CHƯƠNG III
PHẨM LINH DƯƠNG
Số 21
CHUYỆN CON LINH DƯƠNG
(Tiền thân Kurunga)
Linh dương biết rất rõ…
Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về Đề-bà-đạt-đa. Một lần nọ, chư Tỳ-kheo tập họp lại trong Chánh Pháp
đường và nói lời quở trách Đề-bà-đạt-đa.
– Thưa các Pháp hữu, với ý định sát hại đức Phật,
Đề-bà-đạt-đa đã thuê những người bắn cung xô tảng đá xuống và thả con voi say Hộ
Tài (Dhana- pālaka) ra. Ông ta đi khắp nơi, dùng mọi cách sát hại bậc Toàn Trí.
Đức Thế Tôn đi vào, ngồi lên chỗ được soạn sẵn cho mình
và hỏi các Tỳ-kheo:
– Này các Tỳ-kheo, các thầy đang bàn về điều gì khi hội
họp lại nơi đây?
– Bạch Thế Tôn, chúng con đang bàn về những điều thất
đức của Đề-bà-đạt-đa, rằng ông ta đi khắp nơi tìm cách giết hại Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói:
– Này các Tỳ-kheo, không phải chỉ bây giờ Đề-bà-đạt-đa
mới đi khắp nơi tìm cách giết hại ta thôi đâu, mà đời trước, Đề-bà-đạt-đa cũng
từng đi khắp nơi tìm cách giết hại ta như vậy, nhưng không thể giết hại được ta.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại
(Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con linh dương, sống nhờ vào trái cây trong
rừng.
Bấy giờ, Bồ-tát thường ăn trái cây sepanni. Có một gã thợ
săn trong làng, một hôm nhìn thấy dấu chân của linh dương ở nơi gốc cây thì làm
một cái giàn ở trên cây đó và ngồi ở đó canh những con nai đi đến ăn trái ở cây
này. Rồi khi những con nai đi đến, ông ta phóng cây lao xuống chúng, giết chúng
và lấy thịt đem bán sinh sống. Một hôm, khi nhìn thấy dấu chân của Bồ-tát ở nơi
gốc cây này, gã thợ săn bèn làm một cái giàn trên những nhành cây. Sau khi dùng
điểm tâm sớm, ông ta cầm lấy cây lao, đi vào rừng và trèo lên ngồi ở trên cái
giàn đó. Bồ-tát cũng đi đến cây đó sớm để ăn trái cây, nhưng không vội vàng đi
đến gần. Bồ-tát nghĩ: “Những người thợ săn thỉnh thoảng dựng giàn trên những
nhành cây này. Có thể có nguy hiểm gì chăng?” Nghĩ thế, Bồ-tát tránh ra xa để
quan sát. Thấy Bồ-tát không đi đến, gã thợ săn ngồi trên giàn của mình ném trái
cây xuống trước mặt linh dương. Bồ-tát nhủ thầm: “Những trái cây này rơi xuống
trước mặt ta, ta muốn biết là có gã thợ săn ở trên đó hay không?” Thế là Bồ-tát
nhìn mãi cho đến khi thấy gã thợ săn trên cây. Nhưng giả vờ không nhìn thấy gã
thợ săn kia, Bồ-tát nói lớn:
– Hỡi bạn cây đáng kính, trước đây bạn thường làm cho
trái cây rơi thẳng xuống đất giống như một cây giây leo rơi thòng xuống. Nhưng
hôm nay, bạn không làm giống như một cái cây nữa. Và do vì bạn không cư xử như
một cái cây bình thường nữa nên tôi cũng phải thay đổi, tôi phải tìm kiếm thức
ăn ở dưới một cây khác vậy.
Nói vậy xong, linh dương đọc lên bài kệ này:
Linh dương biết rất rõ
Trái cây bạn làm rơi
Ta không thích trái đó
Đi tìm cây khác thôi.
Nghe thế, gã thợ săn từ trên giàn phóng cây lao vào
Bồ-tát và gào lên:
– Cút đi! Hôm nay ta đã để sổng mày.
Bồ-tát đi vòng quanh, dừng lại và nói:
– Hỡi người kia, ngươi có thể để sổng ta, nhưng ngươi
không thể để sổng được hành vi của ngươi đâu. Cụ thể là ngươi không thể thoát
khỏi tám địa ngục lớn, mười sáu địa ngục nhỏ và tất cả năm loại cùm xích và hành
hình.
Nói vậy xong, linh dương lao đi. Còn gã thợ săn tụt xuống
cây và bỏ đi.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, sau khi lập lại rằng vào đời
trước Đề-bà-đạt-đa cũng từng đi khắp nơi để tìm cách giết hại mình, đức Thế Tôn
nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là người thợ săn dựng giàn,
còn ta chính là linh dương.
Số 22
CHUYỆN CON CHÓ
(Tiền thân Kukkura)
Những con chó lớn lên trong cung điện…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về việc làm lợi ích cho thân tộc của mình. Chuyện sẽ được
trình bày ở Tập mười hai, Tiền thân Bhaddasāla, số 465. Để chứng minh cho pháp
thoại ấy, đức Thế Tôn kể câu chuyện này.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại
(Benares), Bồ-tát do kết quả của một việc làm trong quá khứ đã thọ sanh vào đời
làm một con chó, sống trong một nghĩa địa, thủ lĩnh của một đàn chó hàng trăm
con.
Một hôm nọ, nhà vua ngự lên xa vương do những con ngựa
bạch kéo để đi đến ngự viên. Sau khi vui chơi ở đấy suốt ngày, ông trở về kinh
thành vào lúc hoàng hôn. Những người hầu buộc bộ yên cương ngựa vào chiếc xe đặt
ở sân cung điện. Vào buổi tối, trời mưa và bộ yên cương bị ướt đẫm. Thế rồi,
những con chó của nhà vua từ thượng lầu đi xuống đã gặm lấy những vật dụng và
dây cương bằng da . Vào hôm sau, quân hầu tâu lại với vua sự việc đó:
– Thưa hoàng thượng, lũ chó chui qua miệng cống để vào
sân đã gặm hết những vật dụng và dây cương bằng da của chiếc xe ngựa của hoàng
thượng.
Nhà vua tức giận những con chó nên ra lệnh:
– Hãy giết hết tất cả những con chó mà các ngươi gặp.
Thế là một cuộc tàn sát chó kinh hoàng bắt đầu xảy ra.
Những con vật này nhận thấy mình bị giết hại mỗi khi con người nhìn thấy nên đi
đến nghĩa địa để thuật lại sự việc với Bồ-tát. Bồ-tát hỏi:
– Có việc gì mà các bạn tập trung lại đây đông đúc như
vây?
Bầy chó thưa:
– Thưa vua chó, nhà vua vì quá giận giữ khi nghe kể rằng
những vật dụng bằng da và dây cương chiếc xe của ông ta ở trong nội cung bị
những con cho gặm sạch nên ra lệnh giết hết loài cho. Loài chó đang bị giết chết
hàng loạt, và hiểm hoạ khủng khiếp đang đe dọa chúng ta.
Bồ-tát nghĩ: “Không có con chó nào ở bên ngoài có thể đi
vào một nơi được canh giữ chặt chẽ như vậy được. Chính những con chó thuần chủng
bên trong hoàng cung đã làm việc đó. Thế mà không có điều gì xảy ra với bọn tội
phạm thực sự, trong khi những kẻ vô tội đang bị giết hại. Vậy sao ta không vạch
mặt những kẻ thủ phạm kia cho vua thấy và cứu mạng thân tộc của ta?” Rồi Bồ-tát
an ủi họ hàng của mình và nói:
– Đừng sợ hãi! Ta sẽ cứu các bạn. Hãy đứng chờ ở đây cho
đến khi ta đến gặp vua.
Rồi bằng tâm từ bi và phép quán niệm Thập Ba-la-mật,
Bồ-tát một mình đi vào kinh thành. Khi đi, Bồ-tát nguyện thế này: “Xin đừng có
ai ném gậy gộc hay đất đá vào tôi.” Do đó, khi Bồ-tát xuất hiện, không có một
người nào giận giữ khi nhìn thấy Bồ-tát.
Bấy giờ, sau khi ra lệnh giết hết những con chó, nhà vua
ngồi trong pháp đường. Bồ-tát chạy thẳng đến đấy, nhảy đến dưới chỗ ngồi của
vua. Quân hầu cố bắt chó ra nhưng nhà vua bảo họ dừng lại. Phần nào yên tâm,
Bồ-tát từ dưới ghế chui ra, cúi chào nhà vua và nói:
– Tâu hoàng thượng, có phải ngài đang cho sát hại những
con chó không?
– Đúng thế.
– Tâu vua loài người, chúng đã phạm tội gì?
– Chúng đã gặm nhẵn những sợi dây cương và cái yên da xe
ngựa của ta.
