NIETZSCHE VÀ ĐẠO PHẬT
Nguyên tác: ROBERT G. MORRISON
Bản dịch Việt THÍCH NHUẬN CHÂU
[MỤC LỤC]
PHẦN II
NHỮNG QUAN HỆ SAI LẦM
5
Dẫn nhập
Một khía cạnh chung được chia xẻ bởi cả Nietzsche và đạo Phật là trung
tâm điểm của con người trong vũ trụ quan vô thần.
trong ý nghĩa của cả hai đều nhìn về con người, và không có chút quyền
lực bên ngoài, sống bình thường; hoặc cội nguồn thiêng liêng, với riêng
từng cách lý giải cho nhận thức của họ như là các vấn đề hiện hữu. Đối
với Nietzsche, vấn đề là sự tiếp cận Hư vô luận (nihilism); vì đạo Phật
chính là bản chất của vấn đề không giải quyết được của số đông vô hạn
nhân loại đánh giá như là sự hiện hữu của con người đầy ý nghĩa và có
mục đích. Cả hai đều nhìn con người như là một dòng chảy không ngừng của
sức mạnh cố hữu, cái mà có thể được gọi chung là khía cạnh thể chất và
tâm lý.
Và trong dòng chảy nầy, không có chủ thể tự trị hay bất biến tương ứng
với những điều được gọi là ‘ngã,’ ‘cái tôi’ hay ‘linh hồn.’ Cả hai đều
nhấn mạnh hệ thống tôn ty thứ bậc (hierarchy) tồn tại hoặc có thể
có giữa các cá nhân và trong bản chất của từng cá nhân. Đối với
Nietzsche, đỉnh cao mặc nhiên công nhận quan niệm hệ thống tôn ty thứ
bậc của ông là Siêu nhân (Übermensch),
mục tiêu mà không có người nào đạt đến được, mà là một tiềm năng, nếu
không phải cho tất cả, thì ít nhất cũng cho một số người. Trong trường
hợp đạo Phật, mục tiêu được cho là đạt đến sự chứng ngộ thành Phật của
Gautama với tư cách một con người cách đây 2.500 năm, và là mục tiêu mà
mọi chúng sinh đều được cho là có tiềm năng chứng đạt. Một khía cạnh
khác đều được hai bên chia xẻ, và là đề tài chính của phần II nầy, là
mục tiêu của mỗi phía được thực chứng thông qua tiến trình ‘hàng phục
chính mình’
(với Nietzsche là Selbstüberwindung;
trong đạo Phật là citta-bhāvanā–tu tập định tâm), và việc
hàng phục chính mình nầy được hiểu như là sự biểu hiện tâm linh của một
năng lực tự nhiên và nền tảng hơn (Ý chí hùng tráng trong trường
hợp của Nietzsche, và taṇhā–khát ái trong giáo lý đạo Phật).
6
Quan niệm của Nietzsche về Con người
Dù câu trả lời dự tính của Nietzsche cho toàn cảnh của hư vô luận
(nihilism)–sự sáng taọ nên mọi giá trị–là một đề tài mà ông chưa hoàn
thành, Nietzsche đã để lại cho chúng ta với sự lựa chọn Nhất nguyên luận
(monistic) và sự thay thế cho Thượng đế (God), vốn lẽ ra có chức năng
như là trọng tài trong sự đề xuất sáng tạo giá trị mới của ông–thị kiến
về hiện hữu được mô tả như Ý chí hùng tráng –Wille zur Macht ;
e: will to power.’ Chỉ qua ý niệm nầy chúng ta mới có thể hiểu toàn
diện về Nietzsche. Như là nguyên tắc của sự giải thích, nó kết hợp và
thống nhất lại với nhau rất nhiều từ trong sự cô lập dường như mâu thuẫn
nhau và thậm chí là kỳ quặc, và nó cũng là châm ngôn chống đỡ tư tưởng
của Nietzsche về những chủ đề như văn hóa, cho dù một thực tế là Ý
chí hùng tráng rõ ràng không xuất hiện cho đến khi có Zarathustra.’
Đó là, như chúng ta sẽ thấy, một nguyên lý có tính cách giải thích được
lượm lặt từ hiểu biết của Nietzsche về bản chất con người và khoa học tự
nhiên, nó cung cấp một viễn cảnh mới mẻ và thú vị về lịch sử và văn hoá
loài người cũng như cung ứng một Thế giới quan (Weltanschauung )
mới qua đó, hậu-hư vô luận (post-nihilistic) sẽ được hình thành trong
tương lai.
Như tôi trình bày trong chương 2, ý niệm ‘Thượng đế đã chết–God is
dead’ không đơn thuần chỉ là một phát biểu về Thần luận
(theological)–hay phản thần luận (anti-theological), mà chủ yếu là một
phát biểu mang tính văn hoá, có nghĩa là một ý tưởng văn hoá có ảnh
hưởng sâu rộng và hàm ý xã hội. Sự phân kỳ hiện hữu thành ‘thế
gian–mundane’ và ‘xuất thế gian–transcendental’, ‘phàm tục’ và ‘thần
thánh’, ‘ hiện tượng –appearance ’ và ‘thực tại–reality’, ‘trở thành –
becoming ’ và ‘Hữu thể– Being’ kết nối với cách hiểu rằng tất cả đều là
thiện, có ý nghĩa, đáng kính, và chân thực, vốn có nguồn gốc và nền tảng
của nó trong cái hơi có chút siêu việt thế giới và cuộc sống phàm trần
này, theo như Nietzsche, đã bị xói mòn vì sự truy tìm một trong những
giá trị cao nhất của phương Tây: chân lý. Chân lý đã dành được nhưng
theo đó là ‘Giá trị cao nhất chính là đánh đổ giá trị chính nó.’
Cội nguồn của chân lý, ‘thế giới thực,’ đã bị phủ định bởi chân lý. Thế
thì, cái gì chính là tình trạng thế giới trước đây được phán xét là một
‘hiển thể– appearance?’
Nietzsche trả lời:
Chúng ta phải thủ tiêu thế giới thực:
thế giới nào sẽ còn lại? Phải chăng thế giới hiện hành?... Nhưng không!
Với thế giới thực, chúng ta cũng phải thủ tiêu thế giới hiện hành. (TI
iv)
Thế giới ‘hiện hành’ chỉ là một: thế
giới ‘thực’ chỉ được thêm vào tạm thời thôi. (TI iii. 2)
Do vậy, cái mà chúng ta còn lại đơn thuần là ‘thế giới,’ hoặc chính xác
hơn, thế giới và đời sống như được bắt gặp và hiểu được bằng chất kỳ
diệu mới nhất của chính nó, con người. Và khi con người Nietzsche chiêm
nghiệm cuộc đời và thế giới, cuối cùng ông ta kết luận rằng đó chính là
‘ý chí hùng tráng chính là ý chí của cuộc sống.’
Và do đời sống chính như ông thấy và nhận thức rằng nó được đặt nền tảng
trên bất kỳ cái nhìn mới nào về hiện hữu được tạo tác ở đó, và trên bất
kỳ giá trị tương lai nào được dựng lập, theo ‘quyền lực’ ấy chính là
định giá tiêu chuẩn của Nietzsche: định lượng quyền lực của một vật hay
của một người càng lớn, thì giá trị mà họ có càng lớn. Và nó còn theo
đuổi bất kỳ mọi nỗ lực đánh giá lại và giải thích lại sự thành hình nhân
loại như tôn giáo, khoa học, triết học, chính trị và ý thức hệ mà họ nêu
lên, cũng như những cá nhân tạo ra chúng và tự biểu hiện trong chính nó,
cũng sẽ có ý nghĩa quyền lực. Như chính Nietzsche gán cho nó: ‘Cái gì là
mục tiêu đo lường của giá trị? Chỉ có định lượng nâng cao hay sắp xếp
quyền lực.’
Và thậm chí ‘chính sự đánh giá là ý chí hùng tráng nầy.’
Thông qua ý niệm nầy mà thế giới và cuộc đời lại một lần nữa trở nên ‘dễ
hiểu’:
Thế giới được nhìn thấy từ bên trong,
thế giới được diễn tả tuỳ theo ‘tính cách dễ hiểu’–nó sẽ là ‘Ý chí hùng
tráng’ và chẳng có gì khác. (BGE 36)
Đúng như người thầy thông thái Schopenhauer xa xưa của Nietzsche, đã
tràn ngập khái niệm bản thể luận
‘vật tự thân–thing-in-itself’ của Kant với Ý chí (Wille),
Nietzsche đã thay thế Ý chí (Wille) của Schopenhauer bằng Ý chí
hùng tráng của mình và diễn dịch mục tiêu của Schopenhauer về ‘phủ nhận
ý chí sinh tồn’ đúng ra chỉ là một biểu hiện suy đồi của ý chí hùng
tráng, cái mà Nietzsche gọi là ‘ý chí tối hậu’ của con người, ý chí
hướng đến cái không–will to nothingness’ của ông ta.
Tuy nhiên, dù sự khẳng định trong phát biểu của ông, Nietzsche không như
về thế giới là ý chí hùng tráng là một sự thật mang tính siêu hình học
tuyệt đối, mà là một giả thuyết vận hành thiết thực
xuất phát từ nghiên cứu về cuộc sống của ông trong cả hai phương diện
chủ quan, ‘những quán sát thuộc tâm lý học,’ và phương diện khách quan,
những hiểu biết của ông về lĩnh vực khoa học tự nhiên.
Diễn đạt súc tích nhất về giả thuyết nầy, hợp nhất cả phương diện chủ
quan khách quan về sự hiện hữu dưới nguyên lý đơn giản ý chí hùng tráng
là được thấy trong tác phẩm Beyond Good and Evil. Nietzsche phát
biểu lập luận của mình:
Nhờ vào cái không ấy được ‘nêu ra’ là
thực, loại trừ thế giới tham muốn đam mê của chúng ta, nhờ đó chúng ta
có thể phát khởi hoặc chìm đắm vào một ‘thực tại’ khác hơn cái ‘thực
tại’ của chúng ta đang truy đuổi... là không được phép làm cuộc thử
nghiệm và đặt những câu hỏi là điều được đưa ra có đủ để đáp ứng
cho sự hiểu biết thậm chí cho cái gọi là thế giới vật chất hay thế giới
cơ học? Tôi không muốn nói đến như một sự dối trá, một ‘hiện tượng,’ một
‘khái niệm’ (trong chiều hướng của trường phái Berkeley
và Schopenhauer), mà như là sở hữu cùng mức độ thực tại như cảm giác của
chính chúng ta–một hình thái nguyên thuỷ hơn của thế giới cảm giác trong
đó mọi hiện tượng vẫn còn bị khoá kín trong thể thống nhất hùng mạnh và
rồi vươn cành và phát triển trong tiến trình hữu cơ... như một dạng đời
sống bản năng... như một dạng tiền sử của sự sống? (BGE 36)
Điều Nietzsche đang nói là thực tại trực tiếp và không được sắp xếp là
chính kinh nghiệm ‘chủ quan’ của chúng ta, và biến cố tiên thiên cấu
thành kinh nghiệm ấy chính là thú hướng, cảm xúc, và đam mê của chúng
ta. Chúng là cái ‘đã định sẵn–given,’ và như Nietzsche giải thích
ở các nơi khác,
chúng cũng là động lực tiên thiên tạo nên sự hình thành và cấu trúc các
tri giác, tương quan và sự hiểu biết của chúng ta về thế giới như là đối
tượng. Trong giả thuyết của cái định sẵn nầy, Nietzsche lại lập nên
‘cuộc thử nghiệm’ của mình bằng cách tạo ra một bước giả định khác nữa:
nếu chỉ duy thế giới chúng ta trực tiếp nhắm đến là chính cái định sẵn
nầy, thì theo đó mọi nỗ lực để hiểu thế giới tự nhiên khách quan sẽ phải
là một tác động của cái định sẵn nầy. Như Nietzsche đã nêu ra ở các nơi
khác, chúng ta chỉ có thể hiểu tự nhiên trong chính hình ảnh
của chúng ta bằng cách tận dụng con người như một phép loại suy cho cứu
cánh nầy.
Sau hết, cái thực tại ‘khác’ mà chúng ta có đặc quyền thâm nhập vào để
nó có thể vận hành như một nền tảng cho sự hiểu biết về tự nhiên như
vậy, để có thể tuyên bố ‘thực’ hơn là cái gì? Và, như những quán sát
thuộc về tâm lý học của Nietzsche đã dẫn ông đến kết luận rằng nguyên lý
căn bản chi phối ‘cuộc sống nội tâm’ chúng ta chính là ý chí hùng tráng,
trên giả thuyết chúng ta chỉ có thể hiểu thế giới tự nhiên trong hình
ảnh của chính mình, kết luận như sau:
‘Thế giới được nhìn từ bên trong, thế giới được mô tả và định nghĩa tuỳ
theo tính chất dễ hiểu của nó–nó sẽ là ý chí hùng tráng chứ không gì
khác.’
Đây là đề nghị của Nietzsche, và chúng ta phải nhớ rằng, có tính cách
giả thuyết, thay thế cho thế giới quan không thể tin được của Ki-tô
giáo.
Nhưng cái gì là nguyên do của Nietzsche muốn mở rộng ý niệm ý chí hùng
tráng của ông từ riêng vũ đài nhân loại sang lĩnh vực bao trùm cả sự
hiện hữu nói chung, nêu ra rằng điều ông xiển dương là ‘thế giới của
tham muốn và đam mê?’
