YẾT-MA YẾU CHỈ KARMAVACANĀBINDUSĀRA
HT. Thích Tri Thủ Giảng thuật
Tỳ-kheoThích Đỗng Minh & Thích Nguyên Chứng Biên tập
Thuốc là danh từ chỉ chung tất cả các loại đồ ăn, thức uống cùng các thứ thảo mộc mà thế gian coi là dược liệu. Đấy là hiểu theo định nghĩa cơ bản của Luật tạng. Nhưng nếu hiểu theo nghĩa phổ thông th́ tất cả đồ ăn thức uống của năm chúng xuất gia đều được coi là thuốc. Luật phân chia tất cả các lọai này thành bốn,[1] theo thời gian thọ dụng chúng.[2]
Thuốc được dùng trong thời gian chính thức. thời gian chính thức là từ sáng sớm, khi minh tướng xuất hiện, cho đến giữa trưa đứng bóng. Ngoài thời gian đó gọi là phi thời. Thời dược có hai loại chính.
Bồ-xà-ni,[3] phiên âm từ bhosanīya của tiếng Phạn, dịch là đạm thực,[4] nghĩa đen là: ‹cái để ăn› hay ‹thưởng thức›, chỉ các vật thực chủ yếu, gồm năm thứ như bột, cơm, cơm khô, cá, thịt. Nói chung, các thứ mễ cốc và cá thịt làm món ăn chính trong các bữa ăn của người đời.[5]
Khư-đà-ni,[6] phiên âm từ khādanīya, dịch là tước thực,[7] nghĩa đen là ‹cần phải nhai› hay ‹cần phải cắn›, chỉ các thứ trái cây, lá cây, hoặc hoa màu dùng làm thức ăn chung với mễ cốc các thứ.[8]
Nói chung, tất cả những loại thực phẩm, những thứ dùng để ăn hoặc uống hằng ngày gồm các lọai cây, cỏ, thảo mộc v..v.. nếu không được dùng làm thuốc để trị các thứ bịnh th́ đều thuộc loại thời dược. Những thứ này, nếu quá giữa trưa đứng bóng mà dùng phạm ba-dật-đề.[9]
Cũng gọi là ‹gia phần dược›, hoặc ‹canh dược›, loại thực phẩm không đúng thời, tức được dùng từ giữa trưa đứng bóng trở đi cho đến sáng hôm sau trước khi minh tướng xuất hiện. Luật nhiếp[10] liệt kê có tám loại phi thời dược này:
a) Chiêu giả tương,[11] phiên âm từ cocapāna của tiếng Phạn, tức nước dừa hay nước cốt dừa.
b) Mao giả tương,[12] phiên âm từ mocanāna, nước chế biến từ chuối. Phần ghi chú của Luật nhiếp nói: ‹Lấy một ít hồ tiêu rắc lên quả chuối rồi khuấy thật nhiều cho thành nước. ấy không phải là loại nước chế bằng cách làm cho chuối lên men. Nếu lên men, có chất say như rượu, không được phép dùng.
c) Cô-lạc-ca tương,[13] nước cô-lạc-ca, với ghi chú h́nh dạng giống như tắc chua. Nhưng đây là phiên âm từ kolaka, chỉ cho hạt tiêu.
d) A-thuyết-tha tử,[14] Phạn: aścat, thông thường gọi là cây bồ-đề v́ đức Thế Tôn ngồi dưới đó mà thành đạo. Theo Luật nhiếp; hạt của nó có thể chế làm nước uống.
e) Ô-đàm-bạt-la tương,[15] thường âm là Ưu-Đàm-Bát-La, Phạn: udumbara, chỉ cây sung hoặc vả; trái của nó chế làm nước uống.
f) Bát-lỗ-sái tương,[16] Phạn: parūsaka; ghi chú của Luật nhiếp nói là quả của nó giống như nho tức loại trái thuộc họ Nho. Đích thực không rơ là thứ cây ǵ. Có lẽ là một lọai cây mà quả mọng của nó được dùng làm nước mát.
g) Miệt lật trụy tương,[17] Phạn mṛdvī, chỉ quả nho. Đây là thứ nước do nghiền nát quả nho rồi ḥa với nước, sau đó được lọc bỏ xác, tức là nước nho tươi. Nó không phải là nước nho đă lên men dùng làm rượu.
h) Khát-thọ-la tương,[18] Phạn: kharjūra: chỉ loại nước lấy từ quả chà là.
Tứ phần 42[19] lại có một bản liệt kê tám thứ nước trong đó một số không đồng nhất với liệt kê trên:
a) Nước trái lê
b) Nước trái diêm phù (quả hồng táo)
c) Nước táo chua
d) Nước mía
e) Nước trái thị
f) Nước xá-lâu-già (Phạn: śāluka) nước ngó sen
g) Nước trái bà-lâu-sư, tức bát-lỗ-sái, như đă dẫn trên.
h) Nước nho
Truyền thống Thượng tọa bộ Pàli cũng kể có tám thứ nước thuộc phi thời dược như sau:[20]
a) Nước trái am ma lặc, tức quả xoài.
b) Nước trái diêm-phù, như Tứ phần.
c) Nước cốt dừa, như Luật nhiếp.
d) Nước quả chuối, như Luật nhiếp.
e) Nước mật ong, nghĩa là mật ong ḥa tan với nước.
f) Nước trái nho, như Luật nhiếp; hoặc trái thị, như Tứ phần.
g) Nước ngó sen, tức xá-lâu-già, như Tứ phần.
h) Nước trái ba-lậu-sư, tức bà-lâu-sư theo âm của Tứ phần, hoặc bát-lỗ-sái theo âm của Luật nhiếp đă nêu trên.