– Ngài có biết ai là kẻ thật sự gây ra sự thiệt hại đó
không?
– Ta không biết.
– Như thế tâu hoàng thượng, nếu ngài không biết chắc
những kẻ thực sự có tội thì thật không đúng khi ngài ra lệnh giết hết tất cả
những con chó được bắt gặp.
– Chính vì những con chó đã gặm yên da và dây cương cỗ
xe của ta nên ta ra lệnh giết hết tất cả chúng.
– Người của ngài giết chết hết tất cả loài chó hay có
một số được tha?
– Những con chó thuần chủng trong hoàng cung của ta được
tha.
– Thưa hoàng thượng, ngài vừa nói là ngài đã ra lệnh
giết hết tất cả loài chó được bắt gặp, bởi vì loài chó đã gặm yên cương xe bằng
da của ngài, nhưng bây giờ ngài lại nói, những con chó thuần chủng trong hoàng
cung được tha chết. Vậy là ngài đang đi theo bốn ác đạo là: thiên vị, ghanh
ghét, ngu si và sợ hãi. Việc làm như vậy là sai trái, không xứng đáng việc làm
của một vị vua. Vì các vị vua trong việc xử kiện luôn công bằng như cán cân.
Nhưng trong trường hợp này, những con chó hoàng gia không bị trừng phạt, trong
khi những con chó khốn khổ lại bị giết. Như thế, đây không phải là cách xét xử
công bằng đối với tất cả loài chó mà chỉ giết hại những con chó khốn khổ mà
thôi.
Rồi cất lên giọng nói nhu hòa, bậc Đại sĩ nói tiếp:
– Tâu hoàng thượng, ngài đang thi hành một việc làm không
chính nghĩa.
Và Bồ-tát thuyết pháp cho vua qua bài kệ này:
Những con chó lớn lên trong cung điện
Có nòi tốt, sức mạnh, hình dáng xinh
Loài chó này không hề bị sát hại
Chỉ chúng tôi mới chịu sự hành hình
Giống nhau cả, mà chỉ giết kẻ yếu
Xét xử vậy thật không phải công minh.
Khi nghe Bồ-tát nói vậy, nhà vua hỏi:
– Vậy bằng trí tuệ của mình, ngươi có biết ai chính là
kẻ đã gặm yên cương bằng da của ta không?
– Biết, tâu hoàng thượng.
– Đó là ai.
– Đấy là những con chó tốt nòi ở trong cung điện của
ngài.
– Bằng cách nào có thể chứng minh chính chúng là những
kẻ đã gặm đồ vật bằng da của ta.
– Tôi sẽ chứng minh điều đó cho ngài thầy.
– Hỡi chó hiền trí, xin hãy chứng minh điều đó đi.
– Vậy thì xin đưa những con chó của ngài và mang một ít
bơ sữa cùng cỏ kusa đến đây.
Nhà vua làm theo lời bảo.
Sau đó bậc Đại sĩ nói:
– Hãy nghiền cỏ này vào trong bơ sửa và cho những con
chó uống thứ nước đó.
Nhà vua làm như vậy. Thế rồi khi uống thứ nước này vào,
những con chó đã nôn ra những miếng da. Thấy thế, nhà vua sung sướng reo lên:
– Thật giống như một đức Phật Toàn Giác xét xử!
Rồi để tỏ lòng kính trọng của mình, nhà vua đã dâng tặng
cho Bồ-tát một chiếc lộng trắng. Đáp lại, bằng mười bài kệ ở trong Tiền thân
Te-sakuṇa (số 521), Bồ-tát thuyết pháp cho vua về những điều chơn chánh nên làm.
Bắt đầu bằng câu:
– Đại vương Sát-đế-lợi, hãy thực hành chánh pháp.
Sau khi trao truyền cho vua Ngũ giới và khuyên ông cần
phải giữ tâm kiên định, Bồ-tát trả lại cho nhà vua chiếc lộng trắng.
Rồi khi Bồ-tát nói xong, nhà vua truyền lệnh không được
giết hại tất cả các sinh vật. Vua ban lệnh rằng, tất cả loài chó, từ Bồ-tát trở
xuống, phải thường xuyên được cung cấp thứ thức ăn như vua ăn. Rồi vâng theo lời
khuyên bảo của Bồ-tát, vua sống trọn đời trong việc thực hành bố thí và làm việc
thiện, đến khi mạng chung đã tái sanh về Thiên giới. Còn những lời dạy của Chó
đã được lưu truyền mười ngàn năm. Riêng Bồ-tát cũng sống đến hết tuổi thọ, sau
đó mạng chung và thọ sanh theo hành nghiệp của mình.
* * *
Đức Thế Tôn nói:
– Này các Tỳ-kheo, không chỉ bây giờ Như Lai mới làm
điều lợi ích cho họ hàng của mình thôi đâu, mà đời trước Như Lai cũng đã từng
làm như vậy.
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ
của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, A-nan là nhà vua, đệ tử của Như Lai là
đàn chó, còn ta chính là con chó có trí.
Số 23
CHUYỆN CON TUẤN MÃ
(Tiền thân Bhojājānīya)
Dù nay nằm kiệt sức…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ-viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo thối thất tinh tấn. Bấy giờ, đức Thế Tôn hướng
đến Tỳ-kheo này và nói:
– Này Tỳ-kheo, đời trước, những bậc hiền trí đã tinh tấn
ngay khi ở giữa những vòng vây của kẻ thù, và thậm chí khi bị thương họ vẫn
không thối chí.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con ngựa Sindh thuần chủng, là ngựa
chiến của vua, được trang sức lộng lẫy, sang trọng. Ngựa được cho ăn thứ gạo cũ
ba năm rất ngon được đặt trên một chiếc đĩa vàng trị giá một trăm ngàn đồng tiền
vàng. Nền chuồng của ngựa được xông bằng bốn thứ hương, quanh chuồng được giăng
màn đỏ, trong khi bên trên là một mái vòm được nạm những ngôi sao bằng vàng.
Trên những bức tường, được kết những tràng và vòng hoa thơm phức, và một ngọn
đèn bằng dầu thơm được đốt thường xuyên ở đấy.
Bấy giờ, những vị vua lân bang thèm muốn vương quốc
Ba-la-nại. Một hôm, bảy vị vua bao vây Ba-la-nại và gởi cho nhà vua một bức thư
với nội dung: “Hoặc dâng vương quốc của ngươi cho chúng tôi, hoặc đánh nhau.”
Tập họp các triều thần lại, vua Ba-la-nại trình bày vấn đề với họ và hỏi họ ông
nên phải làm gì. Họ nói:
– Tâu hoàng thượng, hoàng thượng không nên đi ra đánh
nhau với bọn người ấy. Trước tiên, hoàng thượng hãy phái vị kỵ sĩ kia đi đến
đánh nhau với chúng. Sau đó, nếu anh ta thất bại, chúng ta sẽ quyết định phải
nên làm gì.
Thế rồi nhà vua phái vị kỵ sĩ kia đi và nói:
– Này khanh, khanh có thể đánh nhau với bảy vị vua kia
không?
– Tâu hoàng thượng, nếu ngài cho tôi con ngựa chiến cao
quý của ngài thì không những tôi đánh bại bảy vị vua kia mà còn có thể đánh bại
tất cả các vua ở cõi Ấn Độ này.
– Này khanh, hãy lấy con ngựa chiến của trẫm hay bất cứ
con ngựa nào mà khanh muốn và đi giao chiến.
Rất tốt, tâu hoàng thượng. Người kỵ sĩ nói.
Rồi anh ta nắm lấy một cây cung và đi xuồng lầu. Sau đó,
anh ta cho đưa con ngựa ra và mặc áo giáp vào cho ngựa. Riêng mình, anh ta cũng
trang bị toàn diện, và sau đó đeo gươm vào. Rồi cởi lên con tuấn mã, anh ta ra
khỏi cổng thành. Và với một cuộc tấn công như chớp, anh ta đập tan đồn trại thứ
nhất, bắt sống một vị vua ở đấy và đưa về thành cho quân lính canh giữ. Rồi quay
trở lại chiến trận, anh ta đập tan đồn trại thứ hai và thứ ba, tiếp tục như vậy
cho đến khi bắt sống được năm vị vua. Đến đồn trại thứ sáu, khi anh ta vừa đập
tan đồn trại và bắt vị vua thứ sáu thì con ngựa chiến của anh ta bị thương, máu
từ vết thương trào ra và làm cho con tuấn mã đau đớn vô cùng. Nhận thấy con ngựa
bị thương, vị kỵ sĩ cho nó nằm xuống trước cổng hoàng cung, tháo áo giáp của nó
ra và nai nịt vào cho một con ngựa khác. Bồ-tát tát nằm nghiêng mình, duỗi người
ra, mở mắt nhìn những gì vị kỵ sĩ đang làm. Ngựa nghĩ: “Vị kỵ sĩ này đang nai
nịt cho một con ngựa khác. Con ngựa kia sẽ không bao giờ có thể đập tan được đồn
trại thứ bảy và bắt sống vị vua ở đấy. Nó sẽ đánh mất tất cả những gì mà ta đã
đạt được. Con chiến mã vô song này sẽ bị giết chết, và nhà vua cũng sẽ rơi vào
tay kẻ thù. Không có con ngựa nào ngoài ta có thể đập tan đồn trại thứ bảy và
bắt sống vị vua này.” Vì thế khi nằm ở đấy, ngựa gọi người kỵ sĩ và nói:
– Thưa kỵ sĩ, ngoài tôi ra, không có con ngựa nào khác
có thể đập tan đồn trại thứ bảy và bắt sống vị vua ở đấy. Tôi sẽ không vứt bỏ
những gì mà mình đã làm. Hãy đỡ tôi đứng dậy và khoác áo giáp vào lại cho tôi.