Câu trả lời của tôi là Nietzsche, như nhan đề tác phẩm của Copleston đã
viết, chính là một ‘Triết gia Văn hóa–Philosopher of Culture,’ và
trong phạm vi văn hoá đương thời của ông, thanh thế của khoa học tự
nhiên đang lan rộng ảnh hưởng trong vài thuyết trình về đề tài con người
và thế giới.
Khoa học tự nhiên bắt đầu trình bày một toàn cảnh thế giới vô thần luận,
trong đó điều giả định tổ tiên thiêng liêng của con người bị loại bỏ chỉ
còn là tưởng tượng đầy chất thi ca–Nietzsche, trong kiểu thức song
diện tuyến
của ông, sẽ gọi đó là lời nói dối. Là nhà ngữ văn (philologist),
Nietzsche đã có kinh nghiệm trực tiếp về tính tiêu cực ảnh hưởng đến
khoa học đang diễn ra: ‘các nhà ngữ văn, ... là những kẻ phá hoại mọi
niềm tin ngự trị trong những trang sách.’
Tuy nhiên, sự quan tâm đến khoa học và kiến thức của Nietzsche trải rộng
vượt lên cả ranh giới của môn ngữ văn, mà bao gồm cả vật lý, hoá học,
sinh lý học và nhân chủng học.
Thế nên mọi triết lý của con người mà Nietzsche đã đưa ra, nếu nó không
bị xói mòn bởi khoa học, thì nó cũng thực sự được chống đỡ bởi khoa học.
Ông hình dung những khoa học nầy sẽ trở thành ‘viên đá nền tảng của ý
tưởng mới,’
sẽ ‘chuẩn bị đường lối cho vấn đề tương lai của các triết gia.’
Tuy nhiên, chính khoa học không thể tạo nên giá trị mà thực ra cần có
‘một giá trị tạo nên quyền lực, trong sự giúp ích cho điều có thể tin
(believe) vào chính nó.’
Đến mức nầy, các khoa học gia trở thành đầy tớ của những giá trị tạo ra
các triết gia như chính Nietzsche.
Ngược với tình trạng sự vụ, trong đó khoa học trở thành lực ưu thắng
trong sáng tạo ý tưởng mới, thì theo quan niệm của Nietzsche, là bất
hạnh cho con người. Như ông nêu ra trong một tác phẩm trước đó:
Có phải đời sống là để thống trị kiến
thức và khoa học, hay là kiến thức thống trị đời sống? Cái gì trong hai
lực nầy là cao hơn hay quyết định hơn? Có điều chắc chắn: cuộc sống là
cao hơn, vì kiến thức mà hư vô hoá cuộc đời sẽ là tự hư vô với nó. (UH
10)
Vì đó là nhận thức của Nietzsche về bản chất con người, là phép loại suy
chủ yếu trong nỗ lực của ông để hiểu thế giới tự nhiên, mọi lý thuyết
khoa học có thể đóng góp như viên đá nền tảng và phục vụ cho thuyết giá
trị (axiology) của ông sẽ phản ánh giả thuyết của ông về thế giới như là
ý chí hùng tráng, hay ít nhất là dễ bị ảnh hưởng để làm giảm trừ trong
việc phục vụ cho giả thuyết của ông. Nhưng trong kiến thức khoa học của
mình, ông không thể thực hiện mà chỉ kết luận rằng Thế giới quan
(Weltanschauung) ưu việt là một thế giới theo thuyết cơ giới
(mechanistic), một quan niệm đối lập với quan niệm của chính ông về bản
chất con người. Và vì đó là quan niệm của ông mà điều gì chúng ta hiểu,
chúng ta chỉ thực hiện được trong tưởng tượng của chúng ta, theo đó là
quan niệm đang thịnh hành về thế giới tự nhiên như là thuyết cơ giới
(mechanistic) ắt phải phản ánh, về phần những ai ủng hộ và tán thành
thuyết cơ giới nầy, với giả định rằng nếu không phải là cái nhìn sáng
suốt về bản chất con người. Để giảm trừ bản chất con người hay, bằng hàm
ý, là cuộc đời, đến chỉ còn là thuyết cơ giới thì, đối với Nietzsche,
chỉ là thuộc triệu chứng một dạng bệnh hoạn và suy đồi hơn của cuộc
sống.
Một khoa học gia có ảnh hưởng, người mà, đối với Nietzsche, đã biểu
tượng hoá quan niệm nầy và có những lý thuyết cách mạng mà Nietzsche xem
là một sự phẫn nộ vào tương lai nhân loại, đó là Charles Darwin. Để
trung hoà những gì Darwin đã biểu tượng hoá, Nietzsche đã tìm ra một
phản đề cho quan niệm thuyết cơ giới của tự nhiên. Điều nầy Nietzsche
tìm thấy trong ý tưởng của khoa học gia thuộc dòng Tên (Jesuit) R. B.
Boscovitch, có quan niệm tự nhiên không phải là thuyết cơ giới, mà là
động lực (dynamic). Trong tư tưởng của Boscovitch, Nietzsche tìm thấy
‘người đầy tớ’ của mình; trong thuyết động lực tự nhiên của Boscovitch,
ông đã phơi bày ra ‘viên đá nền tảng.’ Nhưng, trước khi khảo sát lời
giải đáp của Nietzsche về chủ nghĩa duy vật cơ giới (mechanistic
materialism) và cách ‘trị liệu’ cho nó–là Boscovitch–chúng ta phải trở
về phép loại suy chủ yếu, ‘thế giới tham muốn và đam mê của chúng ta,’
và xem thử cách hiểu của Nietzsche về bản chất con người như là ý chí
hùng tráng đã bị ảnh hưởng như thế nào, và có lẽ phải xuất phát từ Hy
lạp cổ đại.
6.1. MÔ HÌNH HY LẠP
Trong suốt toàn bộ lịch sử văn hoá phương Tây, chỉ có người duy nhất mà,
theo ý nghĩa quan niệm văn hoá của Nietzsche, đạt đến hình thức toàn
diện: đó là Hy lạp (the Greeks),
đỉnh cao của nền văn hoá kéo dài từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ V ttl.
Họ là ‘những con người thiên tài duy nhất trong lịch sử thế giới,’
vì họ sinh ra nhiều con người vĩ đại trong nhân loại,
là giới đã ‘chiếu ánh sáng rực rỡ của con người bậc cao.’
Nguyên nhân văn hoá Hy lạp lưu xuất quá nhiều cá nhân vĩ đại là, đối với
Nietzsche, phát xuất từ thái độ của họ hướng đến và sáng tạo đáp ứng cho
điều nêu ra trong ‘Vượt trên Thiện ác, 36: ‘Thế giới tham vọng và
đam mê của chúng ta.’ Nói một cách ngắn gọn súc tích, Hy lạp mà
Nietzsche rất thán phục không liên hệ với con người từ bản chất, họ
không tìm kiếm sự giải thích cái gì là tốt nhất và giá trị nhất trong
loài người bằng cách lôi cuốn vài nguồn gốc phi tự nhiên cao hơn, mà
thấy ra cái những cá nhân vĩ đại đã đạt được là một sự tương tục của tự
nhiên, vì nó có gốc rễ trong thế giới tự nhiên chỉ trong Thế giới tham
vọng và đam mê của chúng ta:’
Phẩm tính ‘tự nhiên’ và được gọi một
cách đúng đắn là ‘con người’đã phát triển không tách rời nhau. Con người
với năng lực và cao thượng nhất chính là Bản chất và mang trong mình nó
hai tính chất đáng kính. Khả năng của nó thường được xem là rất xấu xa
và dã man, và có lẽ quả thực là mảnh đất màu mỡ, ngoài nó ra không có
nơi nào có thể sinh trưởng mọi nhân tính trong cảm xúc, hành vi và công
việc. (HC, p.51)
Các nhà tư tưởng Hy lạp thừa nhận rằng bản chất con người chứa đựng vài
động lực xấu ác và dã man, nhưng các thiên tài của họ, theo Nietzsche,
là theo cách thức mà họ giao tiếp với chúng. Phương pháp thuộc hệ biến
hoá (paradigmatic) được tìm thấy trong tác phẩm Works and Days
của nhà thơ Hesiod
sống vào thế kỷ thứ VIII:
Sự bất hoà không phải chỉ ở trẻ con.
Trên mặt đất
Hai mối bất hoà hiện hữu; một là khen
tặng bởi người
Đã biết nàng, và bên kia thì trách mắng.
Bản tính của họ khác nhau; vì cái ác
Khiến đấu tranh phát động, và chiến
tranh; nàng không chiếm được tình yêu
Nhưng người đàn ông bị bắt buộc, bằng ý
chí bất tử,
Đáp lại nữ thần đau khổ vì tôn trọng.
Kẻ khác, ban đầu sinh ra từ Đêm sâu thăm
thẳm
Sắp đặt bởi thần Zeus, người sống trên
cao,
Lập từ rễ của đất, trợ giúp cho người.
Nàng thúc dục cả người lười biếng làm
việc;
Một người trở nên hăm hở, thấy một người
giàu khác
Từ việc cày bừa, trồng trọt, sắp đặt nhà
cửa.
Nên người láng giềng vội vàng ganh đua
với người láng giềng
Vì sự giàu sang: Sự bất hoà là tốt cho
người chết–
Thợ gốm ghét thợ gốm, thợ mộc đua tranh,
Và người hành khất đua tranh với hành
khất, nhà thơ đua tranh với nhà thơ.
Hesiod thấy hai nữ thần tranh luận (Eris-goddesses) trên trần gian, hay
là hai hình thái của Bất hoà, một vị độc ác ‘gây tranh đấu, và chiến
tranh,’ người kia ‘ban đầu sinh ra từ Đêm sâu thăm thẳm’ người mà ‘tốt
cho người chết’ vì, qua sự ghen tức, nàng đặt ‘cả người lười biếng làm
việc.’ Vậy nên ‘Thợ gốm ghét thợ gốm và thợ mộc đua tranh. Và người hành
khất đua tranh với hành khất, nhà thơ đua tranh với nhà thơ.’ Nietzsche
nhận xét rằng ‘Đây là một trong những ghi chú đáng giá nhất của tư tưởng
mang tư tưởng triết học Hy lạp cổ đại (Hellenic thoughts)
và gây ấn tượng cho người mới nhập môn tức khắc đến ngay cổng vào của
luân lý Hy lạp.’
Đó là một trong những ghi chú đáng giá nhất là vì, thứ nhất, nó cảnh cáo
những gì đã chọn nghiên cứu thuộc tính triết học Hy lạp cổ đại
(Hellenic) mà bỏ lại đằng sau ngay nơi ‘cổng vào’ khái niệm luân lý
Ki-tô giáo của họ nếu họ muốn hiểu về Hy lạp; và, thứ hai và quan trọng
hơn là, nó chỉ ra rằng những đam mê bẩm sinh như ‘ghen tức, thù hằn, đố
kỵ, [có thể kích động] con người hoạt động nhưng không phải là ảnh hưởng
của chiến tranh đến con dao mà với tác dụng của tranh luận...[việc
làm của cái tranh luận về cái thiện–good Eris]... một vị
thần.’
Nietzsche tiếp tục nhận định: ‘Một hố sâu phán xét luân lý ngăn cách
giữa chúng tôi và ông ấy làm sao!’
Các nhà tư tưởng Hy lạp không phán xét lòng đố kỵ, tình yêu, tham vọng,
và tham vọng cùng đam mê như đang hiện hữu hoặc là luân lý hoặc phi luân
trong chính nó: nó đơn thuần là phi luân lý và tự nhiên. Nhưng chúng có
thể được sử dụng bởi con người, như trong ví dụ của Hesiod, hoặc là sử
dụng bằng cách phá huỷ bằng cách trở nên kinh khiếp và phi nhân–tranh
luận về cái ‘ác’; ‘bad’Eris– hoặc là sử dụng một cách sáng
tạo bằng phương tiện của cái tranh luận về cái thiện–good Eris,
cái mà, thông qua ý niệm ‘tranh luận’ hoặc ‘xung đột–agon’ trở
nên sự theo đuổi ‘cái xuất sắc’ hoặc aretē.
Ngay cả trong lĩnh vực nghệ thuật, các nhà tư tưởng Hy lạp biết đến nghệ
sĩ chỉ như là đính hôn trong cuộc tranh đấu riêng tư.
Tham vọng của giới nghệ sĩ.’– Nghệ sĩ Hy
lạp, những con người bi tráng là ví dụ, làm thơ để chinh phục; toàn bộ
nghệ thuật của họ không thể được xem như tách rời từ sự tranh luận:
tranh luận về cái thiện của Hesiod, tham vọng, đã chắp cho thiên tài
của họ đôi cánh. (HAH 170)
Và thậm chí
Các đối thoại của Plato [đều là] do phần
lớn kết quả của tranh luận với nghệ thuật của các nhà hùng biện, các nhà
ngụy biện, và các nhà soạn kịch vào thời đại của ông, bịa đặt ra với mục
đích khiến cho ông cuối cùng phải nói: ‘Hãy nhìn xem, tôi cũng có thể
làm những gì mà đối thủ nặng ký nhất của tôi có thể làm; quả thực là tôi
có thể làm hay hơn họ. ’
Không phải Protagoras đã phát minh ra
huyền thọai đẹp như cái tôi đã phát minh; không có một nhà soạn kịch
sống động và quyến rũ toàn thể như tập Tiểu luận (Symposium) của
tôi; không có nhà hùng biện nào đã viết–và bây giờ tôi khước từ tất cả
điều nầy toàn bộ và lên án mọi nghệ thuật bắt chước. Chỉ trong tranh
luận mới khiến tôi trở thành nhà thơ, nhà nguỵ biện, nhà hùng biện.’