So sánh ba bản liệt kê trên th́ thấy rằng giữa ba truyền thống, tức Luật nhiếp của Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ, Tứ phần của Đàm-vô-đức, và Thượng tọa bộ Pàli, mặc dù đồng nhất với nhau rằng có tám thứ nước trái cây thuộc phi thời dược, nhưng không đồng nhất với nhau về một số trái cây được phép xay nghiền nát để lọc lấy nước. Đó là do tính chất địa phương của các loại thổ sản, nhưng có thể nói rằng, nguyên tắc chung là các thứ trái cây được dùng làm nước để giải khát đều có thể chế biến làm phi thời dược.
Các loại phi thời dược này chỉ được phép dùng nội ngày không được cất chứa qua đêm.
Thuốc được phép cất chứa trong bảy ngày để dùng; qua ngày thứ tám, khi minh tướng xuất hiện, mà c̣n cất chứa và dùng, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề[21] Loại này có năm thứ:
a) Sanh tô, do sữa dê hoặc sữa ḅ đun sôi để nguội, nhưng chưa đến độ đông đặc; tức một loại sữa ḅ lỏng hay bơ lỏng.
b) Thục tô, cùng cách chế biến như sanh tô, nhưng đông đặc hơn, tức một loại bơ đặc.
c) Du, các loại dầu ép từ các thứ hạt có chất dầu như vừng, lạc v.v…
d) Mật, tức mật ong.
e) Thạch mật, tức đường phèn, do mật mía để cho cô đặc lại, cứng như đá.[22] (9)
Loại thuốc dùng cho đến hết đời. Có ba thời hạn của ư nghĩa ‹tận h́nh› (suốt đời) ở đây[23]: Thứ nhất, dùng cho đến hết bịnh; nếu hết bịnh th́ không được phép dùng. Thứ hai, hết đời của thuốc. Sau cùng, hết đời của người dùng. Nhưng ư nghĩa chính là nghĩa sau cùng, nghĩa là được phép cất chứa cho đến trọn đời ḿnh, để khi nào có bịnh th́ đem dùng. Loại này gồm có năm thứ: rễ, cọng, lá, hoa và trái cây. Nhưng là những thứ mà người đời không coi là thức ăn, chỉ để dùng làm thuốc. Ngoài ra, những thứ mặc dù thuộc bản chất là thời dược nhưng nếu được đốt cháy thành than th́ trở thành tận h́nh dược.
i. Thọ thời dược: theo luật chế, tỳ-kheo thọ phần thức ăn và ăn mà không có người mời, phạm ba-dật-đề.[24]
ii. Thọ phi thời dược: Đối trước một tỳ-kheo mà thọ. Văn bạch như sau:
«Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ-kheo… v́ nhân duyên bịnh khát; đây là nước (nói tên trái cây), là loại phi thời dược, muốn dùng trong phi thời. Nay đối trước Đại đức để thọ.» (nói ba lần)
iii. Thọ thất nhật dược: cũng đối trước một tỳ-kheo mà thọ. Người muốn thọ để thuốc trong ḷng bàn tay trái, lấy bàn tay phải úp lên,[25] và bạch.
«Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ-kheo… v́ nhân duyên bịnh (tên bịnh), muốn cất (tên thuốc) này là loại thất nhật dược, muốn cất chứa bên ḿnh để dùng. Nay đối trước đại đức thọ tŕ.» (nói ba lần)
iv. Thọ tận h́nh dược: Cũng như trên, văn bạch:
«Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ-kheo… v́ nhân duyên bịnh; đây là (tên thuốc), là loại tận h́nh dược, muốn cất chứa bên ḿnh trọn đời để dùng, nay đối trước đại đức thọ tŕ.» (nói ba lần)
Theo luật chế, tỳ-kheo chứa y dư hoặc vải quá hạn, nếu không tịnh thí, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thuyết tịnh, tịnh thí, tác tịnh[26] theo nghĩa chính xác là «sự hợp thức hóa,» nói cách khác, đây là sự cho làm phép, hoặc cho tượng trưng. Sau khi làm phép, được đem về dùng như là một sở hữu của ḿnh. Người được thọ cũng chỉ nhận theo tính cách tượng trưng, không được hiểu là cho theo nghĩa đen, cụ thể, mà chiếm lấy làm của ḿnh.
Có hai cách tịnh thí:
i. Triển chuyển tịnh thí: Sự cho tượng trưng bằng cách gián tiếp. Tức là, người nhận hiện tiền chỉ là người trung gian để chuyển đến một tỳ-kheo khác, là người chính thức chủ của sự tịnh thí.
ii. Chân thật tịnh thí[27], tịnh thí trực tiếp, không qua trung gian, trái với trường hợp kể trên.
Trong cả hai trường hợp, người nhận sự tịnh thí là sở hữu chủ tượng trưng của vật được tịnh thí. Chừng nào vật ấy chưa xả, người ấy vẫn c̣n là sở hữu chủ tượng trưng. Nếu người ấy qua đời, trong khi vật được tịnh thí chưa xả, cần phải tịnh thí đến một vị khác nữa. Nói tóm lại, mặc dù người có y dư v́ nếu chứa th́ phạm luật nên phải biếu (cho hay tặng) tượng trưng cho người khác, nhưng trên thực tế th́ ḿnh dùng với ư nghĩ là vật mượn tạm.
Về tác pháp, có hai loại, là đối thủ thuyết tịnh, và tâm niệm thuyết tịnh, chung cả hai cách tịnh thí.
a) Triển chuyển tịnh thí: Văn tác bạch, (về oai nghi là tiếp theo như pháp tỳ-kheo, ở đây không đề cập chi tiết) người thuyết tịnh bạch:
«Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ-kheo… có y dư này chưa tác tịnh. Nay v́ tác tịnh nên gởi nơi đại đức để triển chuyển tịnh thí.»