Nói vậy xong, ngựa đọc lên bài kệ này:
Dù nay nằm kiệt sức
Bởi tên bắn gây đau
Tuy thế con chiến mã
Không ngựa nào vượt qua
Này hỡi người kỵ sĩ
Hãy mặc giáp cho ta.
Vị kỵ sĩ đỡ Bồ-tát đứng dậy, băng bó vết thương và nai
nịt lại cho ngựa. Rồi cưỡi lên chiến mã, anh ta đi đến đập tan đồn trại thứ bảy,
bắt sống vị vua thứ bảy đưa về và giao cho quân lính canh giữ. Họ cũng đưa
Bồ-tát đi đến trước cửa hoàng cung. Nhà vua đi ra và ngắm nhìn Bồ-tát. Rồi bậc
Đại sĩ nói với nhà vua:
– Thưa đại vương, xin đừng giết bảy vị vua này. Hãy bắt
họ nói lời thề không được gây chiến chống lại ngài và rồi để cho họ đi. Hãy cho
người kỵ sĩ thụ hưởng tất cả những danh vọng xứng đáng với công lao của hai
chúng tôi. Thật không phải khi để cho một chiến binh phải chịu thiệt thòi khi
người này đã bắt cho ngài bảy vị vua. Còn bản thân ngài, hãy thực hành bố thí,
giữ giới và cai trị vương quốc của mình bằng sự công chính.
Khi Bồ-tát khuyến-giáo nhà vua như vậy rồi, quân hầu cởi
áo giáp cho Bồ-tát. Nhưng khi họ đang cởi chiếc áo giáp, Bồ-tát đã mệnh chung.
Nhà vua cho chôn cất thi thể Bồ-tát với một nghi thức
long trọng, rồi sau đó ban cho người kỵ sĩ danh vọng lớn lao, và cho bảy vị vua
trở về sau khi buộc họ thề rằng sẽ không bao giờ gây chiến chống lại vua nữa.
Còn nhà vua cai trị vương quốc bằng sự công chính, sau khi mạng chung đã đi theo
hành nghiệp của mình.
* * *
Đức Thế Tôn nói:
– Như vậy, này các Tỳ-kheo, vào thuở trước, bậc hiền trí
đã tinh tấn ngay cả ở giữa vòng vây của kẻ thù, và thậm chí khi bị thương nghiêm
trọng như vậy vẫn không thối thất. Còn thầy, trong khi đã phát nguyện sống theo
giáo pháp giải thoát này, cớ sao lại thối thất?
Sau đó, đức Thế Tôn tuyên thuyết Tứ Thánh đế. Kết thúc
thời pháp, thầy Tỳ-kheo thối thất chứng được quả A-la-hán. Kết thúc pháp thoại,
đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, A-nan là nhà vua, Xá-lợi-phất là người kỵ
sĩ, còn ta chính là con ngựa Sindh thuần chủng.
Số 24
CHUYỆN CON NGỰA TỐT
(Tiền thân Ajañña)
Dù khi nào, ở đâu…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo thối thất tinh tấn. Ở đây, đức Thế Tôn gọi
Tỳ-kheo này đến và nói:
– Này Tỳ-kheo, đời trước, bậc Hiền trí dầu khi đã bị
thương vẫn không hề thối thất.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatt) trị vì Ba-la-nại
(Benares), có bảy vị vua đã bao vây lấy kinh thành. (Các tình tiết đều giống như
ở câu chuyện trên).
Bấy giờ, một vị chiến sĩ quân xa đã đóng yên cương vào
hai con ngựa Sindh anh em, sau đó vượt ra khỏi kinh thành, đập tan sáu đồn trại
và bắt sống sáu vị vua. Nhưng chính vào lúc ấy, con ngựa anh đã bị thương. Người
đánh xe cho xe đến trước cửa hoàng cung, tháo con ngựa anh ra khỏi xe, cỡi áo
giáp cho nó và đặt cho nó nằm nghiêng người xuống rồi nai nịt vào cho một con
ngựa khác. Nhận thấy được ý định của người kỵ mã, Bồ-tát suy nghĩ như đã suy
nghĩ ở câu chuyện trên. Rồi Bồ-tát cho gọi người đánh xe đến, và trong khi nằm
như vậy đã đọc lên bài kệ này:
Dù khi nào, ở đâu
Dù trong hoàn cảnh nào
Ngựa thuần luôn chiến thắng
Còn ngựa yếu chịu thua.
Vị đánh xe đỡ Bồ-tát đứng dậy và nai nịt lại cho ngựa.
Sau đó anh ta đánh tan đồn trại thứ bảy và bắt sống vị vua thứ bảy, rồi anh ta
đưa vị vua này đến trước cửa hoàng cung và tháo con ngựa quý ra khỏi xe. Khi nằm
nghiêng người một bên, Bồ-tát khuyên nhà vua như đã khuyên ở câu chuyện trên và
sau đó mệnh chung. Nhà vua cho chôn cất thi thể ngựa bằng nghi thức long trọng.
Ông ban cho người đánh xe nhiều danh vọng, và sau đó cai trị vương quốc bằng sự
công chính, rồi đến khi mạng chung đã thọ sanh theo hành nghiệp của mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các
Thánh Đế. Kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo thối thất chứng được A-la-hán. Rồi
Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, Tôn giả A-nan là nhà vua, con bậc Chánh
Đẳng Giác là con ngựa.
Số 25
CHUYỆN BẾN TẮM
(Tiền thân Tittha)
Bạn hãy đổi địa điểm…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo, người trước đây làm thợ kim hoàn, thầy
này là đệ tử của bậc Tướng Quân Chánh Pháp.
Bấy giờ, chỉ có đức Phật mới có thể hiểu thấu được tâm
trí của người khác. Và do vì thiếu khả năng này, bậc Tướng Quân Chánh Pháp hầu
như không thể biết được tâm trí người đệ tử của mình nên đã cho vị này một chủ
đề thiền quán về bất tịnh. Chủ đề này không thích hợp với Tỳ-kheo đó. Chủ đề này
vì sao không thích hợp với Tỳ-kheo đó? Theo truyền thuyết, vị này đã năm trăm
kiếp liền sinh ra làm thợ hoàn kim. Và do trong một thời gian lâu dài, việc thấy
vàng là hoàn toàn thanh tịnh đã huân tập thành chủng tử nên chủ đề bất tịnh trở
thành vô dụng. Vị này trải qua bốn tháng tu tập nhưng không thể sanh khởi được
chút tư tưởng quán niệm nào. Tự thấy mình không thể đem lại cho đệ tử quả vị
A-la-hán, bậc Tướng Quân Chánh Pháp suy nghĩ: “Ngoài đức Phật ra, chắc chắn
không có người nào khác có thể chuyển hóa được người này. Ta sẽ đưa người này
đến với đức Phật mới được.”
Thế rồi vào sáng sớm, Tôn giả cùng với thầy Tỳ-kheo đệ tử
đi đến đức Thế Tôn. Thấy thế, đức Thế Tôn hỏi:
– Xá-lợi-phất, có việc gì không mà thầy đưa Tỳ-kheo này
đến đây vậy?
– Bạch Thế Tôn, con đã cho đệ tử của con một đề tài
thiền quán, nhưng sau bốn tháng người này vẫn không đạt được một chút tư tưởng
quán niệm nào. Vì thế con đưa người này đến gặp đức Thế Tôn, nghĩ rằng ngoài đức
Thế Tôn ra, không có người nào có thể chuyển hoá được con người này.
– Xá-lợi-phất, thầy đã trao cho vị đệ tử chủ đề thiền
quán gì?
– Bạch Thế Tôn, chủ đề thiền quán bất tịnh.