(HC. Dịch từ VPN pp. 37–8)
Đây là nguồn gốc chính câu trả lời của Nietzsche về Hư vô luận
(nihilism). Hư vô luận bộc lộ như là bình minh chân lý được cho là giá
trị của con người, và là một vị trí đặc biệt trong vũ trụ, chẳng gì khác
hơn là phát minh của nhân loại. Trong thực tế, vốn chẳng có sự tách ly
bản thể học giữa con người và tự nhiên–con người là homo natura;
không có thế giới nào khác hơn là thế giới tự nhiên–thế giới tự nhiên là
hiện thực. Nhưng trong thế giới-hai hệ thống (two-world system), thế
giới tự nhiên được phán xét là phản đề của ‘cái thiện’; tham vọng và đam
mê tự nhiên của con người, là sự hiện hữu của trật tự tự nhiên, là được
xác định thuộc về ‘cái xấu ác.’ Do vậy, nếu chúng ta phủ định ‘cái
thiện,’ chúng ta sẽ tách rời mọi phương tiện qua đó ‘cái xấu ác’ bị ngăn
trở đạo đức của chúng ta. Khi đạo đức này bị gãy đổ, điều mà Nietzsche
nghĩ rằng chắc chắn đó là ý chí, và không có ‘đạo đức mới’ để thay thế
cho nó, tất cả chúng ta đều bị bỏ rơi lại chính là viễn tượng sợ hãi từ
thế giới nặng nề của bellum omnium contra omnes (cuộc đấu tranh của
toàn thể chống lại tất cả) hoàn toàn tàn phá văn hoá và văn minh
nhân loại từ lâu đã thành tựu, không một viễn tượng nào đó thay thế đầy
đủ ý nghĩa. Chúng ta sẽ đơn thuần trở lại tình trạng hiện hữu như thú
vật. Nhưng, theo Hesiod và mô hình Hy lạp, không cần phải là một
bellum omnium contra omnes như là kết quả của Hư vô luận nầy. Không
chỉ có tranh luận về cái ‘ác’–bad’Eris’ mà còn có tranh
luận về cái ‘thiện’–good Eris, biểu hiện như là agon,
tiết lộ cho Nietzsche con đường ra khỏi hư vô luận trong khi ‘lưu lại
chân lý cho trần gian’: ‘sự thăng hoa–sublimation’ (Sublimierung)
của những dẫn lực và đam mê của bản tính người (homo natura) về
hướng sáng tạo một kiểu người mới–Siêu nhân; Übermensch.
Để cho điều sau nầy (tranh luận về cái ‘thiện’–good Eris)
xảy ra,
Tuy nhiên, xung đột (agon) phải thay đổi từ sự sống giữa các cá
nhân sang sự sống (being) giữa các dẫn lực và đam mê đang thi đua trong
những cá nhân, cái àm Nietzsche gọi là tự hàng phục chính mình.
Cũng như Eris, ý chí hùng tráng có tiềm lực cả thiện lẫn ác.
Không chế ngự và không định hướng được nó sẽ dẫn đến hoàn toàn tàn bạo,
thô lỗ, và chuyên chế. Thế nên khi điều phục và định hướng một cách
thông minh, thì nó giúp cho sáng tạo, thông qua những cá nhân hiếm có,
sự trổ hoa kỳ vĩ của nên văn hoá Hellenic. Thông qua tự hàng phục
chính mình, điều mà chúng ta có thể gọi chính là ý chí hùng tráng
trở nên được đồng hoá một cách tự nhiên. Nietzsche muốn mở ra tiềm năng
sáng tạo-chưa nhận thức được của ý chí hùng tráng ra xa hơn, và tạo ra
một tầng bậc mới của nhân loại, là siêu nhân Übermensch. Do vậy,
con đường tự hàng phục chính mình không chỉ cấu thành nên câu trả
lời của Nietzsche cho Hư vô luận, mà còn là sự thay thế của ông về cái
cũ, thay thế cho sự truy cầu tín ngưỡng và tâm linh. Đời sống bây giờ có
một ý nghĩa và mục đích mới, một ‘luân lý’ mới: tái sáng tạo liên tục
chính mình bằng phương pháp của con đường tự hàng phục chính mình.
Và đó là những nhà tư tưởng cổ đại Hy lạp, những người đã đáp ứng
cho Nietzsche bằng mô hình căn bản của ông.
Mô hình nầy, dù nó hoàn toàn trong chính nó, biểu tượng cho ý chí hùng
tráng chỉ trong khía cạnh chủ quan, ý chí hùng tráng xuất phát từ điều
đã được nói rõ–‘thế giới tham vọng và đam mê của chúng ta.’ Nhưng như
chúng ta đã thấy trước đây, Nietzsche đã đề xuất rằng, như một cuộc thử
nghiệm, chúng ta có thể mở rộng mô hình nầy từ phạm vi chủ quan sang
toàn thể thế giới và ngược lại. Lý do của việc nầy, như tôi đã đề xuất,
là do thế giới quan (Weftanschauung) mới được nghiêm chỉnh
đề ra trong kỷ nguyên sau-Thượng đế (post-God), có lẽ nó sẽ được
chống đỡ bằng ‘tôn giáo’ mới của khoa học. Nhưng quan niệm khoa học trội
vượt là chủ nghĩa duy vật cơ giới (mechanistic materialism), một quan
niệm phản đề với mô hình mới của Nietzsche về thế giới như là ý chí hùng
tráng. Cá nhân được biểu tượng, đối với Nietzsche, kế thừa quá nhiều
nguy hiểm mà quan niệm mang tính khoa học nầy vốn có dành cho sự thịnh
vượng của con người tương lai, đó là Charles Darwin.
Do vậy, trước khi tiếp tục đi vào nghiên cứu về sự tìm tòi của Nietzsche
cho sự thay thế quan niệm khoa học mới của thế giới vào quan niệm dự
định của ông về thế giới như là ý chí hùng tráng, tôi sẽ dùng học thuyết
Darwin (Darwinian) để ‘giải lao, để thấy ngay những gì chính là
Nietzsche đã căn cứ lại quá mâu thuẫn trong thế giới quan (Weltanschauung)
khoa học đầy ưu thế.
6.2. NIETZSCHE và DARWIN
Như Kaufmann tuyên bố chính xác, Nietzsche đã được ‘đánh thức giấc ngủ
giáo điều nhờ Darwin, rất giống như Kant một thế kỷ trước đây được đánh
thức bởi Hume.’
Những đề cập của Nietzsche về Darwin trải dài suốt trong cả những trang
viết đã ấn hành hoặc chưa (Mostert liệt kê 52 trường hợp trong chừng mực
lúc đó ấn bản chưa hoàn thiện của Colli và Montinari về các tác phẩm đã
hoàn tất của Nietzsche), từ sự công kích của Nietzsche về David Strauss
khi xem Darwin là ‘một trong những kẻ hảo tâm nhất của nhân loại,’
cho đến phủ định của riêng ông rằng ý niệm của riêng ông về Siêu nhân
(Übermensch) là người theo Tiến hoá luận (Darwinist): ‘Giới học giả
bò đực đã ngờ vực tôi theo Tiến hóa luận (Darwinism).’
Nietzsche xem Darwin và Tiến hóa luận cùng khoa học nói chung như là chủ
nghĩa hư vô đe doạ Văn hoá phương Tây, và là một thứ nguy hiểm nhiều hơn
bất kỳ hệ thống siêu hình học nào từng có: nó dựa trên kinh nghiệm, nó
có ‘cơ sở lập luận’ là những giả thuyết; và chính những cơ sở lập luận
nầy sẽ dần dần khiến cho chúng ta ‘điếc với khúc hát quyến rũ của ông
lão bắt chim siêu hình học đã thổi sáo dụ dỗ [con người] quá lâu: Ông
quá giỏi, Ông rất cao! Ông là thuộc về một căn nguyên khác.’
Khoa học, và đặc biệt là Darwin và Tiến hóa luận, là nguy hiểm không chỉ
vì ‘cơ sở lập luận’ của nó, trên toàn thể được Nietzsche thừa nhận,
mà vì những gì ông thấy được như là không có nền tảng lạc quan, một tính
lạc quan trở lại với Socrates: ‘Socrates nguyên mẫu của học thuyết lạc
quan, người mà với niềm tin của mình thấy rằng bản chất của hiện tượng
có thể thăm dò được, gán cho kiến thức và nội quán (insight) năng lực
của một thứ thuốc chữa bách bệnh.
Khoa học gia như Darwin vẫn làm việc không chủ tâm trong cơ cấu tổ chức
của Christo-Platonic trong khi mọi sản phẩm từ công việc của họ
thực sự đang xói mòn chính cơ cấu tổ chức ấy.
Vẫn chính là niềm tin siêu hình học làm
cơ sở cho niềm tin khoa học của chúng ta–và con người chúng ta với kiến
thức ngày hôm nay, những người vô thần chúng ta và những người chống
siêu hình học, không, chúng ta vẫn lấy được sự bừng sáng của chúng ta từ
lửa được đốt cháy bởi niềm tin từ thiên niên kỷ trước, đức tin Ki-tô
giáo, mà cũng là đức tin của Plato, rằng Thượng đế là chân lý, và chân
lý là thiêng liêng. (GM iii. 24)
‘Tính lạc quan vô căn cứ’ nầy, theo Nietzsche, phát xuất từ một giả định
vô thức và không bị nghi ngờ bắt rễ từ trong ‘đức tin từ thiên niên kỷ
trước:’ rằng sự truy tìm chân lý sẽ dẫn đến ‘thần thánh,’ rằng sự khám
phá ‘chân lý’ bây giờ là thuốc chữa bách bệnh siêu tuyệt. Khi khoa học
cuối cùng vén mở sự thật về thế giới, rồi chúng ta sẽ đi vào ‘thiên
đường,’ cho dù ‘thiên đường’ ấy ở ngay trên mặt đất. Darwin, tuy vậy,
vẫn lắng nghe tiếng vọng hấp hối của ‘khúc hát quyến rũ của ông lão bắt
chim siêu hình học’ như là đọan áp chót trong tác phẩm Nguồn gốc của
chủng loại (On the Origin of Species), rằng:
Vì mọi sinh loại đều là hậu duệ trực hệ
của những loài đã sống trước đó lâu xa từ kỷ nguyên Silurian, chúng ta
có cảm tưởng chắc chắn rằng sự nối tiếp nhau các thế hệ không bao giờ bị
phá vỡ, và chẳng có cơn đại hồng thuỷ nào đã tàn phá thế giới. Do vậy,
chúng ta có thể nhìn với sự tự tin vào tương lai bảo đảm với thời gian
dài bằng nhau không đánh giá được. Và vì các công trình chọn lọc tự
nhiên đơn thuần chỉ bằng hoặc vì cái thiện của mỗi hiện hữu, tất cả
khả năng vật chất và tinh thần đều sẽ có khuynh hướng tiến đến sự hoàn
mãn.
[In nghiêng do tác giả muốn
nhấn mạnh]
Có lẽ đọan văn nầy minh họa những gì đã có trong đầu Nietzsche khi ông
tự hỏi: ‘đến mức độ nào thì niềm tin định mệnh vào ý trời linh
thiêng...còn tồn tại...đến chừng nào mà các điều giả định và các hiểu
của người Ki-tô giáo vẫn còn tồn tại dưới các thể thức như ‘tự nhiên,’
‘tiến trình,’ ‘hoàn thiện,’ ‘học thuyết Darwin.’
Trong đoạn văn trên, Darwin dường như muốn bày tỏ một ‘niềm tin phi lý
vào tiến trình của hiện tượng.’
mà thực tế từ học thuyết của ông không thể nào sao lưu lại: không có ‘dữ
kiện’ nào khiến chúng ta có thể suy luận ra ‘tiến trình hướng đến sự
hoàn thiện’ nào cả. Những khoa học gia như Darwin, dù họ không còn tin
vào Thượng đế nữa, không nên hiểu rằng hệ quả từ các tác phẩm của họ,
theo cách nhìn của Nietzsche, là vô trách nhiệm một cách nguy hiểm. Họ
hành xử ‘như thể những gì xảy ra đều không phải là trách nhiệm của chúng
ta bởi vì chúng vẫn dưới sự ảnh hưởng, dù là vô ý thức, của ‘niềm tin
định mệnh vào ý trời linh thiêng.’
Như Nietzsche đã phát biểu một cách rất đột biến trong tác phẩm Gay
Science: ‘Ở đâu có Thượng đế? ... Tôi nói với anh. Chúng ta phải
giết hắn–anh và tôi.’ Người cuồng điên đã nói như vậy với những
người trong chợ; nhưng họ ‘chỉ nhìn anh ta bằng sự kinh ngạc.’ Ông kết
luận:
Tôi đã đến quá sớm... thời của tôi chưa
đến. Biến cố khủng khiếp nầy vẫn đang tiếp diễn, vẫn đang lang thang; nó
vẫn chưa đến lỗ tai của con người. Ánh chớp và sấm sét vẫn cần đến thời
gian; ánh sáng của vì sao cũng cần đến thời gian; thực vậy, dù đã được
hình thành, vẫn cần có thời gian để nghe và thấy. Điều nầy quả thực là
xa họ hơn là khoảng cách của những ngôi sao xa nhất–và do vậy, chính
họ đã làm điều ấy. (GS 125)
Cuối cùng khi những việc nầy được thấy và được nghe, chủ thuyết hư vô
theo đó cũng được ló dạng, và tuy thế cũng là quá muộn–Nietzsche nghĩ
như vậy. Lý thuyết của Darwin về sự chọn lọc tự nhiên vận hành trên sự
biến đổi ngẫu nhiên là một sự kiện như vậy, nhưng Darwin, như những khoa
học gia khác, không nắm bắt trọn vẹn hệ quả của kỳ công của chính mình.
