YẾT-MA YẾU CHỈ KARMAVACANĀBINDUSĀRA

HT. Thích Tri Thủ Giảng thuật

Tỳ-kheoThích Đỗng Minh & Thích Nguyên Chứng Biên tập


CHƯƠNG BẢY
CA  THI  NA

1. DUYÊN KHỞI VÀ Ư NGHĨA    

Khi mùa an cư vừa hết, một số các tỳ-kheo, suốt trong ba tháng không được diện kiến đức Thế Tôn, rất nôn nóng muốn được gặp gỡ Ngài. Do đó, ngay sau ngày tự tứ, họ cùng lên đường đi về Xá-vệ, nơi đức Thế Tôn cũng vừa trải qua ba tháng an cư mùa mưa. Mặc dù bấy giờ mưa dầm, đường xá lầy lội, nhưng họ vẫn dầm mưa mà đi. Mưa dầm khiến cho ba y của họ ướt sũng, trở thành nặng nề, thêm vào đó đường sá lầy lội do hậu quả của mưa, cho nên, khi đến nơi, tất cả đều ẩm ướt và mệt mỏi. Sau khi trao đổi những lời hỏi thăm thông thường, đức Thế tôn nhận thấy rơ t́nh trạng của tỳ-kheo ấy, Ngài tuyên bố từ đây trở đi cho phép các tỳ-kheo sau khi an cư xong được thọ y ca thi na.[1] Thọ y ca thi na có năm điều lợi ích:

1. Ngoài ba y, tỳ-kheo được phép cất y dư quá mười ngày mà không cần làm phép tịnh thí.[2]

2. Được phép ly y túc, nghĩa là không cần phải mang theo ḿnh đủ cả ba y đi bất cứ đâu, không phạm điều luật ĺa y cách đêm.[3]

3. Được triển chuyển thực, nghĩa là được phép thọ thực nhiều lần tại nhiều nhà đàn việt khác nhau miễn không quá ngọ.[4]

4. Được biệt chúng thức, nghĩa là được phép thọ thực thành nhóm từ bốn người trở lên.[5]

5. Trước hay say bữa ăn, tách riêng đi vào xóm, không cần báo cho các tỳ-kheo biết.[6]

Năm điều lợi này là những sự nới rộng một số các điều khoản ni-tát-kỳ ba-dật- đề và ba-dật-đề, để các tỳ-kheo dễ dàng trong việc cất và sắm y mới thay cho các y cũ đă rách, hoặc dễ dàng trong việc đi lại thăm viếng sau ba tháng an cư mùa mưa.

Tất cả các Luật bộ đều đồng nhất về duyên khởi của y ca thi na như trên. Riêng luật Ngũ phần[7] thêm một nguyên nhân khác, trưởng lăo A-na-luật có ba y đều rách nát nhưng không thể sắm được y mới v́ Phật không cho phép cất chứa vải dư nhiều ngày, và tự ḿnh không thể may y xong trong một ngày. Do cả hai nguyên nhân thư thế, Phật cho phép các tỳ-kheo thọ y ca thi na ngay sau ngày tự tứ với năm điều lợi ích của ca thi na như đă kể.