– Xá-lợi-phất, thầy không biết được tâm trí của chúng
sanh. Giờ thầy hãy về một mình, rồi chiều trở lại đưa đệ tử của thầy về.
Sau khi bảo Tôn giả trở về, đức Thế Tôn cho thầy Tỳ-kheo
đệ tử mặc hạ y và thượng y đẹp và đưa thầy vào thành khất thực, giúp cho thầy
nhận được các thứ thức ăn ngon. Rồi cùng với các Tỳ-kheo nhiễu quanh, đức Thế
Tôn quay trở lại tinh xá. Suốt ngày hôm đó, Ngài nghỉ trong hương phòng. Rồi đến
buổi tối, khi cùng với Tỳ-kheo này dạo quanh tinh xá, Ngài hóa hiện ra một hồ
nước có nhiều cây sen và trong đó có nhiều hoa sen nở. Ngài nói:
– Này thầy, hãy ngồi xuống đây và quán sát bông hoa này.
Rồi để Tỳ-kheo ấy ở lại đấy, đức Thế Tôn trở về hương
phòng nghỉ ngơi.
Tỳ-kheo này quán sát bông hoa không gián đoạn. Đức Thế
Tôn bèn làm cho bông hoa héo đi. Khi Tỳ-kheo này đang quán sát, bông hoa dần dần
phai tàn. Những cánh hoa rơi rụng, bắt đầu từ vành ngoài, và trong một thời gian
rất ngắn, tất cả cành hoa đều rụng hết. Rồi nhị hoa rơi rụng và chỉ còn lại
gương sen. Thấy vậy, Tỳ-kheo này suy nghĩ: “Mới đây thôi, bông hoa này xinh đẹp
và tươi tốt, nhưng giờ đây đã phai màu, cánh và nhị đã rơi rụng hết, chỉ còn lại
gương sen. Bông hoa xinh đẹp này phải chịu sự héo tàn. Thân thể ta chẳng lẽ
không xảy ra như vậy? Các pháp hữu vi là vô thường!” Và với suy nghĩ như vậy,
thầy đạt được Thiền quán.
Biết tâm Tỳ-kheo này đã đạt được Thiền quán, đức Thế Tôn
ngồi trong hương phòng, phóng hào quang và đọc lên bài kệ này:
Hãy tự nhổ ái dục
Như nhổ cây sen thu
Đạo tịch tịnh chuyên tu
Niết-bàn, đức Phật dạy
Kết thúc bài kệ, thầy Tỳ-kheo này chứng được quả
A-la-hán. Khi nghĩ rằng mình không còn bị luân hồi, không còn bị khổ đau do sanh
hữu đem lại, thầy cảm hứng đọc lên những dòng kệ sau:
Ai sống trọn đời mình
Tâm tư được thuần thục
Tẩy trừ các lậu hoặc
Mang thân hình sau cùng
Đời sống luôn thanh tịnh
Các căn được tịch tịnh
Người ấy được giải thoát
Như mặt trăng thoát khỏi
Cửa miệng thần La-hầu (Rāhu)
Hết thảy những cấu uế
Gây tăm tối vô minh
Ta tẩy trừ tất cả
Thân của ta chói sáng
Chiếu rọi ngàn tia quang
Như trên không, mặt trời
Chiếu toả nguồn ánh sáng.
Sau khi nói lên những lời cảm hứng như vậy, thầy này đi
đến đảnh lễ đức Thế Tôn. Tôn giả Xá-lợi-phất cũng đi đến, và sau khi đảnh lễ đức
Thế Tôn, đã cùng với đệ tử của mình trở về.
Khi tin tức về sự kiện này lan truyền giữa các Tỳ-kheo,
họ cùng tập trung lại trong Chánh Pháp đường và ngồi ở đấy tán thán oai đức của
đức Thế Tôn:
– Thưa các Pháp hữu, do vì không biết được tâm trí của
chúng sanh, Tôn giả Xá-lợi-phất đã không biết được tâm hướng người đệ tử của
mình. Nhưng đức Thế Tôn biết được, và chỉ trong một ngày đã đem lại cho thầy này
quả vị A-la-hán cùng với trí biện tài vô ngại. Ôi! Oai đức của đức Phật thật lớn
lao!
Sau khi đi vào và ngồi lên chỗ ngồi được soạn sẵn, đức
Thế Tôn hỏi:
– Này các Tỳ-kheo, các thầy bàn điều gì khi ngồi lại nơi
đây?
– Bạch Thế Tôn, chúng con không bàn gì khác ngoài nói
rằng chỉ có Thế Tôn mới biết được tâm trí và đọc được ý nghĩ của vị đệ tử của
bậc Tướng Quân Chánh Pháp.
– Này các Tỳ-kheo, nay ta đã là một vị Phật thì việc
biết được tâm tính của Tỳ-kheo đó thật chẳng có gì kỳ diệu cả. Đời trước, ta
cũng biết được tâm tính của vị ấy.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện Tiền thân này.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại
(Benares), Bồ-tát là người cố vấn cho nhà vua trong các việc về tâm linh cũng
như thế tục.
Bấy giờ, người ta tắm cho một con ngựa yếu hèn tại bến
tắm dành cho quốc mã của vua. Khi người giữ ngựa dẫn con ngựa quý xuống bến nước
đó, con ngựa vì quá kinh tởm con ngựa kém hèn kia nên không xuống nước tắm. Vì
thế, người giữ ngựa đi đến nhà vua và tâu?
– Tâu hoàng thượng, con ngựa quý của hoàng thượng không
chịu xuống nước tắm.
Nghe thế, nhà vua cho mời Bồ-tát đến và nói:
– Thưa bậc hiền trí, xin ngài hãy đi tìm hiểu xem tại
sao con ngựa không chịu vào nước tắm khi người giữ ngựa dẫn nó xuống đó.
– Tuân lệnh, tâu hoàng thương.
Bồ-tát nói và đi đến bến nước. Đến nơi, Ngài khám xét con
ngựa và nhận thấy rằng nó không bị ốm đau gì cả. Thế là Ngài cố gắng tìm hiểu
nguyên nhân khiến con ngựa không chịu vào nước tắm. Cuối cùng Ngài đi đến kết
luận rằng, có thể có một con ngựa khác đã xuống tắm tại bến nước đó, và con ngựa
quý này do vì quá kinh tởm con ngựa kia nên không chịu xuống nước tắm. Vì thế,
Ngài hỏi những người giữ ngựa là có con thú nào xuống nước tắm trước đó không.
Những người giữ ngựa thưa:
– Thưa ngài, có một con ngựa khác, một con ngựa tầm
thường đã xuống sông tắm.
Bồ-tát nghĩ: “Chính vì lòng tự ái bị xúc phạm mà con ngựa
này không vào nước tắm, vậy phải đưa nó đến một nơi khác.” Nghĩ thế, Ngài nói
với người giữ ngựa:
– Này bạn, một người nếu phải ăn đi ăn lại, dầu đó là
món ăn ngon thì cũng sẽ sinh ngán. Cũng như vậy với con ngựa ngày, nó đã tắm quá
nhiều lần ở đây, vì thế hãy đưa nó đến một bến nước khác, cho nó tắm và uống
nước ở đấy.
Nói vậy xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ này:
Bạn hãy đổi địa điểm
Và cho ngựa uống nước
Thường xuyên đổi quang cảnh
Bến này và bến khác
Vì ngay cả cơm sữa
Người ăn hoài cũng ngán
Khi nghe Bồ-tát nói vậy, những người này dẫn con ngựa đến
một chỗ khác, cho nó uống nước và tắm thoả thích ở đấy. Và trong khi những người
giữ ngựa cho con ngựa tắm và uống nước, Bồ-tát đi đến yết kiến nhà vua. Nhà vua
hỏi:
– Này khanh, con ngựa của trẫm có chịu uống nước và tắm
không?
– Thưa có, tâu hoàng thượng.
– Vậy cớ sao trước đấy nó không chịu làm như vậy?
– Vì lý do như sau…
Bồ-tát nói và kể lại cho vua nghe toàn bộ câu chuyện. Nhà
vua nói:
– Ôi, khanh thật là một người sáng suốt. Ngay cả loài
thú khanh cũng biết được tâm tính của chúng.
Thế rồi vua ban cho Bồ-tát nhiều danh vọng. Và về sau khi
mạng chung, vua tái sanh theo hành nghiệp của mình. Bồ-tát cũng mạng chung và đi
theo hành nghiệp của mình.
* * *
Khi kết thúc pháp thoại và lập lại điều đã nói là vào đời
quá khứ ngài cùng biết được tâm trí của vị Tỳ-kheo này, đức Thế Tôn liên kết hai
câu chuyện lại với nhau và nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, Tỳ-kheo này là con ngựa quý, A-nan là nhà
vua, còn ta chính là người cố vấn hiền trí.