Vị tỳ-kheo nhận sự tịnh thí đáp:
«Trưởng lăo nhất tâm niệm. Ngài có y dư này chưa tác tịnh. Nay v́ tác tịnh nên gởi nơi tôi. Tôi nay thọ nhận. Vậy ngài muốn tịnh thí đến vị nào?»
Vị thuyết tịnh nói:
«Tôi tịnh thí đến (tên người chủ tiếp nhận sự tịnh thí).»
Vị tỳ-kheo làm trung gian nhận sự tịnh thí nói:
«Trưởng lăo, ngài có y dư này chưa tác tịnh, v́ tác tịnh nên gởi nơi tôi. Tôi đă thọ nhận. Ngài muốn gởi y này đến (tên người nhận) đă sở hữu. Ngài hăy v́ (người chỉ tịnh thí) mà khéo hộ tŕ, tùy nhân duyên mà dùng.»
Người thuyết tịnh nói:
«Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ-kheo… có y dư này chưa tác tịnh. Nay v́ tác tịnh nên xả và biếu cho Đại đức, để chân thật tịnh thí. Đại đức đă nhận. Nay tôi v́ đại đức mà hộ tŕ y này, tùy nhân duyên mà dùng.»[28]
Trong trường hợp không có ai ở gần để tác pháp đối thủ thuyết tịnh, th́ có thể tâm niệm thuyết tịnh. Văn bạch:
«Tôi tỳ-kheo… y dư này tịnh thí đến (tên người chủ tịnh thí, trong năm chúng xuất gia đều được cả), tôi sẽ lấy dùng từ vị ấy.»
Thuyết tịnh xong, được phép dùng như thường. Nhưng cứ sau mười ngày lại phải thuyết tịnh một lần. Văn bạch các lần sau:
«Tôi tỳ-kheo… y dư này được lấy về dùng từ (tên người được gửi tịnh thí).»
Sau mười ngày nữa, cũng lại phải thuyết tịnh như trước:
«Tôi tỳ-kheo… y dư này đă tác tịnh, được tịnh thí đến… nay lấy để dùng từ vị ấy.»
Như vậy, cứ sau mười ngày, lại thay đổi thuyết tịnh một lần, cho đến khi nào vật tịnh thí được xả
Đời sống của một tỳ-kheo ḥan ṭan y cứ trên bốn Thánh chủng, nghĩa là, sống không gia đ́nh, không sở hữu bất cứ thứ ǵ thuộc sở hữu vật chất. Tuy nhiên, trong thực tế, những nhu yếu cần thiết để duy tŕ sự sống không thể không có; cho nên, bản chất của bốn Thánh chủng là thiểu dục, tri túc, tức chỉ sở hữu những ǵ tối cần thiết cho sự sống. Để cụ thể hóa dữ kiện, có thể nói, vật dụng tối cần thiết mà một tỳ-kheo không thể thiếu, có sáu thứ: ba y, b́nh bát, đăy lọc nước và tọa cụ.[29] Thêm nữa, các vật dụng cần thiết này cũng cần có một số vật phụ khác, như ba y hay tọa cụ cần có kim và chỉ để khâu vá mỗi khi chúng rách. Vá rồi, kim chỉ lại cần có ống để đựng. Ngoài sáu vật dụng được coi là cần thiết bậc nhất và những thứ phụ tùy của chúng, cũng có thể kể thêm một số vật dụng cần thiết bậc nh́, chúng có hay không có không tất yếu đối với sự sống của tỳ-kheo. Đó là dao cạo, nhíp nhổ râu, đồ cắt móng tay, gậy hay tích trượng, các thứ linh tinh.
Mặc dù các vật dụng vừa kể là những tư cụ cần thiết cho mỗi cá nhân, nhưng xét về bản chất, chúng không phải là sở hữu cá nhân, bởi v́ một tỳ-kheo không được phép sở hữu bất cứ tài sản vật chất nào dù lớn hay nhỏ. Cho nên, khi một tỳ-kheo c̣n sống, những thứ ấy thuộc về sở hữu riêng của ḿnh nhưng khi tỳ-kheo ấy tịch, chúng ḥan toàn thuộc về sở hữu tập thể, tức của Tăng, và Tăng có quyền tuyệt đối trao chúng cho bất cứ ai có đủ tư cách để thừa hưởng như pháp. Trừ những người bị Tăng diệt tẫn. Họ không c̣n là tỳ-kheo, do đó, khi chết, sở hữu của họ không thuộc về Tăng. Các thân quyến có quyền sở đắc chúng và tùy ư họ xử lư.
Nói tổng quát, xét về bản chất, không có vật dụng nào là sở hữu cá nhân của một tỳ-kheo, dù là vật mà đàn việt dâng cúng riêng biệt cho. Tất cả đều là sở hữu tập thể. Nhưng xét về h́nh thái, tất cả sở hữu vật chất này được chia làm hai loại: loại có thể phân chia và loại không thể phân chia. Nói cách khác, chúng thuộc về hai loại Tăng: chiêu-đề Tăng hay thuộc cả bốn phương,[30] không nhất định giới hạn trong bất cứ trú xứ hay Tăng-già lam, tự viện nào. Thứ hai, thuộc về hiện tiền Tăng, tức các tỳ-kheo đang hiện diện trong một trú xứ, tức trong phạm vi đại giới của một trú xứ. Những thứ thuộc chiêu-đề Tăng là những Tăng vật không được phép phân chia; tất cả tỳ-kheo trong bốn phương đều có thể thọ dụng chung. Ngoài nó ra là những Tăng vật có thể phân chia giữa hiện tiền Tăng, nghĩa là các tỳ-kheo hiện diện, khi Tăng vật được phân chia.[31]
Về Tăng vật thuộc chiêu đề Tăng, đại thể có năm loại:[32]
1.Trú xứ địa: đất của trú xứ, bao gồm vườn tược và những thứ trực thuộc v.v…
2. Pḥng xá, nhà cửa, pḥng ốc và những thứ trực thuộc như giừơng nằm, ghế ngồi, đệm lót v.v…
3. Tu dụng vật: Tức các vật nhu yếu, được dùng chung cho tập thể, như xe cộ, trâu ngựa, ghè nước, bồn tắm v.v…
4.Cây ăn trái.
