CHƯƠNG VI
PHẨM NGUYỆN VỌNG
Số 51
CHUYỆN VUA ĐẠI CÂU GIỚI
(Tiền thân Mahāsīlava)
Khó khăn
giữ hy vọng…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo thối thất tinh tấn. Khi đức Thế Tôn hỏi Tỳ-kheo
này có phải thầy thối thất tinh tấn không, thầy trả lời đúng thật như vậy.
Đức Thế Tôn nói:
- Này Tỳ-kheo, tại sao thầy lại thối thất khi sống trong
giáo pháp đưa đến giải thoát này? Vào đời trước, các bậc hiền trí ngay cả khi
mất vương quốc vẫn quyết không nãn chí và cuối cùng đã dành lại được chủ quyền
của họ.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại
(Benares), Bồ-tát sanh làm con trai của hoàng hậu. Vào ngày lễ đặt tên, Bồ-tát
được đặt tên là Hoàng tử Câu Giới (Silava), và đến lúc được mười sáu tuổi thì
hoàn thành sở học của mình. Về sau khi phụ vương băng hà, Bồ-tát đã lên ngôi vua
với vương vị Đại vương Câu Giới, và cai trị thần dân của mình bằng sự công
chính. Ngài cho xây dựng tại bốn cổng thành mỗi nơi một nhà bố thí, thêm một nhà
ở giữa kinh thành và một nhà chính tại cổng hoàng cung – như vậy gồm sáu nhà tất
cả. Tại mỗi nơi, ngài bố thí cho những hành khất khốn khổ và những người nghèo
túng. Ngài thọ trị các giới và tuân giữ ngày trai tịnh. Nhà vua đầy đủ lòng kiên
nhẫn và viên mãn tâm từ bi bao dung. Bằng sự công chính, nhà vua đã trị vì vương
quốc, thương yêu tất cả muôn vật bằng tình thương của người cha đối với con nhỏ.
Bấy giờ, một trong những triều thần của vua làm điều bất
chính nơi hậu cung. Sự việc đó bị bại lộ ra và được các triều thần tâu lên nhà
vua. Vua tự thân tra hỏi và biết rõ điều tà quấy của vị triều thần kia. Vì thế
cho gọi kẻ tội phạm kia lại, vua nói:
- Này kẻ ngu ngốc đui mù kia, ngươi đã phạm phải tội lỗi,
ngươi không xứng đáng ở trong vương quốc của ta nữa, hãy mang tài sản, vợ con và
gia đình của ngươi ra khỏi vương quốc này.
Thế rồi vị triều thần này ra khỏi nước Ca-thi (Kāsi), đi
đến phục vụ cho vua nước Câu-tát-la (Kosala) và dần dần trở thành người cố vấn
tâm phúc của vua này. Một hôm, ông ta nói với vua Câu-tát-la:
- Thưa hoàng thượng, vương quốc Ba-la-nại thì giống như
một tổ ong mật lớn không bị ruồi bu, trong khi vua nước này thì rất nhu nhược.
Vậy chỉ cần một đội quân nhỏ là đủ chinh phục được cả vương quốc này.
Nghe như vậy, vua Câu-tát-la nghĩ: “Vương quốc Ba-la-nại
thì to lớn như vậy mà kẻ này nói rằng chỉ với một đội quân nhỏ là có thể chinh
phục được. Ta nghi rằng người cố vấn này là một kẻ tay sai, dụ dỗ để dẫn ta vào
bẫy.” Nghĩ thế ông nói:
- Này kẻ bội phản, chắc ngươi được thuê để nói lời này!
Người này nói:
- Hạ thần thật sự không phải là kẻ bội phản. Hạ thần chỉ
nói sự thật. Nếu hoàng thượng nghi ngờ hạ thần thì hãy cho người đến tàn sát một
ngôi làng ở vùng biên giới. Và rồi hoàng thượng sẽ thấy, khi những người sát hại
bị bắt và đưa đến trước vua kia, ông ta không những không trừng phạt họ mà thậm
chí còn cho họ thêm tài sản nữa.