Số 26
CHUYỆN CON VOI NỮ NHAN
(Tiền thân Mahilāmukha)
Do trước nghe lời ác…
Trong khi trú tại tinh xá Trúc lâm, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về Đề-bà-đạt-đa. Sau khi kết giao thân thiết với thái tử A-xà-thế
(Ajāta-sattu), Đề-bà-đạt-đa đã đạt được lợi lộc và danh vọng. Thái tử A-xà-thế
sai xây cho Đề-bà-đạt-đa một ngôi tinh xá tại Gayā-sīsa, và mỗi ngày mang đến
cho ông năm trăm nồi cơm được nấu bằng gạo cũ ba năm với tất cả nhưng hương liệu
tốt nhất được ướp vào đấy. Tất cả lợi lộc và danh vọng này đã mang đến cho
Đề-bà-đạt-đa một hội chúng đông đảo, rồi Đề-bà-đạt-đa sống cùng với hội chúng
này, không bao giờ bước chân ra khỏi tinh xá.
Bấy giờ, có hai người bạn sống ở thành Vương Xá
(Rājagaha). Một người xuất gia với đức Thế Tôn, trong khi người còn lại xuất gia
quy y theo Đề-bà-đạt-đa. Hai người này thường gặp mặt nhau, hoặc tịnh cờ, hoặc
bằng cách viếng thăm tinh xá. Một hôm, đệ tử của Đề-bà-đạt-đa nói với bạn của
mình:
– Này bạn, tại sao bạn suốt ngày đi khất thực với mồ hôi
nhễ nhại như vậy? Đề-bà-đạt-đa ngồi thanh thản ở Gayā-sīsa và ăn món ăn ngon
nhất được ướp bằng tất cả những hương liệu tối hảo. Thật không có phương tiện
nào tốt hơn thế. Tại sao bạn tự làm khổ mình như vậy? Tại sao vào buổi
sáng, bạn không đến tinh xá Gayā-sīsa để uống cháo gạo có hương vị, nếm mười tám
loại thức ăn cứng, thưởng thức những loại thức ăn mềm tuyệt hảo được ướp bằng
tất cả những hương liệu tối hảo? Làm vậy không tốt hơn sao?
Trước lời mời mọc khẩn khoản cứ lập đi lập lại mãi như
vậy, Tỳ-kheo kia bắt đầu muốn đi, và từ đấy thường đến Gayā-sīsa để ăn uống,
nhưng vẫn không quên trở về Trúc Lâm đúng giờ. Tuy thế, vị này không thể giữ kín
được điều này mãi. Chẳng bao lâu, sự việc vị này đi đến Gayā-sīsa và ăn uống
thức ăn do Đề-bà-đạt-đa cung cấp đã bị bại lộ ra. Do đó, những người bạn của
thầy này đã hỏi:
– Pháp hữu, như người ta nói đấy, có thật là thầy
đã ăn thức ăn do Đề-bà-đạt-đa cung cấp không?
– Ai nói điều đó? Vị này hỏi lại.
– Người như vậy, như vậy nói điều đó.
– Thưa các pháp hữu, việc tôi đến Gayā-sīsa và ăn ở đấy
là có thật. Nhưng không phải Đề-bà-đạt-đa trao thức ăn cho tôi mà là những vị
khác.
– Pháp hữu, Đề-bà-đạt-đa là kẻ chống đối chư Phật. Với
bản chất độc ác, ông ta đã cấu kết với A-xà-thế, đạt lấy lợi lộc và thanh danh
cho mình bằng sự bất chính. Chẳng lẽ thầy đã phát nguyện xuất gia theo giáo pháp
đưa đến giải thoát này lại đi ăn thứ thức ăn mà Đề-bà-đạt-đa đã kiếm được bằng
sự bất chính đó. Hãy đi với chúng tôi. Chúng tôi sẽ đưa thầy đến gặp đức Thế
Tôn.
Rồi họ đưa vị này đi đến Chánh Pháp đường. Khi biết họ
đến, đức Thế Tôn hỏi:
– Này các Tỳ-kheo, tại sao các thầy đưa Tỳ-kheo này đến
trong khi vị ấy không muốn?
– Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo này đã xuất gia với đức Thế Tôn
vậy mà lại đi ăn thức ăn do Đề-bà-đạt-đa kiếm được bằng sự bất chính.
– Như họ nói đấy, có đúng là thầy đã ăn thức ăn do
Đề-bà-đạt-đa kiếm được bằng sự bất chính không?
– Bạch Thế Tôn, không phải Đề-bà-đạt-đa cho con mà những
người khác cho.
– Này Tỳ-kheo, đừng có ngụy biện ở đây. Đề-bà-đạt-đa là
một người ác hạnh, một người theo ác giới. Trong khi thầy đã phát nguyện xuất
gia theo giáo pháp của ta tại đây, vậy có thể nào lại đi ăn thức ăn của
Đề-bà-đạt-đa? Thầy là một người dễ bị dẫn dắt, gặp ai là đi theo người ấy.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại
(Benares), Bồ-tát trở thành đại thần của vua. Bầy giờ, nhà vua có một con voi
báu tên là Nữ Nhan (Mahilamukho, Damsel-face), một con voi có đức hạnh và thuần
thiện, không bao giờ giết người.
Một hôm, vào ban đêm, một vài tên trộm đến gần chuồng voi
và ngồi xuống đấy bàn bạc kế hoạch:
– Phải đào đường hầm vào nhà theo cách này; phải phá
xuyên bức tường trước khi khoanh đồ đạc đi theo cách kia; đường hầm hay lỗ vách
phải nên làm cho thông trống như một con đường hoặc như một khúc sông. Trong khi
khoanh đồ đạc, nếu gặp trở ngại, các ngươi phải giết người, vì như thế sẽ không
có ai có thể kháng cự. Một tên cướp phải bỏ đi lòng tốt và đức hạnh, phải hết
sức tàn nhẫn, phải là một người độc ác và hung bạo.
Sau khi bàn bạc, dạy bảo lẫn nhau như vậy, bọn cướp bỏ
đi. Ngày kế tiếp và nhiều ngày sau đó, chúng cũng đến và bàn bạc với nhau như
vậy, cho đến khi con voi đi đến kết luận rằng họ đến cốt để dạy bảo cho nó, và
rằng nó phải đổi tâm tính trước đây thành tàn nhẫn, độc ác và hung bạo. Và nó đã
thực sự trở thành như vậy. Thế rồi vào sáng sớm, khi người quản tượng vừa xuất
hiện, con voi đã dùng vòi túm ngay lấy ông và quật ông xuống đất cho đến chết.
Nó tiếp tục hành xử như vậy với người thứ hai, thứ ba, và lần lượt với tất cả
những ai đi đến gần nó.
Thế rồi, người ta tâu với nhà vua rằng con voi Nữ Nhan đã
hoá điên và giết chết bất cứ người nào mà nó nhìn thấy. Nghe thế, nhà vua cho
mời Bồ-tát đến và nói:
– Thưa người hiền trí, xin hãy đến tìm hiểu xem vì lý do
gì con voi đã trở nên hung bạo như vậy.
Bồ-tát đến đó và biết ngay rằng con voi hoàn toàn không
có dấu hiệu bệnh hoạn. Và khi suy nghĩ về nguyên nhân đưa đến sự thay đổi,
Bồ-tát kết luận rằng, ắt con voi đã nghe người ta nói chuyện gần nó và tưởng
rằng họ đang dạy cho nó. Đây chính là nguyên nhân làm thay đổi con voi.
Dó đó, ngài hỏi những người quản tượng rằng gần đây vào
ban đêm có người nào đến gần chuồng voi và bàn bạc với nhau hay không. Những
người quản tượng thưa:
– Có, thưa ngài. Có một vài tên trộm đến và bàn bạc.
Biết thế, Bồ-tát đi đến tâu với vua:
– Tâu hoàng thượng, cơ thể con voi hoàn toàn không bị
bệnh hoạn gì cả, chỉ vì nghe những tên trộm bàn bạc mà nó trở nên thay đổi tính
khí như vậy.
– Thế bây giờ phải làm gì?
– Thưa hoàng thượng, hãy ra lệnh cho những bậc hiền trí
và những Ba-la-môn, bảo họ ngồi gần chuồng voi và bàn luận những điều tốt lành.
– Này khanh, hãy làm như vậy. Nhà vua nói.
Rồi sau khi để những bậc hiền trí và các Bà-la-môn ngồi
gần chuồng voi, Bồ-tát bảo họ hãy nói lên những điều thiện lành. Và những vị
này, khi ngồi gần con voi đã nói như sau: “Không đối xử tàn tệ cũng không giết
hại một ai. Người đức hạnh nên nhẫn nhục, nhân từ và biết thương yêu.”