Trường hợp Trưởng lăo A-na-luật mà Ngũ phần đề cập cũng được thấy nói trong Trung A-hàm,[8] với một ít chi tiết khác biệt. Theo đó, Trưởng lăo nói với Tôn giả A-nan rằng cả ba y của ḿnh đă rách nát cả, muốn nhờ A-nan thỉnh hộ các tỳ-kheo may giúp y. Cố nhiên là cần may xong nội trong ngày. Tôn giả A-nan sau buổi trưa, đến pḥng các tỳ-kheo trong tịnh xá để yêu cầu họ đi may hộ y cho trưởng lăo A-na-luật. Biết được điều này, đức Phật hỏi sao A-nan không thỉnh Như Lai cùng đi may hộ y. A-nan bèn cung thỉnh và Phật chấp nhận. Khi đến địa điểm làm y, Phật nói với Trưởng lăo Mục-kiền-liên rằng: «Như Lai có thể là người trương hộ y cho A-na-luật .» Trưởng lăo Mục-kiền-liên bèn thỉnh Phật làm người trương y. Bấy giờ, đức Phật cùng với 800 tỳ-kheo đồng làm y hộ cho A-na-luật. Cả ba y đều được làm xong nội trong ngày. Khi các y đă xong, Phật gấp tư Tăng-già-lê của Ngài để nghỉ, và bảo Trưởng lăo A-na-luật giảng giải cho các tỳ-kheo về các công đức của y ca-thi-na. Nội dung bài giảng của Trưởng lăo A-na-luật bao gồm các quá tŕnh tu tập và chứng đắc Niết-bàn của một tỳ-kheo, kể từ sơ khởi ĺa bỏ gia đ́nh, qua các giai đoạn tŕ giới, tu tập thiền định, chứng đắc các thần thông, thành tựu trí tuệ vô lậu, cho đến cuối cùng chứng đắc A-la-hán. Phần cuối bài giảng, Trưởng lăo tán thán sự tŕ giới, là những nấc thang căn bản để bước lên cái bực cao của thiền định và trí tuệ. Trọn bài giảng này không đề cập cụ thể đến ca-thi-na, không định nghĩa hay mô tả thế nào là ca-thi-na. Nhưng ư nghĩa này có thể t́m thấy trong đoạn ấn chứng của Phật. Sau khi Trưởng lăo giảng xong, đức Phật ngồi trở dậy, tán thán bài giảng của Trưởng lăo. Rồi Ngài khuyên bảo các tỳ-kheo nên thọ tŕ y ca-thi-na, và Ngài kết luận: Trong quá khứ, trong hiện tại và tương lai, chưa có ai được như Trưởng lăo A-na-luật, đó là chính đích thân Như Lai cùng với 800 tỳ-kheo đồng làm hộ cho ba y.

Qua đoạn kinh, mặc dù y ca-thi-na được đề cập gián tiếp, nhưng ư nghĩa rơ ràng là thế này. Ca-thi-na là y mà các tỳ-kheo cùng hợp tác làm chung cho một tỳ-kheo, như là biểu lộ sự xác nhận và ngưỡng mộ những thành tựu thù thắng mà tỳ-kheo ấy đạt được trong đời sống phạm hạnh. Đây có lẽ là ư nghĩa nguyên thủy nhất của ca-thi-na. Đoạn kinh của Trung A hàm đang đề cập cũng cho biết cách thức nguyên thủy của việc làm y ca-thi-na, việc Trưởng lăo Mục- kiền-liên thỉnh Phật làm người trương y, trong văn của Luật tạng, trở thành việc yết ma Tăng sai người trương y ca-thi-na.

Nói tóm lại, theo ư nghĩa vừa nói, ca-thi-na có thể được gọi một cách đứng đắn là y công đức. Nhưng trong Luật tạng, ư nghĩa công đức của nó ḥan toàn không nhắm đến trường hợp như Trưởng lăo A-na-luật, mà nhắm vào năm điều lợi đă nêu. Như vậy, rơ ràng có những bước phát triển về ca-thi-na từ Kinh tạng đến Luật tạng trong đó phải kể h́nh thức được nói trong Kinh tạng là nguyên thủy nhất.

Trên đây là nói về ư nghĩa của ca-thi-na xét theo nội dung. Về mặt từ nghĩa, ca- thi-na là phiên âm từ kathina của tiếng phạn; cùng phiên âm là kiết-sĩ-na. Nguyên kaṭhina trong tiếng Phạn có nghĩa đen là thô cứng, khó khăn. Hành sự sao, quyển thượng,[9] nêu năm dịch ngữ và giải thích: kiên thật, cứng chắc, v́ sắm được nhiều y, y không bại hoại.[10] Đây muốn chỉ điều lợi là cất chứa dư mà không phạm xả đọa. Tức hiểu nghĩa thô cứng trong tiếng Phạn theo nghĩa bóng. Dịch ngữ thứ hai là nan hoạt,[11] sinh hoạt khó khăn, v́ sự kiếm sống của người nghèo rất gian nan, nhưng bỏ một ít tài sản vào y này, th́ công đức thù thắng như đem cả một tấm y lớn bằng núi Tu di mà bố thí. Đây là giải thích nghĩa khó khăn của tiếng Phạn theo nghĩa bóng. Hoặc cũng dịch kiên cố, ư nghĩa cũng như kiên thật. Hoặc dịch là  ấm phú: che mát v́ nó bao trùm cả năm điều lợi ích. Cũng dịch là thường thiện phạt ác, v́ nó là dấu hiệu của sự tưởng thưởng công đức cho các tỳ-kheo ḥan toàn phận sự an cư, và trừng phạt những tỳ-kheo không ḥan tất. Phổ thông hơn cả là dịch công đức y, đây cũng là dịch ư. Nói tóm, theo nguyên nghĩa, ca-thi-na là loại vải thô cứng được dùng làm chất liệu may y. Nhưng xét theo nội dung, ư nghĩa này không chính xác. Mặc dù được giải thích qua các cách dịch khác nhau như Hành sự sao, ư nghĩa thực sự của ca-thi-na theo tiếng Phạn vẫn c̣n mơ hồ. Có lẽ ca-thi-na có từ nguồn gốc một dạng tục ngữ nào đó, nhưng về sau được đồng nhất với dạng nhă ngữ hiện nay.

