NIETZSCHE VÀ ĐẠO PHẬT
Nguyên tác: ROBERT G. MORRISON
Bản dịch Việt THÍCH NHUẬN CHÂU
[MỤC LỤC]
PHẦN 1
ĐẠO PHẬT TRONG QUAN NIỆM
CỦA NIETZSCHE
1
Dẫn nhập
Vào một ngày mùa thu năm 1864 ở thành phố Leipzig, Nietzsche, chàng
thanh niên ‘21 tuổi, tuyệt vọng, mất phương hướng,’
đang xem lướt qua những cuốn sách trong hiệu sách cũ của ông chủ nhà
trọ, tình cờ anh bắt gặp cuốn sách nhan đề Thế giới như là Ý chí và
Biểu tượng.
Dù đang chần chừ khi mua cuốn sách của một tác giả mà anh chưa từng nghe
đến, nhưng có tiếng thầm thì ma quỷ bên tai anh: ‘Hãy mua cuốn sách đó
đi!’
Anh ta vâng lời và sau đó, khám phá sự định hướng mà cuộc đời mình đã
thiếu. Cuốn sách nầy đã gây một ấn tượng cho anh để trong tác phẩm đầu
đời của mình, ‘Schopenhauer nhà giáo dục,’
anh kể lại ngày đó như là lúc nhận ra con người chân thật của chính
mình:
Chắc có lẽ có một ý nghĩa khác khi tìm
ra chính mình, khi đem mình ra khỏi nỗi hoang mang, trong đó, con người
thường vật vờ như đi trong đám mây đen, nhưng tôi biết chẳng có gì khác
hơn là nghĩ về một nhà sư phạm chân chính của mình. Và thế nên đến ngày
hôm nay, tôi nhớ ra trong những bậc thầy và người giám học mà tôi có thể
khoe khoang, đó là Arthur Schopenhauer.
Thêm vào việc nhận ra thiên hướng trong đời mình thông qua đọc tác phẩm
của Schopenhauer, chắc chắn Schopenhauer là người đầu tiên đã giới thiệu
Nietzsche đến với đạo Phật và tư tưởng Ấn Độ nói chung.
Schopenhauer thấy quan niệm hiện hữu trong đạo Phật là một quan niệm cổ
xưa của tư tưởng Ấn Độ, tương tự như quan niệm của chính ông: cuộc sống
là bất như ý một cách vô điều kiện, nó không bao giờ ban tặng cho con
người niềm hạnh phúc chân thật đời đời hoặc sự thành tựu, mà chỉ đưa đến
những niềm thất vọng và nỗi ưu phiền vô biên. Con đường duy nhất thoát
khỏi tình huống khó xử nầy là thông qua khước từ sự thôi thúc cơ bản của
đời sống: ‘ý chí sinh tồn.’
Ban đầu, Nietzsche có ảnh hưởng rất lớn quan niệm nầy, nhưng vào lúc tác
phẩm đầu tay của ông ra đời, Sự khai sinh của Bi kịch,
Nietzsche bắt đầu rời bỏ thế giới quan
yếm thế như vậy và, trong các tác phẩm sau này, ông đi đến một quan niệm
hoàn toàn ngược với điều trước đó–cuộc đời không bị chối bỏ mà khẳng
định một cách tuyệt đối. Triết học Schopenhauer được xem như là triệu
chứng ban sơ của căn bệnh liên quan đến thuyết hiện sinh mà Châu Âu đang
ở trên bờ vực thẳm với sự chống chọi: chủ nghĩa hư vô–nihilism
(có nghĩa là tình trạng tuyệt vọng, hậu quả tất yếu của việc hoàn toàn
đánh mất niềm tin trong sự công nhận một thế giới quan và giá trị cố hữu
của nó). Schopenhauer đã đạt đến thời kỳ cực điểm của chủ nghĩa bi quan.
Sự xuất hiện của chủ nghĩa hư vô được xem như một tác động trong lòng
lịch sử văn hoá phương Tây một tiền đề căn nguyên từ cơ cấu của học
thuyết Platon, mà theo Nietzsche, trở thành nền tảng cho mọi quan niệm
siêu hình học tiếp theo sau đó và quan niệm tôn giáo về con người và vị
trí của họ trong vũ trụ nầy.
Nói chung, tiền đề căn nguyên đó là sự hiện hữu được phân thành hai phạm
trù riêng biệt không đối xứng nhau, một là ngắn ngủi, phù du, phàm trần,
thuộc về bản chất của ‘hiện thể,’ và cái kia là siêu phàm hằng vĩnh, là
chân ‘thực tại.’
Chính cái chân thực mới cho đời sống ý nghĩa và giá trị. Con người và sự
định hướng trong đó, cũng như khả năng của nó, thông qua lý trí để nhận
thức rõ chúng. Cái trước là thế giới tự nhiên, lại tương đối không có
giá trị và không có ý nghĩa, ngoại trừ có khả năng là ý nghĩa phản ánh
một cách yếu ớt về thực tại chân thật (chân như). Cuộc sống chân thực
duy nhất của con người là khi họ sống và theo đuổi thực tại hằng vĩnh
ấy. Nhưng Nietzsche bây giờ đã thấy được rằng, điều mỉa mai khi hệ quả
của sự theo đuổi ấy, con người hiện đại đang tiếp cận một hiểu biết chân
thực về chính mình và căn nguyên của chính mình cũng như thể chế văn hoá
phản ánh lịch sử quá khứ của họ. Con người hoàn toàn có nguồn gốc tự
nhiên và dù có nói gì về nguồn gốc phi tự nhiên hoặc nguồn gốc thần
thánh, đều là chẳng gì khác hơn huyễn tạo tính vô nghĩa của kiếp người.
Khi suy nghĩ ấy vốn đã bắt rễ từ nền văn hoá phương Tây thì nó sẽ xói
mòn triệt để mọi cấu trúc, và Nietzsche đã thấy trước khả tính của bóng
mờ ấy, như một phản ứng cho những mất mác từ hỗn độn chủ nghĩa hư vô sẽ
tàn phá Châu Âu. Nhưng Nietzsche cũng cho rằng nó có thể, ít nhất trong
số những người có văn hoá và giáo dục hơn, họ phải được đề cập đến.
Nietzsche thấy rằng khi mình chỉ là khán giả, một sự phản ứng văn minh
hơn đối với thảm trạng báo trước nầy có thể sẽ là sự phát triển ‘Phật
giáo Châu Âu’– một tiếng reo mừng và đáp ứng trọn vẹn cho tính vô nghĩa
hiển nhiên của sự hiện hữu con người. Nhưng đối với Nietzsche, đáp ứng
như vậy cũng chỉ là một hình thức của chủ nghĩa hư vô, cái mà ông gọi là
‘chủ nghĩa hư vô thụ động,’ là dấu hiệu của ‘yếu đuối,’
một ‘hiện hữu rốt ráo không làm gì cả, đã đánh mất ‘ý nghĩa’ của nó.’
Phản ứng ấy tương đương với chấp nhận chủ nghĩa hư vô như lời khẳng định
và phán xét tuyệt đối về cuộc đời: một hình thức Châu Âu của đạo Phật
vốn chỉ giúp con người hoan hỷ điều chỉnh lại cái dường như vô nghĩa của
hiện hữu. Đối với Nietzsche, phản ứng như vậy dù thích hợp hơn đối với
hỗn độn của chủ nghĩa hư vô, nhưng sẽ là một sai lầm lớn: sẽ chẳng có gì
khác hơn là phản ứng tâm lý trong cùng khuôn mẫu triết lý Platon vốn đã
thấy rõ là quá sai lầm. Nếu toàn thể hai cơ cấu thế giới chẳng gì khác
hơn là sự phát kiến của con người thì theo sau sẽ là vấn đề đối với giá
trị cuộc sống và vị trí con người trong đó, một lần nữa vẫn còn là một
vấn đề bỏ ngõ. Như Nietzsche đã đề cập một cách đầy chất thơ trong
The Gay Science:
Đến
cuối cùng thì chân trời lại hiện ra
hào phóng cho chúng ta, dù nó chưa được chói sáng; đến cuối cùng thì
chuyến hải hành của chúng ta lại mạo hiểm lần nữa, liều lĩnh đối diện
với nguy nan, tất cả sự táo bạo của người yêu mến tri thức được thấm
nhuần lần nữa, có lẽ chưa bao giờ có một ‘đại dương mênh mông’ như vậy.
Nơi đâu đó trong đại dương mênh mông, sau cùng Nietzsche kết luận rằng
phản ứng có thể chấp nhận được đối với chủ nghĩa hư vô không phải là lập
nên một đạo Phật Châu Âu, mà tạo ra một nhãn quan mới cho con người và
tồn tại bằng giá trị không lập trên thế giới hữu thể siêu việt, tưởng
tượng, mà là một thế giới hữu thể ngay trong cuộc đời như nó đang có
trong thế giới tự nhiên. Thế nên sự ra đời của hình thái đạo Phật Châu
Âu là một nguy hiểm sẽ làm mờ đi quang cảnh của đại dương rộng mở ấy, và
do vậy đó là điều mà ông muốn tránh. Tuy nhiên, đạo Phật ắt phải có một
mục đích: ‘một đạo Phật Châu Âu có lẽ là không thể thiếu được’ như là
một trong nhiều loại triết học cần phải được truyền dạy... bằng cái
búa.’
Ẩn dụ về cái búa, tuy vậy, không hàm ý phá huỷ mà với ý nghĩa là ‘báo
hiệu,’ như khi người ta đánh chuông để xem thử nó kêu vang hoặc là bị
rạn nứt. Ngụ ý ở đây là vết rạn sẽ là cái được thu hút vào trong đạo
Phật.
2
Quan niệm của Nietzsche về đạo Phật
2.1. LỊCH SỬ ĐỐI CHIẾU
Dù có nhiều tác phẩm đa dạng về Phật học thích dụng ở Châu Âu thời kỳ
trước Nietzsche, chủ yếu đó là những tác phẩm liên quan đến hình thức cổ
xưa của đạo Phật như được thấy ở Tây Tạng.
Tuy nhiên, các kinh điển đạo Phật vào thế kỷ thứ XIX bằng tiếng Pāli và
Sanskrit,
xuất phát từ quê hương nơi Đức Phật sinh ra, bắt đầu được nghiên cứu và
phiên dịch thành ba ngôn ngữ chính của Châu Âu: Anh, Pháp và Đức.
Kinh điển tiếng Sanskrit từ đó được biết đến như là Phật giáo Bắc
truyền–ngày nay gọi là Phật giáo Đại thừa–và kinh điển tiếng Pāli từ đó
được biết đến thuộc về Phật giáo Nam truyền–ngày nay gọi là Phật giáo
Thượng toạ bộ.
Nói chung, kinh điển Đại thừa ra đời muộn hơn và chủ yếu phản ánh sự
phát triển tư tưởng, triết lý, huyền học, và văn học Phật giáo. Trong
khi đó, kinh điển Thượng toạ bộ có sớm hơn, phản ánh giáo lý khẩu truyền
và, do vậy, có nhiều quan tâm về phương diện lịch sử, đặc tính và nhân
cách của Đức Phật hơn, cũng như quan tâm về toàn cảnh Ấn Độ trong thời
kỳ Đức Phật. Nêu ra một lượng thông tin đáng kể có giá trị của Nietzsche
về Đại thừa Phật giáo, và những gì mà Nietzsche đề cập về đạo Phật, cho
thấy một điều là trong đó chẳng có kiến thức gì, hoặc là có tầm quan
trọng trong Phật giáo Đại thừa.
Tôi chỉ có thể kết luận rằng điều quan tâm chủ yếu về đạo Phật của
Nietzsche được tập trung ở mặt nổi như là hiện tượng mang tính lịch sử
và, do vậy, chỉ giới hạn trong hình thức Thượng toạ bộ.
Nguyên do về điều nầy là mối quan tâm của Nietzsche tập trung vào điều
ông ta xem là song hành trực tiếp về mặt lịch sử giữa Ấn Độ vào thời kỳ
Đức Phật và môi trường Châu Âu của riêng ông.
Dòng tiến triển ở Ấn Độ, hoàn toàn độc
lập với truyền thống của chúng ta, sẽ chứng minh một số vấn đề: cùng một
ý tưởng sẽ dẫn đến cùng một kết luận; điểm quyết định là đến 5 thế kỷ
trước khi bắt đầu niên lịch Châu Âu, đối với Đức Phật; càng chính xác
hơn, đối với triết học phái Số luận (Sāṃkhya), sau đó được phổ biến bởi
Đức Phật và hình thành một tôn giáo. (On
Genealogy of Morals GM iii.