Nghe như vậy, con voi nghĩ rằng chắc họ đang dạy cho nó
điều đó, và do vậy từ đó về sau quyết tâm trở thành một kẻ có đức hạnh. Và nó đã
trở thành một kẻ có đức hạnh. Rồi nhà vua hỏi Bồ-tát
– Này khanh, con voi nay đã thuần thiện lại chưa?
– Đã thuần thiện, tâu hoàng thượng. Nhờ những người hiền
trí mà con voi lạc đường hư hổng đã trở lại thuần thiện như xưa.
Nói vậy xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ này:
Trước do nghe lời ác
Của bọn người trộm cắp
Nên Nữ Nhan đi khắp
Gây tổn thương, giết hại
Về sau nhờ nghe lại
Lời tốt của hiền nhân
Voi báu lại tốt lành.
Nghe vậy, nhà vua nói:
– Ngay cả loài thú, ông ấy cũng đọc được tâm tưởng
của chúng.
Rồi vua ban tặng cho Bồ-tát nhiều danh vọng. Sau đó ông
sống hết tuổi thọ, rồi đến khi mạng chung đã cùng với Bồ-tát tái sinh theo hành
nghiệp của mình.
* * *
Đức Thế Tôn nói:
– Này Tỳ-kheo, vào đời quá khứ, thầy là người hễ gặp ai
là đi theo người ấy. Nghe những tên trộm bàn bạc, thầy đã làm theo những gì họ
nói. Rồi khi nghe những người hiền trí bàn bạc, thầy lại thực hiện theo điều họ
nói.
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ
của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, Tỳ-kheo phản bội này là con voi Nữ Nhan,
A-nan là nhà vua, còn ta chính là vị đại quan.
Số 27
CHUYỆN ĐÔI BẠN THÂN THIẾT
(Tiền thân Abhiṇha)
Cơm cỏ nó không ăn một miếng…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về một nam cư sĩ và một Trưởng lão lớn tuổi.
Truyền thuyết kể rằng, có hai người bạn sống ở thành Xá
Vệ (Sāvatthi). Một người đã xuất gia nhưng hàng ngày vẫn thường đến nhà của
người kia. Ở đấy, người bạn thường bố thí cho vị xuất gia thức ăn, và bản thân
mình cũng ăn, sau đó cùng với vị xuất gia đi về tinh xá, ngồi nói chuyện ở đó
suốt ngày mãi cho đến khi mặt trời lặn mới chịu trở về thành. Vị xuất gia cũng
thường tiễn bạn mình đi đến cổng thành, sau đó mới chịu quay trở lại.
Các Tỳ-kheo biết được tình bạn thân thiết của hai người
này. Một hôm, chư vị ngồi lại trong Chánh Pháp đường và nói về mối thâm tình của
hai người này. Lúc ấy, đức Thế Tôn đi vào và hỏi chư vị đang bàn luận về điều
gì. Chư Tỳ-kheo thuật lại với đức Thế Tôn câu chuyện. Đức Thế Tôn nói:
– Này các Tỳ-kheo, không phải chỉ bây giờ hai người này
mới thân thiết với nhau thôi đâu, mà đời trước họ cũng đã từng như vậy.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát là vị đại thành của ông. Bấy giờ, có một con chó
thường đi đến chuồng con voi báu và ăn những cục cơm rơi tại nơi con voi ăn. Vì
thường xuyên đến đấy ăn cơm nên chó và voi trở nên rất thân thiết với nhau, và
cuối cùng là con chó không bao giờ đến ăn bất cứ nơi đâu ngoài trừ ăn với con
voi, và chúng cũng không thể sống mà không có nhau.
Con chó thường đùa giỡn bằng cách nắm lấy vòi voi đánh đu
qua lại. Một hôm, một người dân ở làng đã mua con chó của người quản tượng và
mang nó về nhà mình. Từ đó về sau, con voi vì mất chó nên không chịu ăn uống và
cũng không chịu tắm. Người quản tượng thuật lại điều đó với vua. Nhà vua bảo
Bồ-tát hãy đến đó tìm hiểu nguyên nhân khiến cho con voi trở chứng. Bồ-tát đi
đến chuồng voi, nhìn thấy con voi buồn bã thì nói thầm: “Thân thể nó hoàn toàn
không bị bệnh hoạn. Có lẽ nó có một người bạn mặn nồng thân thiết, và bây giờ
mất bạn nên trở nên buồn bã.” Thế rồi ngài hỏi người quản tượng là con voi này
có kết thân với ai không. Người quản tượng thưa:
– Có, thưa ngài. Có một tình bạn thân thiết giữa nó và
con chó.
– Con chó bây giờ ở đâu?
– Người ta đã mang đi rồi.
– Ông có biết người kia hiện đang sống ở đâu không?
– Không, thưa ngài.
Thế rồi Bồ-tát đi đến nhà vua và tâu.
– Tâu hoàng thượng, con voi không có bệnh hoạn gì cả,
chỉ vì kết bạn thân thiết với một con chó và bây giờ bị mất người bạn đó nên
không chịu ăn uống. Thần nghĩ như vậy.
Nói vậy rồi, Bồ-tát đọc lên bài kệ này:
Cơm, cỏ nó không ăn một miếng
Tắm nước bây giờ nó cũng không.
Tôi nghĩ do vì voi thân chó
Thân thiết giờ xa khiến nhớ mong.
Nghe thế, nhà vua nói:
– Thưa bậc Hiền trí, thế thì bây giờ chúng ta phải làm
gì?
– Tâu hoàng thượng, xin hãy cho đánh trống thông báo
rằng: nhà vua được bẩm báo là có một người đã bắt lấy con chó bạn thân của con
voi báu mang đi, vì thế nếu phát hiện trong nhà người nào có con chó đó thì
người ấy sẽ bị hình phạt.
Nhà vua đã làm theo lời khuyên này. Và người kia, khi
nghe thông báo này, đã vội vàng thả con cho ra. Ngay lập tức, con chó chạy nhanh
đến chỗ con voi. Con voi dùng vòi nhấc con chó lên và đặt nó trên đầu mình, rồi
nó khóc rống lên. Sau đó nó lại đặt con chó xuống đất, nhìn con chó ăn trước và
sau đó nó mới ăn.
Thấy thế, nhà vua nói:
– Ngay cả loài thú mà ông ấy cũng biết được tâm tính của
chúng.
Rồi vua ban tặng cho Bồ-tát nhiều danh vọng.
* * *
Sau khi kết thúc pháp thoại nhằm chỉ ra rằng vào đời
trước hai người này cũng đã từng thân thiết với nhau, đức Thế Tôn thuyết giảng
Tứ Thánh đế. Sau đó Ngài nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, vị nam cư sĩ là con chó, vị Trưởng lão
lớn tuổi là con voi, còn ta chính là vị đại quan.
Số 28
CHUYỆN CON BÒ ĐẠI HỶ
(Tiền thân Nandivisāla)
Chỉ nói lời hoà ái…
Trong khi trú
tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về những lời nói
thô ác của nhóm Lục quần Tỳ-kheo. Bấy giờ, nhóm Lục quần Tỳ-kheo vì bất hoà với
những Tỳ-kheo phạm hạnh nên thường hay mắng nhiếc, sỉ vả và chế nhạo họ, chửi
rủa họ bằng mười cách chửi. Các Tỳ-kheo bạch điều đó lên đức Thế Tôn. Đức Thế
Tôn cho gọi nhóm Lục quần đến và hỏi họ có thật như vậy hay không. Khi nghe họ
thừa nhận điều ấy có thật, đức Thế Tôn khiển trách họ:
– Này các Tỳ-kheo, Ngay cả loài thú cũng khó chịu khi
nghe lời nói thô lỗ. Vào đời trước, một con thú đã làm cho một người chuyên nói
lời thô ác phải mất một ngàn đồng tiền vàng.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, tại thành Xoa-thi-la (Takkasilā) thuộc nước
Kiền-đà-la (Gandhāra) có một vị vua nọ trị vì. Bấy giờ, Bồ-tát thọ sinh vào đời
làm một con bò đực. Khi bò còn nhỏ, một vị Bà-la-môn đi đến chỗ những người
thường hay hiến tế bò và được những người này đem con bò nhỏ ra cho. Vị
Bà-la-môn đặt tên cho nó là Đại Hỷ (Nandi-Visāla, Great-Joy) và đối xử với nó
như là con của mình, cho nó ăn cháo và cơm. Đến khi lớn lên, Bồ-tát suy nghĩ:
“Ta được vị Bà-la-môn này mang về và khó nhọc nuôi dưỡng. Khắp cõi Ấn Độ này
không thể tìm đâu ra một con bò có thể kéo mạnh như ta, vậy tại sao ta lại không
dùng sức mạnh của mình để đền ơn Bà-la-môn về hao phí mà ông ấy bỏ ra nuôi dưỡng
ta?” Thế rồi một ngày nọ, bò nói với Bà-la-môn:
– Thưa Bà-la-môn, xin ông hãy đi đến một vị trưởng giả
có nhiều đàn bò và đánh cược với ông ta rằng con bò của ông có thể kéo được một
trăm cỗ xe nặng.