2. TÁC THÀNH CA THI NA      

i. Chất liệu của ca thi na     

Mặc dù theo nghĩa gốc th́ y ca-thi-na là loại y được may bằng thứ vải thô cứng, nhưng điều này không nhất thiết phải là như vậy. Theo luật Tứ phần,[12] y mới, hoặc y cũ nhưng chưa hề được dùng đến, đều có thể dùng làm y ca-thi-na. Hoặc y đàn việt may sẵn cũng có thể dùng làm ca-thi-na. Hoặc y phấn tảo cũng có thể dùng để may y ca-thi-na. Theo Thập tụng,[13] vải bọc thây người chết đă rữa lượm từ các băi tha ma, hoặc y đă từng dùng làm y ca thi na rồi, thảy đều không dùng làm y ca thi na được. Nói cách khác, các loại vải hợp pháp để may ba y của tỳ-kheo cũng là vải hợp pháp để may ca-thi-na. Nếu là y mới th́ phải tác tịnh bằng cách đắp thêm một miếng vải từ y cũ vào. Nếu là y cũ th́ phải giặt, giặt xong cũng phải tác tịnh nhưng không đắp thêm mảnh vải cũ vào nữa. Nếu Tăng nhận được vải hay y trong ngày nào th́ nội trong ngày ấy phải may và thọ; để cách đêm, không thể trở thành y ca-thi-na. Theo Tứ phần, y có được bằng tà mạng, bằng sự nịnh bợ, bằng cách ra dấu hay gợi y đều không được dùng làm y ca thi na. Y xả đọa cũng không được phép.[14]

ii. Tư cách người dâng,

Theo luật Thiện kiến,[15] chỉ giới hạn trong bảy chúng đệ tử và chư thiên. Nghĩa là chỉ có y do bảy chúng đệ tử Phật dâng cúng Tăng mới có thể dùng làm y ca-thi- na.

Thời gian để thọ y là tháng ca-đề.[16] Theo thiên văn học Ấn, tháng ca-đề là tháng mà sao măo gặp nguyệt cung, tức trong khoảng tháng 10 – 11 Dương lịch. Nhưng theo truyền thống Hán tạng, thời gian được kể trong khoảng từ ngày 16 tháng 7 đến hết ngày 15 tháng 8 âm lịch.

3. TRƯỜNG CA THI NA   

Trong đoạn kinh dẫn từ Trung A-hàm ở trên chúng ta nhận thấy tính cách quan trọng của người trương ca-thi-na. Chính Phật đă nhận vai tṛ này, và đây là một vinh dự tuyệt đối cho người tŕ y, tức người mà Tăng sẽ trao cho thọ tŕ y ca-thi-na. Nhưng trong Luật tạng th́ người trương y và người thọ tŕ y thường là một. Người trương ca-thi-na là người căng vải để làm y ca-thi-na, tức là người giữ vai tṛ thợ cả, c̣n những người khác chỉ là phụ giúp.

Nếu là y đă may sẵn của tỳ-kheo, hoặc của đàn-việt dâng cúng, th́ không có việc trương y. Nhưng nếu chỉ là vải th́ Tăng cần phải yết-ma sai người trương y.

Thời gian hợp pháp để Tăng nhận y hay vải may y trong phạm vi một tháng, kể từ ngày 16 tháng 7, tức sau ngày tự tứ, cho đến hết ngày 15 tháng 8 Âm lịch. Nhận y được ngày nào Tăng phải tác pháp thọ y trong ngày đó, không được để cách đêm. Nếu là y chưa may sẵn, th́ phải may cho xong nội trong ngày.

