pháp được duy tŕ bằng đời sống thanh tịnh và ḥa hiệp của cộng đồng Tăng lữ. Chừng nào chúng tỳ-kheo c̣n nhiệt thành trong phận sự an cư ba tháng th́ bấy giờ Chánh pháp vẫn c̣n là sức sống phong phú để ḷai người làm nơi qui ngưỡng và xây dựng một thế giới an lành.

2. HẠN KỲ AN CƯ       

Tính theo lịch Ấn Độ thời xưa, ngày an cư bắt đầu từ mồng một trăng tṛn tháng A-sa-đà,[10] tức vào khoảng nửa tháng 6 dương lịch kéo dài suốt ba tháng, cho đến hết ngày trăng tṛn tháng Át-thấp-phược-dữu-xà.[11] Theo sự ghi nhận của ngài Huyền Trang trong Tây vực kư[12] và Pháp Hiển trong Nam hải kư qui nội pháp truyện[13] th́ ngày mồng một trăng tṛn tháng A-sa-đà tương đương ngày 16 tháng 5 theo lịch Trung Quốc. Các xứ Phật giáo phương nam bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 tính theo lịch Trung quốc. Nhưng ở Trung quốc, các Luật sư qui định an cư vào ngày 16 tháng 4 theo lịch Trung quốc. Sự qui định này lấy cơ sở từ bản dịch chữ Hán kinh Vu lan theo đó, ngày tự tứ được nói là ngày 15 tháng 7 lịch Trung quốc, do vậy, ngày kiết hạ an cư phải bắt đầu từ 16 tháng 4. Các xứ ảnh hưởng Phật giáo Trung quốc như nước ta và nước Nhật đều theo thông lệ kiết an cư vào ngày 16 tháng 4. Đây là do sự ước tính sai khác về thời tiết mà các địa phương không đồng nhau. Như ở nước ta, mùa mưa giữa miền Bắc và miền Nam cũng có sự sai khác nhau hơn một tháng. Tuy vậy, theo phong tục mỗi nước mà ấn định để phù hợp với thời tiết an cư. Ngày rằm tháng 7, ở nước ta cũng như ở Trung quốc xa xưa đă trở thành ngày lễ quan trọng, cho nên ngày kiết hạ an cư vẫn phải bắt đầu từ ngày 16 tháng 4, mặc dù vào thời kỳ này nhiều địa phương ở nước ta chưa bước vào mùa mưa. Do sự sai biệt theo truyền thống này mà nước ta hai hệ Tăng-già Nam và Bắc truyền không kiết hạ an cư cùng một ngày thống nhất như nhau.

Thông lệ nước ta từ xưa ngoài hạn kỳ ba tháng kiết hạ, c̣n có hạn kỳ ba tháng kiết đông, tức an cư vào mùa đông, khoảng từ 16 tháng 9 đến hết ngày 15 tháng 12. Đây là thực hành theo điều được qui định bởi Bồ tát giới Phạm vơng. Theo đó, người thọ giới bố-tát, nếu mỗi năm vào hai thời mùa hạ và mùa đông mà không an cư để tọa thiền, hành đầu đà th́ phạm tội khinh cấu.[14] Ư nghĩa của sự qui định này là do bởi mùa hạ quá nóng bức và mùa đông quá lạnh lẽo nên sự hành đạo và hóa đạo của người thọ giới Bồ tát thường gặp phải nhiều khó khăn, do đó, không thể du phương giáo hóa mà cần phải an cư tọa thiền để bồi dưỡng đạo đức bản thân.

Dù có sự qui định như vậy, nhưng theo tinh thần Phật chế trong các Luật tạng Thanh văn, th́ mỗi năm chỉ có một mùa an cư duy nhất cho các tỳ-kheo, do vậy, chỉ có một mùa an cư chính thức mà thôi, và như vậy mỗi năm cũng chỉ có một ngày tự tứ, lấy đó làm cơ sở tính tuổi hạ lạp của tỳ-kheo. An cư mùa đông, nếu có thực hành, th́ cũng không có ngày tự tứ và không căn cứ theo đó mà tính hạ lạp.

Vả lại, đời sống Tăng-già nguyên thuỷ, y trên bốn thánh chủng, và đức Thế Tôn cũng thường nhắc nhở các tỳ-kheo rằng không nên dừng chân tại một chỗ quá lâu, cho nên luật cho mỗi năm chỉ có ba tháng an cư là thời gian mà tỳ-kheo tạm thời không du phương hành đạo và giáo hóa.

Có hai hạn kỳ của sự an cư mùa mưa, gọi là tiền an cư và hậu an cư.[15] Tiền an cư là an cư phần đầu của mùa hạ. Cụ thể là kết an cư vào ngày mồng 1 trăng tṛn tháng 4 A-sa-đà, tức tương đương ngày 16 tháng 4 hay tháng 5 tùy theo cách tính tháng giữa lịch Ấn Độ và lịch Trung quốc. Trong khoảng từ ngày 17 tháng 4 hay tháng 5 cho đến hết ngày 16 tháng 5 hay tháng 6 được gọi là thời kỳ của hậu an cư. Nói theo thông lệ ở nước ta, ngày kiết tiền an cư là vào ngày 16 tháng 4 âm lịch, và từ ngày 17 đến hết ngày 16 tháng 5 là thời kỳ của hậu an cư. Trong thời kỳ hậu an cư, Luật cũng chia làm hai phần là trung an cư và hậu an cư.[16] Trung an cư bắt đầu ngày 17 tháng 4 đến hết ngày 15 tháng 5. Hậu an cư là ngày 16 tháng 5.[17] Dù có hai cách chia các thời kỳ an cư như vậy, nhưng trong tác pháp thường chỉ đề cập đến hai trường hợp là tiền và hậu an cư mà thôi.

Nếu kiết tiền an cư th́ đến hết ngày 15 tháng 7 là hết kỳ hạn. Nếu hậu an cư bắt đầu từ ngày 17 tháng 4 th́ hết ngày 16 tháng 7 là hết hạn. Cứ theo đó mà tính, cho đến nếu kiết hậu an cư vào ngày 16 tháng 5 th́ hết ngày 15 tháng 8 là hết hạn. Nói cách khác, hạn kỳ an cư nhất định phải đủ  ba tháng, gồm 9 tuần mỗi tuần 10 ngày. Nhưng do tháng thiếu của âm lịch, nên ít khi đủ cả 90 ngày.