5. Trái cây: Luật Tứ phần 25 nói, đây là những thứ thọ dụng chung của trú xứ, ai đến cũng được dùng. Ai đem bán, đem chia cho người khác, phạm tội thâu-lan- giá.
Ngoài năm loại trên, c̣n lại thuộc hiện tiền Tăng, là những Tăng vật có thể phân chia cho những người hiện diện.
Đấy là phân loại tổng quát về sở hữu tập thể, những ǵ đáng chia và những ǵ không thể chia. Nhưng trong thực tế cần phải có sự phân biệt đâu là căn cứ mức khinh và trọng của chất và lượng mà phân chia. Thí dụ, tất cả các loại sắt không được phép phân chia; nhưng những vật dụng làm bằng sắt mà dung lượng không quá hai đấu, có thể được phân chia; các lọai đồ gỗ, đồ tre cũng vậy.[33] Những vật dụng như vậy được liệt kê khác nhau tùy theo mỗi bộ luật ở đây không tiện dẫn hết. Dù vậy, tiêu chuẩn phân biệt chung vẫn như nhau.
Có hai nguồn gốc của Tăng vật, do đàn-việt cúng và do tỳ-kheo, hoặc tỳ-kheo-ni, hoặc thức-xoa-ma-na, hoặc sa-di-ni đă từ trần để lại.
Tuy nhiên, nói chung, tất cả Tăng vật đều có nguồn gốc chủ yếu từ sự dâng cúng của đàn-việt. Vật đáng chia hay không đáng chia không ḥan toàn căn cứ vào chất hay lượng của nó, mà căn cứ theo ư muốn của người dâng cúng. Nếu đàn-việt tỏ ư dâng cúng cho chiêu-đề Tăng, nó thuộc chiêu-đề Tăng; nếu đàn- việt tỏ ư dâng cúng cho một tỳ-kheo nào đó, một tỳ-kheo-ni, hay thức-xoa-ma-na, hay sa-di-ni chúng đều thuộc về những vị này, không được phép phân chia. Nếu đàn-việt không nói rơ họ muốn dâng cúng cho ai, cho đối tượng nào, th́ bấy giờ Tăng sẽ quyết định chia hay không chia, căn cứ trên h́nh thái và thời gian tính của vật ấy.
C̣n nếu là vật dụng của một vị trong năm chúng xuất gia đă viên tịch, vật dụng ấy ḥan toàn thuộc thẩm quyền phân chia của Tăng, Tăng sẽ căn cứ theo giá trị của vật dụng mà trao cho từng loại đối tượng ưu tiên thích hợp.
Có ba loại đối tượng của sự phân chia vật của Tăng:
Tăng gồm hai bộ tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni. Trong đó, sa-di thuộc về tỳ-kheo; thức-xoa-ma-na và sa-di-ni thuộc về ni. Như vậy, lưỡng bộ Tăng bao gồm tất cả năm chúng xuất gia đệ tử Phật. Những ǵ đàn-việt nói là dâng cúng cho cả hai bộ Tăng, th́ chúng phải được chia làm hai phần đồng đều, chứ không tính theo lượng nhân số của mỗi bộ. Cho đến như Tăng bộ tỳ-kheo có nhân số đông, trong khi Tăng bộ tỳ-kheo-ni chỉ c̣n có một sa-di-ni, th́ Tăng vật cũng phải phân chia thành hai phần ngang nhau. Phần thuộc Tăng bộ tỳ-kheo th́ sa-di-ni kia được thọ nhận.
Nghĩa là hai bộ Tăng riêng biệt, không kể chung. Trong mỗi bộ, Tăng vật được phân chia đều tính theo nhân số. Sa-di phân nửa hoặc phần ba của tỳ-kheo; các tịnh nhân Tăng-già lam phần tư. Nhưng nếu Tăng không đồng ư chia cho th́ không được chia. Nếu có đàn-việt dâng cúng các vật dụng mà sau đó nội bộ Tăng chia làm hai, th́ các vật dụng ấy cũng được phân thành hai cho mỗi bên. Những người đang hành biệt trú, ư hỉ, đang bị yết-ma ha trách, yết-ma tẫn xuất v.v… cũng được phân chia như các tỳ-kheo khác, nhưng vật chia phải để xuống đất hoặc sai tịnh nhân đưa cho, chứ Tăng không được trực tiếp trao tay.
Tăng vật được chia riêng cho những người ưu tiên, không theo tiêu chuẩn đồng đều mỗi người một phần. Như thuốc cho người bịnh; y che ghẻ cho người bịnh ghẻ v.v… Nếu là Tăng vật do người trong chúng xuất gia chết để lại, th́ ưu tiên trước hết cho những người chăm sóc bịnh của người chết; kế đó, ưu tiên cho những người có liên hệ với người chết như Ḥa thượng, A xà lê v.v… vật dụng ưu tiên được kể là các vật dụng tùy thân của tỳ-kheo. Những thứ c̣n lại, thuộc loại có thể chia, th́ chia đều trong Tăng. Nếu giá trị không đồng nhất, th́ xét theo ưu tiên,[34] Tiêu chuẩn đă được ưu tiên là tác phong đạo đức, và kế đó là sự thiếu thốn.