Sau khi Tăng đă tự tứ xong, đàn-việt có thể làm lễ dâng y. Có thể dâng một lúc nhiều y được may như pháp, hoặc an-đà-hội, hoặc uất-đa-la-tăng, hoặc tăng-già lê. Kèm theo y được dâng, có thể gồm các phẩm vật tứ sự khác nữa. Trong số đó, Tăng cần lựa loại tốt nhất để làm y ca-thi-na. Các phẩm vật tứ sự khác có thể cất vào tịnh khố để phân chia sau.

Nếu không phải là y may sẵn, Tăng cần tác pháp yết-ma chuẩn nhận vải ấy để may y ca-thi-na. Sau khi vải được Tăng chuẩn nhận làm chất liệu ca-thi-na như pháp, th́ y phải được may và thọ nội trong ngày ấy. Như vậy, vải hay y được dâng cúng, bất cứ ngày nào, có thể ngày Tăng tự tứ, nhưng vải hay y ấy chỉ trở thành ca-thi-na hợp pháp là bắt đầu từ ngày 16 cho đến hết tháng ca-đề. Thông lệ là từ 16 tháng 7 đến 15 tháng 8 ta.

Để tác pháp chuẩn nhận vải làm chất liệu ca-thi-na như pháp, Tăng tập hợp và tác tiền phương tiện như thông lệ, văn bạch yết-ma như sau:

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng nay được vải may y đúng thời. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận lấy vải này may y ca thi na. Đây là lời tác bạch.

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe, Tăng nay được vải may y đúng thời. Tăng nay chấp thuận lấy vải này may y ca-thi-na. Các Trưởng lăo nào chấp thuận lấy vải này may y ca-thi-na th́ im lặng. Ai không bằng ḷng hăy nói.

«Tăng đă chấp thuận lấy vải may y ca thi na v́ đă im lặng. Tôi xin ghi nhận như vậy

Vải may y đă được Tăng chấp thuận. Bấy giờ đến giai đoạn làm y. Cần phải chọn một tỳ-kheo biết rơ cách thức may y ca-thi-na làm người trương y, tức người căng khung để may y. Yết-ma Tăng sai người trương y, v́ là một Tăng sự có bản chất khác với Tăng sự tự tứ, do đó cần có phương tiện riêng. Nghĩa là, bắt đầu với câu hỏi: ‹Tăng đă họp chưa?› v.v.. cho đến ‹Tăng nay ḥa hiệp để làm ǵ?› – Đáp: ‹Yết-ma sai người trương y ca thi na.› Kế đó hỏi tiếp: ‹Trong đây có tỳ-kheo nào có khả năng làm người trương y ca thi na?› Vị tỳ-kheo biết căng khung may y đáp: ‹Tôi tỳ-kheo… có khả năng.› Bấy giờ Tăng tác pháp bạch nhị yết-ma như sau:

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận sai tỳ-kheo… làm người trương y ca-thi-na. Đây là lời tác bạch.

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng nay sai tỳ-kheo… v́ Tăng làm người trương y ca-thi-na. Trưởng lăo nào chấp thuận Tăng sai tỳ-kheo… v́ Tăng làm người trương y ca-thi-na th́ im lặng. Ai không chấp thuận hăy nói.

«Tăng đă chấp thuận sai tỳ-kheo… v́ Tăng làm người trương y ca thi na, v́ đă im lặng. Tôi xin ghi nhận như vậy.»

Tỳ-kheo được Tăng sai làm người trương y nhận lănh vải may y đem đi giặt, ủi, đo, cắt may v.v… Các tỳ-kheo khác trong cùng trú xứ có phận sự tham gia việc may y, không ai được thoái thác, cũng không thể viện cớ là hàng trưởng thượng mà lăng tránh.

Về h́nh thức, y ca-thi-na có thể là an-đà-hội, có thể là uất-đa-la-tăng, hoặc tăng-già lê cho nên cách thức may cũng giống như ba loại y này.

Sau khi y được may ḥan tất, Tăng tác pháp yết-ma sai người thọ tŕ.