Điều cũng cần nhớ ở đây là thời gian ngày và đêm trong Luật tạng luôn luôn được tính theo sự sáng và tối của mặt trời. Do đó, nói rằng hạn kỳ an cư bắt đầu từ ngày 16 tháng 4 (hay tháng 5 ta). Có nghĩa là phải kể từ khi ánh sáng mai vừa xuất hiện của ngày đó. và nói rằng đến hết ngày 15 tháng 7 tức là hết đêm 15 này lúc ánh sáng mai của ngày 16 hôm sau bắt đầu xuất hiện. Ánh sáng xuất hiện được phân biệt theo hai cách: hoặc sáng đủ để nh́n thấy các đường chỉ trong ḷng tay, hoặc đủ sáng để phân biệt được lá vàng với lá xanh. Như vậy, một tỳ-kheo từ chỗ khác muốn đến an cư tại một trú xứ nào đó th́ phải đến trước khi ánh sáng mai của ngày 15 tháng 4 vừa xuất hiện.[18] Để chấp hành đúng thời điểm, các luật sư Trung hoa c̣n phân tích chi tiết thêm rằng, nếu tỳ-kheo trên đường đi đến trú xứ an cư, nhưng chưa kịp bước chân vào cương giới của trú xứ mà ánh sáng ban mai xuất hiện th́ phải liệng một cục đất cho lọt trước vào trong trú xứ. Nguyên tắc cơ bản phải giữ là phải đặt chân lên đất của trú xứ trước khi ánh sáng mai hiện. Tuy nhiên, trong trường hợp do duyên sự không thể đến đúng thời điểm, vẫn không vi phạm nếu tâm niệm luôn luôn hướng vào trú xứ an cư.

3. THỌ AN CƯ  

Tăng có ba việc phải làm để tác pháp thọ an cư. Đó là phân pḥng xá, hành trù và bạch an cư.

i. Phân pḥng xá  

Tăng đoàn nguyên thủy ḥan toàn y chỉ trên bốn Thánh chủng, do đó, các tỳ-kheo không sống cố định tại một trú xứ nào. Gặp sự thuận tiện nơi nào trên đường hành đạo và hóa đạo của ḿnh, th́ kiết an cư tại đó. V́ vậy, trước khi thọ pháp an cư Tăng-già tại mọi trú xứ thường phải phân chia lại pḥng xá, và kể luôn cả  cho tỳ-kheo. Để cho việc phân chia pḥng xá được công b́nh và hợp lư, Tăng-già của mọi trú xứ thường phải tác pháp yết-ma cử người phụ trách[19] công tác này. Ngày nay, nhất là tại nước ta, mỗi trú xứ già-lam luôn luôn có các tỳ-kheo thường trú, và số tỳ-kheo này phần lớn nhiều hơn tỳ-kheo khách đến an cư, do đó công việc phân chia pḥng xá thường được phụ trách bởi tỳ-kheo thường trú có trách nhiệm và như vậy, mục đích yết-ma cử người phân pḥng xá ít khi được thực hiện. Nhưng để tiện tham khảo, dưới đây là văn bạch yết-ma này:

Sau khi họp Tăng tại giới trường, vấn đáp tiền phương tiện theo thông lệ, tỳ-kheo yết-ma bạch Tăng rằng:

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận để cử tỳ-kheo… chia pḥng xá và ngọa cụ. Đây là lời tác bạch.

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng sai tỳ-kheo… phân chia pḥng xá ngọa cụ. Các Trưởng lăo nào chấp thuận Tăng sai tỳ-kheo… phân chia pḥng xá và ngọa cụ th́ im lặng. Ai không chấp thuận hăy nói.

«Tăng đă chấp thuận, Tăng sai tỳ-kheo… phân chia pḥng xá và ngọa cụ, v́ đă im lặng. Tôi ghi nhận như vậy

ii. Hành trù      

Quy tắc hành trù đại khái cũng như trường hợp thuyết giới. Sau phận sự phân chia pḥng xá và ngọa cụ là đến việc phát và nhận thẻ để kiểm điểm số người an cư, gồm có tỳ-kheo và sa-di. Các công việc này đều được thực hiện trước ngày chính thức thọ an cư một ngày. Tức là nếu biết an cư vào ngày 16 tháng 4 th́ tác pháp hành trù cần được thực hiện vào ngày 15 tháng đó. Pháp hành trù này gồm có yết-ma đơn bạch để bố cáo cho Tăng biết việc nhận thẻ; yết-ma bạch nhị sai người phát thẻ; và yết-ma đơn bạch chính thức phát thẻ; cuối cùng là đơn bạch để bố cáo cho Tăng biết đă phát và thu thẻ, kiểm điểm Tăng số tỳ-kheo và sa-di thọ pháp an cư. Dưới đây là văn yết-ma:

a) Cáo tri hành trù

Sau khi tập họp Tăng, vấn đáp tiền phương tiện xong, vị Thượng tọa pháp chủ bạch Tăng.

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng nay chuẩn bị tác pháp hạ an cư. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận ngày hôm nay Tăng nhận thẻ, ngày mai kiết hạ an cư. Đây là lời tác bạch.»

b) Sai người hành trù 

Tăng đề cử một hay hai tỳ-kheo làm người phát thẻ và thu thẻ. Nếu số tỳ-kheo quá đông cần phải cử nhiều, từ 5 hay 6 tỳ-kheo trở lên, th́ phải tác pháp hai lần, mỗi lần Tăng sai tối đa 3 tỳ-kheo trở xuống. Văn bạch yết-ma như sau:

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay sai tỳ-kheo… v́ Tăng hành xá la. Đây là lời tác bạch.

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng sai tỳ-kheo… v́ Tăng hành xá la. các trưởng lăo nào chấp thuận Tăng sai tỳ-kheo… v́ Tăng hành xá la, th́ im lặng. Ai không chấp thuận th́ hăy nói.

«Tăng đă chấp thuận, Tăng sai tỳ-kheo… v́ Tăng hành xá la, v́ đă im lặng. Tôi ghi nhận như vậy

Người thọ sai, sau khi đă được Tăng sai, bạch Tăng trước khi phát và thu thẻ. Văn bạch như sau:

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tôi tỳ-kheo… v́ Tăng hành xá la. Đây là lời tác bạch

Bạch Tăng xong, các tỳ-kheo thọ sai bưng mâm thẻ đi phát. Theo thứ tự, từ vị Thượng tọa lớn nhất trở xuống. Sa-di không dự tác pháp yết-ma trong giới trường, do đó tập hợp ở bên ngoài để nhận thẻ. Người nhận thẻ rời khỏi chỗ ngồi, qú và nhận. Tiếp theo, người thọ sai thu thẻ để vào một cái mâm khác. Phát và thu xong, bưng mâm thẻ ra ngoài đếm.