Nhà vua nghĩ: “Người này tỏ ra can đảm khi xác quyết như
vậy, ta sẽ thử nghiệm ngay lời của ông ta, không nên chậm trể.” Và do đó, vua
đưa một số người của mình đi đến cướp phá một ngôi làng ở miền biên giới xứ
Ba-la-nại. Những kẻ cướp phá bị bắt và được đưa đến trước vua Ba-la-nại. Nhà vua
hỏi:
- Này các vị, tại sao các vị lại giết hại dân làng của
ta?
- Bởi vì chúng tôi không thể kiếm sống được. Chúng nói
- Thế tại sao các vị không đến gặp ta? Mong rằng các vị
không làm như vậy nữa.
Nói rồi, nhà vua cho họ phẩm vật và để họ đi. Những người
này trở về và tâu lại sự việc với vua Câu-tát-la. Nhưng chứng cứ này cũng chưa
đủ làm cho vua có nhụê khí để thực hiện cuộc xâm lăng, và vì thế nhóm thứ hai
được đưa đi sát hại một ngôi làng khác, lần này ở giữa lòng vương quốc. Những
người này cũng được vua Ba-la-nại cho trở về cùng với những quà tặng. Nhưng ngay
cả chứng cứ này cũng chưa đủ chắc chắn, và vì thế nhóm thứ ba được đưa đến để
cướp phá ngay tại đường phố Ba-la-nai! Và những người này cũng giống như những
người trước - được cho về cùng với quà tặng! Đến đây hoàn toàn tin rằng rằng vua
Ba-la-nại là một ông vua thật sự tốt, vua Câu-tát-la quyết định xâm chiếm vương
quốc của vua Ba-la-nại, và đã dùng quân đội và voi đánh ngài.
Bấy giờ, vua Ba-la-nại có một ngàn vị đại thần dũng cảm,
có thể đối mặt với cả sự tấn công của những con voi điên loạn; không sợ hãi khi
sấm sét đánh xuống; một đội quân vô địch với những anh hùng không thể đánh bại,
sẵn sàng tuân theo lệnh vua để chinh phục toàn cõi Ấn Độ. Những người này khi
nghe vua Câu-tát-la chuẩn bị cướp Ba-la-nại, đã đi đến hoàng thượng của mình để
bẩm báo sự việc và xin được đánh quân xâm lược. Họ nói:
- Tâu hoàng thượng, chúng tôi sẽ đánh bại và bắt ông ta
trước khi ông ta đặt chân qua biên giới.
Nhà vua nói:
- Này các khanh, đừng vì ta mà làm cho người khác đau
khổ. Nếu những kẻ thèm muốn vương quốc kia muốn chiếm lấy vương quốc của ta thì
hãy để cho họ chiếm.
Và như thế nhà vua không cho họ đi đánh nhau với quân xâm
lăng.
Thế rồi vua Câu-tát-la băng qua biên giới và đi vào giữa
vương quốc. Những triều thần lại đi đến cầu xin nhà vua, nhưng nhà vua vẫn từ
chối. Bấy giờ, vua Câu-tát-la đến ngoài kinh thành và nhắn tin vào hỏi vua
Ba-la-nại rằng muốn giao vương quốc hay muốn đánh. Vua Ba-la-nại gởi tin trả lời
rằng:
- Ta không muốn đánh nhau, cứ để ông ta chiếm lấy vương
quốc của ta.
Tuy thế, lần thứ ba, các triều thần lại đến cầu xin nhà
vua rằng, không nên để cho vua Câu-tát-la vào thành, hãy cho phép họ đánh bại và
bắt vị vua ấy trước thành. Vẫn từ chối, vua bảo mở các cổng thành ra, rồi ngồi
trên ngài vàng lộng lẫy cùng với một ngàn triều thần vây quanh.