4. THỌ CA THI NA  

Theo luật Thập tụng,[17]  tỳ-kheo hội đủ năm đức tính sau đây mới đáng được Tăng sai làm người tŕ y: không thiên ái, không dễ nóng giận, không sợ hăi, không si, biết đă thọ và chưa thọ. Mặt khác, năm hạng người sau đây không được phép làm người tŕ y: không tuổi hạ, phá hạ, hậu an cư, bị tẫn và biệt trú. Nhưng theo luật Thiện kiến,[18] y cần được giao cho tỳ-kheo nào có y rách. Nếu nhiều tỳ-kheo có y rách th́ giao cho người lớn tuồi, và nếu cùng có nhiều người lớn tuổi th́ giao cho người cao hạ hơn.

Y ca-thi-na là biểu hiện công đức tu tập suốt mùa an cư của Tăng trong một trú xứ, do đó tất cả tỳ-kheo trong trú xứ này cùng tập họp vào giới trường để tác pháp thọ. Theo luật Thiện Kiến,[19] túc số tối thiểu để tác pháp yết-ma thọ y là năm tỳ-kheo trở lên, trong đó có một tỳ-kheo là đối tượng của yết-ma Tăng sai làm người tŕ y. Nếu trú xứ nào không hội đủ túc số này, có thể mời các tỳ-kheo các trú xứ khác đến dự, nhưng họ không được hưởng các công đức của y này.

Tổng quát có mười một hạng tỳ-kheo không được chia sẻ công đức của y ca-thi- na, nghĩa là không được hưởng năm điều lợi ích do hiệu lực của y.[20] Đó là:

1. Người gởi dục, tức tỳ-kheo không hiện diện.

2. Người có nạn, tức bị vua chúa hay giặc cướp bắt đi.

3, Người không có đại y, tức không có tăng-già lê.

4. Người thuộc về trú xứ khác, tức không cùng sống chung một đại giới của trú xứ an cư.

5. Người trung và hậu an cư.

6. Người mà hạ đă bị phá.

7. Người không đồng kết giới, nghĩa là các tỳ-kheo thuộc phạm vi đại giới khác muốn cùng thọ hưởng công đức của y nhưng không giải đại giới cũ của trú xứ ḿnh để kết chung thành một giới. Đây là xả và kết tạm thời, sau khi thọ y xong có thể giải giới đồng kết rồi kết lại nguyên trạng của đại giới cũ mà hiệu lực của y vẫn không mất.

8. Người phạm Tăng tàn.

9. Người đang hành biệt trú.

10. Người học hối, tức tỳ-kheo được dữ học pháp.

11. Người bị tẫn.

Trong số mười một hạng tỳ-kheo này, trừ những người không thể hiện diện, c̣n lại, dù không thể chia xẻ công đức do hiệu lực của y, nhưng tất cả thảy đồng tập họp vào giới trường để tác pháp. Các vị này đến dự tác pháp với tư cách như là những quan sát viên. Họ được sắp xếp ngồi một chỗ riêng biệt trong giới trường. Sau khi các tỳ-kheo đă tập họp đông đủ trong giới trường, Tăng tác tiền phương tiện vấn hỏi như thường lệ để yết-ma sai người tŕ y.

Văn bạch yết-ma:

«Đại đức Tăng, xin lắngnghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận sai tỳ-kheo… v́ Tăng tŕ y ca-thi-na. Đây là lời tác bạch.

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng nay chấp thuận sai tỳ-kheo… v́ Tăng tŕ y ca- thi- na. Các Trưởng lăo nào chấp thuận nay sai tỳ-kheo… v́ Tăng tŕ y ca thi na th́ im lặng. Ai không chấp thuận hăy nói.

«Tăng đă chấp thuận sai tỳ-kheo… V́ Tăng tŕ y ca- thi- na. Việc này tôi ghi nhận như vậy.»

Tỳ-kheo thọ sai bước ra đảnh lễ Thượng tọa chủ pháp rồi trở lui ngồi lại vị trí của ḿnh. Tỳ-kheo yết-ma bạch tiếp:

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe, Tăng trú xứ này nay được y đáng chia. Tăng hiện tiền nên chia. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay đem y này trao cho tỳ-kheo… Tỳ-kheo này sẽ tŕ y này, v́ Tăng thọ làm y ca thi na, thọ tŕ tại trú xứ này. Đây là lời tác bạch.