Các luật sư Trung hoa c̣n thêm rằng, thẻ thứ nhất dâng lên đức Thích-ca, kế là Thượng tọa pháp chủ. Người phát thẻ bưng mâm thẻ đem trước bàn Phật, lễ một lễ, rồi đứng dậy, hay dâng thẻ và xướng: «Trung thiên Giáo chủ Thích ca Mâu Ni Phật nhận thẻ thứ nhất[20] Người nhận thẻ bưng cái mâm không đi theo, lễ Phật một lễ rồi thu thẻ lại đặt vào mâm không đi theo,  thẻ cuối cùng được phát cho Hộ pháp. Người phát thẻ xướng: «An cư Hội thượng Vi-đà Bồ tát nhận thẻ cuối cùng.»[21] Người thu thẻ đi theo thu lại để vào mâm.

Việc phát thẻ đến đức Bổn sư và Hộ pháp không thấy nói trong luật bản, mà chỉ thấy nói trong Yết-ma chỉ nam. Tính cách hợp pháp của nó cần phải thảo luận nhiều. Ở đây chỉ ghi lại tiện việc tham khảo mà thôi.

Phát thẻ, thu thẻ và đếm thẻ xong, người thọ sai trở lại trước Tăng và bạch:

«Nay là năm… kết an cư ba tháng phần đầu của mùa hạ. Gồm (số) tỳ-kheo và (số) sa-di. Tăng hành xá la đă xong

iii. Bạch an cư

Tác pháp bạch an cư được chia làm hai trường hợp, có khác nhau chút đỉnh, tức tác pháp của hàng Thượng tọa, và tác pháp của đại chúng. Đây là sự ấn định của các luật sư Trung hoa, [22]c̣n trong các luật bản th́ không có sự phân biệt này.

a) Tác pháp của hàng Thượng tọa

Trong đây gồm cả vị pháp chủ, cũng gọi là thuyền chủ, là vị luật sư y chỉ cho đại chúng. Sự khác nhau được phân biệt giữa hàng Thượng tọa và đại chúng là do bởi các Thượng tọa nương trên vị luật sư y chỉ, do đó văn bạch an cư có hơi sai khác.

Theo thứ tự, vị Thượng tọa lớn nhất tác pháp đối thủ thọ an cư với một vị Thượng tọa gần ngang hàng. Cả hai vị hoặc cùng đứng hoặc cùng qú cả. Văn bạch nói như sau:

«Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ-kheo… nay y nơi (tên trú xứ) Tăng-già lam[23] an cư ba tháng đầu của mùa hạ. Nếu pḥng xá có hư hại, sẽ tu bổ (nói ba lần)

Văn bạch trên đây nói theo luật Tứ phần.[24] Các luật khác đại khái giống nhau. Chỉ riêng luật Ma-ha Tăng-kỳ[25] không có câu kết cuối, tức câu ‹Nếu pḥng xá có hư hại, sẽ tu bổ.› Các Luật dù có ghi câu này nhưng không thấy có giải thích. Luật Ma-ha Tăng-kỳ được coi là gần luật bộ nguyên thủy hơn cả. Điều này cho thấy trong lịch sử chế độ Tăng-già giữa các bộ phái, phận sự an cư càng về sau càng được giới hạn chặt chẽ. Như đoạn trên có nhắc đến kinh Chánh pháp niệm xứ, trong đó nói, tỳ-kheo an cư ngoài việc đại tiểu tiện ra phải thường xuyên ngồi kiết già tọa thiền chứ không được làm các công việc linh tinh khác. Cũng vậy, giữa các bộ phái, dù các Luật không giải thích, người ta cũng thấy có một sự ấn định gần như tương tự. Nhưng nhất định có trường hợp đă xảy ra là trong khi an cư mà thảng hoặc pḥng xá có hư hại, và lúc đó lại không có các cư sĩ để làm thay hộ, các tỳ-kheo phải tự ḿnh sửa sang lấy, cho nên qui chế an cư được nới rộng ra một chút bằng câu ‹nếu pḥng xá có hư hại, sẽ tu bổ› nêu trên.

Sau khi vị Thượng tọa lớn nhất, thường là vị luật sư y chỉ của đại chúng, đă tác pháp thọ an cư xong, lần lượt đến các Thượng tọa, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ. Mỗi vị đều tác pháp đối thủ với vị Thượng tọa luật sư y chỉ ấy mà thọ an cư.

b) Tác pháp của đại chúng  

Theo Phật chế, tại mỗi trú xứ an cư phải có một vị Thượng tọa làm luật sư y chỉ cho đại chúng, để xử trị và nhắc nhở các tỳ-kheo chưa thông suốt luật.[26]

V́ đại chúng an cư cần phải nương vào luật sư y chỉ, do đó văn bạch có khác với hàng Thượng tọa. Văn bạch như sau:

Theo thứ tự lớn nhỏ. Tỳ-kheo lớn nhất trong đại chúng bạch an cư trước. Vị này bước ra lễ Thượng tọa y chỉ một lễ rồi qú bạch:

«Đại đức nhất tâm niệm. Con tỳ-kheo… nay y nơi (nói tên trú xứ) Tăng-già lam an cư ba tháng đầu của mùa hạ. Nếu pḥng xá có hư hại, sẽ tu bổ

Thượng tọa nói:

«Vậy hăy cẩn thận chớ buông lung

Đáp:

«Thọ tŕ (hay Y giáo phụng hành).»

Thượng tọa hỏi tiếp:

«Y vị nào làm luật sư

«Y (nói hiệu luật sư y chỉ) làm luật sư

Thượng tọa nói:

«Có điều ǵ nghi ngờ nên đến hỏi

«Nhĩ (hay Kính vâng).»

Trên đây là văn bạch tiền an cư. Nếu là hậu an cư th́ cũng vậy, nhưng đổi từ ‹ba tháng đầu› thành ‹ba tháng cuối.› Tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di và sa-di-ni cũng tác pháp như trên, nhưng đổi các từ xưng hô cho thích hợp. Ngoài cách Tăng pháp đối thủ an cư trên, c̣n có cách tâm niệm an cư.

c) Tâm niệm an cư   

Trong trường hợp không có người để ư chỉ hoặc ở một ḿnh, tỳ-kheo được phép tác  pháp tâm niện an cư. Tỳ-kheo-ni không được phép sống riêng biệt do đó không có tác pháp tâm niệm an cư. Chỉnh trang y hậu, có thể đến trước tượng Phật, qú bạch thành tiếng (không được nói thầm) như sau:

«Con tỳ-kheo… nay y nơi (nói tên trú xứ) an cư ba tháng đầu (hay cuối) của mùa hạ(nói ba lần)

Nếu không tác pháp như vậy th́ không thành an cư. Nhưng nếu lỡ quên, mà trước đă có chủ ư an cư, th́ cũng vẫn thành an cư.[27]

iv. Kiết giới  

Tại các Tăng-già-lam, thông thường phạm vi cương giới của trú xứ đă được tác pháp ấn định. Nếu trú xứ quá nhỏ, mà khi an cư muốn nới rộng hay ngược lại, th́ cần phải tác pháp giải cương giới cũ rồi kiết lại. Tác pháp kiết giới, gồm xướng tiêu tướng, và bạch yết-ma, đều đă được nói trong chương II ở trên.