Bà-la-môn đi đến một vị trưởng giả và hỏi rằng ở trong
thành này có con bò của ai có sức mạnh hay không.
– Có con bò của nhà nọ, có con bò của nhà kia…
Vị trưởng giả trả lời như thế, rồi nói tiếp:
– Nhưng trong thành này, thực ra không có con bò nào có
thể so sánh được sức mạnh với con bò của tôi.
Vị Bà-la-môn nói:
– Tôi có một con bò có thể kéo được một trăm cỗ xe nặng.
– Con bò như vậy ở đâu? Vị trưởng giả hỏi và cười lớn.
– Tôi để nó ở nhà. Bà-la-môn đáp.
– Hãy cá cược đi.
– Được thôi.
Bà-la-môn nói và đặt cược một trăm đồng tiền vàng. Sau
đó, ông chất cát, sỏi và đá lên đầy một trăm cỗ xe, và nối tất cả lại với nhau
thành một hàng, bằng cách buộc trục xe của chiếc trước với trục xe của chiếc đi
kế sau. Làm vậy xong, ông tắm cho Đại Hỷ, cho nó ăn một số cơm thơm, đeo một
vòng hoa quanh cổ nó, rồi thắng nó vào cỗ xe ở đầu. Vị Bà-la-môn ngồi trên cây
cọc, cầm gậy đưa lên và nói:
– Nào thằng nhãi ranh! Hãy kéo đi thằng nhãi ranh!
Bồ-tát suy nghĩ: “Ta không phải là nhãi ranh thế mà ông
ta gọi là thằng nhãi ranh” Vì thế, Bồ-tát trồng chân tại chỗ giống như bốn cột
trụ, không nhúc nhíc di chuyển lấy một phân. Ngay lập tức, vị trưởng giả kia bắt
vị Bà-la-môn phải trả một ngàn đồng tiền. Mất tiền, vị Bà-la-môn tháo con bò của
mình ra khỏi xe và trở về nhà. Ở đấy, ông nằm xuống giường trong nỗi khổ đau hối
tiếc. Khi Đại Hỷ đi vào và nhận thấy vị Bà-la-môn đang dày vò tiếc nuối như vậy,
nó bèn đi đến chỗ ông và hỏi có phải ông đang ngủ hay không. Vị Bà-la-môn nói:
– Làm thế nào ta có thể ngủ được khi bị mất một ngàn
đồng tiền?
– Thưa Bà-la-môn, suốt thời gian tôi sống trong nhà ông,
tôi có bao giờ làm vở bình chậu, chà đạp người, hay đại tiểu tiện lung tung
không?
– Này con, không bao giờ có.
– Thế thì tại sao ông gọi tôi là thằng nhãi ranh? Đây là
lỗi của ông chứ không phải của tôi. Bây giờ hãy đi và đánh cá hai ngàn đồng
tiền. Chỉ cần nhớ rằng chớ gọi tôi là thằng nhãi ranh.
Khi nghe vậy, vị Bà-la-môn đi đến vị trưởng giả kia và
đặt cá cược hai ngàn đồng. Giống như trước, ông cho Đại Hỷ tắm rửa và trang điểm
nó thật lộng lẫy, rồi kết một trăm cỗ xe lại với nhau và buộc Đại Hỷ vào cỗ xe
dẫn đầu. Ông buộc như thế nào? Trước tiên, ông buộc ách bò vào càng xe, rồi sau
đó thắng con bò vào một phía ách, và cột chặt phía bên kia bằng cách buộc một
miếng gỗ trơn láng từ ách vào trục bánh xe để cho cái ách căng ra và không bị
nghiêng lạch. Như vậy, chỉ một con bò lại có thể kéo được một cỗ xe làm ra cho
hai con kéo. Bấy giờ, ngồi trên cáng xe, Bà-la-môn vuốt ve lưng Đại Hỷ và nói
thế này:
– Này người bạn tốt! Hãy kéo đi hỡi người bạn tốt!
Với chỉ một cái kéo mạnh, Bồ-tát đã kéo cả chuỗi một trăm
cỗ xe cho đến khi cỗ xe cuối cùng đứng vào chỗ cỗ xe đầu tiên bắt đầu. Thế là vị
trưởng giả có nhiều đàn bò kia phải trả hai ngàn đồng cho vị Bà-la-môn vì thua
cuộc. Những người khác cũng cho Bồ-tát nhiều tiền bạc, và tất cả đều thuộc về vị
Bà-la-môn. Như vậy, nhờ Bồ-tát mà vị Bà-la-môn kia kiếm được rất nhiều tiền bạc.
* * *
Như vậy, sau khi khiển trách nhóm Lục quần Tỳ-kheo bằng
cách thừa nhận rằng lời nói thô lỗ không làm hài lòng một ai, đức Thế Tôn chế
định học giới và sau đó đọc lên bài kệ này:
Chỉ nói lời hòa ái
Chớ nói lời thô ác
Người nhờ nói hòa ái
Đã chuyển được vật nặng
Mang đến nhiều tiền tài
Và do đó vui sướng.
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, A-nan là Bà-la-môn, còn ta chính là con
bò Đại Hỷ.
Số 29
CHUYỆN CON BÒ ĐEN
(Tiền thân Kaṇha)
Với xe nặng phải
mang…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về hai loại Thần thông. Câu chuyện này với câu chuyện Từ Cõi
Trời Đi Xuống sẽ được kể ở Tiền thân Sarabhamiga, số 483, Tập Mười ba.
Sau khi thị hiện hai loại Thần thông và lưu lại ở Thiên
giới, đức Phật Toàn Trí đi xuống kinh thành Tăng-yết-xa (Samkassa) vào ngày Đại
lễ Tự tứ, và từ đó cùng với một hội chúng đông đảo đi đến tinh xá Kỳ Viên.
Tập họp lại trong Chánh pháp đường, chư Tỳ-kheo an tọa và
tán thán oai đức của đức Thế Tôn. Họ nói:
– Thưa các Pháp hữu, đức Phật thì không có ai sánh được.
Không có người nào có thể mang được gánh nặng mà đức Phật mang. Lục Sư ngoại
đạo, mặc dù họ luôn nói rằng chỉ có họ mới thực hiện được thần thông, nhưng tuy
thế họ vẫn không thể hiện được một phép thần thông nào. Ôi, đức Thế Tôn thật
không có ai sánh được!
Đức Thế Tôn đi vào Hội đường và hỏi các Tỳ-kheo đang thảo
luận về điều gì khi tập họp lại ở đó. Chư Tỳ-kheo bạch với Ngài là họ không bàn
gì khác hơn ngoài việc bàn về oái đức của Ngài. Đức Thế Tôn nói:
– Này các Tỳ-kheo, nay không ai mang được gánh nặng mà
ta mang thì có gì lạ chứ? Ngay cả trước kia, khi ta còn thọ sinh làm một con
thú, thì cũng không có ai có thể sánh được với ta.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con bò đực. Và khi Bò còn là một
con nghé nhỏ, những người chủ của Bò đang trọ tại nhà của một bà lão đã đem Bò
giao cho bà lão để thế chấp số tiền trọ. Bà lão nuôi Bò giống như con ruột của
mình: cho Bò ăn cháo, cơm và những thức ăn tuyệt hảo khác. Bò được đặt tên là
Con Bò đen của Bà lão. Lớn lên, Bò có màu long đen huyền và thường đi đây đó
cùng với những con bò khác trong làng. Bọn trẻ trong làng thường hay nắm lấy
sừng, tai, yếm của Bò, cưỡi lên lưng Bò, hay túm lấy đuôi Bỏ để chơi đùa.
Một hôm, Bò nghĩ: “Mẹ của ta rất nghèo. Bà khổ nhọc nuôi
dưỡng ta, xem ta như là con ruột của bà. Chẳng lẽ ta không kiếm được một ít tiền
để làm vơi đi nỗi khổ nhọc của bà sao?” Từ hôm đó, Bò luôn cố tìm kiếm một công
việc. Rồi một hôm nọ, có một thương nhân trẻ, chủ của một đoàn lái buôn, đã cùng
với năm trăm cỗ xe đi qua một khúc sông cạn gồ ghề, và những con bò của anh ta
không thể kéo những cỗ xe băng qua con sông được. Và dầu khi anh ta tháo năm
trăm cặp bò ra, buộc cả hết lại thành một hàng và thắng vào một cỗ xe thì chúng
cũng không thể kéo cỗ xe này băng qua con sông được. Bấy giờ, Bồ-tát cùng với
những con bò khác trong làng đang ở gần khúc sông đó. Vị thương nhân trẻ này là
một người am hiểu về bò. Anh ta lướt mắt nhìn qua đàn bò để xem trong số đó có
con bò thuần chủng nào có thể kéo được những cỗ xe qua sông hay không. Khi nhìn
thấy Bồ-tát, anh ta biết chắc rằng Bồ-tát có sẽ làm được điều đó. Và để tìm chủ
của Bồ-tát, anh ta nói với những người chăn gia súc:
– Ai là chủ nhân của con thú này vậy? Nếu tôi được phép
thắng ách vào con thú này và kéo được những cỗ xe của mình qua sông thì tôi sẽ
trả cho chủ nhân của nó tiền thuê.