Ngay cả các nhà văn hiện đại dường như cũng không nắm bắt được điểm nầy.
C. U. P. Smith, về đoạn văn đề cập đến Darwin nầy, viết rằng: ‘đoạn văn
nầy không dễ đọc bởi sự khinh suất như là một sự hỗ trợ cho ý tưởng tiến
triển đến scala naturae.’
Và Nietzsche, một người trong dạng khinh suất ấy, ‘chưa bao giờ thấy
Darwin trốn chạy khỏi thời kỳ tôn vinh triết học,
[do vậy]... hiểu biết của Nietzsche về sự tiến hoá vẫn là từ thời
tiền-Darwin.’
Mà chính Darwin đã phát biểu:
Những cư dân của từng thời kỳ kế tiếp
nhau trong lịch sử thế giới đã vượt trội hơn hẳn tổ tiên của họ trong sự
cạnh tranh với cuộc sống, và, trong chừng mực, cao hơn mức độ tự
nhiên. [nhấn mạnh của tác giả]
Do vậy, dường như rất dễ trở thành một với sự khinh suất của Smith. Tất
cả những gì người ta phải làm là chấp nhận Darwin ngay lời phát biểu của
ông ta.
Tuy nhiên, đối với tôi, dường như chính Smith là đúng hơn, là một người
khinh suất ở đây.
Nhưng nguồn gốc của sự nhập nhằng nầy trong tác phẩm Origins của
Darwin là, trong tất cả mọi khả năng, chính là do đầu óc của Darwin. Về
vấn đề liên quan đến ‘đề cương/phác thảo–design,’ Darwin phát
biểu trong bức thư gởi cho Asa Gray trước khi trở thành một người theo
thuyết bất khả tri:
Tôi biết rõ rằng mình đang rối ren tuyệt
vọng cùng cực. Tôi không thể nào nghĩ được rằng thế giới, như chúng ta
đang thấy, là kết quả của sự tình cờ; và thế nên tôi không thể nhìn vào
mỗi vật riêng biệt như là kết quả cuả phác thảo.
Nếu đó là phác thảo, thì sẽ là một scala naturae. Nếu tất cả đều
là kết quả của sự tình cờ, thì đó sẽ chẳng là gì cả.
Gillespie kể lại rằng mối liên hệ của Darwin với ý tưởng phác thảo thông
minh là thường có tính nước đôi,
và ‘Phác thảo là một mối nghi rầy rà vốn không bao giờ rời khỏi tâm trí
Darwin.’
Nietzsche sẽ thấy điều nầy như là một ví dụ tuyệt vời: Darwin, trong lý
thuyết nầy, đã giết chết một cách có hiệu quả mọi ý niệm về sự phù hộ
thần thánh hay là phác thảo; nhưng ông không thể chấp nhận toàn bộ những
kết luận từ những tìm tòi của riêng ông vì ông vẫn bị quy định–dù vô
thức–bởi những gì ông đã hấp thụ từ nền tảng Ki-tô giáo chân chính của
ông trong hình thức duy trì đức tin và hy vọng không có khả năng phê
bình. Lấy đi những đức tin và hy vọng nầy và những gì chúng ta bị bỏ lại
từ quan điểm về giá trị hiển nhiên cuả con người, rõ ràng là một vũ trụ
trung tính, không giá trị, không có ý nghĩa hay mục đích kế thừa. Đối
với Nietzsche, điều nầy sẽ là kết quả không thể tránh được của mục tiêu
khoa học truy tìm chân lý: cuối cùng chúng ta sẽ hiểu được rằng những
niềm tin ‘lạc quan’ nầy chẳng gì khác hơn là hư cấu của con người. Khi
những hiểu biết nầy cuối cùng hé mở, vì phần lớn, nếu không phải là tất
cả, sẽ không thể nào hiểu được điều gì thực sự đã xảy ra, họ chỉ mặc
nhiên công nhận rằng cái dường như còn lại là khi niềm tin lạc quan đã
bị gỡ bỏ, có nghĩa là vũ trụ mang tính cơ giới và hình như vô nghĩa. Và
một Thế giới quan (Weltanschauung) như vậy chỉ dẫn con
người đến một mục đích: bellum omnium contra omnes (cuộc đấu tranh
của toàn thể chống lại tất cả).
Con người sẽ bị ướt sũng bởi các tín điều hư vô. Do vậy, khi học
thuyết của Darwin
về sự thiếu vắng những sự khác biệt
chính yếu giữa con người và thú vật–học thuyết mà tôi xem là chân thực
nhưng hết sức–xô đẩy con người sang một thế hệ khác... không ai ngạc
nhiên nếu con người bị băng hoại vì tính vị kỷ tầm thường, sự cứng ngắc
và tham lam, rơi đổ từng phần và dừng lại ở con người; trong đó hệ thống
của chủ nghĩa vị kỷ cá nhân, tính huynh đệ cho sự khai thác các người
không phải anh em...có thể sẽ xuất hiện trong đấu trường tương lai.
(UH9)
Không biết Nietzsche có thực sự đọc tác phẩm nào của Darwin hay không
vẫn là điều khó xác định. Mostert kể lại rằng, ‘Khi tranh luận về thuyết
Darwin, Nietzsche thực sự vẫn giữ vai trò người ngoại cuộc. Chỉ có tiểu
luận của Darwin, Biographical Sketch of an Infant (1877), là rõ
ràng đã được ông đọc đến (cf. thư của Nietzsche gởi Paul Reé, 3–4, tháng
8, 1877). Dường như chẳng có thêm chứng cứ nào Nietzsche đã đọc các tác
phẩm của Darwin.’
Tuy nhiên, một cuốn sách vẫn được đánh giá rất cao bởi Nietzsche thời
thanh niên là tác phẩm của Lange, The History of Materialism,
trong đó có chương ‘Darwin và Mục đích luận.’
Stack kể cho chúng ta rằng ‘Lange thấy được rõ ràng hàm ý thay đổi hoàn
toàn trong học thuyết của Darwin về tiến hoá bằng phương thức chọn lọc
tự nhiên, và thấy rằng nó đánh một đòn chí mạng đến bất kỳ các trường
phái triết học Platon, Aristote và đức tin của Ki-tô giáo vào bản chất
của Mục đích luận (teleology).’
Nhưng dù Nietzsche thực sự có đọc Darwin hay không, hay có hoàn toàn
hiểu được thuyết Chọn lọc tự nhiên (Natural Selection) của Darwin hay
không, hoặc thậm chí ông không ‘thiên vị’ với riêng con người Darwin,
luận đề toàn diện của ông về những tác dụng rốt ráo rằng chủ thuyết
Darwin sẽ còn nêu ra: Darwin và chủ thuyết Darwin có lẽ là người góp
phần chính cho ‘sự thật’ vốn nằm dưới giá trị văn hoá của phương Tây vì
lý do như tôi đã vạch ra.
6.2. 1. Phản ứng của Nietzsche với Darwin
Nietzsche thừa nhận kết luận chung của lý thuyết Darwin, tổ tiên của con
người là loài khỉ không đuôi.
Thuở xưa, người ta tìm kiếm cảm giác oai
phong của con người bằng cách chỉ ra nguồn gốc thần thánh của mình: điều
nầy bây giờ đã trở thành một phương thức cấm kỵ, vì ngay cổng chính đã
đứng sừng sững một con khỉ, cùng với ‘những con thú kinh khủng, nhe răng
cười một cách hiểu biết như thể nói rằng: không có gì khác hơn nữa theo
hướng nầy!’ (D 49)
Điều nầy biểu tượng cho một trong những chân lý kia, có lẽ là chân lý,
mà hệ quả của nó là chủ nghĩa hư vô: đó là kỳ tích ‘giết Thượng đế’ và
do đó, cuối cùng phá huỷ nền văn hoá và tín ngưỡng của chúng ta. Và con
người, hay ít nhất là văn hoá riêng tư, nhìn thấy giá trị và toàn thể
thế giới quan (Weltanschauung) của anh ta dần dần phân huỷ
trước mắt mình, có lẽ anh ta sẽ thấy chính mình không còn có gì phức tạp
hơn nữa mà chỉ là một con khỉ bất hạnh. Nhưng có một hố sâu giữa hành vi
và nhận thức hệ quả cuả nó. Lúc ấy: ‘Do vậy con người bấy giờ thử một
chiều hướng đối nghịch: phương thức loài người sẽ phụng sự như là bằng
chứng của vẻ hùng tráng và họ hàng của mình với Thượng đế. Alas đối với
việc nầy cũng vậy, chỉ là vô ích.’
Theo đó, mọi phản ứng lạc quan đối với thuyết Darwin trong ý nghĩa tìm
kiếm sự bảo đảm tiến trình Chọn lọc tự nhiên (scala naturae),
theo Nietzsche, là một ảo tưởng lớn.
Thế trong tương lai, nếu có, chúng ta sẽ hướng vào cái gì để đưa ra
thuyết nầy? Loại giá trị nào mà nó sẽ tạo nên, nếu có? Và, quan trọng
hơn, loại sinh vật nào mà thuyết Darwin thiên vị, điều gì sẽ cho chúng
ta một chỉ điểm đến phương hướng mà nhân loại sẽ thực sự sẽ đi? Những
điều nầy là lĩnh vực mà Nietzsche xem là quan trọng và là lý do tại sao
tôi xem tuyên bố của Kaufmann rằng Darwin đã thức tỉnh minh ‘từ giáo
điều mê ngủ của ông ta’
là đúng đắn.
6.2.2. Tương lai.
Nhìn về tương lai nhân loại, Nietzsche không thể thấy được làm sao mà
nhân loại, như một chủng loại, bây giờ có thể phân biệt với các chủng
loại khác trong các loài không được dùng đến:
Những điều ngáng trở đã kéo theo đàng
sau nó: tại sao một ngoại lệ cho cảnh tượng vĩnh cữu nầy lại được tạo
dựng nhờ vào các vì sao nhỏ bé nhờ hoặc vào các chủng loại. Hãy vứt bỏ
tính đa cảm đó đi! (D 49)
Và, mặc dù Nietzsche không giải thích rõ ràng, đối với tôi dường như
thấy rằng, nếu chúng ta theo thuyết Darwin một cách nghiêm túc, thì hoàn
toàn có thể hiểu được là chúng ta sẽ được thay thế bởi một chủng loại mô
phỏng tốt hơn với điều chúng ta sẽ trở thành loài khỉ: ‘Con khỉ đối với
con người là gì?’ Trò cười hay là nỗi ngượng ngùng đau đớn? Và cũng như
vậy, con người đối với Siêu nhân (Übermensch ) là gì? Trò
cười hay là nỗi ngượng ngùng đau đớn?
Nhưng với thuyết Darwin, giống loài khả thể trong tương lai nầy, theo
Nietzsche, sẽ không là Siêu nhân (Übermensch ), mà hoàn
toàn ngược lại. Và có thể chủng loại trong tương lai nầy, nếu chúng kế
thừa vài đặc điểm của chúng ta, thì có thể quyết định chấm dứt chủng
loại của chúng ta ngay khi chúng ta đã làm xong cho các loài khác. Hoặc
là, trở lại, kế thừa từ chúng ta hương vị thịt ngon, họ sẽ chọn nguyên
cớ sành ăn để nuôi chúng ta như là cỏ khô dành cho bếp ăn của họ vậy;
hoặc sử dụng chúng ta như là chúng ta dùng những giống loài khác cho
những thí nghiệm khoa học như chúng ta sẽ được tiếp cận với chúng trong
Chọn lọc tự nhiên (scala naturae). Dĩ nhiên tất cả những điều nầy
đều chắc chắn không có thực: nếu có sự biến đổi nào mới và ‘thuận lợi’
hiện ra trong chủng loại chúng ta, đề ra bản chất chủng loại của chúng
ta, thì lẽ ra nó sẽ gặp phải những số phận khác nhau mà không có loại
nào trong đó sẽ có khả năng bảo đảm cho sự nhân giống những thuận lợi
của nó. Chủng loại chúng ta có thể sẽ rất bị ghen ghét! Cũng vậy, lưu
giữ lại trong chủng loại của chúng ta, còn có sự không bảo chứng cho
tương lai chúng ta. Ngày nay chúng ta chỉ biết quá tường tận về chiến
tranh hạt nhân toàn cầu và hậu quả ảnh hưởng của nó có thể định một giới
hạn cho chủng loại của chúng ta–nhưng không phải cho mọi chủng loại. Và,
trong thuật ngữ của Darwin, tất yếu chúng sẽ là ‘thích hợp nhất’ và,
trong bình diện ngôn ngữ mà đôi khi Darwin bị trượt vào, đó là chủng
loại ‘cao cấp’
Chúng ta sẽ trở nên chính chủng loại tuyệt giống có thể thành vấn đề nan
giải đối với một số nhà cổ sinh vật học (palaeontologist) tương lai. Lại
nữa, hoặc là, điều gì nếu chúng ta bị ‘xâm lăng’ bởi vài ‘con bọ không
gian–space-bugs’ của Fred Hoyle, đơn giản chỉ quét sạch tất cả chúng ta.