4. XUẤT GIỚI VÀ PHÁ HẠ  

i. Xuất giới tác pháp thọ nhật   

Trong thời gian an cư, không được ra khỏi phạm vi của trú xứ, trừ việc đi khất thực. Tuy nhiên, như đă nói, một trong những mục đích của sự an cư là tạo cơ hội để những người Phật tử tại gia có thể gần gũi và phụng sự Tăng, do đó v́ ích lợi của Phật tử tại gia nên mỗi khi họ có thỉnh cầu, tỳ-kheo có thể xuất giới, tức ra khỏi phạm vi của trú xứ an cư, không thể đi và về trong một ngày, mà phải ở lại cách đêm. Trong những trường hợp v́ duyên sự chính đáng như vậy, có hai thể thức cho phép xuất giới, xuất giới trong thời hạn từ bảy ngày trở lui, và thời hạn từ bảy ngày đến bốn mươi ngày.

a) Xuất giới bảy ngày  

Tỳ-kheo có duyên sự chính đáng,[28] có thể xuất giới trong thời hạn bảy ngày trở lại. Trước khi xuất giới, phải tác pháp thọ nhật chứ không thể tự tiện đi. Đây là tác pháp đối thủ, không phải bạch Tăng, mà chỉ cần bạch với một tỳ-kheo đang an cư trong cùng trú xứ là được. Văn tác bạch như sau:

«Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ-kheo… nay có duyên sự… xin được xuất giới bảy ngày. Sau khi duyên sự xong, sẽ trở lại đây an cư. Kính mong đại đức chứng tri(nói ba lần)

Nếu tại trú xứ an cư của ḿnh không có tỳ-kheo nào cả, cũng có thể nói với sa-di hoặc cư sĩ. Hoặc nếu ḥan toàn không có ai cả, th́ chỉ tâm niệm tác pháp. Tỳ-kheo xuất giới mà không tác pháp th́ được coi là mất hạ.

Sau khi xuất giới, duyên sự xong, trở lại trú xứ an cư, nhưng tạm thời hạn bảy ngày đă hết mà việc chưa xong, nếu trở lại trú xứ th́ cần tác pháp tàn dạ rồi mới có thể tiếp tục đến chỗ có duyên sự trước đó. Tàn dạ nghĩa là đêm c̣n dư. Cũng tác pháp đối thủ như khi xuất giới. Văn bạch như sau:

«Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ-kheo… đă thọ pháp xuất giới bảy ngày, đă hết (số ngày) nhưng duyên sự chưa xong, nay c̣n lại… đêm. Kính mong Đại đức chứng tri (nói ba lần).»[29]

b) Yết-ma thọ nhật.

Nếu thời hạn cần thiết đủ để ḥan tất duyên sự từ bảy ngày trở lên, và tối đa là 40 ngày,[30] th́ cần phải bạch Tăng. Sau khi Tăng đă tác pháp yết-ma thọ nhật mới được phép xuất giới. Nói là 40 ngày, nhưng thực tế đêm cuối cùng phải có mặt tại trú xứ an cư, do đó thời hạn tối đa là 39 đêm.[31] Thời hạn này không thể vượt qua, v́ thời gian ở trong giới cần phải nhiều hơn thời gian ở ngoài. Nếu quá thời hạn này, được coi là phá hạ.

Tỳ-kheo muốn xuất giới, thỉnh Tăng với túc số là 4 tỳ-kheo, vào giới trường để tác pháp. Sau khi vấn đáp tiền phương tiện cho yết-ma thọ nhật xong, thầy tỳ-kheo yết-ma bạch:

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận tỳ-kheo… thọ pháp quá bảy ngày để xuất giới trong thời hạn… ngày v́ duyên sự… sau đó sẽ trở về an cư. Đây là lời tác bạch.

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ-kheo… xin thọ pháp quá bảy ngày để xuất giới trong thời hạn… ngày, v́ duyên sự… sau đó sẽ trở về an cư. Các Trưởng lăo nào chấp thuận tỳ-kheo… thọ pháp quá bảy ngày để xuất giới, thời hạn… ngày v́ duyên sự… sau đó trở về an cư, th́ im lặng. Ai không chấp thuận hăy nói.

«Tăng đă chấp thuận tỳ-kheo… được thọ pháp quá bảy ngày để xuất giới, thời hạn… ngày v́ duyên sự.., sau đó trở về an cư, v́ im lặng. Tôi ghi nhận như vậy

Tăng đă yết-ma thọ nhật xong, tỳ-kheo thọ nhật phải rời khỏi trú xứ nội trong một ngày, không được để cách đêm, nếu đă bước chân ra khỏi cương giới của trú xứ, không được phép lùi lại. Nếu lỡ có quên cái ǵ mà trở vào trú xứ, cần phải thỉnh cầu Tăng tác pháp yết-ma thọ nhật lại. Cho rồi mới được phép xuất giới.

ii. Phá hạ

Phá hạ nghĩa là vi phạm các điều thuộc quy chế an cư mà luật đă thiết định. Chủ yếu của sự phá hạ là rời khỏi trú xứ. Có hai trường hợp phá hạ: hợp pháp và không hợp pháp. Phá hạ không hợp pháp là tự ḿnh bước ra khỏi phạm vi của trú xứ an cư mà không có duyên sự, không có tác pháp đúng pháp.

Trường hợp phá hạ  hợp pháp là do có những tai nạn bất ngờ xảy đến. Hoặc khi thọ nhật xuất giới đă hết hạn, nhưng do các tai nạn xảy đến không thể trở về trú xứ an cư kịp thời hạn; trường hợp này không được kể là phá hạ. Nhưng nếu có tai nạn bắt buộc phải rời khỏi trú xứ an cư, để di chuyển đến một trú xứ khác tiếp tục an cư, trường hợp này cũng không nói là phá hạ. Nếu bị bắt buộc phải rời khỏi trú xứ an cư, nhưng không thể tiếp tục an cư ở bất cứ trú xứ nào khác nữa; đây mới thực sự là phá hạ.