Tùy theo sự hiện diện của nhân số, có bốn cách chia.[35]
Nếu Tăng gồm từ năm tỳ-kheo trở lên, cần yết-ma sai người chia và tiếp theo đó yết-ma giao người chia. Người được Tăng sai phải có đủ năm đức tính: không thiên vị, không hay giận hờn, không ngu si, không sợ hăi và biết rơ người đă chia hay chưa chia.
Nếu Tăng số chỉ bốn tỳ-kheo, th́ cùng tác pháp yết-ma rồi phân chia trực tiếp chứ không sai người chia.
Nếu chỉ hiện diện ba hay hai tỳ-kheo, các vị này lần lượt đối thủ tác pháp, rồi phân chia với nhau.
Nếu chỉ một tỳ-kheo duy nhất, th́ sự tác pháp bằng tâm niệm và miệng nói, rồi thọ dụng.
V́ có hai nguồn gốc Tăng vật khác nhau, tức do đàn-việt cúng dường và do năm chúng xuất gia tịch để lại, cho nên sự tác pháp cũng có hai loại khác nhau.
Trường hợp này gồm có bốn phương pháp chia như đă nêu trên.
Tăng số năm tỳ-kheo, trong đó một vị được chọn làm Tăng sai. Sự phân chia này gồm hai phần: yết-ma Tăng sai người chia và yết-ma giao vật chia.
Yết-ma Tăng sai người chia:
Tập họp về tác tiền phương tiện như thông lệ.
Hỏi: Tăng nay ḥa hiệp để làm ǵ?
Đáp: Yết-ma chia Tăng vật.
Vị yết-ma bạch Tăng:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay sai tỳ-kheo…. V́ Tăng phân chia Tăng vật. Đây là lời tác bạch.
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng nay sai tỳ-kheo… v́ Tăng phân chia Tăng vật. Các Trưởng lăo nào chấp thuận Tăng nay sai tỳ-kheo… v́ Tăng phân chia Tăng vật th́ im lặng. Ai không chấp thuận hăy nói.
«Tăng đă chấp thuận sai tỳ-kheo… v́ Tăng phân chia Tăng vật, v́ im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.»
Tiếp theo, Tăng tác pháp giao Tăng vật cho tỳ-kheo Tăng sai để phân chia giữa Tăng. Vị yết-ma bạch Tăng:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Trú xứ này được (nói Tăng vật v.v…) nên chia hiện tiền Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay đem (Tăng vật) này trao cho tỳ-kheo, tỳ-kheo này sẽ phân chia giữa Tăng. Đây là lời tác bạch.
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Trú xứ này nhận được (Tăng vật) nên chia hiện tiền Tăng. Tăng nay đem (Tăng vật) này trao cho tỳ-kheo… tỳ-kheo sẽ phân chia giữa Tăng. Các Trưởng lăo nào chấp thuận Tăng nay đem (Tăng vật) này trao cho tỳ-kheo… tỳ-kheo này sẽ phân chia giữa Tăng th́ im lặng. Ai không chấp thuận hăy nói.
«Tăng đă chấp thuận Tăng nay đem (Tăng vật) này trao cho tỳ-kheo… tỳ-kheo này sẽ phân chia giữa Tăng, v́ im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.»
Kế đó, người thọ sai bước ra nhận Tăng vật và phân chia.
Tăng số chỉ gồm bốn tỳ-kheo, không có Tăng sai người chia. Chỉ có yết-ma phân chia trực tiếp giữa bốn vị.
Tập họp và tác tiền phương tiện như thông lệ.
Hỏi: Tăng nay ḥa hiệp để làm ǵ?
Đáp: Yết-ma chia Tăng vật?
Vị yết-ma bạch Tăng:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng. Tăng nay chấp thuận, trú xứ này nhận được (Tăng vật) nên chia hiện tiền Tăng. «Đây là lời tác bạch.
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Trú xứ này nhận được (Tăng vật) nên phân chia hiện tiền Tăng. Các Trưởng lăo nào chấp thuận Tăng nay phân chia (Tăng vật) này th́ im lăng. Ai không chấp thuận th́ hăy nói.
Tăng đă chấp thuận Tăng nay đem (Tăng vật) này trao cho tỳ-kheo… tỳ-kheo này sẽ phân chia giữa Tăng, v́ im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.
Kế đó, người thọ sai bước ra nhận Tăng vật và phân chia.
Nếu chỉ có ba tỳ kheo, lần lượt từng vị thay nhau tác bạch rồi chia. Văn tác bạch như sau:
«Bạch hai Đại đức, nhất tâm niệm. Trú xứ này nhận được (Tăng vật) nên phân chia hiện tiền Tăng. Nay đây không đủ túc số Tăng, nên thuộc về chúng ta.» (nói ba lần)
Nếu chỉ có hai tỳ-kheo, văn bạch tác pháp cũng như trên nhưng bỏ tiếng hai.
Nếu có một tỳ-kheo, vị ấy tâm niệm và miệng nói như vầy:
«Trú xứ này nhận được (Tăng vật) nên chia hiện tiền Tăng. Nay đây không có Tăng (Tăng vật) này thuộc về tôi.» (nói ba lần)
Nếu người viên tịch là tỳ-kheo hay tỳ-kheo-ni, th́ Tăng tác pháp để giao và chia. Nếu là của sa-di hay thức-xoa-ma-na, th́ các vật ấy thuộc về Ḥa thượng hay A-xà-lê. Nhưng nếu không có Ḥa thượng hay A-xà-lê để nhận bấy giờ Tăng sẽ tác pháp để giao và chia.