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng trú xứ này được y đáng chia. Tăng hiện tiền nên chia. Tăng nay đem y này trao cho tỳ-kheo… Tỳ-kheo này sẽ tŕ y này v́ Tăng thọ làm y ca thi na, thọ tŕ tại trú xứ này. các Trưởng lăo nào chấp thuận Tăng nay đem y này trao cho tỳ-kheo… Tỳ-kheo này sẽ tŕ y này, v́ Tăng thọ làm y ca thi na, thọ tŕ tại trú xứ này, th́ im lặng. Ai không chấp thuận hăy nói.

«Tăng đă chấp thuận đem y này trao cho tỳ-kheo… thọ tŕ y công đức, v́ đă im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy

Tỳ-kheo thọ sai lại đứng dậy, bước ra lễ Thượng tọa chủ pháp một lễ, đón nhận y do Thượng tọa trao, rồi trương ra cho tất cả cùng thấy, để được Tăng xác nhận rằng y đă may đúng như pháp. Đồng thời, tỳ-kheo thọ sai nói trước Tăng:

«Y này đă được may thành như pháp, gồm (bao nhiêu) điều (và bao nhiêu ô phải kể rơ), chung quanh có viền nẹp. Tăng nay đă chấp thuận y này sẽ được thọ tŕ làm y ca thi na

Sau khi đă được toàn thể Tăng xác nhận bằng sự im lặng rằng y ấy đă được may như pháp, tỳ-kheo thọ y xếp lại như cũ, hai tay nâng y đồng thời nói trước Tăng:

«Y này Tăng sẽ thọ làm y ca-thi-na. Y này Tăng nay thọ làm y ca-thi-na. Y này Tăng đă thọ làm y ca-thi-na.» (nói ba lần)

Sau khi nói ba lần như vậy, xong tỳ-kheo thọ tŕ y bưng đến trước Thượng tọa chủ pháp. Thượng tọa nên qùy đồng thời đưa hai tay nắm lấy mép y và nói:

«Người thọ tŕ đă khéo thọ. Trong đây có những công đức và danh dự ǵ tôi thảy đều có dự phần.»

Tỳ-kheo tŕ y đáp:

- Nhĩ (hoặc nói: Kính vâng).

Lần lượt như thế cho đến vị tỳ-kheo nhỏ nhất. Trừ các hạng tỳ-kheo không được dự phần như đă kể trên. Sau đó tỳ-kheo tŕ y trở lại đứng trước Tăng, bạch rằng:

«Bạch đại đức Tăng, tôi nay v́ Tăng thọ y ca thi na đă xong.»

Thượng tọa chủ pháp nói:

- Thiện (hoặc: Lành thay).

Tiếp theo đó, Thượng tọa chủ pháp có thể giảng giải các vấn đề liên hệ đến y ca-thi-na, về năm điêù lợi ích do hiệu lực của y, về các trường hợp y bị xả, nghĩa là mất hiệu lực v.v…

Sự tác pháp thọ tŕ y ca thi na đến đây là ḥan tất.

5. XẢ Y CA THI NA  

Xả y ca-thi-na tức y mất hiệu lực, và theo đó, năm điều lợi ích liên hệ đến sự mở rộng điều khoản trong giới bổn của tỳ-kheo cũng mất hiệu lực.

Tổng quát, có hai trường hợp y ca-thi-na bị xả. Thứ nhất, xả toàn bộ, do Tăng tác pháp. Trong trường hợp này hiệu lực của y mất hẳn đối với toàn thể Tăng. Thứ hai, xả cá biệt, tức các trường hợp chỉ liên hệ đến cá nhân một tỳ-kheo.

Về trường hợp xả toàn bộ, theo bản chất, hiệu lực của y ca-thi-na chỉ tồn tại trong thời hạn bốn tháng kể từ ngày thọ. Tức nếu thọ y vào ngày 16 tháng 7 âm lịch, th́ đến hết ngày 15 tháng 11 là hết hạn. Ngày đó, nếu Tăng không tác pháp xả, th́ khi đến rạng ngày 16 hiệu lực của y cũng tự động được xả mà không cần tác pháp.[21] Tuy nhiên, theo các nhà giải thích luật Tứ phần, nếu thọ y vào ngày tự tứ, tức ngày 16 tháng 7, th́ hiệu lực của y sẽ tồn tại trong thời gian năm tháng, đến ngày 15 tháng 12 là hết hạn. Hành sự sao[22] nói rằng, thọ y trong trường hợp naỳ, thời hạn của y tồn tại được 15 ngày. Nếu thọ y vào ngày 16 tháng 8, nghĩa là vào ngày cuối cùng của tháng ca-đề, tức tháng để thọ y, th́ thời hạn của y là 120 ngày. Thọ y vào các ngày trung gian giữa hai mốc thời hạn ấy, thới hạn của y cũng theo đó mà tính. Nói cách khác, bất cứ thọ vào ngày nào, thời hạn cuối cùng của y vẫn là ngày 15 tháng 12.