Có tám tai nạn mà tỳ-kheo rời khỏi trú xứ được coi là phá hạ hợp pháp.

1. Nguy hiểm phạm hạnh: tại trú xứ an cư, tỳ-kheo có thể bị những người quyền thế ép buộc phá giới; hoặc có những người nữ thường đến quyến rũ phá giới, hoặc cha mẹ, anh em, thân thích thuyết phục phá giới. Để bảo vệ đời sống tu tịnh hạnh, tỳ-kheo có thể rời bỏ trú xứ này.   

2. Nguy hiểm v́ kho tàng: sau khi đă kiết hạ an cư tại một trú xứ nào đó, các tỳ-kheo mới biết rằng ở đây có kho tàng; nếu sống tại đây có thể có những điều nguy hiểm xảy ra.     

3. Qủy phá hoại: trú xứ an cư của tỳ-kheo thường bị ma qủy quấy phá, đe dọa sinh mạng.   

4. Rắn độc.   

5. Thú dữ.   

6. Giặc cướp: cả ba trường hợp đều là những tan nạn nguy hiểm đến sinh mạng.  

7. Thiếu thốn các nhu cầu: như ăn uống, thuốc men, hay không có người giúp đỡ.

8. Phá Tăng: Tăng tại trú xứ an cư đang chia rẽ, không ḥa hiệp; tỳ-kheo không muốn bị lôi cuốn vào sự tranh chấp không thể ḥa hiệp, có thể rời bỏ đi nơi khác.

Trong các trường hợp thọ nhật xuất giới và phá hạ được nói trên đây, th́ yết-ma thọ nhật không áp dụng cho ni, v́ tỳ-kheo-ni không được pháp xuất giới quá bảy ngày. Các trường hợp khác, cũng đồng như tỳ-kheo.

TIẾT 2.  TỰ  TỨ

1. Ư NGHĨA   

Tự tứ là tiếng dịch Hán từ tiếng Phạn, pravāraṇā.[32] Từ này cũng được phiên âm là bát-ḥa-la, và có các tiếng dịch Hán khác như thỉnh thỉnh[33] hay tùy ư.[34] Nghĩa từ này là ‹sự thỉnh cầu.› Đây chỉ cho sự thỉnh cầu người khác chỉ điểm những khuyết điểm của ḿnh. Sự chỉ điểm được căn cứ trên ba trường hợp: do được thấy, được nghe và được nghi.

Mục đích của việc tự tứ cũng giống như của việc thuyết giới, đó là biểu hiện sự thanh tịnh và ḥa hiệp của Tăng. Nhưng nó quan trọng hơn sự thuyết giới ở chỗ mở ra một giai đoạn mới trong đời sống đạo hạnh của một tỳ-kheo, sau khi chấm dứt thời hạn ba tháng sống chung giữa Tăng.

Nhật kỳ tự tứ cũng giống như của việc thuyết giới, được thực hiện thông thường vào ngày trăng tṛn. Nhưng khác với thuyết giới có định kỳ mỗi nửa tháng, th́ tự tứ chỉ định kỳ một lần trong một năm sau mùa an cư mà thôi. Nói cách khác, tự tứ là một h́nh thức bố-tát không đọc giới bổn. Do đó, các việc tập họp Tăng, kết tiểu giới, và hành trù kiểm Tăng, cả hai đều giống nhau. Cho đến các trường hợp tỳ-kheo khách đến dự tự tứ, việc dời ngày tự tứ do các duyên sự bất thường, thảy đều giống nhau cả.

Tuy nhiên, có một số điểm khác biệt giữa tự tứ và thuyết giới sẽ được nêu lên dưới đây.

i. Vấn đề túc số Tăng  

Trong sự thuyết giới, túc số Tăng tối thiểu là bốn tỳ-kheo. Nhưng trong sự tự tứ, túc số Tăng tối thiểu phải là năm tỳ-kheo. Bởi v́ trong số năm tỳ-kheo, khi một tỳ-kheo bạch tự tứ, nghĩa là yêu cầu Tăng chỉ điểm những khuyết điểm của ḿnh, th́ Tăng số phải đủ bốn tỳ-kheo. Nếu chỉ hiện diện từ bốn tỳ-kheo trở xuống đến hai vị, th́ chỉ được phép tác pháp đối thủ tự tứ. C̣n nếu chỉ có một tỳ-kheo th́ chỉ tác pháp tâm niệm tự tứ.

ii. Vấn đề tác pháp  

Thuyết giới tất nhiên phải đọc giới bổn. Trong khi đọc tỳ-kheo nào nhớ lại điều ḿnh vi phạm th́ bày tỏ mà sám hối. Như vậy, sự sám hối có tính cách tự giác và tự nguyện. Tự tứ không có thuyết giới, mà mỗi người, từ vị Thượng tọa lớn nhất cho đến tỳ-kheo nhỏ nhất, phải tự ḿnh yêu cầu Tăng chỉ điểm. Như vậy, nó không thuộc tính cách tự nguyện và tự giác. Cho nên, phạm vi thuyết tội của tự tứ rộng răi hơn thuyết giới rất nhiều. Do sự kiện này mà yết-ma thuyết giới và yết-ma tự tứ có khác nhau.

iii. Vấn đề gởi dục   

Cũng như thuyết giới, tỳ-kheo có duyên sự như pháp có thể gởi dục. Nhưng trong trường hợp thuyết giới, do tính cách tự nguyện và tự giác, do đó sự gởi dục gồm luôn cả sự thuyết tịnh. Trong trường hợp tự tứ, chỉ gởi dục chứ không có sự thuyết tịnh.

Nói tóm lại, ngoài ba điểm khác nhau căn bản trên đây những vấn đề c̣n lại, cả thuyết giới và tự tứ đều áp dụng nguyên tắc như đă nói trong chương thuyết giới.

 

2. TÁC PHÁP TỰ TỨ     

i. Dự kỳ sám hối    

Cũng giống như thuyết giới, trước khi Tăng tự tứ, các tỳ-kheo cần phải sám hối cho thanh tịnh. Dự kỳ sám hối thường được làm trước tự tứ một ngày,[35]để các tỳ-kheo có tội có đủ thời gian cần thiết sám hối. Phận sự này không khác với dự kỳ sám hối để thuyết giới, và đă được nói trong chương thuyết giới trên.

ii. Hành trù và hành thảo  

Việc hành trù để kiểm điểm Tăng số là phận sự phải làm để thuyết giới tự tứ. Cách hành trù kiểm Tăng để tự tứ cũng đồng nguyên tắc như thuyết giới.