Như Flew đề cập trong tác phẩm Evolutionary Ethics của ông:
Một cá nhân,... hay các chủng loại có
thể rất hoàn hảo khá nhiều, có hình chất tráng lệ và thiên bẩm tinh thần
không cần có sự bảo đảm nầy mà chúng vẫn có những gì thực tế cần có để
sống còn: con người là những mẫu vật đáng thương, cả về thể xác lẫn tinh
thần, có thể–và tất cả cũng thường làm–giết những sinh vật thượng đẳng;
và thiên tài thường bị để dưới thấp bởi những hành vi của sinh vật đơn
bào không có chứng cừ gì cả.
Một vài ví dụ tôi đưa ra có thể không chắc hẳn, và tôi có hơi không công
bằng đối với Darwin, nhưng chúng là khả dĩ và minh hoạ rằng chúng không
có một nguyên nhân trước đó cho chúng ta để thừa nhận một bảo chứng nào
đi ngược về phía Chuỗi xích vĩ đại của sự sống–Great Chain of
Being đến một vài tình trạng hoàn thiện. Thực vậy, không có nguyên
do nào, thậm chí để thừa nhận sự tương tục của chúng ta như là một chủng
loại. Giống loài con người, như các loài khác, là ngẫu nhiên
(contingent). Đưa ra những sự kiện tình cờ trong tự nhiên, những gì đã
xảy ra đối với nhiều chủng loại khác có thể đã xảy ra với chúng ta. Vì
chúng ta chỉ biết tường tận ngày hôm nay, môi trường của chúng ta, điều
mà chúng ta phải thích nghi (hoặc chọn lọc), chính là do bổn phận
lưu giữ cái thuận lợi cho chúng ta. Chúng ta không phải thoả mãn trong
khoa học giả tưởng để thấy tình trạng mọt ruỗng của chủ nghĩa lạc quan
được diễn tả qua Darwin trong đoạn văn áp chót tác phẩm Origin...
của ông
6.2.3. Những giá trị
Tấn công mạnh nhất của Nietzsche vào Darwin và chủ thuyết Darwin, tuy
vậy, là một dạng học thuyết giá trị (axiological): kế thừa trong học
thuyết Darwin là vấn đề ý niệm tồn tại, do vậy cái gì tồn tại là trên
hết. Nhưng loại giá trị gì có thể rút ra từ thực tế nầy? Tất cả những gì
có thể được rút ra từ điều này là những biến đổi đem đến đủ ăn mà không
cần phải gian khổ và phải sinh sản nhiều nhất, điều ấy sẽ có khuynh
hướng tồn tại. Những gì không được như vậy cuối cùng sẽ mất đi.
Nhưng trong khi điều nầy có thể giải thích cho sự tiến hoá của con hàu
(barnacles) và hươu cao cổ (giraffes) và cho sự xuất hiện của con người
nguyên thuỷ, thì khó đưa ra cho chúng ta những giá trị định hướng hay
thậm chí hy vọng về sự tương tục mà Nietzsche sẽ xem như là giá trị chân
thực đời sống con người. Tất cả điều ấy có thể chỉ ra mối quan tâm bản
chất ‘loài vật’ của chúng ta. Thậm chí những giá trị và việc mong cầu
các quốc gia hiện đại ‘phát triển’ với những đồ án công nghệ tinh vi để
cho chúng ta sự bảo đảm và hạnh phúc, là chẳng gì khác hơn sự tinh luyện
bản tính loài vật của chúng ta. Như Nietzsche nhận định:
Nhưng chúng ta hãy chiêm nghiệm: loài
vật chấm dứt ở đâu, nơi đâu mà loài người bắt đầu?... Hễ khi nào có
người ham muốn cuộc đời như nó ham muốn hạnh phúc thì nó chưa thoát khỏi
tầm nhìn của loài vật, vì nó chỉ mong muốn một cách ý thức hơn những gì
loài vật tìm kiếm bằng sự bốc đồng mù quáng. Nhưng đó là những gì chúng
ta đều làm cho phần lớn cuộc đời chúng ta: thường thường chúng ta thất
bại để thoát ra khỏi thú tính. (SE 5)
Thuyết của Darwin, tước bỏ chủ nghĩa lạc quan không căn cứ của nó, sẽ
góp phần rất ít giúp chúng ta thoát ra khỏi thú tính, mà trong thực tế,
khi hệ quả của nó được nhận biết ra, sẽ giúp tháo gỡ vài bước mà con
người đã chọn trong định hướng của nhân loại, như Nietzsche đã thấy. Con
người, theo Nietzsche, không may, đó là một bước được lập trên nền tảng
sai lầm:
Không có những sai lầm dựa trên những
giả định về lúân lý, con người sẽ vẫn phải làm thú vật. Vì vậy, nó phải
tự cho mình là cái gì đó cao hơn và áp đặt các luật tắc lạnh lùng lên
trên chính nó. (HAH 40)
Thông qua sự áp đặt các luật tắc lạnh lùng lên trên chính nó, trong tiến
trình, con người đã trở thành súc vật hơn. (Tuy nhiên, vì súc vật không
áp đặt các luật tắc lạnh lùng lên trên chính nó, con người phải có vài ý
nghĩa khác biệt với súc vật để áp đặt các luật tắc lạnh lùng lên trên
chính mình!) Nó đã thành tựu một tầm mức văn minh và cách biệt mình với
bellum omnium contra omnes (cuộc đấu tranh của toàn thể chống lại tất
cả) –ít nhất là ở vài nơi trong những thời kỳ khác nhau. Tuy nhiên,
vì điều nầy được thành tựu thông qua ‘sai lầm,’ mà ở đây là đức tin vào
nguồn gốc thần thánh của con người tự nhiên, và học thuyết của Darwin
chỉ cho thấy điều nầy là một ‘sai lầm,’ nên nếu chúng ta chỉ gỡ bỏ sai
lầm nầy mà không cần có một phương tiện là tạo ra một đạo đức không sai
lầm mới và quan niệm về con người như là ‘nhân tính’ để thay thế, ‘chúng
ta cũng [sẽ] gỡ bỏ [cái gì là] nhân tính, lòng nhân từ, và ‘phẩm giá con
người ’ mà chúng ta đã đạt được.’
Do vậy có thể sẽ đi đến sự vượt qua ‘con người xuất hiện từ loài khỉ và
sẽ trở lại làm khỉ.’
Nhưng: ‘chính xác bởi vì chúng ta có thể hình dung toàn cảnh mà có lẽ
chúng ta ở trong một vị trí ngăn ngừa chúng khỏi xảy ra.’
Điều này, tôi nghĩ rằng, chính là điểm then chốt trong vấn đề ‘chống lại
thuyết Darwin’ của Nietzsche: như thể rằng chính Nietzsche là người duy
nhất có thể ‘hình dung ra toàn cảnh nầy’ và do vậy ‘ngăn ngừa nó không
xảy ra’ bằng cách tạo ra một hệ thống giá trị mới. Và ông thấy được rằng
sự thừa nhận thuyết Darwin chỉ có thể tháo gỡ nhân tính, lòng nhân từ,
và phẩm giá con người nhỏ nhoi mà chúng ta đã đạt được, tháo gỡ khoảng
cách nhỏ nhoi mà chúng ta đã đạt được từ thú tính của chúng ta. Có thể
cung ứng mối liên quan đến sự sinh tồn và truyền giống của một nhóm
người, dù là bộ lạc hay quốc gia, vượt lên hay chống lại các nhóm khác.
Và điều nầy, đối với Nietzsche, là tương đương với chủ nghĩa hư vô: chỉ
giá trị của chúng ta sẽ diễn cảm về ‘thú tính’ của chúng ta, chứ không
phải là ‘thú tính’ của chúng ta. Sự định nghĩa đặc tính ‘thú tính’ của
chúng ta, đối với Nietzsche, không phải là cái ‘ý chí sinh tồn’ hay liên
quan với sự truyền giống sinh vật học và sự sinh tồn của giống loại con
người. Thậm chí sự theo đuổi hạnh phúc như là thuốc chữa bách bệnh tuyệt
diệu là điều không thể chấp nhận đối với Nietzsche.
‘Tiến hoá không phải là có hạnh phúc trong quan niệm, mà tiến hoá và
chẳng có gì khác.’
Trong quan niệm của Nietzsche, vì cuộc đời là ‘cái mà phải tự vượt
qua chính nó lần nầy qua lần khác,’
nếu sự tiến hoá của loài người là để tiếp tục, thì mỗi cá nhân sẽ phải
hoàn thiện thông qua một tiến trình gọi là ‘tự hàng phục chính mình.’
Mục tiêu nầy phải thay thế cho tất cả thứ khác. Nietzsche không muốn
‘thuyết Darwin như là một triết lý’ khi đúng hơn là khuyến khích ý tưởng
một sự tiến hoá hướng về sự hoàn thiện, nó sẽ trung hoà một ý tưởng như
vậy.
6.2.4. Dạng hiện hữu nào?
Nietzsche, ‘có thể hình dung ra toàn cảnh nầy,’ quay về hướng lịch sử và
văn hóa con người để tìm một giải pháp cho vấn đề ấy, để ‘ngăn ngừa
chúng khỏi xảy ra.’
‘Mục tiêu của mọi nền văn hóa,’ như Nietzsche muốn có nó, là ‘sự sản
sinh ra các thiên tài,’
và những gì họ thấy như là thiên tài ‘là những người chân chính,
những người không còn là thú vật nữa, những triết gia, những nghệ sĩ
và những bậc thánh; mà bản chất, vốn không bao giờ tạo nên một cú nhảy,
tạo cú nhảy của nó khi tạo ra chúng.’
Do vậy, chính nó là ‘ý tưởng nền tảng của văn hóa... để xúc tiến sự
sản sinh [những cái nầy]...và qua đó, tạo nên sự hoàn thiện bản
chất.’
Bản chất, như Nietzsche đã thấy được, cho chúng ta một gợi ý nơi đâu là
mục tiêu của nhân tính: trong cú nhảy hiếm hoi, hay như ông ta gọi ở nơi
nào đó, là ‘cú đòn may mắn,’
trong sự thách thức natura non facit saltum của Darwin. Ý tưởng
của ông về văn hoá là di chuyển từ bản chất sang nuôi dưỡng (nurture),
từ cú đòn may mắn (lucky hit) và ‘xung lực tối tăm–obscure impulse’ sang
‘ý chí tỉnh táo– conscious willing.’
Người nào tin vào văn hóa, theo đó
thường nói rằng: ‘Tôi thấy trên tôi những điều gì đó cao hơn và có tính
người hơn tôi; hãy để cho mọi người giúp tôi đạt được điều ấy, vì tôi sẽ
giúp mọi người vốn biết và đau khổ như tôi đã từng có: để cuối cùng, con
người có thể sẽ xuất hiện cảm thấy chính mình hoàn thiện, bao la kiến
thức và tình yêu, tri giác và quyền năng, và người trong sự hoàn thiện
của nó chính là một với bản chất, người am hiểu và định giá mọi vật.’(SE
6)
Nietzsche thừa nhận rằng đây không phải là ý niệm của mọi người về văn
hóa là gì, và nhận xét: ‘mục tiêu nầy cực kỳ mỏng manh và hiếm hoi
tri thức biết bao,’
và ‘tác dụng đần độn và yếu đuối [bản chất] làm sao so với cái đạt được
với những triết gia nghệ sĩ! Hiếm hoi làm sao khi nó đạt được mọi tác
dụng!’
Nói cách khác, ‘xung lực tối tăm–obscure impulse’ thậm chí có trong các
triết gia và nghệ sĩ, vẫn là quá mờ tối và tiềm năng đó, không bao giờ
được mô tả đầy đủ. Tuy nhiên, cái bản chất cú đòn may mắn (lucky hit) hễ
khi được ném ra trên vũ đài của lịch sử con người, thì một ngày kia
Nó vẫn sống đồng thời với cái khác; nhờ
vào lịch sử, cho phép sự cộng tác như vậy, chúng sống như trong nước
cộng hoà của thiên tài mà Schopenhauer đã có nói một lần; một người
khổng lồ gọi người khác băng qua khoảng cách sa mạc thời gian và, không
bị quấy rối bởi các chú lùn nói lời kích động huyên thiên đang trườn
dưới chân họ, cuộc đối thoại tâm linh cao thượng tiếp diễn. (UH 9)
Sự truyền thông băng qua khoảng cách sa mạc thời gian là có thể thực
hiện được thông qua trung gian của văn hoá. Đó là điều có người tìm kiếm
‘nhà sư phạm chân chính và bậc thầy chỉ dạy [để] phát hiện cho bạn thấy
chất liệu căn bản của sự hiện hữu của bạn là gì,’
mang đến cho ý thức những gì là xung lực tối tăm (obscure impulse). Tuy
nhiên, ‘người giải thoát’ như vậy chỉ có thể cho biết và cung cấp tia
sáng ban sơ cho sự kích thích: ‘Không ai có thể làm cho bạn chiếc cầu
bắt qua... bạn phải vượt qua dòng chảy cuộc đời, không ai ngoài chính
bạn... nhà sư phạm của bạn chỉ có thể là người giải thoát cho bạn.’
Do vậy, ‘Văn hoá là giải thoát.’