27)
Ý tưởng Đức Phật truyền bá triết học phái Số luận (Sāṃkhya), và làm cho
triết lý ấy thành một tôn giáo, có lẽ đã lấy từ tác phẩm Die Religion
des Buddha của Koeppen.
Nhưng cũng lạ khi Nietzsche nói rõ điều nầy, bằng một công nhận như
vậy. Lúc đó, Nietzsche đã đọc các Tiểu luận của Müller, quyển
II, và cả cuốn Đức Phật của Oldenberg, cả hai tác phẩm nầy đều
đồng ý rằng ‘Chúng ta mất công tìm kiếm vô ích những điểm tương đồng
nhất định giữa hệ thống triết học của Kapila... và... siêu hình học của
đạo Phật.’
Müller tiếp tục nói rằng ‘rất khó hiểu tại sao, hầu như bởi sự đồng ý
chung, Đức Phật được cho hoặc là đi theo dấu chân của Kapila, hoặc là đã
biến đổi triết học của Kapila thành tôn giáo.’
Khởi đầu với Vico (1668-1744), nhiều triết gia trước Nietzsche đã tìm
kiếm trong lòng lịch sử những ký hiệu dễ hiểu để ý thức về thời đại của
mình về mặt quá khứ và, như điềm báo trước của sự già nua xưa cũ, thấy
rõ sẽ đâm chồi trong tương lai .
Tất cả, tuy dù những quan niệm khác nhau, cùng kết luận rằng tiến trình
lịch sử con người, ít nhất là ở Tây phương, đã hiển bày một ý định dễ
hiểu: lịch sử con người được đặc tả bởi tiến trình dần dần về phía chung
cuộc, và kết thúc là, trong một cách thức nào đó, chính là sự thành tựu
từ phấn đấu và tiềm năng con người. Con người và hành vi, đối với họ là
vũ trụ luận trung tâm trong một thế giới có mục đích và được cơ cấu mang
tính kế thừa để hoàn thành kết cuộc ấy. Nhưng đối với Nietzsche, một nền
lịch sử triết lý như vậy không gì khác hơn tính kiêu ngạo thô lỗ và khát
vọng thành đạt. Điều đơn giản là không có chứng cứ về nghiên cứu lịch sử
để giả lập cho kết luận như vậy cho đến khi có sự ra đời tác phẩm On
the Origin of Species của Darwin, các dữ liệu khoa học giá trị có
khuynh hướng nhắm đến một kết luận ngược lại: con người là trung tâm của
cái chẳng khác gì hơn là hiện hữu của chính nó; không có một lực may mắn
nào ngoài khí quyển hoặc một hữu thể trông nom số phận của nó cả, cũng
chẳng có một thế giới tự nhiên được cấu trúc cho sự thịnh vượng của nó
hơn là cho các sinh vật khác. Trong một thiên khảo luận chưa xuất bản,
Nietzsche gợi ra một chân dung hoài nghi của con người phù hoa trong một
vũ trụ phi mục đích (ateleological cosmos):
Vào một thời, ở ngoài một góc xa xôi nào
đó của vũ trụ đã phân tán thành vô số hệ thống mặt trời lấp lánh, có một
vì sao trong đó có loài thú thông minh phát minh ra cái biết. Đó là điều
ngạo mạn nhất và là giây phút xuyên tạc nhất của ‘lịch sử thế giới,’
nhưng tuy vậy, đó chỉ là một giây phút. Sau khi tự nhiên đã hít vào vài
hơi thở, vì sao lạnh và đông lại, con thú thông minh phải chết. (On
Truth and Lies in the Nonmoral Sense
(TL, p. 1)
Khi Nietzsche nhìn vào gan ruột của lịch sử con người, Nietzsche cũng
như Hegel, thấy rõ sự vận hành luận lý bên trong, và cũng như
quan niệm của Hegel về lịch sử, luận lý thâm sâu nầy thu hút sự thừa
nhận một ý niệm vốn là đối tượng của tri thức. Nhưng không như hệ thống
của Hegel, không có sự bộc lộ biện chứng pháp và sự biểu hiện của ý niệm
ấy như được thấy trong tầng bậc có thứ lớp của tiến trình lịch sử thế
giới. Ở đó thay vì vậy, ở một mốc nào đó trong lịch sử văn hoá, Ấn Độ và
Tây phương, nhận thức ra rằng ý niệm căn gốc được thừa nhận vốn thực là
sai lầm. Đối với Nietzsche, ý niệm căn gốc luôn luôn là ý niệm luân lý
vì nó liên quan đến sự phán xét giá trị cao nhất của con người, ‘thiện’–
điều đem đến cho ý nghĩa và mục đích cho cuộc sống–có căn nguyên của nó
ở một cõi giới hoặc hiện hữu nào khác bên ngoài thế giới nầy. Khi so
sánh với thế giới hoặc hiện hữu bên ngoài siêu việt ấy, thế giới phù du
nầy tương đối chẳng đáng giá và chẳng có ý nghĩa, thậm chí còn ‘xấu ác.’
Theo đó, mọi đam mê và dính mắc có đối tượng và chung cuộc ở trong thế
giới nầy đều cũng là ‘xấu ác,’ đều bị phản ứng và chinh phục bởi người
‘thiện.’ Nhưng chân thực, ý tưởng nầy về một thế giới hay hiện hữu lý
tưởng siêu việt chẳng có nguồn gốc nào khác hơn chính là tâm thức của
‘loài thú thông minh đã phát minh ra cái biết.’ Loài thú thông minh
thượng đẳng (par excellence) chính là Socrates.
Một ảo tưởng sâu thẳm ban đầu thấy ánh
sáng của thế giới nhân danh Socrates: niềm tin không lay động suy nghĩ,
dùng chuỗi quan hệ nhân quả, có thể vượt qua hố sâu của hữu thể, và tư
tưởng ấy có khả năng không chỉ biết về hữu thể mà còn hiệu chỉnh chúng.
(The Birth of Tragedy – BT 15)
Ý
tưởng chính được khẳng định bởi Socrates liên quan đến quan niệm mục
tiêu tối hậu của nỗ lực con người là đạt được sự hiểu biết siêu việt thế
giới phàm trần nầy: thế giới của ‘Thể’
vốn thường hằng, bất biến, vô hình, chỉ có thể cảm nhận bằng tri giác và
đỉnh cao đại biểu cho Thể là ‘cái đẹp tuyệt đối,’
hay ‘Thiện,’ vốn là đáng tin cậy cho bất kỳ điều gì đúng đắn và có giá
trị trong mọi hoàn cảnh.
Và xa hơn, sự chứng đạt cao nhất của con người nầy là điều ‘chỉ có thể
hiểu được bằng trí thông minh [nous] mà nó chính là hoa tiêu của
linh hồn.’
Socrates của Nietzsche là một ‘nhà lý thuyết lạc quan... gán cho tri
thức và nội quán sức mạnh của một thứ thuốc chữa bá bệnh,’
vì nó có thể ‘chữa mọi vết thương đời đời của hiện hữu.’
Người thông thái, do vậy, là người hạnh phúc nhất,
vì ‘tri thức và lý trí đã giải thoát [hắn] khỏi sợ hãi và cái chết.’
Chết chỉ xảy ra đối với thân, chứ không xảy ra đối với linh hồn (soul).
Tri thức như vậy không những chỉ dẫn đến niềm hạnh phúc trong đời nầy,
mà đến chỗ bất tử. Tác động của việc nầy là một hồi chuyển
(turning-away) từ cuộc sống trong thế giới nầy: ‘Triết gia chân chính
khai tử nghề nghiệp của chính họ.’
Như vậy những ham muốn của thân kết hợp với lạc thú và cảm xúc tự nhiên
con người được xem là chướng ngại cho việc tìm cầu tri thức nầy, ngay cả
nguồn gốc của mọi cái ác.
Socrates của Nietzsche thậm chí được cho là ‘một điểm hồi chuyển và là
cơn trốt xoáy của cái gọi là lịch sử thế giới,’ vì với Socrates, chưa
bao giờ sự theo đuổi tri thức nầy ‘trở thành vấn đề thực sự cho mọi
người món quà cao hơn,’ ‘chỉ có thiên hướng của con người đích thực.’
Và, theo Nietzsche, đỉnh cao nhất của thiên hướng đã được truy đuổi bởi
‘món quà tặng’ thông qua toàn bộ tiến trình của lịch sử Tây phương.
Trong ‘Hoàng hôn của Những thần tượng,’ Nietzsche đã đưa ra một
phác thảo súc tích hơn về lịch sử nầy, gọi đó là ‘Lịch sử của một Sai
lầm’ hoặc là ‘làm thế nào để ‘Thế giới Chân thực nầy trở thành Huyền
thoại.’
1. Thế giới Chân thực, có thể
đạt đến được đối với người thông thái, người ngoan đạo, người có đạo
đức, anh ta an trú trong đó, anh ta chính là nó.
(Dạng cổ xưa nhất của ý niệm, tương đối
dễ nhận ra, đơn giản, có sức thuyết phục. Ghi lại tiền đề ‘Tôi,
Plato, chính là sự thật.’
Điều nầy tương ứng với Socrates, người đối với Nietzsche, thông qua các
công trình của Plato, là cội nguồn có hiệu lực của quan niệm nầy.
2. Thế giới Chân thực, không thể
đạt đến được trong thoáng chốc, nhưng hứa hẹn đối với người thông thái,
người ngoan đạo, người có đạo đức, (‘với người tội lỗi biết ăn năn’).
(Tiến trình của quan niệm trở nên tinh ròng hơn, hấp dẫn hơn, khó hiểu
hơn–nó trở nên một người đàn bà– tức trở thành tín đồ Ki-tô giáo ...)
Ở
đây ý niệm được thông qua nhờ sự hấp thụ học thuyết Platon bởi những nhà
thần học Ki-tô giáo –vì Ki-tô giáo là chủ nghĩa Platon đối với con
người.
Mục tiêu bây giờ trở nên xa hơn, đó là quan niệm thuyết mạt thế
(eschatologize). Thể của Plato bây giờ là ‘tư tưởng trong đầu của Thượng
đế.’
‘Thế giới’ chân thực của Plato bây giờ là Vương quốc của Thượng đế.’
3. Thế giới Chân thực, không thể
đạt đến được, không thể chứng minh được, không thể bị hứa hẹn, mà ngay
cả khi chỉ suy nghĩ về sự an ủi, một bổn phận, một mệnh lệnh.
(Về cơ bản giống như mặt trời xưa cũ,
nhưng chiếu qua sương mù chủ nghĩa hoài nghi; ý niệm trở nên vi tế, nhợt
nhạt, về hướng Bắc, Königsbergian.
Đối với Nietzsche, Kant biểu tượng cho khởi đầu và kết thúc của ‘thế
giới chân thực,’ tức thế giới bản thể
hoặc vật tự thân–Ding-an-sich (thing-in-itself), không còn
là đối tượng riêng của cái biết nữa. Như chính Kant phát biểu, ‘Tôi đã
hoàn toàn khước từ tri thức để dành chỗ cho niềm tin.’
Nói cách khác, khăng khăng tin vào hai cơ cấu thế giới, nhưng ‘tri thức’
bây giờ là tri thức của sự hạn định ‘tri thức,’ và những hạn định nầy
giới hạn phạm vi của nó vào trong thế giới ‘trình hiện–appearance’ của
thế giới hiện tượng. Điều nầy, đối với Nietzsche, chính là tận cùng của
siêu hình học tiên nghiệm (transcendental metaphysics). Sự truy tìm
‘chân lý/thực tại’ cuối cùng dẫn đến sự thật là chẳng có ‘chân lý/thực
tại.’
4. Thế giới Chân thực, có thể
đạt đến hay không? Dù mức độ nào cũng không thể đạt được. Và nếu không
thể đạt được (bất khả đắc) và cũng không thể biết được (bất khả tri).
Theo đó, cũng không có sự an ủi, không cứu chuộc, không bổn phận; làm
sao chúng ta lại có bổn phận đối với cái mà ta chẳng hay biết?
(Sắc xám của bình minh, sự hé mở ban sơ
của lý trí. Tiếng gà gáy báo hiệu chủ nghĩa thực chứng–positivism.’
5. Thế giới Chân thực, một ý
niệm không còn dùng được nữa, thậm chí không còn bổn phận nào cả–một ý
niệm khởi nên sự vô ích, thừa thải, cho nên đó là một ý niệm bị
khước từ: chúng ta hãy thủ tiêu nó!
(Ánh sáng khoáng đạt ban ngày, bữa điểm
tâm; sự trở lại của tiếng reo vui và lương tri.
Plato đỏ mặt vì hổ thẹn; mọi tinh thần tự do đều gây hỗn loạn).
6. Chúng ta đã thủ tiêu thế giới chân
thực. Thế giới nào còn lại? Thế giới trình hiện chăng? ... Nhưng không!