Về xả cá biệt, có tám trường hợp hiệu lực của y được coi là mất đối với một tỳ-kheo.[23]

1. Ra đi: Sau khi y ca-thi-na đă được thọ, tỳ-kheo nào v́ nhu cầu cần thay đổi trú xứ, bước chân ra khỏi đại giới của trú xứ với ư nghĩ sẽ không trở lại nữa, với tỳ-kheo ấy ca thi na bị xả

2. Y thành: sau khi y ca-thi-na đă được thọ, tỳ-kheo nào mang vải may y của ḿnh ra khỏi đại giới của trú xứ để may, khi may thành, với tỳ-kheo ấy, ca-thi- na bị xả.

3. Y chưa thành: sau khi y ca-thi-na đă được thọ, tỳ-kheo nào mang vải may y của ḿnh ra khỏi đại giới với ư nghĩ không trở lại trú xứ, và dù y chưa may xong, với tỳ-kheo ấy, ca-thi-na bị xả.

4. Mất y: Ra khỏi đại giới, may y xong nhưng bị mất, ca-thi-na cũng bị xả.

5. Mất hy vọng: Ra khỏi giới để đi đến chỗ với hy vọng có được y, nhưng đến đó không có y.

6. Nghe xả: Khỏi giới, hay tin rằng Tăng trong trú xứ đă xả ca-thi-na.

7. Xuất giới: ra ngoài đại giới để may y, may y đă xong, nhưng hay tin rằng Tăng đă xả ca-thi-na.

8. Đồng xả: Ở ngoài đại giới mà may y, dù xong hay không xong, trở lui về trong giới, cùng Tăng ḥa hiệp xả ca thi na.    

Ba trường hợp cuối cùng tương đương với sự xả toàn bộ, nghĩa là do Tăng yết-ma xả. Nhưng điểm khác biệt là ở đây xả bất thường, tức không đợi măn hạn kỳ của y, do t́nh trạng đặc biệt nào đó, Tăng đồng ư ḥa hiệp tác pháp xả.

Về tác pháp xả y, họp Tăng và tác tiền phương tiện vẫn ḥa theo thông lệ. Yết-ma xả thuộc loại đơn bạch.[24] Văn bạch như sau:

«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Ngày hôm nay Tăng ḥa hiệp xả y ca thi na. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay ḥa hiệp xả y ca thi na.»

Theo quan điểm của Yết-ma chỉ nam sau khi y ca-thi-na  được xả, quyền sở hữu không thuộc về người tŕ y. Tăng sẽ chọn tỳ-kheo nào có y rách mà cho. Quan điểm này được nói là dẫn từ Thiện kiến. Nhưng Hành sự sao[25] đă tổng hợp Thập tụngThiện kiến để nói rằng Tăng chọn tỳ-kheo đủ năm đức và trong số các tỳ-kheo mà ba y đă rách làm người tŕ y. Như vậy, không có trường hợp Tăng xả y từ người tŕ y rồi đem cho một tỳ-kheo khác.

 


[1] Tứ phần 43, «Ca-thi-na y kiền độ.» Đại 22, tr. 877ctt.; Ngũ phần 23, tr. 253b.; Tăng kỳ 28, tr. 452a.

[2] Ni-tát-kỳ ba-dật-đề thứ nhất: Súc trường y 畜長衣. các bộ luật bộ giống nhau. Pali, nissaggiya 1: atirekacīvaraṃ.

[3] Ni-tát-kỳ ba-dật-đề thứ hai: Ly y túc 離衣宿. Các luật bộ giống nhau. Pali, nissaggiya 2: ticīvaraṃ vippavaseyya.