Cái mà con người được giải thoát ra khỏi đó là thú tính của mình và
những ý tưởng hào nhoáng mới nhất như ‘tiến trình thế
giới–world-process’ của Hegel và những ý niệm ‘thiển cận’: ‘Đó chính
là sự thiển cận trói buộc chính mình vào những quan niệm vốn không còn
trói buộc được ngay cả một cặp vợ chồng trong vòng 100 dặm. Những nước
phương Đông và phương Tây là dây bật phấn (chalk-lines) lôi cuốn trước
chúng ta để lừa phỉnh tính nhút nhát của chúng ta.’
Nói cách khác, hoàn toàn chắc chắn rằng Plato hay Đức Phật là một với
những nhà sư phạm nầy, trong khi đó một vài thượng thủ tư tưởng đương
thời cho rằng không thể. Văn hoá, như Nietzsche đã thấy, mọi bàn luận về
‘mục tiêu của con người không thể nằm trong cứu cánh mà nằm trong
những tiêu bản cao nhất của nó.’
Và mục tiêu của nhân loại sẽ không thể được tìm thấy bên ngaòi đời sống
hay là nơi thế giới khác, mà chỉ tìm thấy ngay trong chính đời sống.
Trong chừng mực những gì tôi đã nói, dĩ nhiên, chủ yếu là trước thời
Nietzsche–Nietzsche vẫn chịu ảnh hưởng của Khoa học Tự nhiên Đức
(German Naturphilosophie) và Schopenhauer, và nhuốm tinh thần cổ Hy
lạp. Tuy nhiên, ông không dao động từ ý niệm của mình về mục tiêu của
văn hoá sẽ là: ‘Con người là sự chệch hướng của tự nhiên để vươn đến 6
hay 7 người vĩ đại.’
Và, mặc dù bộ ba nghệ sĩ, triết gia, và thánh nhân không xuất hiện trong
những tác phẩm sau nầy của ông (hai tác phẩm gần đây hầu như được cho là
chống lại cuộc đời), nó chỉ được thay thế bằng ý tưởng xa xăm, siêu
nhân–Übermensch, một phép ngoaị suy từ tiêu bản cao nhất của
cuộc đời–một diễn đạt hoàn chỉnh và đầy đủ hơn của cái mà nó biểu tượng,
cái mà sau nầy Nietzsche diễn tả bằng ý nghĩa quyền lực.
Nhưng dạng hiện hữu mà Nietzsche thấy có thiện ý trong thuyết Darwin,
nếu nó ứng dụng vào trong chủng loại con người, thì rất đối nghịch với ý
tưởng nầy:
Giả sử... rằng tranh đấu nầy [cho sự tồn
tại] có thật–và nó thực sự đã xảy ra–hậu quả của nó chính là nghịch đảo
của mong muốn từ trường phái Darwin... mệnh danh là, sự thất trận của kẻ
mạnh hơn, giới có đặc quyền hơn, loại trừ vận may. Các chủng loại không
phát triển hoàn thiện hơn: kẻ yếu hơn trội vượt trên kẻ mạnh lần nầy qua
lần khác–nguyên do chính chúng là đại đa số. (TI ix. 14)
Nietzsche thấy rằng thuyết Darwin, ít nhất khi áp dụng vào chủng loại
con người, như là một nghịch đảo của những gì ông thấy như là ý niệm về
nhân tính, của những gì cấu thành sự hoàn thiện hơn và làm tiến triển tư
tưởng con người. Giả thuyết nằm dưới sự đảo nghịch nầy là ý niệm của ông
là ‘bản năng căn bản của đời sống... [là] sự trải rộng quyền lực
...[ điều mà] thường xuyên mạo hiểm và thậm chí hi sinh bản năng tự
tồn.’
Sống tích cực và hoàn toàn năng động, đòi hỏi con người phải ‘buông bỏ
liên tục điều gì đó muốn được chết.’
Thế nên mọi hạn chế và chống trái với những thay đổi xa hơn tất yếu bởi
sự thôi thúc của cuộc sống phát triển và mở rộng–là quan niệm của
Nietzsche–sẽ bất lợi cho chính đời sống. Nhưng nền tảng tiêu biểu cho
chủng loài của họ. Theo đó, Nietzsche kết luận rằng: ‘ước muốn bảo tồn
chính mình chính là triệu chứng của điều kiện khốn cùng’
và những gì bị thúc đẩy là, theo giả thuyết của ông, là ‘yếu ớt,’ chứ
không phải ‘mạnh mẽ.’ ‘Mạnh mẽ’ của Nietzsche, cú đòn may mắn (lucky
hit), bậc thánh, v.v... – là luôn luôn đơn độc, hiếm hoi và tiêu biểu
cho một diễn đạt đầy đủ hơn về ý niệm cuộc đời của ông hơn là những
người chung quanh ông. Họ là những cá thể tối cao (sovereign
individual)... giải thoát... từ luân lý và thói quen [có nghĩa là
tập tục bè nhóm], những người ‘tự trị’ và ‘độc lập,’
và những người ‘khao khát thành trì bí mật nơi [họ] ... được tự do đối
với đám đông, với số nhiều, với đại đa số.’
Đối với họ, chính cuộc đời là nghệ thuật: họ vừa là nghệ sĩ vừa là người
làm nghệ thuật, Goethe
là ví dụ cụ thể của Nietzsche về mẫu người này. Nhưng ...
Càng đồng dạng, những người bình dân
càng có và càng được những thuận lợi, càng chọn lọc, vi tế, hiếm hoi và
khó hiểu là có trách nhiệm giữ riêng một mình, kháng cự lại sự ngẫu
nhiên trong sự cô lập của họ và ít khi được tự sinh sôi nẩy nở. (BOB 68)
‘Chủng loại cao’ hay ‘cú đập nay mắn của tiến hoá’ do vậy, gần giống như
‘diệt vong dễ dàng nhất.’ Điều mà họ không thể được kế thừa về mặt sinh
học: ‘câu thần chú ngắn gọn của cái đẹp, của thiên tài, của Caesar, là
sui generis–tự sinh: những dạng ấy không được kế thừa. Chủng
loại là di truyền.’
Thiên tài là ‘sự phức tạp to lớn hơn có một không hai–một số lượng lớn
của các yếu tố kết hợp với nhau: thế nên sự phân hủy của nó là càng có
khả năng không có gì sánh bằng. ‘Thiên tài là cỗ máy vi tế nhất –do đó,
dễ vỡ nhất.’ Do vậy, ‘sự diễn đạt chủng loại cao hơn có nghĩa chẳng gì
khác hơn điều nầy–càng dễ hư hoại hơn.
‘Chủng loại thấp hơn’ là, có khả năng tồn tại hơn và là đại đa số, dù
không luôn luôn: Goethe và những mẫu mực khác vẫn tồn tại; nhưng thành
quả công việc của họ không truyền qua con cái của họ được, mà qua trung
gian văn hoá. Và thành quả như vậy vốn tạo nên sự tiến triển nhân loại.
Do vậy Nietzsche thấy thuyết Darwin như là một đe doạ thực sự cho sự
phát triển nhân loại vì nó không thiên vị chủng loại cao hơn, mà thiên
về chủng loại tầm thường số đông. Thuyết Darwin nhấn mạnh ‘sự thích
nghi,’ điều mà Nietzsche hàm ý làm cho thích hợp với tập tục được thừa
nhận. Trong thuật ngữ của ông, do vậy có triệu chứng, vốn cần ‘sức
mạnh.’
Theo Darwin, đó là môi trường ‘sáng tạo’ mà nó ‘lựa chọn.’ Như vậy điều
kiện khách quan là quyết định chính yếu, chứ không phải cá nhân. Khi,
bối cảnh của con người nơi điều kiện khách quan là xã hội, cá nhân sẽ là
sản phẩm của xã hội ấy, nó sẽ trở nên thành viên của ‘bầy đàn.’ Nhưng
trong khi Nietzsche thấy sự quan trọng của một xã hội bền vững như là
điều kiện tiên quyết cho sự phóng xuất cá thể tối cao (sovereign
individual), nếu chính mục tiêu của xã hội ấy đơn giản là duy trì
chính nó như nó đang là và thậm chí xem mọi cá thể tối cao như là
mối đe dọa cho mục đích riêng của nó–thậm chí là ‘cái ác’–thì cuộc sống,
tự nó, là chịu sự đe doạ từ một dạng mất hiệu lực hơn của đời sống, ngay
cả dạng suy tàn của cuộc đời.
Điều Nietzsche muốn tránh chính là sự thay thế cho giá trị cũ rích của
siêu hình học và tôn giáo vốn nắm giữ nền văn hoá của chúng ta lại với
nhau và thể hiện ‘nhân tính’ của chúng ta, ‘sự phát triển tiến hoá’ của
chúng ta, bằng ý thức hệ khoa học như lý thuyết Darwin: Nietzsche không
muốn ‘thuyết Darwin như là triết học.’
Thuyết Darwin có thể chỉ ra sự thật sinh vật học về tiến hoá loài người
từ loài khỉ, nhưng nếu chúng trở thành một thay thế cho triết học của
loài người thì nó sẽ chỉ ‘phá huỷ những giá trị hiện hữu,’
Nó không thể tạo ra những giá trị hướng dẫn mang tính văn hóa. Phần lớn,
như phần còn lại của khoa học, nó chỉ có thể giúp giải thể đức tin từ
quá khứ của chúng ta bằng cách ‘phân hủy mọi nguỵ tín kiên cố.’
Trong cách nầy, ‘chân trời tươi sáng,’ để tuỳ phương thức cho những ai
có thể tạo nên những giá trị văn hoá mới là:
Từ bây giờ đều chuẩn bị cách thức cho
vấn đề tương lai của các triết gia: vấn đề nầy được hiểu như là giải
pháp cho vấn đề giá trị, sự quyết định trật tự thứ bậc trong các giá
trị. (GM 1. 17)
Thế nên ‘tri thức tầm thường’
như của Darwin đều là có ích cho một khỏang thời gian: họ chuẩn bị
phương pháp bằng cách xói mòn giá trị xưa cũ bắt rễ từ trong ‘ước lệ sai
lầm’ của hệ thống hai-thế giới. Nhưng tri thức tầm thường thích
hợp vừa vặn với công trình khoa học chỉ có thể tạo ra, trong ý nghĩa văn
hoá nhân loại là xoàng xĩnh. Thuyết Darwin là một triết học thay thế của
ý chí con người, do vậy, được ưa thích bởi loại người bầy đàn, người tầm
thường tự phong kín mình trong chân trời nhỏ hẹp như của bầy thú, sinh
tồn và truyền giống về mặt sinh học, có khả năng nhiều hơn với viễn cảnh
và tăng gấp bội: ‘Riêng sự tầm thường đã có viễn tượng về sự liên tục và
nhân giống cho chính nó–chúng là con người trong tương lai, là kẻ sống
sót duy nhất.’
Họ là ‘những người vừa vặn nhất’ của Darwin và, nếu trường phái Darwin
nào, loại ‘tiến hoá’ nhất trình bày nhân tính ngay lúc bây giờ thì
trường phái ấy tiến bộ nhất và giá trị nhất của nó. Như vậy, đối với
Nietzsche, đó là ‘sự ngây thơ của nhà sinh lý học người Anh–naǐveté
of English biologists.’
Trong xã hội thời của ông, điều nầy đã lên đến cực điểm trong bóng mờ
khả hữu của ‘phong trào dân chủ [vốn] kế thừa Ki-tô giáo,’ nơi mà
cộng đồng hoặc bầy đàn bây giờ là ‘đấng cứu thế–saviour,’
và cái nuôi dưỡng ‘bầy đàn súc vật hoàn toàn... súc vật thấp kém
về quyền bình đẳng và chủ trương bình đẳng.’
Thuyết Darwin, như là một triết học, có thể dẫn đến ‘sự thoái hoá chung
của loài người.’
6.3. TÌM KIẾM MỘT NỀN TẢNG KHOA HỌC CHO Ý CHÍ HÙNG TRÁNG
Sự đáp lại của Nietzsche cho Darwin là một phần của thái độ toàn diện
đối với vấn đề phát triển và ảnh hưởng triết học nổi lên trong nền khoa
học thế kỷ thứ XIX. Từ mô hình của trường phái Newton
về vũ trụ như là một ‘cỗ máy phức tạp’
‘chứng tỏ lực toàn năng của Đấng sáng tạo,’
bây giờ chúng ta hội ngộ với cách giải thích của trường phái Laplace,
vốn duy trì cỗ máy phức tạp mà không có lực toàn năng của Đấng sáng tạo.
Lời vặn lại nổi tiếng bấy giờ của Laplace trả miếng lại cho câu hỏi của
Napoleon: ‘Ông Laplace, họ nói với tôi rằng ông viết cuốn sách vĩ đại
nầy về hệ thống vũ trụ, và không hề đề cập đến Đấng sáng tạo ra nó,’ thì
‘Tôi chẳng cần gì đến giả thuyết ấy.’
Đối với Laplace, ‘Tự nhiên là... một hệ thống máy móc hoàn hảo của luật
nhân quả không lay chuyển, được vận hành bởi những luật tắc đúng đắn và
tuyệt đối, đến mức các sự kiện trong tương lai đều dứt khoát không thay
đổi được.’