Vật của người qua đời để lại hoặc là vật hiện tiền, hoặc vật đă được kư thác cho một người nào đó, hoặc vật mà người khác nợ vị ấy, hay vị ấy nợ người khác.
Trước hết, Tăng cần phải hỏi người nuôi bịnh, hoặc những người thân cận vị qua đời. về các món nợ, tùy theo di chúc,[36] hoặc theo sự hiểu biết của những người ấy. Nếu người chết có vay mượn ai vật ǵ chưa trả, th́ những vật ấy cần được trả cho chủ nợ. Hoặc lấy những thứ trong số di vật có giá trị tương đương mà trả. Hoặc bán một số di vật tương đương món nợ để trả. Tùy theo sự thỏa thuận của người trái chủ. Nếu người đó không nhận, các vật ấy thuộc về Tăng.
Trường hợp vị ấy qua đời có những vật mà người khác vay mượn, cần cho đ̣i về để phân chia. Nhưng nếu có di chúc là nhượng hẳn cho người vay mượn th́ khỏi phải đ̣i.
Đối với vật mà người qua đời đă kư thác cho một ai đó cũng vậy, riêng vật kư thác, nếu người được kư thác đang ở tại trú xứ nào khi hay tin người kư thác qua đời, th́ vật ấy thuộc về sự phân chia của Tăng tại trú xứ mà người được kư thác đang ở.
Sau khi đă thanh toán các món vay mượn, và các vật được kư thác, Tăng tác pháp để phân chia. Trước hết, những vật có giá trị hay những vật dụng tùy thân, được ưu tiên cho người nuôi bịnh. Nếu người nuôi bịnh đồng ư các vật ấy ḥan toàn thuộc Tăng chứ ḿnh không nhận riêng, th́ Tăng phân chia như là vật do đàn việt cúng.
Người nuôi bịnh, hoặc nếu không có th́ người nuôi thân cận và có mặt khi vị ấy lâm chung, mang những sở hữu của vị ấy ra tŕnh trước Tăng.
Thể thức phân chia, ở đây cũng gồm bốn phương pháp tùy theo phân số hiện diện, nhưng nội dung tác pháp có khác. Ngoài ra, c̣n có thêm tác pháp để tưởng thưởng người nuôi bịnh.
Tăng tập họp và tác tiền phương tiện như thông lệ
Hỏi: Nay Tăng ḥa hiệp để làm ǵ?
Đáp: Yết-ma phân chia di vật của người qua đời.
Người nuôi bịnh bấy giờ bước ra giữa Tăng, tŕnh bày các di vật của người qua đời, cùng những khoản vay mượn kư thác các thứ. Sau đó, trích riêng một số vật dụng tùy thân của người qua đời, hoặc một số vật có giá trị khác, để tưởng thưởng người nuôi bịnh. Vị yết-ma bạch Tăng:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ-kheo… vừa mệnh chung. Những vật dụng tùy thân của tỳ-kheo ấy nên phân chia hiện tiền Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng. Tăng nay chấp thuận đem các vật dụng tùy thân ấy cho tỳ-kheo nuôi bịnh. Đây là lời tác bạch.
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ-kheo… vừa mệnh chung. Những vật dụng tùy thân của tỳ-kheo ấy nên phân chia hiện tiền. Tăng nay đem các vật dụng tùy thân ấy cho tỳ-kheo… là người nuôi bịnh. Các Trưởng lăo nào chấp thuận Tăng sai đem các vật dụng tùy thân ấy cho tỳ-kheo… là người nuôi bịnh th́ im lặng. Ai không chấp thuận hăy nói.
«Tăng đă chấp thuận Tăng nay đem các vật dụng tùy thân ấy cho tỳ-kheo… là người nuôi bịnh, th́ im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.»
Trước hết, tác pháp yết-ma sai người chia. Vị yết-ma bạch:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay sai tỳ-kheo… v́ Tăng phân chia Tăng vật. Đây là lời tác bạch.
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng nay sai tỳ-kheo… v́ Tăng phân chia Tăng vật. Các Trưởng lăo nào chấp thuận Tăng sai tỳ-kheo… v́ Tăng phân chia Tăng vật th́ im lặng. Ai không chấp thuận hăy nói.
«Tăng đă chấp thuận sai tỳ-kheo… v́ Tăng phân chia Tăng vật, v́ im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.»
Tiếp theo, tác yết-ma giao Tăng vật. Vị yết-ma bạch:
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ-kheo… vừa mệnh chung. Những vật dụng của tỳ-kheo ấy để lại nên phân chia hiện tiền Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng. Tăng trao các vật dụng ấy cho tỳ-kheo… tỳ-kheo này sẽ phân chia các vật dụng ấy giữa Tăng. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ-kheo… vừa mệnh chung. Các vật dụng tỳ-kheo ấy để lại nên phân chia hiện tiền Tăng. Tăng nay trao các vật dụng ấy cho tỳ-kheo… tỳ-kheo này sẽ phân chia các vật dụng ấy giữa Tăng. Các Trưởng lăo nào chấp thuận Tăng nay đem các vật dụng ấy trao cho tỳ-kheo… tỳ-kheo này sẽ phân chia các vật dụng ấy giữa Tăng. Các Trưởng lăo nào chấp thuận Tăng nay đem các vật dụng ấy trao cho tỳ-kheo… tỳ-kheo này sẽ phân chia các vật dụng ấy giữa Tăng th́ im lặng. Ai không chấp thuận hăy nói
Tăng đă chấp thuận đem các vật dụng ấy trao cho tỳ-kheo… tỳ-kheo này sẽ phân chia các vật dụng ấy giữa Tăng, v́ im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.