Bằng thế giới chân thực, chúng ta đã thủ tiêu thế giới trình hiện!
(Giữa ngọ; khoảnh khắc ngắn nhất của
chiếc bóng, cuối cùng của sai lầm dài lâu nhất; thiên đỉnh của loài
người; Zarathustra đã nói như thế).
Tôi tán thành Clark
khi ông cho rằng ba giai đoạn cuối cùng nầy biểu tượng cho giai đoạn tư
tưởng riêng của Nietzsche, và đối với tôi, bằng cách ấy Nietzsche tuyên
bố (Schopenhauer cũng làm như vậy) là người kế thừa đích thực nội dung
triết học Kant. Hàm ý rằng Kant, chính ông ta, vì đức tin Ki-tô giáo, sẽ
không phải đương đầu với đức tin ấy. Trong tác phẩm Human all too
Human, ông thừa nhận ‘có lẽ có một thế giới siêu hình học; khả tính
tuyệt đối của nó hầu như không cần phải tranh cãi. Chúng ta nhìn ngắm
mọi vật thông qua cái đầu con người và không thể cắt lìa khỏi cái đầu
nầy.’
Tuy nhiên, ông ta xem tri thức như vậy sẽ như ‘cái vô dụng nhất trong
tất cả kiến thức.’ Tuy nhiên, quan niệm tôn giáo và siêu hình học là
thuộc về giá trị đối với nhà tâm lý học như Nietzsche, vì họ sở hữu một
giá trị như là ‘triệu chứng’ lộ ra cội nguồn chân thực của chúng.
Điều mà ‘cho đến nay, đã làm nên giá trị được chấp nhận của siêu hình
học... là đam mê, sai lầm và tự dối mình.’
Như là nô lệ của đam mê. Do vậy, khi người ta nhận thức được nền tảng
của ‘human all too human’ trong các tôn giáo đang lưu hành và của
các hệ thống siêu hình học, người ta đã bác bỏ chúng.
Niềm tin của Kant sẽ là một ‘triệu chứng,’ ‘sai lầm và tự dối mình.’ Ý
niệm Vật tự thân (Ding-an-sich) của ông ta, dù có hiện hữu, cũng
sẽ là vô giá trị và vô dụng khi xác định chúng ta nên sống như thế nào
khi mình không có phương tiện tiếp cận hoặc hiểu được nó.
Thế nên Nietzsche công nhận quan niệm của Kant về giới hạn của tri thức
thường nghiệm, nhưng khước từ ‘niềm tin’ của ông ta vì chỉ điều nầy cho
chúng ta biết ông ta muốn điều gì, và điều gì không phải. Do vậy
Nietzsche tuyên bố rằng thấy được ngụ ý trong triết học của Kant, dù
Kant không biết được.
Tôi gợi ý là giai đoạn 5 biểu tượng cho ý niệm của Nietzsche về ‘chủ
nghĩa hư vô tích cực–'active nihilism’
nơi mà chính con người hoạt động một cách tự do đối với mọi giá trị, mục
đích, sự thuyết phục, giáo điều, và vô ý thức giả lập trên hai khuôn
hình của thế giới, nói cách khác, cho đến khi ‘chân trời hiện ra tự do
cho chúng ta một lần nữa.’
Giai đoạn 6 sẽ là ‘đại dương mênh mông,’ nơi mà các nhà sáng tạo cái mới
và giá trị chân thật nghiêm túc mạo hiểm vượt qua chủ nghĩa hư vô. Chủ
nghĩa hư vô là một ‘giai đoạn chuyển tiếp’
rồi sẽ hoàn thành. Do vậy, khi Nietzsche đề cập chính mình như là một
người theo chủ nghĩa hư vô,
Nietzsche ở đây chỉ là người theo chủ nghĩa hư vô trong ý nghĩa ‘chủ
nghĩa hư vô tích cực–active nihilism,’ có nghĩa là chủ nghĩa hư
vô phá huỷ mọi ‘dối trá’ cũ rích như là phương tiện để tạo thành cái gì
đó mới mẻ. Chủ nghĩa hư vô vẫn còn dai dẳng chỉ khi nào ‘cái sai lầm’
tiếp tục tồn tại. Một khi cái sai lầm đã hoàn toàn được trừ sạch, thì
chủ nghĩa hư vô chấm dứt. Như vậy, Nietzsche không còn là một người theo
chủ nghĩa hư vô nữa mà là một người sáng tạo giá trị mới. Sau khi Kant
nhận thức rằng ‘Thượng đế đã chết’
và sự khởi phát của khoa học, (‘khoa học’ theo Nietzsche có nghĩa là
khoa học trong nghĩa rộng, Wissenschaft
trong tiếng Đức. Khoa học thay chỗ cho tôn giáo
và tiếp tục với hình thái thế tục hoá tư tưởng theo Socrate trong cách
truy cầu kiến thức khoa học. ‘Vì thế hình ảnh Socrate đang chết–dying
Socrates như là con người hiện hữu mà kiến thức và lý trí đã giải
thoát khỏi sự sợ hãi cái chết, là cái tượng trưng, bên trên lối vào của
khoa học, nhắc nhở mọi người về sứ mệnh của họ–gọi là, làm cho sự hiện
hữu hiện khởi có thể nhận thức được, và do vậy, nó được chứng minh là
đúng.’
Như vậy khoa học vẫn hoạt động trong hai khuôn hình của thế giới, và dù
nó không còn được công nhận là ‘thế giới chân thực’ trong ý nghĩa nào đó
có thể tìm thấy qua tôn giáo, nó vẫn bị điều kiện hoá bởi ý niệm của
Socrate cho rằng tri thức về ‘thực tại’ là mục tiêu đích thực của mọi nỗ
lực con người, và việc nhận ra được mục tiêu ấy sẽ ít nhiều mang đến
hạnh phúc cho nhân loại và sự thành tựu của con người–ít nhất là trên
thế giới nầy. Đối với Nietzsche đây là nền tảng của một giả định mới:
làm sao để một kiến thức sâu hơn về hiện tượng sẽ được, trước hết, liên
kết với hạnh phúc và thành tựu của chúng ta? Như vậy ‘khoa học vẫn ngự
trị trên niềm tin; đơn giản là không có khoa học ‘vượt ngoài giả định.’
Tuy nhiên, chính nhờ vào sự truy duổi theo khoa học mà những giả định
nầy cuối cùng được mang ra ánh sáng. Chẳng hạn, trong giai đoạn 4 của
Nietzsche, ông đề cập đến ‘chủ nghĩa thực chứng–positivism’ thấy được
khoa học, và triết học dựa trên phương pháp khoa học, như là phương tiện
duy nhất để biết. Nên Comte,
người sáng lập chủ nghĩa thực chứng, cho rằng tiến trình nầy là luật tắc
tất yếu của lịch sử con người.
Nhưng đối với Nietzsche, đây là một giả định không có cơ sở. Sau nầy,
điều ấy được đưa ra ánh sáng với Darwin, nơi con người chỉ trở thành một
sinh vật khác mà không cần một luật tắc tất yếu để bảo đảm cho tiến
trình tương lai của nó cả. ‘Thượng đế đã chết,’ nhưng tính chất
văn hoá và triết học của sự kiện nầy phải cần có thời gian mới thấy
được.
Đó là điều mà chúng ta sẽ tiếp cận ‘kết luận’ của Nietzsche về nguồn gốc
tiền đề của tư tưởng Socrate: sự theo đuổi ‘chân lý’ cuối cùng sẽ lộ ra
sự thực mà chúng ta đang thấy, tưởng là chân lý mà thực ra là sai lầm,
là sản phẩm của tự lừa dối mình và ước muốn thành tựu. Nhưng giai đoạn 6
trong ‘Lịch sử của một Sai lầm–History of an Error’ của
Nietzsche sẽ không vượt qua quy luật tất yếu của lịch sử: có mối nguy
hiểm của tình trạng hỗn loạn trong chủ nghĩa hư vô bộc phát hoặc là một
nền Phật giáo Châu Âu tự thiết định như là hậu quả của ‘chủ nghĩa hư vô
thụ động.’ Giai đoạn 6 thành hiện thực nếu con đường ‘chủ nghĩa hư vô
tích cực’ được tuân theo.
Hiển nhiên, ở Ấn Độ, ‘kết luận’ nầy không phải là tác động của khoa học;
mà cũng chẳng phải ngoài khoa học, nó đến cùng một kết luận, hay ít nhất
cùng một tương tự như giai đoạn 5: thủ tiêu niềm tin vào một thế giới
hay hiện hữu siêu việt. Nhưng không có một Nietzsche Ấn Độ, một Ấn Độ
đồng hành với con đường sai lầm của chủ thuyết hư vô thụ động, chẳng gì
khác hơn là thấy chủ thuyết hư vô như là một giai đoạn chuyển tiếp, và
vượt qua nó, thấy nó như là biểu tượng tuyệt đối trên cuộc đời: đời sống
thực sự không cần mọi ý nghĩa khả hữu hay giá trị. Đây là con đường mà
lúc bấy giờ Nietzsche sợ rằng có thể hấp dẫn nhiều giới ở phương Tây, và
khi cội nguồn giá trị của nó–‘thế giới chân thực’ không còn được tin vào
nữa, đáp lại sẽ là một ý thức sâu sắc về sự mất mác, thậm chí là cảm
giác về một ‘tai biến kinh hoàng’ sắp đến gần.
Vậy nên cuộc đời thiếu đi mục đích hoặc ý định chân thực của con người,
và từ đó vấn đề sâu kín nhất của nhân loại là cảm thấy không còn ý vị.
Vì họ không còn đủ sức mạnh để đáp ứng cho thử thách của đại dương mênh
mông nầy, sự yêu cầu khẩn khoản của tiếng reo ca và chủ nghĩa hư vô tế
nhị (refined nihilistic) cùng tôn giáo vô thần (non-theistic) như đạo
Phật có thể là điều hấp dẫn mạnh mẽ. Thực vậy, không còn nghi ngờ gì
nữa, Nietzsche đã đặt sự phán xét nầy trên kinh nghiệm của riêng mình.
Trong một bức thư gởi cho người bạn là Carl von Gersdorff,
Nietzsche thuật lại rằng sau khi đọc ‘bản dịch tiếng Anh của Kinh Tập
(Sutta Nipāta)...Tin chắc rằng cuộc đời là không có giá trị gì và tất cả
mục đích là ảo tưởng chính nó đã gây ấn tượng rất mạnh trong tôi, đặc
biệt là khi tôi nằm bệnh, tôi cần nghe nhiều về điều ấy, nhưng không pha
trộn với cách nói (phraseology) của Thiên chúa giáo Do thái
(Judeo-Christian).
Ông nói tiếp: ‘Theo ý kiến của tôi, ý muốn hiểu biết vẫn còn như
là lĩnh vực tuyệt đối của ý chí sinh tồn, như là lĩnh vực giữa ý muốn và
chấm dứt ý chí...một chút niết-bàn, khi bằng cách ấy, linh hồn thể nhập
cảnh giới trầm tư thanh tịnh.’
Do vậy, dường như khi Nietzsche phán đoán Phật giáo sẽ là sự cám dỗ nguy
hiểm cho mối lo âu ngập tràn
đương thời của ông ta, chắc chắn ông ta đã phát biểu từ kinh nghiệm
riêng tư của mình: đó là một nguy hiểm đang lôi cuốn ông ta. Nhưng điều
gì đã dẫn Nietzsche đi tìm một tiến trình lịch sử tương đương ở Ấn Độ?
Như tôi đã nói từ trước, mối quan tâm về đạo Phật của Nietzsche chủ yếu
là về mặt lịch sử. Nietzsche phỏng đoán một quy trình thuộc thuyết tiến
hoá tương tự như phác đồ đã có ở Ấn Độ, và đi đến kết luận là cùng thời
với Đức Phật. Một nơi nào đó trong quá khứ xa xăm của nền văn hoá Āryan
cùng với Bà-la-môn, ‘ý tưởng tương tự’ như là điều đã được thừa nhận bởi
Socrate ắt hẳn là đã được thừa nhận bởi ‘loài thú thông minh’ của người
Āryan. Tuy nhiên, Nietzsche không nói với chúng ta ai là giống dân Āryan
mà Socrates nói đến hoặc khi nào thì ý tưởng nầy được thừa nhận. Tuy
nhiên, từ những cuốn sách khác nhau về Ấn Độ và đạo Phật mà Nietzsche đã
đọc, và có lẽ từ các thảo luận không được ghi lại, chắc chắn rằng
Nietzsche đã có bạn bè với các nhà ngữ văn (philologists) vốn rất thông
thạo các môn học Sanskrit và Ấn Độ học,
có lẽ Nietzsche đã có ấn tượng cùng với ý tưởng thấm nhuần tư tưởng tôn
giáo-triết học Ấn Độ trước thời Đức Phật. Chẳng hạn, chắc Nietzsche đã
đọc tiểu luận của Müller ‘Buddhist Pilgrims’ về bộ kinh đầu tiên
của Lê-câu Phệ-đà (Ṛg-Veda):
‘lý trí nổi loạn’ tìm kiếm ‘ý tưởng khao khát được thốt nên lời,...ý
tưởng một quyền năng tối cao và tuyệt đối’ đằng sau tất cả các thần.
