NIETZSCHE VÀ ĐẠO PHẬT
Nguyên tác: ROBERT G. MORRISON
Bản dịch Việt THÍCH NHUẬN CHÂU
[MỤC LỤC]
13
Kết
Khi đánh giá quan điểm của Nietzsche về
đạo Phật, tôi đã đưa ra miêu tả quan niệm hư vô của Nietzsche đã có sự
liên kết như thế nào với cách hiểu về đạo Phật của ông. Nietzsche đã
nhìn thấy chiều hướng lịch sử song song giữa một nền văn hoá phát triển
vào chính thời của mình và của Ấn Độ vào thời Đức Phật. Song song lịch
sử nầy nằm trên sự nổi bật của chủ thuyết hư vô (nihilism) là kéo theo
sau sự đánh mất niềm tin trong khái niệm về một thế giới quan (Weltanschauung)
ưu việt đã được công nhận. Giáo lý Đức Phật qua kiến giải của Nietzsche
như là một đáp lại cho chủ thuyết hư vô (nihilism) vào chính thời của
ông, và sự phản ứng đó, thay vì là một câu trả lời đầy tính nội quán
(insightful) cho chủ thuyết hư vô, mà chỉ là một dạng đặc biệt của chủ
nghĩa hư vô–‘chủ nghĩa hư vô thụ động (passive nihilism)’ Đức Phật không
cho rằng nhận thức chủ nghĩa hư vô ấy là một dòng văn hoá đặc trưng phải
nên vươn tới, và do vậy, công nhận Thế giới quan về một vũ trụ vô
nghĩa và không mục đích như một xác định tuyệt đỉnh về đời sống. Thay vì
vậy, Đức Phật tạo ra một điều mà Nietzsche xem là giáo pháp cao quý và
nhân văn– Pháp (Dhamma)–như là phương tiện giúp cho những người
cùng thời của Nietzsche vượt qua nỗi thất vọng về tâm lý khi họ thấy
rằng ở ngay mục đích cuộc sống mà họ có được đã bị xói mòn bởi chủ nghĩa
hư vô. Như là kết qủa của việc làm theo giáo pháp Đức Phật, họ sẽ trở
thành như có thể đương đầu với nỗi lạnh lùng nầy, thế giới vô nghĩa và
sự huỷ diệt của riêng họ, vào lúc chết sẽ cùng với niềm hoan hỷ và bình
thản. Lướt mắt nhìn qua nền văn hoá của mình đương thời, Nietzsche thấy
trước rằng thế giới già cỗi của họ đang dần dần bị xói mòn bởi chủ nghĩa
hư vô đang rõ nét, đặc biệt là bởi nền khoa học mới, họ có thể thấy được
trong thông điệp của Đức Phật một phương cách đối xử với sự lớn mạnh
hiện sinh của tâm trạng xao xuyến bất an (Angst). Nhưng đối với
Nietzsche, một viễn tượng như vậy chính là báo trước một thảm trạng văn
hoá: Nietzsche thấy rằng việc chấp nhận đạo Phật sẽ trở nên một đe doạ
rất hiện thực cho tương lai Châu Âu, dù ông thán phục nhiều phẩm tính
của đạo Phật, đặc biệt là khi đối chiếu với Ki-tô giáo. Tuy nhiên, sau
khi khảo sát kỹ xem đạo Phật có được xem là chủ nghĩa hư vô hay
không–trong đó họ hiểu rằng thế giới đang hiện hữu không có ý nghĩa và
mục đích gì, và mục tiêu của nó, niết-bàn (nirvāṇa), đơn thuần chỉ giúp
cho cá nhân hoan hỷ chấp nhận sự hoàn toàn tan hoại lúc chết, đó là cách
Nietzsche nghĩ–kết luận của tôi là đạo Phật khác xa với một tôn giáo chủ
trương hư vô.
Và tôi đã trình bày những điều tôi hiểu
như là những mối tương quan tồn tại giữa câu trả lời của Nietzsche về
chủ nghĩa hư vô, quay trở lại trong ý tưởng then chốt cuả ông về ‘Ý chí
hùng tráng’ và sự cá tính hoá (individualization) chính là việc tự hàng
phục chính mình (self-overcoming), và quan niệm đạo Phật về khát ái
(taṇhā) và tu tập định tâm (citta-bhāvanā).