Đơn vị cơ bản của cỗ máy nầy là các nguyên tử mà, trong khi khác nhau về
hình dáng, là những vật chất không thể dò thấu được và bất khả phân có
sự co giãn, dày đặc, và khi bị tác động bởi những lực bên ngoài, thì dễ
biến đổi. Tuy nhiên, trong chính nó, thì nó là một khối nhỏ trì trệ,
không có sự sống. Dù những lực bên ngoài nầy không hoàn toàn được biết
rõ, Laplace giả định rằng đến lúc nó sẽ hình thành. Đến lúc đó nó sẽ có
khả năng về nguyên tắc cơ bản, nếu không ở trong thực tế, vì có người có
được toàn bộ tin tức liên quan, và người có được ‘thông minh siêu phàm,’
để tính toán sự chính xác tiến trình tương lai của vũ trụ và, qua ngụ ý,
tương lai nhân loại.
Sau Laplace, chúng ta có bước nhảy từ lĩnh vực khoa học cơ giới sang
quan điểm triết học được biết như là ‘thuyết cơ giới–mechanism’ hoặc là
‘cơ giới duy vật luận–mechanistic materialism.’
Thuyết Darwin vừa vặn với quan điểm nầy, sự tiến hoá đó cũng chính là
thuộc về thuyết cơ giới: nó không có khuynh hướng hay mục đích ‘bên
trong;’ liên kết giữa sinh vật và môi trường là mang tính cơ giới; và sự
tiến hoá và sinh tồn cúa sinh thể chủ yếu là được xác định bởi các động
lực bên ngoài. Theo đó:
Sự kết hợp của cơ giới duy vật
luận–mechanistic materialism.’ Và thuyết tiến hoá Darwin dường như trình
bày cho chúng ta bức tranh thế giới là bao gồm động lực mạnh mẽ biểu thị
vô mục đích. Con người d, hiểu như là một phức hợp thuộc cơ cấu lý hoá
(physiochemical) là đối tượng của vô số lực tự nhiên và một tiến trình
tiến hoá đi qua mà nó không có sự kiểm soát nào.
Nói ngắn gọn, điều mà chúng ta có ở đây là quan niệm của người theo giản
hoá luận (reductionist)
về sự hiện hữu, trong đó mọi tiến trình cuộc sống đều bị giản hoá đến
mức chỉ còn sự vận động của nguyên tử, được xác định bởi luật vũ trụ.
Nietzsche thấy quan niệm cơ giới luận như vậy như là chủ nghĩa hư vô vì
nó tước đi sự tồn tại của mọi giá trị và ý nghĩa khả hữu:
Cách giải thích ‘mang tính khoa học’ về
thế giới... có lẽ... là một trong những điều ngu đần nhất của tất cả
những cách giải thích khả dĩ trên thế giới, có nghĩa là nó sẽ là một
trong những điều mang ý nghĩa nghèo nàn nhất. Suy nghĩ nầy dành cho lỗ
tai và ý thức của các nhà cơ giới luận của chúng ta ngày nay vốn thích
vượt qua như là các triết gia và khăng khăng cho rằng cơ giới luận là
học thuyết của luật tắc đầu tiên và cuối cùng, trên đó mọi hiện hữu phải
được đặt nền tảng như là tầng nền. Nhưng một vũ trụ cơ giới, về bản
chất, sẽ là một thế giới cơ bản là vô nghĩa. Giả định rằng chúng ta đánh
giá giá trị một tác phẩm âm nhạc theo nó được tính đếm bao nhiêu, và nó
được diễn đạt theo định thức nào: thì vô lý biết bao với lối định giá âm
nhạc ‘mang tính khoa học’ như vậy! Điều gì lẽ ra con người lĩnh hội
được, hiểu được, nắm bắt được? Không có gì cả, thực sự chẳng có gì là
‘âm nhạc’ trong đó cả! (OS 373)
Như một phân tích âm nhạc, một symphony của Mozart không thể đánh
giá tác phẩm âm nhạc ấy là một công trình nghệ thuật hay xác định điều
gì mà con người hiện hữu Mozart đã nỗ lực diễn tả trong một symphony,
chủ nghĩa cơ giới, như là một triết lý của đời sống, là hoàn toàn vô ích
trong bất kỳ mọi đánh giá về đời sống, trong mọi nỗ lực để hiểu điều gì
mà con người đang hiện hữu, hoặc là mục tiêu gì của con người là đáng
giá được theo đuổi. Nietzsche sợ rằng trong thời của ông ta, triết học
cơ giới nầy, một dạng chủ nghĩa hư vô khoa học, sẽ phát huy phương pháp
của nó thành thế giới quan chiến thắng. Tuy nhiên, khi ông đọc ‘kho
báu–treasurehouse’ của Lange,
Nietzsche ‘nhận ra một ý nghĩa qua đó, xói mòn giáo điều duy vật luận và
cơ giới luận:’ một học thuyết năng động của tự nhiên.
Để xói mòn duy vật cơ giới luận và đưa ra quan điểm luận chiến của ông
về bản chất con người xuất phát từ Hesiod và Hy lạp được hỗ trợ từ sự
thăng bằng của khoa học, Nietzsche đã chiếm dụng lý thuyết năng động của
Boscovitch về tự nhiên.
Vì đối với thuyết nguyên tử duy vật luận
(materialistic atomism), đó là một trong những điều bị phủ nhận nhất; và
có lẽ không có học giả Châu Âu nào vẫn mãi không có tính học thuật đến
hôm nay chấp nhận nó với ý nghĩa nghiêm chỉnh... nhờ vào trên tất cả đối
với là Boscovitch người Ba lan mà, cùng với người Ba lan Copernicus,
là đối thủ chiến thắng vĩ đại nhất của những chứng cứ nhìn thấy được cho
đến nay. Vì khi Copernicus thuyết phục chúng ta tin, ngược với mọi cảm
giác, rằng trái đất không đứng yên nhất định, Boscovitch dạy chúng ta
tuyên bố bỏ niềm tin vào vật thể cuối cùng trên trái đất ‘đứng yên nhất
định,’ tin vào ‘thực thể,’ vào ‘vật chất,’ trong phần còn lại của trái
đất và hạt nguyên tử. (BGE 12)
Trong lý thuyết của Boscovitch về vật chất,
khối nguyên tử của vật chất trì trệ được thay thế bởi Kraftcentren:
bất khả phân, không có kích thước, một điểm như là ‘lực trung
tâm–force-centres’. Chất liệu cấu thành cái gọi là ‘chất rắn,’ thực
tế là, mô tả chính xác hơn như là một ‘chòm sao năng lượng–constellation
of forces,’ và cái mà chúng ta quan niệm như là ‘không thể dò thấu
được,’ và ‘trạng thái vững chắc’ chẳng gì khác hơn là sự giải thích về
cái được mô tả tốt nhất như là ‘lực đẩy.’
Nhưng, theo Nietzsche, để làm nên cuộc sống ‘chỉ có thể nhận thức được
bằng trí óc,’ điều mà, như chúng ta thấy, được nhận thức trong sự tương
đồng từ thế giới nội tại ham muốn và đam mê của chúng ta, lý thuyết động
của tự nhiên ‘vẫn cần được hoàn chỉnh: một ý chí bên trong phải được gán
cho nó, điều mà tôi mô tả là ‘ý chí hùng tráng,’ nghĩa là, như một tham
vọng không thể thoả mãn để thể hiện quyền lực; hoặc như là việc làm hoặc
áp dụng của quyền lực, như là một động lực sáng tạo.’
Khoa học chỉ có thể luôn luôn là ‘phương tiện,’ nó chỉ có thể ‘phụng
sự;’ nó sẽ không bao giờ ‘giải thích’ mà chỉ ‘mô tả.’
Đó là đến khi giới triết gia-nghệ sĩ (philosopher-artist) sáng tạo sẽ
dùng nó, đưa ra giá trị và ý nghĩa cho cái mà khoa học mô tả.
Đó là những gì Nietzsche đang nỗ lực ở đây: bằng cách thêm vào một nỗ
lực (nisus) ban sơ, một ‘động cơ sáng tạo cho quyền lực,’ vào
Kraftcentren của Boscovitch, ông đang đề xuất một giả thuyết rút ra
từ nghiên cứu của mình về Khoa học tự nhiên để có thể giúp giải thích
thế giới tự nhiên, giải thích sự tiến hóa, và, cùng với quan điểm của
ông về bản chất con người xuất phát từ quan niệm cổ Hy lạp, giải thích
lịch sử con người và bản chất con người, cũng như lập nên nền tảng
thuyết giá trị (axiological) để thu hút con người thông qua dòng chủ
nghĩa hư vô sắp đến trong lịch sử con người. Chủng loại cao hơn của ông,
cái mà ông thấy là những thiên tài và các nhà sáng tạo phải như là một
hệ quả của sự nhượng lại của hệ thống hai-thế giới, sẽ trở lại với tự
nhiên, được giải thích như là sản phẩm của thế giới tự nhiên; sự thôi
thúc sáng tạo bây giờ phải có một nguồn gốc tự nhiên, và, trong trạng
thái cơ bản và nguyên thủy nhất, thôi thúc ấy được hoán vị thành đơn vị
cơ bản mang tính lý thuyết nằm dưới mọi lực tự nhiên: đó là
Kraftcentren, mà, với sự bổ sung nỗ lực–nisus của
Nietzsche, trở thành mũi nhọn ý chí (Willens-Punktationen
hay ‘will-points).
Do vậy, chỉ qua những gì Nietzsche đã chiếm dụng của Boscovitch và của
những người khác mà bây giờ chúng ta mới có thể hiểu ra những kinh
nghiệm trước đây Nietzsche đã đề cập trong tác phẩm Beyond Good and
Evil: về nền tảng của phép loại suy về con người, chúng ta có thể
làm cụ thể hoá vật chất thế giới ‘như là có cùng mức độ thực tại như
chính cảm xúc của chúng ta–là hình thái uyên nguyên hơn về thế giới của
cảm xúc trong đó mọi vật vẫn phong kín trong tính đồng nhất mạnh mẽ và
rồi đâm chồi và phát triển trong tiến trình hữu cơ.’ Những ảnh hưởng của
chúng ta, sự loại suy ưu tú của Nietzsche, được nhìn như là sự chín muồi
mới nhất trong động lực tương lục có căn gốc là những lực được nghiên
cứu bởi vật lý học. Theo đó, không có vật chất cũng chẳng có thế giới
vật chất mà chỉ có những hình thái khác nhau của lực, một vài phép loại
suy nữa với ý chí tranh đấu với ý chí trong đó, ‘mọi lực có tác dụng’ sẽ
được định nghĩa là ‘ý chí hùng tráng.’ Và thế giới ‘được nhìn từ
bên trong, thế giới được mô tả và định nghĩa theo ‘đặc tính chỉ có thể
nhận biết bằng trí óc’ sẽ là ‘ý chí hùng tráng’ chứ không gì
khác.’
Trong các tác phẩm đã ấn hành của ông, nền móng khoa học nầy từ thuyết
nhất nguyên về ý chí quyền lực của ông chỉ luôn luôn gợi ý như, chẳng
hạn, một đề cập của ông đến Boscovitch và trích dẫn từ tác phẩm
Beyond Good and Evil ở trên.
Phần lớn suy nghĩ của ông trong lĩnh vực nầy được tìm thấy rải rác suốt
trong những ghi chú chưa xuất bản của ông, tiết lộ cho thấy rằng thỉnh
thoảng ông có dính líu đến và phản ánh một cách nghiêm túc về thuyết
mang tính khoa học của Boscovitch và các tác giả khác mà ông đọc được.
Nhưng không có một triết học hoàn toàn giải thích được về tự nhiên.
Điều bị bỏ lại cùng chúng ta là phác thảo tổng quát về nguyên lý Ý chí
hùng tráng bao quanh toàn bộ hiện hữu như là một nguyên lý giả thuyết có
tính cách thanh minh. Nó đề xuất giúp cho con người tái giải thích và
hiểu không chỉ về thế giới tự nhiên và lịch sử con người và sự cấu thành
mà còn, quan trọng hơn, cái ngã của chính ông mà không đề cập đến một
lĩnh vực hay thế giới nào khác hơn chính là thế giới tự nhiên. Và, liên
quan đến mô hình thăng hoa xuất phát từ Hy lạp, ý niệm về Ý chí hùng
tráng nầy có thể giúp con người rập khuôn những giá trị mới bắt rễ từ
trong hệ thống hai-thế giới.
Tuy nhiên, đó là đối với ý niệm về con người như là một biểu hiện của Ý
chí hùng tráng mà chúng ta bây giờ phải quay về.
6.4. CON NGƯỜI NHƯ LÀ Ý CHÍ HÙNG TRÁNG
Những gì xuất hiện từ sự phân kỳ của Nietzsche sang thế giới của vật lý
học và sinh vật học, từ nỗ lực của ông để ‘tự nhiên hóa’ loài người
trong ý nghĩa một tự nhiên tinh ròng, được khám phá, được cứu độ một
cách mới mẻ,
là quan niệm của con người như là một sinh vật tiến hoá hoàn toàn đương
nhiên, được mô tả tốt nhất như là một chòm sao hiện thân của lực tự
nhiên, cái mà ông gọi là ‘thuộc về ý chí–under-wills; Unter- Willen)
hay ‘‘thuộc về linh hồn–under-souls; Unter-Seelen),’
vốn thường liên tục trong dòng chảy. Điều chúng ta đề cập đến là ‘thể–body’,
từ đó có thể được liên kết với ‘một cơ cấu xã hội hợp thành bởi nhiều
tâm hồn.’