Điều nầy có thể trong tâm tưởng của Nietzsche, có sự tương ứng với ý
niệm xuyên suốt về Socrates, bằng phương tiện tri thức, về thực tại nằm
dưới mọi trình hiện. Tuy nhiên, vốn rất thân thuộc với trường phái tiền
Socrates và có lẽ Nietzsche đã quá biết về điều đó. Rồi Müller tiếp tục
thuật lại bằng cách nào mà từ Phệ-đà
phát
sinh ra hai tuyến đối nghịch, một thuộc về lý trí–triết học Bà-la-môn–và
một thuộc về đức tin–nghi thức tế lễ của Bà-la-môn–trong đó, cái thuộc
về lý trí đã ‘đe doạ trở thành sự huỷ diệt mọi tôn giáo.’
Tuyến mang tính triết học, phát triển vào thời tiền Áo nghĩa thư
(Upaniṣad), sau cùng nở hoa thành nhiều trường phái triết học khác
nhau, vốn ‘cho phép thoả mãn tự do tư tưởng không giới hạn,’ và trong
triết học của nó ‘nhiều danh xưng của các thần không bao giờ được đề cập
đến.’
Tuy nhiên, ở đây chúng ta đi tìm một dạng suy nghĩ để có thể ăn khớp với
từng phần của cùng một ý tưởng, ít nhất là đối với mục đích của
Nietzsche: ý tưởng ‘chỉ có một cái tồn tại là Hữu thể, không có cái thứ
hai; mọi thứ chỉ là giấc mơ và ảo tưởng, và ảo tưởng nầy có thể tháo gỡ
bởi một tri kiến chân thực về một Hữu thể.’
Không có tri kiến chân thực nầy, điều mà chúng ta chấp nhận như là thực
tại chỉ như là giấc mơ hoặc ảo tưởng. Ảnh tượng như vậy có thể hiện ra
đối với Nietzsche có mối quan hệ với ảnh tượng của Divided Line
của Plato trong tác phẩm Cọng hoà quốc (Republic), nơi
trạng thái ảo tưởng có lẽ gần tương đương với Eikasia hay ‘ảo
ảnh–illusion’, và tri kiến chân thực là tương đương với Noesis
hay là ‘tri thức về chính cái Thiện.’
Tuy nhiên, trong phác thảo của Müller, ý tưởng nầy chỉ xuất hiện trước
khi Đức Phật đản sanh.
Như vậy, nếu Nietzsche lập căn cứ học thuyết lịch sử của mình theo như
Müller, thì khoảng thời gian giữa ý tưởng và kết luận sẽ có hơn 100 năm
là nhiều nhất, trong khi đó phần tương ứng của phương Tây có đến hơn
2.300 năm. Tuy nhiên, sau đây tôi sẽ chỉ ra sự khác nhau về khoảng thời
gian sẽ được giải thích như thế nào. Oldenberg, trong tác phẩm The
Buddha của ông, đã giải thích rằng:
Lúc nào cũng vậy, bất kỳ khi nào một
quốc gia đã có vị trí phát triển đời sống tri thức thanh tịnh và tịch
tĩnh qua một thời kỳ dài, thường có sự tái diễn rằng các hiện tượng, đặc
biệt là những điều có thể quán sát xưa cũ, vốn hứa hẹn cho con người
điều gì đó hoặc cho người khác bởi sự công kích liên minh với thánh
thần, quyền lực, giàu có, chiến thắng và sự khuất phục các kẻ thù của
họ, sẽ, có khi bằng những mức độ không thể cảm nhận mà có khẩu lệnh của
nó không còn là thịnh vượng, chiến thắng, thống trị, mà chỉ còn lại hoà
bình, hạnh phúc, giải thoát.
Rồi ông ta tiến hành ‘từng bước theo tiến trình tự huỷ diệt của tư tưởng
tôn giáo Phệ-đà, vốn đã sản sinh đạo Phật như là một kết quả tích cực
của nó.
Bước đầu tiên được tìm thấy trong cuốn sau cùng của Ṛg-Veda, nơi
chúng ta có cái mà các học giả hiện đại Ấn Độ nhìn thấy như là ‘có thể
là sự diễn đạt cổ xưa nhất về mối nghi ngờ triết học trong văn chương
thế giới.’
Tôi trích dẫn hai khổ thơ quan trọng nhất trong tác phẩm của Oldenberg:
Ai biết được bí mật? Ai tuyên bố ở đây?
Do đâu, do đâu sự sáng tạo đa dạng nầy
sinh khởi?
Chính Thượng đế đã chết trở nên hiện
hữu.
Ai hay do đâu sự sáng tạo vĩ đại nầy
phát sinh?
Ngài đến từ sự sáng tạo vĩ đại nầy,
Dù ngài sáng tạo hay im lặng,
Bậc Thấu thị vẫn ngự trên trời cao.
Ngài biết–hoặc có lẽ thậm chí ngài không
biết.
Sau sự bùng nổ ban sơ của thuyết bất khả tri, ngẫu nhiên, xảy ra vào
cùng khoảng thời đằng sau những hiện tượng, ngã/phạm
(atman/brahman).
Oldenberg phác hoạ nhiều quan niệm khác nhau tìm thấy vốn rất nhiều
trong văn học Phệ-đà, và bên cạnh sự bùng phát tính không xác thực về
chủ nghĩa hoài nghi, Oldenberg mô tả đó là ‘Tri thức khờ dại để biết mọi
chuyện,’ nhưng trong thực tế, không có chút hiểu biết sâu sắc nào.
Tuy nhiên, vào thời kỳ tiền Áo nghĩa thư (Upaniṣad), tư tưởng đạt
được chiều sâu như người thời bấy giờ ‘tìm kiếm bản tính của bản thể,
tìm kiếm thực tại, tìm kiếm chân thực của các hiện tượng. và tìm kiếm
chân lý của sự thực.’
Cuối cùng, điều nổi lên chính là ý niệm ngã/phạm (atman/brahman)
được xem như là thực tại chân thật đằng sau mọi hiện tượng khác nhau.
Đạt được hiểu biết về thực tại sau hơn nầy dẫn đến điều mà Oldenberg gọi
là ‘nguồn gốc của đời sống tu hành ở Ấn Độ,’ do kết quả nhờ thu thập
kiến thức ấy, mà con người xả ly trần tục: ‘Biết được nó, ngã–Ātman,
hàng Bà-la-môn dập tắt ham muốn giàu sang, ham muốn sở hữu, và sống như
một người khất sĩ.
Nhưng theo Oldenberg, vẫn còn ‘lưu lại trong suy đoán của người Ấn Độ
vấn đề tìm kiếm con đường trở lại từ lĩnh vực hiện hữu tuyệt đối đến
trạng thái hiện hữu thường nghiệm nầy, xác định mối quan hệ vốn tồn tại
giữa ngã–ātman và thế giới ngoại tại.’
Tác động của suy đoán nầy là nhiều người ‘có thể cảm thấy tư tưởng đã
vươn đến một hố thẳm, qua đó, việc bắt qua một cây cầu không phải là
quyền hạn của nó.’
Và khi hiểu biết của con người về ngã/phạm (atman/brahman) là mục
tiêu tối hậu của nỗ lực con người, và hiểu biết ấy dẫn con người đến sự
từ bỏ thế gian, kết hợp với hố thẳm, dường như không thể nào vượt qua
được giữa ngã–ātman và thế giới hiện tượng, sẽ nẩy sinh ‘sự chỉ
trích ngày càng gay gắt về thế gian nầy’ và ‘sự ra đời một người Ấn Độ
bi quan.’
Thế gian là một thế giới buồn thảm, nhưng ‘ngã (ātman) trú ngụ ở
cách xa và không bị tác động tới bởi nỗi buồn thảm thế gian.’
Như vậy, ‘con người phải tự tách rời chính mình ra khỏi tất cả, đó chính
là phàm trần,... phải sống như thể mình không hề sống.’
Thế nên điều dẫn theo là sự lớn mạnh của đời sống khất sĩ bên ngoài sự
giữ gìn truyền thống Bà-la-môn với rất nhiều bậc thầy ‘tự cho là đã độc
lập khám phá trong truyền thống Phệ-đà một phương pháp mới, và đó là con
đường giải thoát duy nhất.’
Rồi Oldenberg mô tả bức tranh khá u ám của con người vốn nhanh chóng bất
mãn đời sống, nơi mà thậm chí ‘giới thanh niên, chán ngắt cuộc đời bắt
đầu... hăm hở muốn xuất gia.’
Sau cùng, ‘những nhà tư tưởng nghiêm chỉnh nhất thuộc giống đực, thuộc
thời kỳ tư biện cổ điển Bà-la-môn’ phải nhượng bộ các tư tưởng gia ‘phi
chính thống,’– các bậc sa-môn.’
Một thế hệ các nhà biện chứng trẻ hơn,
công khai tranh luận với các nhà duy vật tưởng tượng quá mức hoặc với
không khí hoài nghi, những người không đủ hoặc là sự sẵn sàng hoặc khả
năng trình bày mọi mặt ý tưởng của bậc tiền bối, để sửa đổi, và chuyển
nó thành đối cực của họ. Hệ thống nầy rồi hệ thống khác được cơ cấu, với
ánh sáng vừa phải của chất liệu kiến trúc. Chúng ta biết ít hơn một loạt
những tiếng hô xung trận: những thảo luận được đề xuất về tính vĩnh cữu
hay nhất thời của thế giới và bản ngã, hoặc sự hoà giải những đối cực
nầy, vĩnh cữu trong một chiều hướng hoặc ngắn ngủi theo chiều hướng
khác, hoặc về sự khẳng định cùng một lúc
là vô hạn và hữu hạn, hoặc phủ định cả vô hạn lẫn hữu hạn. Rồi xuất hiện
sự khởi đầu của chủ thuyết hoài nghi mang tính luận lý, và hai học
thuyết, một là từ căn bản tiền đề đã có, ‘đối với tôi, mọi hiện tượng
đều có thật,’ và ‘đối với tôi, mọi hiện tượng đều không thật đối với
tôi,’ và ở đây hiển nhiên các nhà biện chứng pháp, những người đã tuyên
bố mọi hiện tượng đều không thật, được đối diện ngay lập tức vấn đề dù
anh ta nhìn về lý thuyết nầy của chính anh cũng vậy, là mọi hiện tượng
đều không thực, vì nó cũng không thực. Con người tranh luận về thế giới
bên kia, cuộc sống tương tục sau khi chết, về sự tự do của ý chí con
người, về sự hiện hữu của quả báo đạo đức.
Nếu con người phải làm vừa vặn với ‘cùng quan niệm’ về Socrates của
Nietzsche vào trong sự trình bày nầy của Oldenberg, thì đó sẽ là trong
một phương diện nào đó của truyền thống tiền Áo nghĩa thư
(Upaniṣad). Ở đây có sự tìm kiếm về một vài thực tại ẩn tàng nằm bên
ngoài tính đa thù của hiện tượng, kết hợp với ý niệm rằng cái biết về
thực tại biểu tượng cho điều đạt được cao nhất của con người và do vậy,
đó là mục tiêu tối hậu của nỗ lực con người. Hố thẳm hiện ra trong nỗ
lực để hoà giải Phạm–brahman với thế giới hiện tượng không có sự
phê bình tổng quát với vấn đề không thể phân tích mà Socrates đã làm
trong nỗ lực hoá giải Hiện tượng–Forms với bản sao mang tính hiện
tượng–vấn đề của ‘sự tham dự–participation.’ Và còn có chủ nghĩa bi quan
ẩn tàng (trong mối tương quan với thế giới) của ý niệm nầy vốn dẫn dắt
các triết gia xả ly thế gian và đời sống lạc thú phàm trần vì bấy giờ họ
đã trở thành chướng ngại đối với sự thành tựu mục tiêu. Lời phát biểu
của Oldenberg, ‘Con người phải tự tách rời chính mình ra khỏi tất cả, đó
chính là phàm trần,... phải sống như thể mình không hề sống,’
chắc phải gợi cho Nietzsche về đoạn văn trong tác phẩm Phaedo,
trong đó Socrates nói rằng, các triết gia phải rèn luyện ‘chính mình
suốt cuộc đời để sống trong trạng thái gần như có thể chết,’ và ‘triết
gia chân chính khai tử sự tuyên xưng của mình.’