Ý chí hùng tráng, xuất phát từ sự nền móng khoa học bởi thuyết động năng
‘vật chất’ của Boscovitch, trở nên sự thay thế ‘Thượng đế’ cuả
Nietzsche. Trong thuyết nầy, mọi hiện tượng, từ nguyên tử cho đến các
phần tử cấu thành hiện hữu con người, đều được đặc tả bởi một nỗ lực
(nisus) vượt thắng mọi chướng ngại, là điều Nietzsche gọi là ‘Ý
chí hùng tráng.’ Trong mỗi cá nhân, Ý chí hùng tráng nầy, nếu vận dụng
một cách thông minh, thì nó biểu hiện như là ‘tự hàng phục chính mình.’
Và chính thông qua ý niệm tự hàng phục chính mình mà Nietzsche tìm kiếm
một thúc giục tiến lên con đường tâm linh mới, đạt đến tột đỉnh trong
một dạng hiện hữu mới, là một Siêu nhân, hay Việt nhân (Übermensch)
Thông qua khảo sát khái niệm khát ái
trong đạo Phật, dùng mô dạng Eros như
được thấy trong Symposium
của Plato cũng như được thấy
trong Kinh điển đạo Phật, tôi đã nỗ lực trình bày rằng khát ái,
vốn theo truyền thống, hầu như luôn luôn được trình bày như là một
chướng ngại cho con đường tu tập tâm linh, có thể được hiểu đơn thuần
như là điều kiện căn bản cho sự hiện hữu của thế giới, điều kiện chưa
hoàn chỉnh, bấp bênh cho hiện sinh. Chính từ điều kiện căn bản nầy mà
toàn thể nỗ lực đua tranh. Trong ý nghĩa nầy, nó có liên hệ đến Ý chí
hùng tráng của Nietzsche như là một ‘hình thái nguyên thuỷ nhất của xúc
cảm.’ Và đúng là Ý chí hùng tráng của Nietzsche có thể hướng vào mục
đích tâm linh thông qua tự hàng phục chính mình, khi đối tượng của khát
ái là thuộc về bản chất tâm linh, khát ái có thể nói là trở thành
pháp dục (dhamma-chanda)
hay ‘nỗ lực tìm cầu giáo pháp,’ có biểu hiện chính là tu tập định tâm (citta-bhāvanā).
Về cơ sở đối chiếu nầy, kết luận của tôi là, trớ trêu thay, đó chính là
điều gì đó hơi giống ý niệm của đạo Phật về tu tập định tâm (citta-bhāvanā)
và Nietzsche nhắm đến. Và, vì ý niệm của đạo Phật đã được vận dụng toàn
triệt như là một phương pháp thực tiễn, nên có rất nhiều điều có lẽ
Nietzsche đã học và vay mượn từ đạo Phật để có thể giúp ông ta trong sự
tìm cầu một câu trả lời thiết thực cho chủ nghĩa hư vô. Tu tập định tâm
(citta-bhāvanā),
như ‘tự hàng phục chính mình’ của Nietzsche, được bắt rễ từ cấu trúc tâm
lý tự nhiên của con người. Bằng cách chuyển hóa khéo léo những khuynh
hướng thâm sâu và chắc chắn, con người có thể mạo hiểm dấn thân trên con
đường tự hàng phục chính mình liên tục để cuối cùng, vươn đến đỉnh cao
trong một dạng hiện hữu mới: một vị Phật
(bậc giác ngộ). Có lẽ, nhờ vay mượn nhiều từ đạo Phật, Nietzsche có lẽ
đã tìm thấy một phương pháp thực tiễn cho việc sáng tạo Siêu nhân
(Übermensch) đang còn trong giả thuyết của ông. Thực vậy, Nietzsche
đã sống trong một thời đại khi mà đạo Phật đã được thấm nhuần nhiều hơn,
Nietzsche thậm chí có thể được xem như một con người giác ngộ, hiện thân
một Siêu nhân (Übermensch) như vậy.
Hạ an cư Mậu tý
2008
Thích Nhuận
Châu.
|