Sau đó người thọ sai nhận vật và phân chia.
V́ Tăng số chỉ có bốn tỳ-kheo, không có yết-ma Tăng sai mà chỉ tác yết-ma phân chia trực tiếp. Vị yết-ma bạch:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ-kheo… vừa mệnh chung. Các vật dụng của tỳ-kheo ấy để lại nên phân chia hiện tiền Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng. Tăng nay phân chia các vật dụng này. Đây là lời tác bạch.
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ-kheo… vừa mệnh chung. Các vật dụng của tỳ-kheo ấy để lại nên phân chia hiện tiền Tăng. Nay phân chia các vật dụng này cho hiện tiền Tăng. Các Trưởng lăo nào chấp thuận Tăng nay phân chia hiện tiền Tăng các vật dụng mà tỳ-kheo… vừa mệnh chung để lại th́ im lặng. Ai không chấp thuận hăy nói.
«Tăng đă chấp thuận phân chia các vật dụng này, v́ im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.»
Chỉ hiện diện ba tỳ-kheo. Từng vị một lần lượt thay nhau tác bạch:
«Bạch hai Đại đức xin ghi nhận. Tỳ-kheo… vừa mệnh chung. Các vật dụng của tỳ-kheo ấy để lại nên phân chia hiện tiền Tăng. Nay đây không có Tăng, các vật dụng ấy thuộc chúng ta.» (nói ba lần)
Nếu chỉ hiện diện hai tỳ-kheo, văn bạch như trên, nhưng bỏ tiếng hai.
Nếu chỉ có một tỳ-kheo, vị ấy tâm niệm miệng nói:
«Tỳ-kheo… vừa mệnh chung. Các vật dụng của tỳ-kheo ấy để lại nên phân chia hiện tiền Tăng. Nay đây không có Tăng, các vật dụng ấy thuộc về tôi.» (nói ba lần)
Luật dạy, tại trú xứ có tỳ-kheo vừa viên tịch, khi tác pháp phân vong vật, tỳ-kheo nào bước ra khỏi đại giới của trú xứ, không được nhận phần lại phạm đột- kiết-la; trái lại có tỳ-kheo nào từ ngoài vào trong đại giới của trú xứ đó ngay trong lúc đang tác pháp yết-ma vẫn được nhận một phần như các tỳ-kheo hiện có trong trú xứ.
[1] Ngũ phần 22, tr. 147b8, bốn loại thuốc: tô 租, du 油, mật 蜜, thạch mật 石蜜. Thập tụng 26, Đại 23, tr. 184c: bốn loại thuốc lỏng 含消藥, như Ngũ phần. Luật nhiếp 8, Đại 24, tr.569c2. Mahāvagga vi. 200, 5 loại thuốc: pañca bhesajjāni, sappi (bơ lỏng), navanītaṃ (bơ tươi), telaṃ (dầu), madhu (mật), phāṇitaṃ (đường phèn).
[2] Hành sự sao, hạ 2, Đại 40, tr. 117c.
[3] 蒲闍尼
[4] 噉食
[5] Luật nhiếp (Đại 24, tr. 569c), ngũ chánh thực: 1. Sao 炒, 2 phạn 飯, 3 mạch đậu phạn 麥荳飯, 4. Nhục 肉, 5. Bính 鉼. Tứ phần 42 (đại 22, tr. 866a).
[6] 佉陀尼. Cf. Thiện kiến 17, Đại 24, tr.795a19: khư-xà-ni, chỉ tất cả trái cây. 呿闍尼者, 一切果
[7] 嚼食.
[8] Tứ phần 42, khư-xà-ni 佉闍尼 gồm các thức ăn bằng rễ, bằng cọng, bằng lá, bằng hoa và bằng quả
[9] Tứ phần giới bổn, ba dật đề 37.
[10] Đại 24, tr. 569c.
[11] 招者漿
[12] 毛者漿(即芭蕉子)
[13] 孤洛迦漿(狀如酸棗).
[14] 阿說也子漿(是菩提樹子也)
[15] 烏曇跋羅漿
[16] 缽魯灑漿(其果狀如蘡薁子)
[17] 蔑栗墜漿(即是蒲萄果)
[18] 渴樹羅漿
[19] Đại 22, tr. 873c: «Tám thứ nước này là thức uống của Vô Dục Tiên nhân 無欲仙人 thuở quá khứ.»
[20] Mahāvagga vi., Vin. iv. 246: anụānāmi bhikkhave aṭṭha pānāni: ambapānaṃ jambu-pānaṃ cocapānaṃ mocapānaṃ madhūkapānaṃ muddikapānaṃ sālūkapānaṃ phārusaka-pānaṃ.
[21] Tứ phần giới bổn, ni tát-kỳ ba-dật-đề 36, gọi nó là tàn dược nhưng không nên hiểu là thuốc dư tàn hay thuốc thừa mà cần hiểu là thuốc được phép cất và dùng dài hạn, trong khoảng thời gian nhất định là 7 ngày. Thập tụng, ni-tát-kỳ 30 gọi nó là hàm tiêu thực: loại thuốc để tiêu hóa. Pàli, nissaggiya 23, Vin.iii.251, định nghĩa là loại thuốc nguyên là thức ăn, nghĩa là thức ăn thường ngày nhưng cũng dùng làm thuốc để trợ tiêu hóa.
[22] Luật nhiếp 8 (Đại 24, tr. 596c) tô, du, sa đường và mật.