[4] Tứ phần ba-dật-đề thứ 32: Triển chuyển thực 展轉食; Ngũ phần, ba-dật-đề 31: sác sác thực 數數食. Luật Pàli thay điều lợi này cho ni tát kỳ ba dật đề thứ ba: được cất chứa vải một tháng (nissaggiya 3: akālacīvaraṃ).

[5] Tứ phần, ba-dật-đề 33. Pali. Pā 32: gaṇabhojane.

[6] Tứ phần, ba-dật-đề 42. Pali, Pā 46.

[7] Ngũ phần 22, Đại 22, tr. 153a19.

[8] Trung A-hàm 19, ‹Ca si na kinh›, Đại 1, tr. 551c; không t́m thấy Pàli tương đương. Thiện kiến 18 (Đại 24, tr. 796a) có dẫn chuyện Phật Liên Hoa cùng 1600 tỳ-kheo may y cho vị đại đệ tử của Người là Tu-xà-đa. Có lẽ muốn nói đến Sujata đại đệ tử của Phật Padumttora, Buddhavaṃsa xi 24, bản sớ giải 159.

[9] Hành sự sao, thượng 4, lời chú (Đại 40, tr. 44c); xem thêm Hành sự sao tư tŕ kư, thượng 4 (Đại 40, tr. 250a).

[10] Luật nhiếp 5 (Đại 24, tr. 553a19): ca-si-na 迦絺那 có nghĩa là kiên thật tinh diệu 堅實精妙 v́ do sự xả và tŕ y của đại chúng, nó có khả năng đảm trách các vi phạm.

[11] Nan hoạt 難活, bản khác chép là nan trị 難治: trị và hoạt tự dạng gần giống nhau.

[12] Tứ phần 43 (Đại 22, tr. 879a6). Xem giải thích của Hành sự sao tư tŕ kư, thượng 4 (Đại 40, tr. 251a).

[13] Đại 23, tr. 207a27.

[14] Tứ phần 13, ibid.

[15] Thiện kiến 18 (Đại 24, tr. 795c).

[16] Ca-đề 迦提, hay ca-lật-để-ca 迦栗底迦. Pali: kattikā (Skt. kārttikā)

[17] Thập tụng 29 (Đại 23, tr. 207). Đại thể, tương đồng giữa các Luật bộ.

[18] Thiện kiến 18 (Đại 24, tr. 795c) tổng hợp Thập tụngThiện kiến, có thể nói: trao cho người đủ năm đức, trong số những vị đủ năm đức, trao cho vị có y cũ hoặc rách.

[19] Đă dẫn trên.

[20] Hành sự sao tư tŕ kư, thượng 4 (đại 40, tr. 252a).

[21] Tứ phần 43, tr. 878c21, 27: Hết 4 thàng mùa đong, phải xuất (xả) công đức y. Quá thời hạn công đức y ma không xuất (xả), đột-kiết-la. Cf. Ngũ phần 23, tr. 153c11.

[22] Hành sự sao, thượng 4 (Đại 40, tr. 44c11).

[23] Tứ phần 42, tr. 878c28: khứ , cánh , bất cánh 不竟, thất , đoạn vọng 斷望, văn , xuất giới 出界, cộng xuât 共出. Cf. Ngũ phần 23, tr. 153c8; Thập tụng 29, tr. 207c25. Mahāvagga vii. 255: pakkamanantikā, niṭṭhānantikā, san-niṭṭhānantikā, nāsanantikā, savanantikā, āsāvacchedikā, sīmātikkantikā, sahubbhārā.

[24] Tứ phần 43, ibid. văn bạch nhất yết ma xả. Ngũ phần 23, tr.153c16, văn bạch nhị yết-ma xả: «Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng nay xả y ca-thi-na. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận xả y ca-thi-na. Bạch như vậy. Đại đức Tăng, xin lắng nghe, Tăng nay xả y ca-thi-na. Các Trưởng lăo nao chấp thuận th́ im lặng. Ai không chấp thuận, hăy nói. Tăng đă chấp thuận xả y ca-thi-na rồi. V́ im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy

[25] Xem giải thích của Hành sự sao tư tŕ kư, thượng 4, Đại 40, tr. 251c.


YẾT-MA YẾU CHỈ - HT. Thích Tri Thủ Giảng thuật, Tỳ-kheoThích Đỗng Minh & Thích Nguyên Chứng Biên tập, PL.1546-Nhâm ngọ, tr.289-305