Riêng tự tứ c̣n có thêm mục hành thảo.[36] Hành thảo tức phát cỏ. Đây là phỏng theo sự kiện đức Thích Tôn ngồi trên đệm cỏ cát tường, tọa thiền trong 49 ngày mà thành Chánh giác. Nay để nhắc nhở kỷ niệm đó và để nêu rơ mục đích cao thượng của đời sống xuất gia, do đó có sự phát cỏ này. Tuy nhiên, v́ chỉ có tính cách tượng trưng nên không nhất thiết phát mỗi tỳ-kheo một cái đệm cỏ để ngồi, mà chỉ cần phát mỗi vị một cọng cỏ tượng trưng là đủ. Việc phát cỏ do người nhận tự tứ phụ trách, sau khi đă được Tăng tác pháp yết-ma tự tứ. Hành thảo hay phát cỏ là điểm đặc biệt riêng của Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ chứ không thấy nói trong các bộ phái khác, do đó không phải là phận sự bắt buộc.

iii. Ni Tăng sai người thỉnh giáo giới tự tứ    

Một trong tám kỉnh pháp của tỳ-kheo-ni là phải cử người đến giữa đại Tăng cầu thỉnh ba sự tự tứ. Khác với Ni-Tăng cầu thỉnh giáo giới vào mỗi định kỳ nửa tháng thuyết giới là có thể chúc thỉnh, nghĩa là đến già-lam của tỳ-kheo Tăng nhờ một tỳ-kheo thỉnh giáo thọ sư giùm khi Tăng tác pháp thuyết giới; ở đây tỳ-kheo-ni được sai cầu thỉnh giáo giới tự tứ phải tự thân đến trước đại Tăng mà tác bạch. Văn yết-ma như sau:

Ni Tăng sai người thỉnh giáo giới tự tứ.

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng. Tăng sai tỳ-kheo-ni…qua đại Tăng v́ tỳ-kheo-ni Tăng cầu nói ba sự tự tứ là thấy, nghe và nghi. Đây là lời tác bạch.

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng nay sai tỳ-kheo-ni… qua đại Tăng v́ tỳ-kheo-ni Tăng cầu nói ba sự tự tứ là thấy, nghe và nghi. Các Trưởng lăo nào chấp thuận, Tăng nay sai tỳ-kheo-ni… qua đại Tăng v́ tỳ-kheo-ni Tăng cầu nói ba sự tự tứ là thấy, nghe và nghi, th́ im lặng. Ai không chấp thuận hăy nói.

«Tăng đă chấp thuận ni Tăng nay sai tỳ-kheo-ni qua đại Tăng v́ tỳ-kheo-ni Tăng cầu nói ba sự tự tứ là thấy, nghe và nghi v́ im lặng, Tôi ghi nhận như vậy

Tỳ-kheo-ni được sai cầu thỉnh tự tứ hỏi kỹ cho biết ngày giờ tỳ-kheo Tăng tự tứ, và thông báo cho người chấp sự của Tăng biết, để khi tác pháp tự tứ, hỏi đến chỗ: «Có ai sai tỳ-kheo-ni đến thỉnh cầu giáo giới tự tứ không?» Sẽ được gọi vào mà bạch Tăng cầu thỉnh.

iv. Yết-ma tự tứ        

Phân loại theo túc số, th́ yết-ma tự tứ có ba loại là Tăng pháp yết-ma gồm từ năm tỳ-kheo trở lên, đối thủ tự tứ gồm từ bốn tỳ-kheo trở xuống đến hai vị, tâm niệm tự tứ áp dụng trong trường hợp tỳ-kheo v́ duyên sự hợp pháp không đến tự tứ.

Trong ba phân loại theo túc số tự tứ này, về Tăng pháp yết-ma tự tứ, nếu phân loại theo ḥan cảnh th́ có hai: cá nhân tự tứ và tập thể tự tứ. Ḥan cảnh ở đây là có hay không có nạn duyên.

Cá nhân tự tứ, là từng tỳ-kheo một, từ Thượng tọa cho đến tỳ-kheo nhỏ nhất, lần lượt mỗi người tự nói ba lần cầu thỉnh tự tứ. Tự tứ tập thể là loạt ba người cùng tác bạch tự tứ một lần. Trong trường hợp này, Tăng sai nhiều tỳ-kheo Thượng tọa làm người nhận tự tứ. Các vị này đều bạch tự tứ theo thể thức cá nhân, sau đó mới đến lượt đại chúng. Từng nhóm tỳ-kheo ba người lần lượt bạch tự tứ. Chỉ giới hạn số ba người, v́ Tăng tự tứ với Tăng không được coi là hợp pháp. Đây là nạn duyên không bức thiết lắm. Nếu nạn duyên quá bức thiết, không đủ thời gian để tự tứ cho số đông tỳ-kheo, th́ có thể tự tứ theo thể thức tác bạch vắn tắt. Tức thay v́ bạch ba lần, ở đây chỉ bạch hai hay một lần. Nhưng các thể thức này phải cân nhắc theo nạn duyên, không thể tự tiện.

a) Vấn đáp tiền phương tiện

Yết-ma tự tứ là nói tổng quát trong đó căn bản gồm hai thể thức yết-ma: một bạch nhị Tăng sai người nhận tự tứ và một đơn bạch chính thức tự tứ. Yết-ma sai người hành xá la có thể áp dụng hay không đều được phép tùy tiện. Nếu kể luôn cả yết-ma sai người hành xá la này nữa, th́ yết-ma tự tứ gồm có ba tiết mục tất cả.

Như vậy, trong vấn đáp tiền phương tiện, khi hỏi: «Tăng nay ḥa hiệp để làm ǵ?» Th́ được trả lời tổng quát là «Yết-ma tự tứ.» Mặc dù trong tác pháp tự tứ gồm có hai mục yết-ma căn bản là bạch nhị yết-ma Tăng sai và đơn bạch yết-ma tự tứ, nhưng chỉ một lần vấn đáp tiền phương tiện mà thôi.

Thể thức tác pháp tiền phương tiện:

Sau khi đánh hiệu tập Tăng, các tỳ-kheo đă an tọa ấn định trong phạm vi giới trường, Thượng tọa hỏi:

-Tăng đă họp chưa?

Duy na đáp:

-Tăng đă họp.

- Ḥa hiệp không?

- Ḥa hiệp.

- Người chưa thọ cụ túc đă ra chưa?

- Đă ra.

- Các tỳ-kheo không đến có thuyết dục tự tứ không?