Trong một bối cảnh như vậy, ý niệm nhị nguyên lỗi thời, thân thể vật
chất và linh hồn phi vật chất, của Geist và Natur sẽ bị
tiêu mất, được hoá giải thành cái mà Lange và các người khác gọi là ‘cái
thứ ba
không biết được– unknown ‘third’,thuật ngữ ‘thể xác’ và ‘tâm hồn’
khi được dùng bởi Nietzsche trong ngữ cảnh nầy, đơn giản là chỉ cho hai
khía cạnh của một toàn thể có trật tự–‘tâm hồn’ hay ‘tâm hồn’ trong hoạt
động nội tại, cái mà chúng ta hiểu là cảm xúc, sự thôi thúc, v.v....;
‘thân’ đơn giản là chữ dùng cho toàn thể các mối quan hệ. Như Stack tóm
tắt một cách thỏa đáng:
Cái mà chúng ta gọi là ‘thân thể’ là
một biểu tượng cho sự tương tác lẫn nhau của các lực, một ‘bầy đoàn’ của
các chủ thể sống mà có các sự biến đổi dần dần từ trạng thái nầy sang
trạng thái kia của quyền lực và tuỳ thuộc vào một loại ‘phân bổ lao
động.’ Từ thời nầy sang thời khác, ‘chủ quyền tối cao’ trong thuộc địa
nầy thay đổi...Tự kỷ chính là thân, nhưng thân là vô số ‘đối tượng’ cảm
giác, ý chí và suy tư bao gồm, trong mức độ nào đó của đời sống, là một
thứ bậc của Kraften. Nếu ở mức độ khác của cuộc sống có những sắp
đặt khác nhau của những ‘lực’ này thì, trong ý nghĩa nào đó, có nhiều
‘tự kỷ’ khác nhau. Hễ khi nào vô số thân liên tục biến đổi, và hễ các
‘lực’ năng động nầy bất biến, thì cái tự kỷ của cá nhân là một tiến
trình, một tiến trình dần dần trong đó, cái tự kỷ xác thân bị thay thế
bởi một các khác và cứ như vậy.
Một con người hiện hữu như vậy, có thể được xem như một ‘vật thể–body’trong
ý nghĩa trên, một vật thể gồm cấu tạo của ‘lực’ với những mức độ của các
hoạt động có trật tự từ nguyên tử cho đến cái mà chúng ta xem là những
ảnh hưởng đặc biệt của con người. Cái toàn thể không cố định cũng không
có bất kỳ thể tính thường hằng nào hoặc thậm chí cả ‘ý chí,’
mà là một tiến trình phức tạp và năng động của chính sự tương quang bền
vững: Chúng ta có thể nhận ra người ‘quen’ ngày hôm nay như người ngày
hôm qua, nhưng trẻ con và người già thì không được như vậy. ảnh hưởng
của chúng ta, dù chúng là ở trong dòng chảy thường xuyên, vẫn thường có
vài mẫu thức quen thuộc ít nhiều riêng biệt trong mỗi người, cho họ một
đặc điểm để dễ nhận ra. Đưa ra hình ảnh nầy, trong cách giải thích của
Stack lúc đó trở nên có thể nói đến những dòng khác nhau về tiến trình
tạo hình (bodying) của những ‘tự kỷ’ tồn tại khác nhau, thậm chí
con người ‘tương tự,’ như chúng ta sẽ thấy, rõ ràng có mối quan hệ với
giáo lý đạo Phật về vô ngã (anattan; no-Self).
Đối với Nietzsche, một hệ quả rất quan trọng từ quan niệm về thể chất
như vậy là, từ viễn cảnh chỉnh thể luận (holistic), nêu ra rằng thể chất
nầy đã tiến hoá, phải có vài dạng tương tục, vài mối quan hệ giữa các
lĩnh vực cao hơn và thấp hơn, giữa hoá học và nhân tính chúng ta. Và vì
bảng phả hệ của con người chúng ta không thể truy tìm dài hơn đến một số
các vị thần mà bây giờ được hiểu như là hiện hữu hoàn toàn tự nhiên,
Nietzsche bây giờ suy nghiệm rằng khả năng có thể xảy ra, thậm chí ‘luân
lý, tín ngưỡng và khái niệm và cảm giác thẩm mỹ’ của chúng ta có thể là
những thăng hoa từ môn hoá học của chúng ta. Ông hỏi: ‘Cái gì nếu môn
hoá học nầy sẽ kết thúc bởi sự tiết lộ rằng cũng trong lĩnh vực nầy, màu
sắc rực rỡ nhất là được lấy ra từ nền tảng, quả thực là từ những chất
liệu tầm thường.’
Ông ta gợi ý rằng triết học và tôn giáo cho đến nay trả lời câu hỏi ‘về
giá trị của hiện hữu, có thể đầu tiên hết, luôn luôn được xem là triệu
chứng của một thân xác nào nó.’
Không còn nữa tính năng động như vậy, hoàn toàn trừu tượng, lừng chừng,
và suy tưởng khách quan bị phân li ngoài thân thể: ‘chúng ta không phải
là những con nhái biết suy nghĩ, cũng chẳng phải kỹ thuật khách quan và
những khoản mục với sự khác biệt nội tại.’
Suy nghĩ chúng ta, tinh thần năng động của chúng ta, bây giờ được dự
tính như một hoạt động của thể chất, như ‘suy nghĩ có ý thức là được
định hướng và bị cưỡng bách một cách âm thầm vào trong luồng tư tưởng
định sẵn bởi bản chất [của chúng ta].’
Như vậy, suy nghĩ và tư biện của chúng ta không thể hoàn toàn bị tách
lìa thân. Đúng hơn, chúng được hiểu như là biểu hiện đặc biệt về thân.
Các triết gia tương lai lúc bấy giờ sẽ cần vài ‘kiến thức về sinh lý
học’
để có thể chẩn đoán luân lý, tôn giáo, và hệ thống triết học như là biểu
hiện của, hay đúng hơn là ‘triệu chứng’ sức khoẻ hay bệnh tật của thân.
Do vậy, ông đề xuất rằng thân và sinh lý học là điểm tối sơ nhất và
hướng đạo cho một nền triết học mới về con người: thân thể hiện hữu bây
giờ là ‘giàu hiện tượng hơn’ linh hồn cũ, là hiện hữu ‘thậm chí hấp dẫn
hơn, huyền bí hơn,’ và ‘hiển nhiên’ hơn, cho phép ‘quán sát rõ ràng
hơn.’
Trong một tiểu luận nhan đề
‘On Moods’, chàng trai
Nietzsche 18 tuổi viết: ‘Mâu thuẫn là món ăn kiêng chủ yếu của
tinh thần, và nó biết cách rút tỉa đầy đủ dưỡng chất ngọt ngào
từ đó.’ Trích dẫn trong Hayman (1980), 54. Xem thêm Hollingdate
(1973), ch. 4.
GM iii. 14. Xem thêm tác
phẩm GM iii. i và 28.
Nietzsche, trên toàn thể,
không phân biệt giữa cảm xúc (affect; Affekt),
tham muốn (desire; Begier), đam mê (passion; Leidenschaft);
thú hướng (drive; Trieb); bản năng (instinct; Instinkt)
và cảm xúc (emotion; Gefühl).
Trên tổng thể, tôi sẽ dùng thuật ngữ ‘affect’ như là một
đồng nghĩa cho tất cả, vì đó là xu hướng của Nietzsche.
BGE 36. Khá thú vị, người
thầy thông thái ‘bị hất hủi’ của Nietzsche phát biểu những điều
tương tự: ‘Tri thức song trùng mà chúng ta có về tự nhiên và
hành vi của chính thân xác ta, và điều ấy được nêu ra trong hai
đường hướng hoàn toàn khác nhau, [có nghĩa là như phương diện
chủ quan và khách quan của kinh nghiệm thể xác chúng ta] bây giờ
đã được nêu lên rõ ràng. Theo đó, chúng ta nên dùng nó xa hơn
như là chìa khoá mở vào bên trong hiện hữu của mỗi hiện tượng
trong tự nhiên. Chúng ta nên nhận định mọi đối tượng vốn chẳng
phải là của thân ta...theo phép loại suy từ thân thể nầy
[chữ in nghiêng là của tác giả]. Do vậy, chúng ta sẽ thừa nhận
rằng, về một mặt, chúng là biểu tượng, như thân chúng ta, và là
trong phương diện đồng nhất với nó; và trong mặt kia, nếu chúng
ta để qua một bên sự hiện hữu của nó như là chủ đề biểu tượng,
cái còn lại trên hết phải là, tương ứng với bản chất tự nội,
đồng như cái trong chính chúng ta gọi là ý chí. Còn dạng nào
khác của hiện hữu hay thực tại để có thể gán cho là phần còn lại
của thế giới vật chất?’ (1969:1. 104-5).
Kant e.g. có trong tác
phẩm triết học của ông, The Metaphysical Foundations of
Natural Science. -
Nguyên văn Anh ngữ:
Greeks. WC 76. Ở đây
Nietzsche muốn nói đến ‘Thời kỳ ban sơ sung mãn của tư tưởng
Hy lạp–the younger Greece’ từ Homer đến Socrates (PTG 2).
Trong SW 199, Nietzsche nói: ‘Điều tôi tìm kiếm trong lịch sử
không phải là một thời đại hạnh phúc, mà những gì đã dâng hiến
chất liệu thuận lơi cho sự phát sinh thiên tài. Đây là
điều tôi tìm thấy trong thời kỳ trước chiến tranh Ba tư (Persian
Wars [có nghĩa là trước năm 449 ttl.]). Chúng ta không thể dễ
dàng quen thuộc với thời kỳ nầy. ’
Z, Phần mở đầu, 3.
‘Lưu lại chân lý cho trần gian’
không có nghĩa là ‘tin vào những ai nói với quý vị về hy vọng ở
trên trần thế... Chỉ một lần báng bổ Thượng đế là lời báng bổ vĩ
đại nhất, nhưng Thượng đế đế đã chét, và do vậy, kẻ báng bổ cũng
đã chết. Báng bổ trần gian bây giờ là sự phạm tội khủng khiếp
nhất, vì trần gian bây giờ đã có ý nghĩa mới: Siêu nhân (Übermensch)
chính là ý nghĩa của trần gian.’ Ta có thể thêm điều ấy vào kết
luận bởi vì ‘Thượng đế đã chết’ cuộc đời không còn có ý nghĩa
hay mục đích, có lẽ, trong cách nhìn của Nietzsche, thậm chí là
cả một ‘sự phạm tội khủng khiếp.’
* Darwin
chủ trương thuyết tiến hoá (evolution) với 3 điểm chính:
Từ tự truyện của Darwin,
hoàn toàn rõ ràng rằng Darwin không quá ngây thơ: cuối cùng ông
đánh mất niềm tin Ki-tô giáo và dứt sạch thuyết bất khả tri
(agnostic) như là một kết quả trực tiếp từ những khảo sát khoa
học của ông ta. Nhưng trong một ý nghĩa nào đó, điều nầy đi đến
bằng chứng rằng ít nhất Nietzsche có phần nào đúng: Thuyết của
Darwin không đưa ra bằng chứng nào về ý trời thiêng liêng trong
các công trình tự nhiên. Và khi các hệ quả thực được biết đến
thì không có chỗ cho tính lạc quan mù quáng về tương lai con
người . Thực vậy, hoàn toàn trái ngược. Có lẽ có ai đó đã thấy
được hệ quả sẽ kéo đến gia nhập ‘sự tự sát’ như trong câu chuyện
The Suicide Club của Robert Louis Stevenson, nơi mà một
thành viên, khi được hỏi tại sao anh ta tham gia hội nầy, anh ta
trả lời rằng vì bị thuyết phục tin vào ông Darwin. ‘Tôi không
chịu được’ người tự sát ngoại lệ này phát biểu ‘khi có nguồn gốc
từ loài khỉ không đuôi.’(Harmondsworth, I 4), 22.
Có nghĩa là Great Chain
Of Being, ‘phép ẩn dụ về trật tự, thống nhất, và trọn vẹn của th
tất cả các khả tính hiện hữu, từ Thượng đế cho đến các phần tử
nhỏ nhất của vật chất vô tri.’(Flew 1983: 60).
Như Socrates của
Nietzsche, ‘Darwin’ của ông không không có quá nhiều Darwin con
người, như một biểu tượng cho những quan niệm và giả định vô ý
thức nào đó mà Nietzsche thấy là rất phổ thông trong cộng đồng
khoa học.
Ý niệm ‘cú đòn/cú đập may
mắn’ là được lấy từ Lange. Lange đã dùng thuật ngữ
glücklicher Zufall hoặc là ‘tai nạn may mắn–lucky
accident’. Xem Stack (1983a), 166. Điều nầy dường như ngược
với quan điểm của ông về Những người Hy lạp, mà ta đã thấy trước
đây, ông ta tuyên bố ‘tạo ra nhiều con người vĩ đại’ và người mà
‘toả chiếu trong ánh sáng của nhân tính cao hơn.’ Ở đây không
phải là vấn đề cú đòn may mắn mà thuộc về nhận thức rõ phương
pháp luận xoay quanh ý niệm xung đột, một ý niệm chính Nietzsche
vay mượn và sử dụng như là mô hình cho câu trả lời của ông về Hư
vô luận. Có lẽ cú đòn may mắn là chỉ cho những ai đến sau những
người Hy lạp.
* Do chữ Pygmy: giống người lùn , thành viên của
nhóm bộ lạc người rất lùn sống ở Phi châu xích đạo.
|