Những người chăn gia súc trả lời:
– Nếu thế thì hãy bắt lấy và cột nó, quanh đây không có
ai là chủ của nó cả.
Nhưng khi vị thương nhân trẻ đút sợi dây xuyên qua mũi
của Bồ-tát và cố dẫn đi, Bồ-tát không chịu nhúc nhích. Theo chuyện kể,
Bồ-tát không đi vì chưa được ấn định giá tiền. Hiểu được ý của Bồ-tát, vị thương
nhân nói:
– Này bạn, nếu bạn kéo được năm trăm cỗ xe này qua sông,
tôi sẽ trả cho bạn hai đồng cho mỗi cỗ xe, hay một ngàn đồng cho tất cả.
Lúc bấy giờ Bồ-tát mới chịu di chuyển. Bồ-tát đi đến chỗ
những cỗ xe. Người ta cột những cỗ xe vào Bồ-tát. Và chỉ với một cái kéo, Bồ-tát
đã kéo cỗ xe đầu tiên băng qua và đặt nó lên bờ đất bên kia. Và bằng cách như
thế, Bồ-tát đã kéo hết cả đoàn xe qua sông.
Sau đó, vị thương nhân trẻ buộc vào cổ Bồ-tát một bọc
tiền năm trăm đồng, như vậy giá kéo mỗi cỗ xe chỉ được trả một đồng. Bồ-tát suy
nghĩ: “Người này không trả cho ta theo giao kèo. Vậy ta không để cho anh ta đi!”
Vì thế, Bồ-tát đứng chắn ngang con đường phía trước cỗ xe đầu tiên và chận chúng
lại. Và dù cố gắng đến mấy, chúng cũng không thể đẩy được Bồ-tát ra khỏi đường.
Vị thương nhân nghĩ: “Ta nghĩ nó biết ta trả thiếu tiền.” Vì thế, anh ta gói một
ngàn đồng trong một cái bọc và cột nó quanh cổ Bồ-tát, nói:
– Đây là số tiền ta trả cho bạn về việc kéo những cỗ xe
của ta qua sông.
Bồ-tát mang một ngàn đồng về nhà “mẹ” của mình.
“Có một bọc gì đó quanh cỗ con Bò đen của bà lão.” Bọn
trẻ trong làng la lên và chạy đến Bồ-tát. Nhưng Bồ-tát đuổi chúng ra xa và đi
ngay đến chỗ “mẹ” của mình. Nhưng vì đã kéo tất cả năm trăm cỗ xe băng qua sông,
Bồ-tát tỏ ra mệt mõi với đôi mắt đỏ ngầu. Bà lão hiền lương phát hiện thấy một
ngàn đồng buộc quanh cổ Bồ-tát thì hỏi lớn:
– Này con, con kiếm được số tiền này ở đâu thế?
Nghe những người chăn gia súc thuật lại những gì đã xảy
ra, bà lão nói:
– Này con, lão đâu có muốn sống nhờ vào tiền con kiếm
được. Sao con phải chịu đựng khổ nhọc như vậy?
Nói rồi, bà lão lấy nước ấm tắm cho Bồ-tát và lấy dầu
thoa lên khắp thân mình cho Bồ-tát. Bà cho Bồ-tát ăn uống những thức ăn đáng
được hưởng. Rồi khi qua đời, cùng với Bồ-tát, bà lão đi theo hành nghiệp của
mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại nhằm minh chứng rằng, vào đời trước
cũng không ai sánh được với mình, đức Phật nêu lên mối liên hệ của hai câu
chuyện và đọc lên bài kệ này:
Với xe nặng phải mang
Với con đường khó vượt
Họ buộc vào Bò đen
Bò kéo ngay qua được.
Rồi đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, Liên Hoa Sắc (Uppala-Vaṇṇā) là bà lão,
còn ta chính là “Con Bò đen của Bà lão”.
Số 30
CHUYỆN CON HEO MỖ-NI-CA
(Tiền thân Muṇika)
Chớ ganh mỗ-ni-ca…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ-viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về sự cám dỗ của một cô gái mập. Chuyện này sẽ được kể ở Tiền
thân Nārada- Kassapa, Số 477, Tập Mười ba.
Ở đây đức Thế Tôn hỏi vị Tỳ-kheo này:
– Này Tỳ-kheo, như họ nói đấy, có thật là thầy bị dục
vọng khuấy động không?
– Bạch Thế Tôn, thật có như vậy. Vị này trả lời.
– Nguyên nhân do đâu?
– Bạch Thế Tôn, do sự quyến rũ của một cô gái mập.
Đức Thế Tôn nói:
– Này Tỳ-kheo, cô gái này là tai ương của thấy đấy. Ngay
vào đời trước, chính vì đám cưới của cô ta mà thầy đã phải bỏ mạng, bị giết thịt
làm thức ăn đãi khách.
Nói vậy xong, Đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xư
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào đời làm một con Bò đực có tên là Đại
Xích (Mahālohita), sống trong điền trang của một vị điền chủ tại một ngôi làng
nọ. Bồ-tát có một người em tên là Tiểu Xích (Cullalohita). Chỉ có hai anh em họ
thôi nhưng làm hết mọi công việc kéo chở cho gia đình này. Vị điền chủ này chỉ
có một cô con gái duy nhất, và cô gái đã đính hôn với một chàng trai ở trong
kinh thành. Ba mẹ của cô gái với ý định chuẩn bị đồ ăn ngon để thết đãi khách
khứa nên bắt đầu vỗ béo một con heo có tên là Mỗ-ni-ca (Muṇika).
Nhìn thấy như vậy, Tiểu Xích nói với anh mình:
– Anh ạ, tất cả những vật nặng trong gia đình này đều do
hai anh em mình kéo, nhưng đáp lại tất cả công sức khó nhọc đó họ chỉ cho chúng
ta cỏ và rơm xấu. Còn con heo kia lại được cho ăn cơm! Cớ gì nó lại được cho ăn
thức ăn như vậy chứ?
Bò anh nói:
– Này Tiểu Xích em, đừng ganh tị với con heo đó, vì nó
đang ăn thức ăn của tử vong đấy. Chính vì chuẩn bị thức ăn để thết đãi khách
khứa dự lễ cưới của con gái họ mà gia đình này đã vỗ béo con heo đó. Em hãy chờ
xem, một vài ngày nữa khách khứa sẽ đến, rồi em sẽ thấy con heo bị túm chân kéo
ra khỏi chuồng, bị giết thịt và được chế biến thành món ca ri.
Nói vậy xong, Bò anh đọc lên bài kệ này:
Chớ ganh Mỗ-ni-ca
Nó ăn chờ chết đấy.
Bằng lòng nhai rơm cỏ
Thọ mạng được đủ đầy.
Không lâu sau đó, khách khưa đi đến, và Mỗ-ni-ca bị giết
thịt và được nấu thành những món ăn. Bồ-tát nói với Tiểu Xích:
– Này em, em có nhìn thấy Mỗ-ni-ca không?
– Thưa anh, em đã nhìn thấy kết quả món ăn của Mỗ-ni-ca.
Như vậy, món ăn của chúng ta trăm lần, ngàn lần tốt hơn món ăn đó cho dù món ăn
của chúng ta chỉ là cỏ rác, rơm rạ. Vì thức ăn của chúng ta không làm hại chúng
ta, nó là vật xác chứng rằng mạng sống của chúng ta không bị rút ngắn.
* * *
Kết thúc pháp thoại nhằm mình chứng rằng thầy Tỳ-kheo này
vào đời quá khứ cũng đã từng chịu bất hạnh do cô gái này mang lại và đã bị làm
món ăn cho khách khứa, đức Thế Tôn tuyên thuyết Tứ Thánh đế. Vào lúc kết thúc
các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo bị dục vọng khuấy động này chứng được quả Dự lưu. Rồi
đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, thầy Tỳ-kheo bị dục vọng khuấy động là
con heo Mỗ-ni-ca, cô gái trong cả hai trường hợp đều giống nhau, A-nan là Tiểu
Xích, còn ta chính là Đại Xích.
|