Trong cả hai trường hợp, lạc thú xác thân phải bị từ bỏ.
Và, theo Müller, đối với tất cả điều nầy chính là kết quả của ‘nguyên
nhân nổi loạn.’ Thế nên đó là, cả Müller và đặc biệt là Oldenberg, mối
quan hệ giữa các phương diện triết học của tiền Áo nghĩa thư
(Upaniṣad) và của Socrates mà Nietzsche có lẽ đã dễ dàng thấy được, và
là điều được giải thích như là có vài mối quan hệ với cùng quan niệm của
ông ta. Tuy nhiên, trong ý nghĩa phàm tình, có sự phân kỳ song song. Như
Oldenberg đã có nói, ‘Bất kỳ Socrates xuất hiện ở đâu, các nhà nguỵ biện
nhất định sẽ theo sau.’
Nhưng trong khi các nhà nguỵ biện Hy lạp không còn ấn tượng bền vững về
nền văn hoá phương Tây nữa, thì cùng quan niệm của Socrates vẫn sống còn
qua hằng thế kỷ trong lớp áo của thần học Ki-tô giáo, sang thời cận đại,
các ‘nhà nguỵ biện’ thời cổ đại Ấn Độ–các bậc sa-môn–có nhiều ảnh hưởng
hơn: họ gây một ấn tượng lâu dài trên nền văn hoá Ấn Độ, và trong trường
hợp vị sa-môn đặc biệt, Đức Phật, là đã có ấn tượng trên toàn cả phương
Đông.
Mặc dù các triết gia của họ gồm nhiều dạng khác nhau trong một vài
trường hợp hoàn toàn khác nhau, tất cả các vị sa-môn đều thống nhất
trong trường hợp khước từ đặc quyền của tầng lớp Bà-la-môn và kinh
Phệ-đà. Như Oldenberg đề cập, ‘Chúng ta biết quá ít [về những gì họ được
dạy] chỉ hơn một loạt tiếng hô xung trận’ và những gì chúng ta biết,
chúng ta hoàn toàn dựa vào kinh điển Phật giáo, đặc biệt là Kinh
Sa-môn quả.
Oldenberg đề cập đến quan điểm của hai người, Makkhali Gosala và Purana
Kassapa,
Đức Phật nhận định về nhân vật đầu tiên, Makkhali Gosala là ‘vị thầy sai
lầm nhất.’
Gosala tuyên bố về thuyết tất định (determinist) một cách cực đoan rằng,
con người không có quyền hạn gì trong việc quyết định cuộc đời của chính
họ và bác bỏ mọi sự hiện hữu của bất kỳ luật tắc đạo đức nào. Tuy nhiên,
sau hằng ngàn kiếp sống trong những hình tướng khác nhau, tất cả mọi thứ
đều được quyết định một cách nghiêm ngặt, mọi người cuối cùng đều kết
thúc ở chỗ đau khổ. Purana Kassapa cũng bác bỏ rằng, không có một hành
vi đạo đức nào cả: ‘Nếu người ta làm một cuộc đột kích vào bờ nam sông
Hằng, mặc tình chém giết sát hại, tàn phá hoang dại... đốt sạch... người
ấy chẳng bị quy tội; chẳng có hình phạt tội lỗi.’ Và cũng như vậy đối
với những gì gọi là hành vi đạo đức như làm các việc thiện: ‘chẳng có
quả báo cho các việc thiện.’
Oldenberg còn nêu lên quan điểm của Ajita Kesakambalin,
không đề cập đến danh xưng: ‘người khôn và kẻ ngu, khi thân xác tan rã,
đều là đối tượng của huỷ diệt và hư vô, họ đều không thoát khỏi cái
chết.’
Như vậy, như Oldenberg đã nêu ra, các vị sa-môn ‘tranh luận về sự hiện
hữu của thế giới bên kia, cề sự tương tục sau khi chết, về sự tự do của
ý chí, về sự có thực quả báo của hành vi đạo đức,’ dù thế giới nầy là vô
hạn hay hữu hạn, vĩnh cửu hay nhất thời, hoặc thậm chí ngay cả vấn đề
như chân lý hay tri thức có tồn tại hay không. Đối với Nietzsche, phần
lớn thế giới này có một vũ đài mới bao quanh nó: sự phát triển của chủ
nghĩa hoài nghi và duy vật; sự bác bỏ mọi hình thái đời sống sau khi
chết trong một thế giới khác; sự bác bỏ thực tại hơn là bản thể thế
giới; sự bác bỏ trật tự luân lý độc lập của con người; sự lớn mạnh của
thuyết vô thần (atheism) và thuyết bất khả tri (agnosticism) cùng những
yếu tố của thuyết tất định (deterministic) của chủ nghĩa thực chứng khoa
học. Ngay cả những vấn đề như vũ trụ là hữu hạn hay vô hạn, vĩnh cữu hay
nhất thời,
có lẽ đã gợi ý cho Oldenberg về các luật mâu thuẫn (antinomies) của
Kant. Nhìn chung, trong ý nghĩa tổng quát, điều nầy có lẽ dường như đối
với Nietzsche, đã có mối quan hệ với những gì ông ta đã thấy được quanh
mình: sự xói mòn các giá trị đã lập nên nền văn hoá phương Tây thông qua
truy đuổi không giới hạn về kiến thức, và theo đó là cảm giác thất vọng
về cái không chắc chắn và thấy cảm giác theo đuổi ấy trong số những
người mà Nietzsche có lẽ đã xem như là độc giả của mình.
Và lẽ ra ông phải lưu ý điều ấy ở Ấn Độ.
Vào thời điểm của các phong trào tri thức đa dạng và sâu sắc, đã mở rộng
từ phạm vi những nhà tư tưởng Bà-la-môn đến số đông nhiều người,... khi
các nhà biện chứng pháp hoài nghi bắt đầu tấn công các quan niệm đạo
đức–vào lúc nầy, khi niềm mong ước giải thoát khỏi khổ đau từ gánh nặng
cuộc sống gặp phải dấu hiệu đầu tiên của sự huỷ hoại đạo đức, Đức Phật
Cồ-đàm xuất hiện trong bối cảnh nầy.
Và bởi vì ‘Thời đại chúng ta đang ở trong ý nghĩa chín muồi đôi chút (có
nghĩa là sa sút) như thời đại khi Đức Phật xuất hiện,’
như là câu trả lời cho sự lớn mạnh của sự thiếu tự tin và đạo đức suy
đồi. Nhưng khi Nietzsche thấy được đạo Phật là hoàn toàn hư vô,
Nietzsche muốn chống lại mọi ảnh hưởng mà nó sẽ có.
2.2. QUAN NIỆM VỀ ĐẠO PHẬT CỦA NIETZSCHE
Cốt tuỷ điều Nietzsche muốn nói qua thuyết hư vô được đề cập rất rõ
trong tác phẩm Ý chí Hùng tráng:
Quan điểm cực đoan không phải được xúc
tiến bởi những người ôn hoà mà bởi những quan niệm cực đoan của phái đối
lập. Thế nên niềm tin vào bản tính bất tử tuyệt đối, trong mục đích–và
vô nghĩa, chính là tác dụng của nhu cầu tâm lý một khi niềm tin vào
Thượng đế và về cơ bản, trật tự luân lý đạo đức trở nên không đứng vững.
Chủ nghĩa hư vô xuất hiện ở điểm nầy... vì con người phải đi đến ngờ vực
mọi ‘ý nghĩa’ khổ đau, thực sự là trong hiện sinh. Một cách lý giải đã
bị sụp đổ; nhưng vì nó được xem là cách kiến giải bấy giờ như thể là
hoàn toàn không có ý nghĩa gì trong sự tồn tại, như thể mọi thứ đều là
vô nghĩa. (WP 55)
Gốc rễ của chủ nghĩa hư vô là hành vi của tự dối mình: con người phóng
chiếu ... giá trị [và ý nghĩa] vào trong thế giới’
như ‘Thượng đế,’ ‘linh hồn,’ ‘luật tắc đạo đức,’ ‘mục đích,’ ‘hiện hữu,’
‘tính đồng nhất,’ và bằng cách ấy bịa đặt ra một ‘chân thế giới’ vốn là
‘thế giới đơn thuần là hư cấu’ để tự tạo cho chính mình một ý nghĩa an
toàn và mục đích: làm cho đời sống của họ có ý nghĩa ‘để có thể tin vào
giá trị của chính mình.’ Nhưng cuối cùng, thế giới hư cấu nầy được nhìn
bởi nhiều người thấy được nó là cái gì: là hành vi tự lừa dối mình. Và
thế nên khi những giá trị và phạm trù nầy lại ‘bị nhổ bật đi... thì thế
giới có vẻ không có giá trị.’ Ảnh hưởng của mọi việc nầy bằng vào những
ai thấy được điều ấy và bị ảnh hưởng bởi nó như là một trạng thái tâm lý
trì trệ và tuyệt vọng, ‘sự nhận thức về cái vô vị của sức mạnh, đau đớn
cực độ của ‘sự vô ích,’tình trạng bấp bênh, thiếu cơ hội để phục hồi và
lấy lại sự điềm tĩnh... như thể người ta đã từ lừa dối mình đã quá lâu.’
Bị kiệt sức vì tất cả điều nầy tạo ra nền tảng cho chủ nghĩa hư vô thụ
động, một diễn đạt về Weltanschauung (thế giới quan) của tâm lý
học điều kiện về ‘sự suy thoái và của quyền lực tinh thần.’
Cuộc đời và thế giới bây giờ xuất hiện như thể là vô giá trị và vô nghĩa
vì chúng được nhìn qua con mắt vô tri giác của tâm hồn yếu đuối. Thế
nên, trong một ý nghĩa, chủ nghĩa hư vô thụ động chỉ là phóng ảnh khác
trên thế giới, thế giới được phán xét và được hiểu qua con mắt tâm lý
bất ổn vốn đã ngăn che thế giới đang được hiểu và giải thích từ bối cảnh
lành mạnh hơn và ít phiến diện hơn. Như Nietzsche đã nhận định, ‘thế
giới có lẽ có giá trị hơn như thường nghĩ.’
Như vậy chủ nghĩa hư vô thụ động phải được hiểu như nó là gì: một biểu
hiện ‘sự yếu đuối linh hồn,’ bị cản lại không thể vượt qua. Điều nầy đòi
hỏi chủ nghĩa hư vô năng động, ‘một dấu hiệu của gia tăng năng lực tâm
hồn.’
Chủ nghĩa hư vô năng động, cái được hiểu là cội rễ của chủ nghĩa hư vô,
xem chủ nghĩa hư vô ‘chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp.’
Đó là ‘một lực năng động của sự phá huỷ
liên quan đến mục tiêu và giá trị tôn giáo trước đây của chúng ta và
diễn đạt mới mẻ về thế tục mà, đối với Nietzsche, là ví dụ như Thuyết vị
lợi (Utilitarianism) của John Stuart Mill,
mệnh lệnh tuyệt đối (categorical imperative) của Kant (lương tri thay
thế cho Thượng đế), niềm tin trong khoa học, và chủ nghĩa quân bình và
chủ nghĩa xã hội với niềm tin mù quáng trong ‘chiến thắng sau cùng của
chân lý, tình yêu và công chính’ và ‘bình đẳng của con người,’
tất cả mọi điều là thế tục hoá lý ở trong dạng bị thế tục hoá của cái
‘chúng ta đều bình đẳng trước Chúa.’ Nhưng, như Nietzsche đã nhận định
trong tác phẩm Zarathustra, bây giờ Thượng đế đã chết, ‘không để
cho chúng ta được bình đẳng trước đám đông.’
Những diễn đạt thế tục như vậy cùng bắt rễ từ trong giả định hư vô chủ
nghĩa. Kết quả của chủ nghĩa hư vô năng động là ‘chủ nghĩa hư vô hoàn
toàn,’
nơi mà chính chủ nghĩa hư vô bị phủ định và con người bắt đầu nhìn vào
thế giới và chính anh ta với cặp mắt tươi mới và một hiểu biết sâu sắc
hơn, đã đặt sự tự lừa dối xưa cũ đằng sau lưng mình. Nhưng đạo Phật, là
một dạng của Hư vô luận thụ động,
là một đe doạ cho sự phủ định Hư vô luận nầy.
Như vậy, đạo Phật là một ‘quan điểm cực đoan của phái đối nghịch,’ một
phản ứng từ ‘Thượng đế là chân lý’ đối với đức tin cuồng tín ‘Tất cả đều
hư vọng’; Đạo Phật năng động.