Việc gởi dục, nhận dục và thuyết dục đều giống như trong thuyết giới. Có khác thay v́ nói ‹Gởi dục và thanh tịnh› th́ ở đây nói ‹Gởi dục tự tứ.›

Thượng tọa hỏi tiếp:

- Có ai sai tỳ-kheo-ni đến thỉnh giáo giới tự tứ không?

Nếu có th́ duy na đáp: , và cho gọi tỳ-kheo-ni thọ sai vào. Tỳ-kheo-ni thọ sai, sau khi đảnh lễ đại Tăng quỳ xuống bạch:

«Bạch Đại đức Tăng (nói tên chùa ni) tỳ-kheo-ni Tăng hạ an cư đă xong. Tăng sai chúng con tỳ-kheo-ni… qua đại Tăng v́ tỳ-kheo-ni Tăng cầu nói ba sự tự tứ, là các tội được thấy, được nghe, được nghi ngờ. Ngưỡng mong Đại đức Tăng rũ ḷng thương tưởng chỉ giáo. Nếu chúng con thấy có tội sẽ như pháp sám hối.» (nói ba lần)

Trong Tăng, nếu tỳ-kheo nào thấy có điều ǵ cần chỉ giáo về ba việc thấy, nghe và nghi đối với ni chúng th́ nói, c̣n không th́ tất cả im lặng. Chờ đợi sự chỉ giáo của các tỳ-kheo một lúc, Thượng tọa nói lời giáo giới:

«Trong đại Tăng từ trên xuống dưới thảy đều im lặng như vậy, thật do Ni chúng bên trong chuyên cần ba nghiệp, bên ngoài vô sự, cho nên không có điều ǵ trái phạm. Tuy nhiên như vậy, các vị hăy nói lại với ni chúng, đại Tăng có giáo sắc rằng ni chúng như pháp mà tự tứ, cẩn thận chớ buông lung.»

Tỳ-kheo-ni thọ sai đáp:

«Y giáo phụng hành

 Rồi đảnh lễ đại Tăng mà lui ra. Bây giờ Thượng tọa hỏi giữa Tăng:

- Tăng nay ḥa hiệp để làm ǵ?   

Duy na đáp:

- Yết-ma tự tứ.    

b) Yết-ma Tăng sai người nhận tự tứ     

Theo nguyên tắc mỗi tỳ-kheo phải tự ḿnh quỳ trước Tăng để thỉnh cầu Tăng chỉ giáo cho những khuyết điểm mà ḿnh có thể phạm trong suốt ba tháng an cư.[37] Nhưng phần lớn các Luật của các bộ phái được truyền dịch tại Trung quốc đều có việc sai người nhận tự tứ.[38] Người nhận tự tứ là người được Tăng đề cử để chỉ điểm sai lầm cho các tỳ-kheo. Tỳ-kheo cần hội đủ năm đức tính để được Tăng sai làm người nhận sự tự tứ. Năm đức tính đó là: không thiên vị, không sân hận, không sợ hăi, không ngu dốt, biết rơ nguyên tắc cử tội. Sở dĩ có vấn đề Tăng sai tỳ-kheo đủ các đức tính cần thiết để làm người nhận tự tứ là tránh các trường hợp một số tỳ-kheo hiếu sự tự tiện nêu tội người cầu tự tứ một cách càn dỡ, hoặc phá chơi, hoặc cố ư, gây sự phiền phức giữa Tăng.

Sau khi vấn đáp tiền phương tiện xong, Thượng tọa hỏi:

- Trong chúng có vị nhân giả nào kham năng làm người nhận tự tứ không?   

Các tỳ-kheo hội đủ đức tính cần thiết để làm người nhận tự tứ ứng tiếng nói:

«Tôi tỳ-kheo… kham năng

Một lần yết-ma Tăng sai có thể từ một đến ba vị. Nếu từ bốn vị đến năm hay sáu vị, th́ chia làm hai nhóm, là hai lần yết-ma Tăng sai. Nếu nhiều hơn nữa, th́ phân thành nhiều nhóm và yết-ma nhiều lần, mỗi lần tối đa là ba vị.

Thượng tọa bạch yết-ma Tăng sai:

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay sai tỳ-kheo… và tỳ-kheo… làm người nhận tự tứ. Đây là lời tác bạch.

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng sai tỳ-kheo… tỳ-kheo… làm người nhận tự tứ. Các trưởng lăo nào chấp thuận Tăng sai tỳ-kheo… tỳ-kheo… làm người nhận tự tứ, th́ im lặng. Ai không chấp thuận hăy nói.

«Tăng đă chấp thuận tỳ-kheo… tỳ-kheo… làm người nhận tự tứ, v́ im lặng. Tôi ghi nhận như vậy

c) Đơn bạch tự tứ   

Các tỳ-kheo thọ sai bước ra đảnh lễ Tăng. Một vị trong các vị được thọ sai bạch Tăng chính thức tác pháp tự tứ.

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay ḥa hiệp tự tứ. Đây là lời tác bạch

d) Chính thức tự tứ   

Thượng tọa pháp chủ nói tự tứ trước hết. Tiếp theo đó, các vị thọ sai nói tự tứ, rồi lần lượt đến các tỳ-kheo khác. Khi bạch tự tứ, nếu là hàng Thượng tọa, th́ có thể đứng hay qú đều được cả. Nếu Thượng tọa đứng, th́ tất cả chúng có thể đứng hay quỳ khi nói tự tứ. Nếu Thượng tọa quỳ nói tự tứ, th́ tất cả chúng đều phải quỳ để nói tự tứ.

Người tự tứ rời khỏi chỗ ngồi, lễ người nhận tự tứ một lễ, rồi nói:

«Đại đức nhất tâm niệm. Hôm nay chúng Tăng tự tứ. Tôi tỳ-kheo… cũng tự tứ. Nếu có tội được thấy, được nghe, được nghi, nguyện đại đức thương tưởng chỉ giáo tôi. Nếu tôi thấy có tội, sẽ như pháp sám hối.» (nói ba lần)

Người nhận tự tứ đáp:

-Thiện.  

Người tự tứ đáp:

- Nhĩ.   

Các tỳ-kheo theo thứ tự lớn đến nhỏ nói tự tứ xong, các vị nhận tự tứ bước ra giữa Tăng, một vị bạch:

«Tăng nhất tâm tự tứ đă xong.»

Tác pháp tự tứ đến đây là hết. Các chi tiết như lễ Phật, hồi hướng v.v… đều có thể tùy tiện.

e) Tự tứ vắn tắt:   

Nếu v́ nạn duyên không đủ thời gian để tự tứ lần lượt từng người, hay đủ để nói ba lần tự tứ tập thể hay đồng loạt. Nhưng muốn tự tứ theo thể thức này th́ phải yết-ma.