[23] Hành sự sao, hạ 2 (Đại 40, tr. 117): tận dược h́nh 盡藥形 tận bịnh h́nh 盡病 và tận báo h́nh形盡報形.
[24] Tứ phần, ba dật đề 39, Pàli, Pācittiya 40.
[25] Chi tiết này theo Luật Nhiếp 8 (Đại 24, tr. 571c) văn trong đoạn này c̣n thêm: cách thọ canh dược, tức phi thời dược, và tận h́nh dược, chuẩn theo đây (tức thọ thất nhật dược) mà làm.
[26] Thuyết tịnh 說淨, tịnh thí 淨施, tác tịnh 作淨. Nghĩa Tịnh dịch là phân biệt 分別, do tiếng phạn vikalpa (Pali: vikappa) có nghĩa là phân biệt, như trong từ ‹vọng tưởng phân biệt.› Cũng có nghĩa là pháp thức hay nghi quỹ như trong ‹Văn Thù nghi quỹ.› Đây hiểu là tác tịnh: hợp thức hóa hay hợp pháp hóa.
[27] Hoặc gọi là đối diện thí.
[28] Đoạn sau này không có ghi trong Tùy cơ yết-ma (Đại 40, tr. 502c). Đây thêm vào, căn cứ Luật Nhiếp (Đại 25, tr. 553c).
[29] Thập tụng 28 (Đại 23, tr. 202c); Phạm Vơng Bồ tát tâm địa giới, tội khinh cấu thứ 37 (Đại 24, tr. 1008a) kể có 18 vật dụng thường tùy thân: 1. nhành dương (để chùi răng, súc miệng); 2. thác đậu hay xà bông. 3. ba y; 4. b́nh hay chai đựng nước; 5. bát; 6: tọa cụ; 7. tích trượng; 8: ḷ hương; 9: đăy nước; 10 khăn tay; 11: dao con; 12: đá lửa (hay diêm quẹt); 13: cái nhíp để nhổ râu; 14: giường dây; 15: kinh; 16: luật; 17: tượng Phật; 18: tượng bồ tát.
[30] Chiêu đề Tăng (caturdesa-saṅgha) hoặc tứ phương Tăng xem trên, ch. I, «3. Phân loại Tăng.».
[31] Gọi là Tăng man vật (Pali saṅghamukhi) hay hiện tiền Tăng vật, tức vật thuộc Tăng gồm những tỳ-kheo hiện diện.
[32] Ngũ phần 25 (Đại 22, tr. 168), Tứ phần 41 (Đại 22, tr. 859). Những vật thuộc tứ phương Tăng không thể phân chia gồm thuộc về Tăng các thứ vườn, ruộng, cây ăn trái, pḥng riêng và vật dụng trang bị trong pḥng riêng, b́nh bằng đồng, chậu đồng, cái búa, cái đục, các loại vật nặng, giường dây, giường gỗ, đệm ngồi, đệm nằm, gối y-la-diên-đà-mạo-ra (Skt., aineya-vāra; Pali, eṇeyyavāra: chăn bằng lông sơn dương), mạo-mạo-ra (Skt.: pravāra, Pali: pāvāra: chăn thường, cù-lũ, thảm lông). Những vật được phép chia: dao cạo, y bát, tọa cụ, ống đựng kim. Tăng kỳ 28 (đại 22, tr. 454b) 10 loại thuốc hiện tiền Tăng: thuốc đúng thời, thuốc phi thời, thuốc bảy ngày, thuốc trọn đời, vật dụng của tỳ-kheo qua đời, thí như trú xứ đại hội, phi thời y, tạp vật và thỉnh thực.
[33] Thập tụng 28 (đại 23, tr. 203b).-
[34] Tứ phần 40 (Đại 22, tr. 858c): nên giao thẻ để chia: tức chia bằng cách bốc thăm.
[35] Tứ phần 40, tr. 859a, bốn cách chia khác. Thập tụng 28 (Đại 23, tr. 201c); 1. Tự thọ phân, nếu chỉ một tỳ-kheo tâm niệm tự phân và tự thọ, như Tứ phần; 2. Triển chuyên phân: chỉ có hai tỳ-kheo, chia làm hai phần, một người chỉ vào mỗi phần: «Y này các người v́ Tăng mà bố thí, là vật dụng Tăng cần chia. Phần chia này có bấy nhiêu thuộc về tôi. Phần chia kia có bấy nhiêu chia cho Trưởng lăo. Phần ấy thuộc về Trưởng lăo.» Trường hợp hai tỳ-kheo cũng có thể chia theo thứ tự thọ phân; 3. Đọa trù phân: chia bằng cách giao thẻ, tức bốc thăm, nếu có ba tỳ-kheo (cũng có thể chia theo thứ tự thọ phân, hoặc triển chuyên phân) tổng số vật được chia làm ba phần cho ba người rồi nói «Phần này thuộc Thượng tọa, th́ phần kia thuộc Hạ tọa. Phần này thuộc Hạ tọa, th́ phần kia thuộc Thượng tọa.» Sau đó giao thẻ, và chỉ giao một thẻ mà thôi. Người giao thẻ không được nh́n thấy thẻ; 4. Yết-ma phân, bốn tỳ-kheo trở lên, chia bằng tác pháp yết-ma; cũng có thể chia theo lối tự thọ, triển chuyên hoặc đọa trù.
[36] Nghĩa là vật thuộc về nợ th́ cần trả hay không cần trả; vật dụng khác, hoặc muốn để lại cho ai.
YẾT-MA YẾU CHỈ - HT. Thích Tri Thủ Giảng thuật, Tỳ-kheoThích Đỗng Minh & Thích Nguyên Chứng Biên tập, PL.1546-Nhâm ngọ, tr.307-330