Câu trả lời của Đức Phật cho tai biến kinh hoàng vào thời đại của ngài
là tìm ra một tôn giáo hơn là giúp cho con người vượt thắng cảm giác vô
vị mới mẻ của hiện hữu, vốn lẽ ra là đạo Phật năng động, đơn thuần giúp
cho họ điều chỉnh lại cho nó với một mức độ hài lòng chấp nhận: ‘mục
tiêu tối thượng là hoan hỷ, tịch lặng, không tham cầu, và mục tiêu nầy
được thành tựu.
Dù Đức Phật giúp tránh xa điều mà Nietzsche quan tâm trong thời đại mình
là mối nguy rất thực của xã hội do bởi mất mát, suy sụp niềm tin do tình
trạng hỗn loạn, một cuộc chiến tranh của toàn thể chống lại tất cả–
bellum omnium contra omnes–tuy nhiên, Nietzsche không hiểu được
chủ nghĩa hư vô là gì–cách diễn tả Weltanschauung (thế giới quan)
về phản ứng tâm lý của sự thất vọng đến từ cái thấy thông qua ảo tưởng
con người đang sống phục tùng, rằng ‘thế giới chẳng có giá trị gì mà
tưởng là có,’
và kết luận rằng thế giới, do vậy, phải là vô vị và chẳng có ý nghĩa.
Đức Phật, không nhìn từ cội rễ của chủ nghĩa hư vô, không chấp nhận chủ
nghĩa hư vô như là trạng thái tột đỉnh của hiện hữu: cuộc sống chẳng gì
khác hơn là giá trị kế thừa hoặc ý nghĩa hoặc mục đích. Quả thực là nó
hoàn toàn trái ngược: ‘bây giờ nó được xem là vô vị như vậy’ và
ánh sáng duy nhất đáp lại nó là ‘chủ nghĩa hư vô bị rút ra khỏi nó, tâm
tham cái trống không.’
Theo đó, nếu sự hiện hữu của con người phải nêu ra một mục đích thì nó
phải phản ánh sự phán định tối cao nầy và trình ra một mục tiêu thích
hợp cho nó. Đức Phật dạy cho chúng ta niết-bàn, toa thuốc trị bá bệnh
tối ưu, trạng thái hoàn toàn vắng bóng mọi tham muốn dục vọng, trong đó
mọi phiền muộn phàm trần và cảm giác lo lắng
liên quan đến hiện sinh sẽ tiêu dung, và ngay cả cái chết cũng sẽ đối
đầu với cái chẳng phải gì khác hơn một tiếng thở dài của sự khuây khoả
tuyệt diệu. Thế nên Nietzsche xem đạo Phật như là ‘một tôn giáo cho sự
chung cuộc và cho sự mệt nhọc của con người,’ ở nơi có văn hoá mà yếu
đuối, người ‘phát triển lòng tử tế, hiền lành, thông tuệ [và] người cảm
thấy sự đau khổ không thể chối cãi,’
có thể thoát ra khỏi sự hiện hữu vô ích nầy và ‘thoát ra khỏi khổ đau
sang cảnh giới Không của phương Đông (Oriental Nothing), gọi là
niết-bàn.’
Do vậy, Nietzsche e rằng đạo Phật sẽ lôi cuốn ‘con người tuyệt luân’
Zarathustra,
đại biểu cho nền văn hoá đã bị yếu đi lúc đương thời, người mà, dù họ
thấy chính mình như là siêu việt lớp dân thấp hèn, sẽ tìm thấy hạnh phúc
có vẻ đần độn được dâng tặng bởi đạo Phật là hấp dẫn không cưỡng lại
được. Đối với Nietzsche, điều nầy biểu tượng cho sự lừa dối hơn và mối
nguy hiểm quyến rũ hơn sự tàn phá vô chính phủ, và Nietzsche sợ rằng
Con người tuyệt luân nầy có thể rất dễ trở thành mục tiêu Siêu
nhân (Übermensch)
ưa chuộng của Nietzsche hơn. Chứng niết-bàn là đạt đến trạng thái ‘an
lạc’ và ‘vắng bóng tham muốn dục vọng,’ mục tiêu thực sự có thể đạt đến
được.
Thế nên, con đường của đạo Phật là dẫn đến ‘một hạnh phúc có thật
trên trần thế không chỉ là hứa hẹn.’
Và, mặc dù Nietzsche không trực tiếp đề cập đến điều ấy, việc khám phá
ra phương pháp nầy có được từ trạng thái tuyệt vọng và suy thoái của con
người có hạnh phúc trên mặt đất phải tương ứng với những gì mà truyền
thống đạo Phật thấy đó là chứng ngộ của Đức Phật Cồ-đàm.
Cảnh giới bồ-đề (bodhi) hay ‘giác ngộ,’ có nghĩa là điều đã làm cho ngài
trở thành một vị Phật, hoặc ‘Đấng Giác ngộ.’ Rồi Đức Phật giảng bày Pháp
hay là ‘Giáo lý’ về con đường để đạt đến những gì ngài đã thành tựu. Bản
chất của điều nầy, theo Nietzsche, là để kiềm hãm lại hành vi bị thúc
bách bởi tham dục: nói rằng, người Phật tử ‘Không được làm’–và quan niệm
một luật tắc đạo đức để giải thoát con người ra khỏi các nghiệp.
Con người được giải thoát khỏi mạng lưới hiện hữu buồn thảm nầy bằng từ
chối tham muốn thoát ra khỏi các nghiệp: ‘nghiệp trói buộc con người vào
trong hiện sinh’
và bằng cách ấy đánh bẫy con người vào trong tấm lưới rối rắm chính là
hiện hữu vô minh. Tham muốn duy nhất đượm nhuần theo kiểu nầy là ‘khao
khát cái không.’
Tuy nhiên, đây không phải là phát biểu về đạo đức, mà là ‘hygiene.’
Đạo Phật không còn nói về ‘nỗ lực chống lại tội lỗi nữa,’ mà,
hoàn toàn phù hợp với thực tế, nỗ lực chống lại đau khổ,’ vốn đơn
thuần là một sự kiện thuộc tâm lý. Do vậy, nó có ‘sự tự lừa dối ý niệm
đạo đức đằng sau–tiêu biểu bằng ngôn ngữ của tôi, Vượt trên thiện ác
(Beyond Good and Evil).’
Giáo lý đạo Phật là sự chữa trị cho ‘tình trạng suy sụp’ mà
Nietzsche nhìn thấy như trạng thái tâm lý sinh khởi trong giới quý tộc
và có văn hoá hơn, và dựa trên ‘hai sự kiện mang tính tâm lý... trước
hết, tính dễ bị kích động quá mức của tri giác vốn diễn tả chính nó như
là khả năng tinh luyện khổ đau, rồi một tính chất tri thức vượt bậc, một
mối ưu tư vĩ đại với ý niệm và thủ tục hợp lý, qua đó, khuynh hướng bẩm
sinh cá nhân duy trì liên tục sự tổn hại cho thuận lợi của phi nhân–impersonal’
Trung hoà với quan điểm này, ‘Đức Phật dùng tiêu chuẩn sinh học,’ như:
... ở giữa đất trống, sống bằng hạnh
khất thực; sự tiết chế và khắc kỷ về thực phẩm; với sự lưu ý về mọi chất
gây nghiện (alcoholic spirits); cũng như thận trọng về mọi cảm xúc gây
ra tính hằn học, giận dữ; lo âu, dù cho chính mình hoặc cho người khác.
[Đức Phật] đòi hỏi ý niệm phát sinh sự yên tĩnh hoặc hân hoan– [Đức
Phật] nghĩ ra phương tiện cho sự từ bỏ thói quen của chính mình hay của
người khác. [Đức Phật] hiểu lòng nhân từ, tử tế, như là sự tăng tiến sức
khoẻ. Cầu nguyện bị loại trừ, vì là phép tu khổ hạnh; hoàn toàn
không mệnh lệnh, hoàn toàn không cưỡng bức, ngay cả không ở trong giáo
đoàn (người ta có thể rời bỏ tăng đoàn). Tất cả những điều nầy có lẽ ảnh
hưởng gia tăng tính dễ kích động quá đáng. Cũng vì lý do nầy [Đức Phật]
yêu cầu không cần nỗ lực đối với những gì ngài cho là khác lạ; lời dạy
của ngài chẳng chống lại điều gì hơn là kháng cự lại cảm giác trả thù,
ác cảm, về sự oán giận (‘thù oán không thể được kết thúc bằng thù oán):
mối thương cảm kiềm chế toàn thể đạo Phật... Và những cảm xúc nầy hoàn
toàn chính đáng sẽ là hoàn toàn không lành mạnh về mặt chế độ dinh dưỡng
chủ yếu. Sự ốm yếu tinh thần mà ngài đã khám phá và điều tự biểu hiện
như là ‘khách quan tính’ quá mức (có nghĩa là làm yếu đi mối quan tâm
riêng cá nhân, làm mất đi trung tâm hấp lực, ‘vị kỷ’), [Đức Phật] tuyên
chiến bằng cách nhắm vào ngay cả sự quan tâm tinh thần trở lại đối với
cá nhân con người. Trong giáo lý đạo Phật, ngã (egoism) trở thành
một bổn phận: là‘điều cần thiết,’ là ‘làm thế nào để loại trừ khổ đau,’
điều chỉnh và hạn chế toàn bộ thức ăn tinh thần. (The
Antichrist, A 20)
Rõ ràng Nietzsche đã trích dẫn những ý niệm về Đức Phật như là ‘Lương y
đại tài’ theo từng chữ,
hơn là cách của một vị Bác sĩ thời Victorian đã đưa bệnh nhân tinh thần
bất ổn của mình ra bờ biển để để thở không khí biển, và báo cho họ biết
phải bỏ bớt rượu và thức ăn bổ dưỡng cũng như mọi hoạt động có thể gây
kích thích và kích động tính nhạy cảm của họ, như tham dự vào những cuộc
tranh luận nảy lửa về triết học và tôn giáo!
Niết-bàn, do vậy là kết quả của cuộc sống tự giác (enlightened
self-interest). Hành giả đạo Phật đơn thuần tránh xa mọi hành vi khiến
cho mất an tĩnh hay ‘không lành mạnh’ ảnh hưởng đến chính mình và phát
huy thái độ mà tác dụng của nó chính là làm an định và tăng trưởng sức
khoẻ, dẫn đến sự hoan hỷ: ‘khi cái xấu ác chính là sự căm ghét, thì
chẳng phải chỉ dành riêng cho chính nó, mà vì nó mở ra một hướng để xác
định là có gây tai hại cho chúng ta (bồn chồn, ray rứt, thận trọng, bối
rối, dựa dẫm).’ Đó là cuộc sống hoàn toàn đơn giản, sống ‘hoàn toàn
trong cảm giác tích cực... an bình, đôn hậu, hoà giải và có ích,’ phản
ánh sự vắng bóng của tham dục phàm luỵ, vì ‘người ta làm kiệt màu đất...
để cho các thứ (không) mọc được.’
Chỉ có những nhu cầu đơn giản thiết yếu của đời sống là được thừa nhận.
Trong trường hợp nầy, đạo Phật có thể hoan hỷ chấp nhận thực tế là thế
giới chẳng có ý nghĩa hay giá trị kế thừa, không có cảm giác tuyệt vọng
hoặc khắc khoải. Chứng niết-bàn là vượt thắng cảm giác mất mát tuyệt
vọng khi cuộc đời được nhìn như là không có ý nghĩa và giá trị mà chúng
ta vốn cho rằng nó có, bằng cách tuân theo phương thuốc của Đức Phật
dành cho cuộc sống lành mạnh. Như là kết quả, người ta hoan hỷ học tập
để điều chỉnh thực tại hư vô của thế giới, và trở thành ‘người Phật tử
tiêu biểu hay một con bò hoàn chỉnh.’
Nên không đáng ngạc nhiên khi đệ tử lý tưởng của Đức Phật là người ‘hiền
lương và bản tánh thiện đối với tính trì trệ (và trên mọi tính vô
ký–inoffensive); cũng đối với tính trì trệ, dạng sống kiêng cữ nầy,
hầu như không cần thiết.’
Trí huệ của Đức Phật là biết ‘bằng cách nào mà dạng người [trì trệ] chắc
chắn sẽ xoay chuyển,... trong một niềm tin hứa hẹn ngăn ngừa được sự tái
diễn những phiền trược phàm trần (có nghĩa là tạo tác và nghiệp nói
chung).’
Có lẽ đạo Phật đã có sẵn cội nguồn riêng và đột nhiên trải rộng suốt
khắp Ấn Độ đến một mức ‘làm suy sụp dữ dội bệnh hoạn của ý chí.’