Thượng tọa bạch cùng:

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay mỗi mỗi đồng loạt nói tự tứ ba lần. Đây là lời tác bạch

Nếu không đủ thời gian để nói ba lần tự tứ, mà chỉ có thể nói hai hoặc một lần, th́ trong lời bạch yết-ma thay đổi cho thích hợp.

f) Đối thủ tự tứ  

Tăng không đủ túc số năm người, không thể thực hiện Tăng pháp tự tứ. Mỗi người đổi nhau mà tác bạch rằng:

«Bạch Đại đức nhất tâm niệm, ngày nay chúng Tăng tự tứ. Tôi tỳ-kheo… thanh tịnh(nói ba lần)

Tức là, nếu gồm bốn tỳ-kheo, th́ một ngưới nói tự tứ với ba người c̣n lại. Nếu gồm có ba tỳ-kheo, th́ đổi lời bạch thành ‹Hai Đại đức nhất tâm niệm›, và nếu chỉ có hai tỳ-kheo th́ cũng đổi lại là ‹Đại đức nhất tâm niệm.›

g) Tâm niệm tự tứ  

Nếu không có tỳ-kheo nào khác để đối thú tác pháp, th́ tự ḿnh y hậu chỉnh tề, tâm niệm. Có thể miệng nói thành lời để tự tứ.

v. Triển hạn nhật kỳ tự tứ  

Theo nguyên tắc, đủ 9 tuần an cư th́ Tăng ḥa hiệp tác pháp tự tứ. Nếu có duyên sự đặc biệt cần triển hạn th́ phải họp Tăng tác pháp yết-ma triển hạn.

Có hai duyên sự để có thể triển hạn. Thứ nhất do Tăng ḥa hiệp an cư có những tiến bộ đáng kể nếu có thể kéo dài thêm thời hạn an cư để các tỳ-kheo có thêm thời gian tu tập hầu có thể chứng đắc đạo quả Niết-bàn th́ Tăng có thể tác pháp yết-ma triển hạn nhật kỳ tự tứ, tối đa là một tháng.[39]

Triển hạn tự tứ để tiến tu 

Tập họp toàn thể Tăng trong trú xứ. Thượng tọa bạch Tăng:

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng ngày hôm nay không tự tứ. đợi đủ bốn tháng an cư xong sẽ tự tứ. Đây là lời tác bạch

Thứ hai do Tăng chưa được thanh tịnh và ḥa hiệp. Nguyên do có thể do có những tranh chấp ngay giữa các tỳ-kheo cùng sống chung trong trú xứ an cư hoặc do các tỳ-kheo khác hiện diện.[40] Trường hợp này giống như trường hợp thuyết giới và do đó nguyên tắc để triển hạn giống nhau.

Triển hạn tự tứ do phá Tăng   

Văn bạch yết-ma:

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Ngày hôm nay Tăng không tứ tứ. Đợi đến ngày 15 (hoặc 16) tháng đến (cũng có thể nói đợi đến ngày 30 hoặc 29) sẽ tự tứ. Đây là lời tác bạch

Đến hết hạn kỳ triển hạn, mà sự tranh chấp giữa Tăng vẫn chưa được giải quyết, có thể triển hạn thêm 15 ngày nữa. Văn bạch y như trên, chỉ đối những từ chỉ ngày tháng cho thích hợp. Nếu hết hạn kỳ triển hạn mà Tăng vẫn chưa ḥa hiệp, hay các tỳ-kheo khách chưa đi, th́ phải y theo luật cưỡng bức các tỳ-kheo hiếu sự ḥa hiệp tự tứ, nếu không thể cưỡng bức, các tỳ-kheo thanh tịnh đồng ra khỏi cương giới của trú xứ, kết tiểu giới tự tứ.

3. SAU TỰ TỨ  

Theo nguyên tắc, hạn kỳ an cư phải đủ chín tuần. Ngày tự tứ dù là ngày cuối cùng, nhưng vẫn ở trong hạn kỳ an cư do đó phải đợi hết đêm, tức sáng hôm sau khi ánh sáng mai xuất hiện mới được xuất giới. Những tỳ-kheo hậu an cư, cũng tự tứ chung một lần với các tỳ-kheo tiền an cư, nhưng phải đợi đến hết hạn kỳ, tức phải đủ chín tuần, mới được phép rời trú xứ an cư.

Theo Tứ phần hành sự sao[41] tỳ-kheo sau khi hết hạn kỳ an cư phải xuất giới, tức rời khỏi trú xứ an cư. Sở cứ của điều này là luật Tứ phần,[42] dưới điều khoản 96 thuộc ba-dật-đề của ni. Duyên khởi là do tỳ-kheo-ni Sám-ma được các cư sĩ tại thành Xá-vệ thỉnh an cư. Hạn kỳ an cư đă hết ngày tự tứ đă qua, nhưng tỳ-kheo-ni này không chịu rời khỏi trú xứ ấy, các cư sĩ mới than phiền, v́ họ không đủ khả năng tiếp tục sự yểm trợ ngoại duyên. Nhân đó, Phật kiết giới nói rằng: nếu tỳ kheo ni hạ an cư đă xong không dời đi, phạm ba-dật-đề, tỳ-kheo phạm đột-kiết-la. Nếu có duyên sự không thể rời ngay được, th́ phải xuất giới cách đêm, sau đó có thể trở lại, và ở bao lâu cũng được, tùy theo ḥan cảnh cho phép.

Tứ phần hành sự sao cũng dẫn thêm Tăng nhất A hàm[43] để nhấn mạnh thêm ư nghĩa của điều khoản này. Theo đó, tỳ-kheo thường ở lâu tại một chỗ sẽ có năm điều phi pháp: quyến luyến pḥng ốc, vật dụng, say mê, theo tài sản, cố giữ sợ bị đánh cắp mất, tích tụ nhiều tư hữu, giao thiệp qúa nhiều với cư sĩ.

Theo tinh thần đoạn kinh được dẫn th́ tỳ-kheo không nên sống quá lâu tại một chỗ, nhưng trong các học xứ của giới bổn, không có sự cấm kỵ này. Do vậy, điều khoản ba-dật-đề của ni được nói trong luật Tứ phần 26 chỉ giới hạn trong việc an cư tại nhà cư sĩ thỉnh mời. Sự cúng dường của cư sĩ để hỗ trợ các ngoại duyên thuận tiện cho tỳ-kheo hay tỳ-kheo-ni tu tập, sự hỗ trợ ấy dù sao cũng giới hạn. Do đó, các tỳ-kheo và tỳ