Và Nietzsche, người thích gợi lên một nguồn gốc sinh học để thay thế
triết học tiên nghiệm, đặt ở phía trước, với đôi chút châm biếm, ý niệm
‘sự lan toả đạo Phật (không phải nguồn gốc của nó) phần lớn nhờ vào tính
quá độ và hầu như sự tín nhiệm riêng của người Ấn Độ vào cây lúa đã dẫn
đến sự tổn thất chung về tính chất mạnh mẽ.’
Mặc dù thực tế là Nietzsche hiểu đạo Phật là thuộc về chủ nghĩa hư vô và
như vậy nên phải tránh xa, nhưng Nietzsche đã tìm thấy vài phương diện
giá trị trong khi đó, ngược với các tôn giáo hư vô chủ nghĩa khác, như
Ki-tô giáo, chẳng hạn, trong khi Hư vô luận đạo Phật xuất hiện sau một
thời kỳ dài ảnh hưởng mạnh của nền văn hoá tao nhã tích cực vốn đã lên
đến cực điểm trong sự phản chiếu của nền triết học cao quý–sự phản chiếu
đã khám phá ra ‘sự thật’ cấu trúc và tôn giáo và đạo đức của nó– Ki-tô
giáo công nhận nguồn gốc của mình là còn thô thiển và cấu trúc thô sơ,
còn đầy những hờn oán và báo thù, tấn công vào chính đời sống.
Buddha against the 'Crucified'.
Trong số những tôn giáo thuộc chủ nghĩa hư vô, người ta luôn luôn phân
biệt rõ ràng Ki-tô giáo với đạo Phật. Tín ngưỡng đạo Phật là sự biểu
hiện của một buổi chiều tươi đẹp, sự dịu dàng và ôn hoà viên mãn–đó là
thái độ dành cho những gì nằm ở đằng sau, và còn đối với những điều ngây
ngô: sự đau khổ, vỡ mộng, hằn thù; rốt cuộc, một tình thương cao quý
thuộc tinh thần; những vi tế thuộc về những mâu thuẫn triết học đang nằm
đằng sau nó, ngay cả từ những điều nầy mà nó yên nghỉ: nhưng từ những
điều nầy nó vẫn phát ra vẻ huy hoàng của tâm linh và ánh sáng rực rỡ của
mặt trời hoàng hôn.
Xu hướng của Ki-tô giáo là động thái suy
đồi hợp thành bởi sự loại bỏ và từ chối nhiều yếu tố của mọi thứ: đó
không phải là biểu hiện sự suy tàn của một chủng tộc, mà từ ban sơ là sự
tích tập các hình thái đám đông bệnh hoạn kết tụ cùng nhau và tìm kiếm
cái khác từ bên ngoài... nó được lập trên sự hiềm thù chống lại mọi thứ
có cấu trúc tốt và trội vượt... Nó cũng đại biểu cho sự chống lại mọi xu
hướng tâm linh, đối với mọi nền triết học: nó đứng về phía kẻ ngốc
nghếch và phát ra lời nguyền rủa về phía tâm linh. Hằn thù chống lại tài
năng, học thức, tự chủ tinh thần: nó dò tìm trong đó cấu trúc hoàn hảo
và tính thích sai khiến. (WP 154).
Đây là điểm khác biệt mà Nietzsche ghi nhận được giữa hai tôn giáo thuộc
chủ nghĩa hư vô: đạo Phật không có nền tảng từ sự hằn học với cuộc đời,
trong khi Ki-tô giáo–hoặc là, như chúng ta có thể nói, những người theo
đạo Ki-tô,
là sản phẩm của thứ nầy. Cả hai tôn giáo đều là ‘đi ngược với đời sống,’
nhưng trong khi đạo Phật thì dẫn dắt đến quan niệm này một cách trầm
tĩnh và hợp lý, Ki-tô giáo phản ứng lại như là một biểu hiện của tâm hằn
thù–hằn thù chống lại ‘các thứ có cấu trúc tốt và trội vượt.’ Đức Phật
thấy rằng ‘không có gì thiêu rụi nhanh hơn tâm sân hận,’
do vậy đã ngăn cấm điều ấy. Tuy vậy, Ki-tô giáo lại được tiếp nhiên liệu
bởi thứ ấy, và chọn ‘phía của những cái yếu hèn, thấp kém, cấu trúc
yếu.’
Tuy nhiên, người chịu trách nhiệm, không phải là Jesus, mà là thánh
Paul. Đối với Nietzsche, vương quốc Ki-tô giáo không phải là sáng tạo
của thánh Paul. Trong tác phẩm Kẻ chống Chúa–Antichrist,
Nietzsche viết: Chữ ‘Ki-tô giáo’ vốn đã là một sự hiểu lầm–trong thực tế
chỉ có một người theo đạo Ki-tô, và ông ta đã chết trên thập tự giá.’
Thế nên đến cùng với thánh Paul, ‘loại phản đề đối với người mang dòng
chảy hân hoan thiên tài của sự căm ghét, của ảo tưởng về căm ghét, của
tính không lay chuyển hợp lý về oán ghét.’
Ki-tô giáo, thông qua thánh Paul, đã trở thành điều bất hạnh lớn nhất
của nhân loại,
mà Nietzsche thấy như là một ‘khởi đầu cho xu hướng an bình trong đạo
Phật.’
Đạo Phật còn là ‘một trăm lần mát ngọt hơn, chân thực hơn, khách quan
hơn’ Ki-tô giáo,
và ‘tôn giáo thực sự tích cực nhất chúng ta thấy được trong lịch sử.’
Tôn giáo ấy có sự kế thừa phong thái trầm tĩnh và khách quan các vấn đề
ngay trong kết cấu của nó,’ và thành công sau xu hướng triết học tồn tại
hằng trăm năm.’
Ki-tô giáo, trái lại, chẳng có gì ngoài cảm thấy giá trị tối thượng của
tri thức như là tội lỗi, là lầm lạc, là sự cám dỗ.’
Đạo Phật cũng không đánh lừa như Ki-tô giáo bằng cách hứa hẹn mục tiêu
tưởng tượng và bịa đặt sợ hãi như Thượng đế trên thập tự giá,
nhưng mục tiêu là thực và có thể thực sự đạt được.
Như vậy, dù đạo Phật, cùng với Schopenhauer và Ki-tô giáo, đều đã kế
thừa quan niệm rằng ‘tốt hơn không có nghĩa là hơn cái đang là,’
nó dâng tặng một sự lành mạnh hơn hay ‘hygenic–vệ sinh’ hơn đáp
ứng cho đời sống. Không như Ki-tô giáo, ‘không còn nói về ‘việc chống
lại tội lỗi’ nữa, mà, hoàn toàn thích ứng với thực tại, chống lại
khổ đau. Nó đã có–và điều ấy tách biệt một cách sâu sắc với Ki-tô
giáo –sự tự dối ý niệm đạo đức đằng sau nó.’
Và đó là vì đạo Phật xúc tiến lành mạnh thể chất hơn, và không phải là
lăng mạ văn hoá và tri thức, chính điều ấy đã dần dần tạo được nền tảng
ở Châu Âu như là pháp trị liệu cho ‘căn bệnh thần kinh.’
Vì đó không phải là đề tài đánh giá sự tương phản mà Nietzsche nêu ra
giữa đạo Phật và Ki-tô giáo, cũng chẳng phải là cung hiến một phê phán
về quan niệm của Nietzsche liên quan đến Ki-tô giáo, tôi chỉ đơn thuần
nêu lên một vấn đề hiển nhiên, quan niệm về đạo Phật của Nietzsche có
đúng như thế chăng?
Ý chí hùng tráng; The Will to Power (WP) 9.
e: true reality.
Một cách dịch từ chân như, thật tế... trong kinh luận
Phật giáo.
Xem Hoàng hôn của
những thần tượng, hay Làm cách nào để triết lý với cây
búa.
Twilight
of the Idols, or How One Philosophizes with a Hammer
(Götzen-Dämmerung, oder Wie man mit dem Hammer philosophiert,
August-September 1888).
Đây chủ yếu là những tác phẩm được viết bởi những giáo sĩ dòng
Tên (Jesuit).
Xin xem De Jong (1987),
8-12.
Kinh văn tiếng Sanskrit thực sự được phát hiện ở Nepal năm
1830 (cùng với một số kinh văn
cuả đạo Bà-la-môn).
De Jong (1987), 13;
Sedlar (1982), 39; và Müller (1881), 168. (Nietzsche thông thạo
cả hai ngôn ngữ Anh và Pháp).
Điều duy nhất được kể đến giống như Phật giáo Đại thừa trong các
tác phẩm của Nietzsche là trong The Gay Science
(128), trong đó, như một hình
thức cầu nguyện, Nietzsche thấy câu thần chú trong kinh điển Đại
thừa Phật giáo Oṃ
maṇi padme hūṃ của
người dân Tây Tạng để giúp cho họ đạt được niềm an lạc và thạnh
mãn.
Chắc chắn Nietzsche đã đọc Oldenberg: ‘Chính trong truyền thống
kinh điển tiếng Pāli mà chúng ta sẽ ưa thích hơn các nguồn gốc
khác, nếu chúng ta muốn biết có thông tin nào có thể kiếm được
về Đức Phật và cuộc đời của ngài.’ (1882: 74).
Müller (1881), 213-14,
người đã được xác nhận bởi Oldenberg (1882), 215. Kapila được
cho là người sáng lập hệ thống triết học phái Số luận
(Sāṃkhya). Xem Frauwallner (1973), i. 222.
(1881), 215. Như
Frauwallner phát biểu: ‘Mối quan hệ giữa phái Số luận (Sāṃkhya)
và Phật giáo là một bàn cãi lâu dài và là vấn đề còn nhiều tranh
luận.’(1973: i. 384 n.147). Trong quan điểm ‘phái Số luận
(Sāṃkhya) ra đời không lâu sau khi Đức Phật nhập diệt’ (ibid.
223). Mistry đề cập đến hai vị thầy của Đức Phật–có lẽ là Aḷāra
Kālāma và Uddaka Rāmaputta–đều là những luận sư của phái Số luận
(Sāṃkhya) (1981: 37 n. 36). Tuy nhiên, tách ra sự tham khảo từ
Phật sở hành tán (Buddhacarita) của Mã Minh (Aśvaghoṣa),
một tác phẩm tiểu sử Đức Phật bằng thể thơ, được viết vào khoảng
thế kỷ thứ 2 stl. cho biết rằng Aḷāra Kālāma và Uddaka Rāmaputta
là hai vị luận sư của phái Số luận (Sāṃkhya), không còn nguồn tư
liệu nào khác có thể theo dõi dấu tích liên quan đến hai vị thầy
của Đức Phật với phái Số luận (Sāṃkhya). Müller (1881: 200) quy
cho cả hai vị ấy đều là Bà-la-môn. Nêu lên rằng Phật sở hành
tán (Buddhacarita) là nguồn gốc duy nhất nói đến một trong
hai vị thầy của Đức Phật là môn đệ của phái Số luận (Sāṃkhya),
có lẽ là vấn đề đáng ngờ so với cơ sở lịch sử, một sự kiện chỉ
dựa trên một nguồn duy nhất là tác phẩm văn học thi ca sau nầy.
Beyond Good and Evil, Tựa. Đây là trích dẫn từ
Augustine, người đã đề cập đến
đạo Ki-tô như là ‘chủ nghĩa Plato cho đám đông.’ (Trích dẫn
trong Chadwick (1986), 25, nhưng không rõ nguồn gốc.)
Xem GS 125 và 343. God
is dead.
Hệ thống kiến thức đạt được qua nghiên cứu có hệ thống và cơ cấu
thành những luật tắc chung; lĩnh vực chuyên biệt của tri thức có
hệ thống.
Đây cũng là quan niệm của
Freud trong
tác phẩm của ông,
The Future of an Illusion.
Xem GS, 108, 109, 125,
343, và TI, ix. 5.
Trích dẫn từ Middleton
(1969), 139.
Có lẽ là Coomaraswamy
(1874), vì đó là ấn bản Anh ngữ thường dùng vào thời đó.
Welbon (1968: 185) ước
tính rằng đúng thực Nietzsche đã học Sanskrit ở Leipzig từ người
thầy đầu tiên của Max Müller là Herrmann Brockhaus. Nhưng Welbon
không đưa ra nguồn gốc cho sự kiện nầy. Tuy nhiên, nếu đúng như
tôi gợi ý, quan tâm về đạo Phật của Nietzsche là lịch sử, thì có
lẽ tiếng Sanskrit không thu hút ông nhiều hơn tiếng Pāli.
(1881), 239-40, từ trong
Ṛg-Veda,
I. 164. Tuy nhiên, Müller không nêu ra điểm quan trọng là sự
chuyển dịch về phía Nhất nguyên luận (monism) không phải phát
xuất từ thuyết hữu thần (theistic). Bà-la-môn, trước tiên, được
tin như là năng lực kỳ diệu hay là sức mạnh vốn có khi tụng các
tán ca (hymm) trong thánh điển Phệ-đà khi tế lễ, cuối cùng trở
nên được xem như một dạng quyền năng ẩn tàng trong vũ trụ. Về
sau, khái niệm brahman nầy được nhìn nhận bởi nhiều ý
nghĩa trong Hữu thần luận (theistic) như là đấng Phạm thiên
(Brahmā) tối cao. Tuy nhiên, brahman là một tuyệt đối
không ngôi vị, giữ một vai trò không thể thiếu trong các trường
phái triết học Ấn Độ từ đó cho đến ngày nay (Xem Basham (1989),
29). Oldenberg (1882) cũng không đề cập đến điểm nầy.
Xem Melling (1987),
106-8.
Ibid. 24ff.
Phạm (Brahman),
trong truyền thống hiến tế Phệ-đà, chính là quyền lực ‘linh
thiêng’ được tao ra bởi hiệu nghiệm của việc cúng tế, đã trở
thành tuyệt đối nội tại trong Áo nghĩa thư (Upaniṣad), là
bản tính bất biến của mọi hiện tượng. Trong từng cá thể, bản
tính nầy được gọi là atman hoặc ngã –self.
沙門 ; S: śramaṇa; P:
samaṇa; dịch nghĩa là Cần tức (勤 息);
Ban đầu là một danh từ chỉ những vị du tăng tu theo hạnh
Ðầu-đà,
tức là tu khổ hạnh. Dần dần, từ này được dùng chỉ cho tất cả
những vị tăng tu tập đạo
Phật
tại Ấn Ðộ, người ta thường dùng ba danh từ chỉ một người Khất
sĩ, đó là Anāgārika (Vô gia cư), Bhikṣu (tỷ-khưu)
, và Śramaṇa (Sa-môn,
Du tăng). Ba từ này đều có thể hiểu là Khất sĩ, được dùng chung
cho người tu đạo Phật và ngoại đạo.
Tuy nhiên, trong trường hợp tập Tiểu luận
(Symposium),
có người gọi mình là, với thuật ngữ hiện đại, ‘thăng hoa’– một ý
niệm mà, như tôi sẽ đề cập ở phần sau, chính là trọng tâm của
chính triết học Nietzsche.
(1882), 67. Một vài nhà
nguỵ biện hàng đầu, tuy vậy, là người cùng thời với Socrates.
Hai tác phẩm mang tính chất Socrate, The Gorgias và
The Protagoras, được đặt tên theo hai nhà nguỵ biện nổi
danh.
Trong kinh điển Phật giáo
văn hệ Pāli, chúng ta thường thấy cụm từ ghép sa-môn của đạo
Bà-la-môn (samaṇa-brāhmaṇa),
là chỉ cho mọi tín ngưỡng vào thời Đức Phật. Khác nhau chung
giữa họ là trong khi sa-môn từ bỏ đặc quyền trong Phệ-đà
và họ có giáo lý riêng, còn Bà-la-môn thì thừa nhận đặc quyền
trong kinh điển Phệ-đà là ‘khải thị chân lý’(śruti
).
Những vấn đề nầy được nêu ra bởi các vị sa-môn hỏi những vấn đề
không liên quan gì đến đời sống tu tập.
Trong một bức thư do H. von Kleist gởi cho
Wilhelmine von Zenge, Nietzsche
trích dẫn trong tác phẩm Schopenhauer as Educator, 3,
chúng ta có thể đi đến ý niệm về một dạng ảnh hưởng của Kant đã
có, ‘Cách đây không lâu,’ ông viết khi đi xa, ‘tôi trở nên quen
thuộc với triết học Kant–và bây giờ tôi sẽ kể cho anh nghe suy
nghĩ tôi vừa rút ra được từ điều ấy, điều mà tôi cảm thấy tự do
để làm là do tôi không có lý do gì để sợ nó sẽ làm vỡ tan bạn
một cách sâu sắc và đau đớn như nó đã gây ra cho tôi. – Chúng ta
không thể quyết định điều nào mà chúng ta gọi là chân lý đúng
thực là chân lý, hoặc là nó chỉ xuất hiện ra cho chúng ta là
đang hiện hữu. Nếu như vậy, thì sự thực mà chúng ta đang thu
thập ở đây chẳng là gì cả sau khi chết, và mọi nỗ lực đạt sự sở
hữu sẽ theo chúng ta xuống mồ thì thật là vô ích. –Nếu quan niệm
nầy không thấm nhuần tâm bạn, thì xin đừng cười người nào cảm
thấy bị thương tổn bởi điều ấy do phần thiêng liêng nhất của
hiện sinh. Mục tiêu lớn nhất của chính tôi đã bỏ rơi tôi và tôi
không có cái khác.’
Không nghi ngờ gì, Nietzsche đã vay mượn ý tưởng của
Feuerbach, rằng Thượng đế là
phóng ảnh từ phẩm chất cao thượng nhất cuả con người. Đối với
con người, để lấy lại được sức mạnh của chính mình, nó phải rút
lui khỏi những phóng ảnh nầy. Xem GS 285.
WP 1.
Nguồn gốc của câu ‘Tất cả đều hư
vọng’ có lẽ là từ Kinh Uraga Sutta–Dụ con rắn
(Discourse on the Snake) trong Kinh Tập (Suttanipata).
Bài kệ (từ câu 10 đến 13) trong Coomaraswamy (1874) nói rằng:
‘Các vị tỷ-khưu, người nào không truy tìm quá khứ hoặc không
trông chờ tương lai, thoát khỏi hẳn tham lam...khát ái, sân hận,
si mê (và tin vào) đó tất cả đều là hư vọng, là người ấy đã từ
bỏ bờ nầy và bờ kia, như con rắn (lột bỏ) lớp da cũ, hoại
nát .’
Chính Nietzsche sử dụng ẩn dụ
con rắn lột bỏ lớp da cũ: Xem GS, Phần mở đầu trong Rhymes,
8; GS 26 and 307. Nietzsche còn dùng điệp khúc khác nữa từ Kinh
Khaggavisāṇa
Sutta (Kinh sừng
tê giác) trong Kinh Tập (Suttanipāta):
‘Đi cô đơn như một con tê giác.’ Trong D 469.
A 21. Oldenberg đề cập
đến ‘niềm vui bên trong, vượt qua mọi sự chỉ là hạnh xả ly, bằng
điều ấy, Đức Phật theo đuổi mục đích, của mình (1882: 222).
Angst:
Đức ngữ, có nghĩa
cảm
giác lo lắng, tội lỗi hoặc hối hận, nhất là về tình
trạng thế giới.
93 Z, Prologue, 5.
*Tên của nhân vật chính trong
tác phẩm của Nietzsche,
Thus Spoke Zarathustra
(Z). Tên gọi của người lập
ra tôn giáo Zoroastrianism–Bái hoả giáo, một tôn giáo của Ba tư
cổ đại. Zarathustra thịnh hành vào giữa thế kỷ thứ II
ttl. Ông tuyên bố rằng các vị thần (daevas) do người Ba tư thời
cổ đại tôn thờ là những vị ác thần. Vị thần thủ lãnh các ác thần
(daevas) là đối thủ vĩnh cửu của vị thần tối tôn, Amura Mazda.
Đặc điểm của Bái hoả giáo là sức mạnh của Thiện và Ác ngang
nhau. Cuối cùng, Amura Mazda sẽ giành được một chiến thắng cuối
cùng, nhưng lúc đó ông không thể kiểm soát được các sự kiện. Vì
vậy, khác với Ki-tô giáo, Do thái giáo (Judaism),
Islam (Hồi giáo), Bái hỏa giáo (Zoroastrianisme),
tránh được nghịch lý của một vị Thượng đế toàn năng chịu trách
nhiệm về điều mà người ta cho là sự ác không cần thiết.
Khi đám đông la hét vào
Zarathustra, ‘Hãy trao cho chúng tôi kẻ Siêu nhân nầy, Ồ!
Zarathustra... Mầy có thể có Siêu nhân (Übermensch)!'
(ibid.)’
Trong tác phẩm The Antichrist, A 20. Nietzsche cũng nói,
‘Thiện và ác,’ đạo Phật nói–‘cả hai đều là sự ràng buộc, Đấng
Viên mãn trở nên tự tại vượt trên hai cực ấy. ’(GM iii. 17); và:
‘Giải thoát khỏi hai cực Thiện và Ác dường như là bản chất của
lý tưởng đạo Phật.’(WP 155).Các câu nầy, được viết trong và sau
năm 1887, cho thấy một sự thay đổi quan niệm về đạo Phật của
Nietzsche. Trong tác phẩm trước đó của ông, Beyond Good and
Evil (1886), 56. Nietzsche phát biểu rằng Đức Phật, giống
như Schopenhauer, vẫn ‘chịu sự thu hút và ảo tưởng về đạo đức,’
và chưa siêu việt được Thiện Ác. Nietzsche còn nói vài điều
tương tự trong tác phẩm Ý chí Hùng tráng– WP 1. Sự thay
đổi nầy có lẽ đã đến từ khi Nietzsche đọc các tác phẩm của
Oldenberg (1882), người đã cho rằng đạo đức đạo Phật chỉ là ‘một
phương tiện dẫn đến chung cuộc.’(p. 289), và ‘trong sự chiến đấu
chống lại buồn khổ và cái chết’, mọi người Phật tử đều có trong
tâm thức xả ly của họ là ‘kỹ năng hiểu biết về luật tự nhiên,’
vì trong toàn thể hiện hữu, không có trật tự đạo đức được quy
định như vậy, mà chỉ có ‘luật tự nhiên của móc xích tất yếu nhân
quả’(p. 324).
Oldenberg đề cập đến điều kiện của ‘sự kích động tinh thần quá
mức [và] kiệt sức hệ thống thần kinh’ là một trong những tình
cảnh chung trong nhiều tôn giáo đồng thời với Đức Phật. (1882:
316).
Nơi khác, Nietzsche gọi
‘hàng phục sân hận’ ‘bước đầu tiên để hồi phục.’ ‘Không đem thù
địch để chấm dứt sự thù địch, chỉ bằng tình thương mới chấm dứt
được hận thù.’ điều nầy có giá trị từ khởi đầu giáo lý đạo Phật–
nói như vậy không phải là vấn đề đạo đức, mà là vấn đề sinh học
(physiology ) (EH i. 6). Chắc chắn Nietzsche đã trích dẫn câu
nầy từ Oldenberg (1882: 292-3), Oldenberg đã trích dẫn từ
Kinh Pháp cú (Dhammapada), bài kệ 222-3 và Vinaya,
347- 8 về đề tài nầy.
Có lẽ Nietzsche đã tình cờ gặp điều nầy trong tác phẩm của
Coomaraswamy (1874), bản dịch Kinh tập (Suttanipāta) (p.
119). Oldenberg (1882: 191) cũng đã đề cập ý niệm về Đức Phật
như là một Lương y.
WP 342. Rất có thể
Người hành khất tự nguyện–Voluntary Beggar trong
Zarathustra chính là Đức Phật. Người hành khất báo
cho Zarathustra cách thức để đạt được ‘niềm an lạc trên mặt đất’
là ‘trở thành như một con bò.’ ‘Nếu chúng ta không thay đổi và
trở nên như một con bò, thì chúng ta sẽ không thể đi vào thiên
đường. Vì chỉ có một điều là chúng ta nên học ở nó: sự tư lự.’(Z
iv. 8). Chữ 'Rumination', có lẽ là cách hiểu Nietzsche về
ám chỉ của Oldenberg khi nói đến pháp thực hành thiền (jhāna;
e: meditative absorption) hay là đào luyện tâm linh (Übungeninnerer
Versenkung), mà ‘đối
với đạo Phật là cầu nguyện như đối với các tôn giáo
khác’(Olderberg 1882: 313-14). Tuy nhiên, trở nên như một con bò
không nhất thiết có nghĩa là bày tỏ sự miệt thị. Trong tác phẩm
GM, lời tựa, 8, Nietzsche nhận định rằng nếu có độc giả nào thấy
ra ‘cách ẩn dụ’ khó hiểu, thì ‘việc cần làm trên hết là nếu khi
người ấy tập đọc như một nghệ thuật,’ đó là ‘mình phải là một
con bò’ và học ‘cách tư lự.’ Nói cách khác, người ta phải ‘tư
duy’ về nó.
Christendom:
những người theo đạo Ki-tô, dân theo đạo Ki-tô, nước theo
đạo Ki-tô.
|