Vua Câu-tát-la đi vào kinh thành, không gặp phải một sự
chống cự nào nên đã cùng với đạo quân của mình đi đến cung điện. Các cánh cửa mở
toang, và trên ngai vàng lọng lấy, vua Đại Câu Giới đang ngự cùng với một ngàn
triều thần vây quanh. Vua Câu-tát-la ra lệnh:
- Hãy bắt lấy tất cả, trói chặt tay ra sau lưng và kéo
hết đến nghĩa địa! Ở đấy, đào những cái hố và chôn sống chúng ngang cổ, như thế
chúng sẽ không thể cử động tay chân được. Rồi ban đêm, những con chó rừng sẽ đến
và an táng bọn họ!
Tuân theo lệnh tên vua gian ác, quân hầu của ông đã trói
vua Ba-la-nại cùng các triều thần của ông lại và kéo đi. Nhưng ngay cả trong giờ
phút ấy, vua Đại Câu Giới cũng không nuôi dưỡng một chút tư tưởng tức giận nào
đối với những kẻ gian ác. Và dầu khi bị gông cùm như vậy, vẫn không có một người
nào trong số những triều thần làm trái lời vua. Những cận thần của vua tuân giữ
kỹ luật thật hoàn hảo như vậy.
Thế rồi, vua Câu Giới và những triều thần của ông bị dẫn
đến nghĩa địa và bị chôn ngang cổ vào trong những cái hố. Nhà vua bị chôn ở giữa
còn những triều thần thì bị chôn hai bên. Nhưng kẻ gian ác lấp đất lên họ, giẫm
chặt rồi bỏ đi. Vẫn không hề tức giận kẻ xâm lược, vua Câu Giới bằng lòng
từ bi đã khuyên các triều thần:
- Này các khanh, đừng chứa chấp trong tâm những điều bất
thiện mà hãy nuôi dưỡng lòng từ bi.
Bấy giờ vào lúc nửa đêm, những con chó rừng lũ lượt kéo
đến để ăn bữa tiệc thịt người. Và khi nhìn thấy những con thú, nhà vua và các
cận thần của ông đã cùng la lớn lên, làm cho những con thú hoảng sợ bỏ chạy. Sau
đó dừng lại, đàn chó rừng quay lại nhìn, không thấy ai đuổi theo cả, thế là
chúng lại đi đến. Những người này lại la lớn lên và đuổi chúng chạy, nhưng rồi
chúng đã quay trở lại như trước. Đến lần thứ ba, nhìn thấy không có người nào
trong số họ đuổi theo cả, những con chó rừng nghĩ: “Đây chắc chắn là những người
bị kết án chết” nên đã bạo dạn đi đến. Và khi tiếng la hét lại vang lên, chúng
không bỏ chạy nữa. Chúng đi đến, mỗi con chọn cho mình một con mồi. Con chó rừng
đầu đàn chọn nhà vua, còn những con khác chọn những những vị cận thần của ngài.
Đầy đủ phương kế, nhà vua khi nhìn thấy con thú đi đến gần, đã vươn cổ của mình
lên cắn lấy cổ con thú, giữ chặt cổ của nó bằng hàm răng kẹp chặt như gộng kìm!
Không thể kéo cổ ra khỏi cái kẹp cứng chắc của quai hàm nhà vua, con chó rừng sợ
chết nên đã hú lớn lên. Nghe tiếng kêu tai họa của nó, đàn chó biết thủ lĩnh của
chúng đã bị bắt nên không dám đi đến những con mồi đã được trù tính, mà tất cả
tháo chạy để giữ mạng.
Tìm cách thoát ra khỏi hàm răng của nhà vua, chó rừng mắc
bẫy điên dại chạy qua chạy lại, và do đó đã làm cho lớp đất lấp trên người nhà
vua mềm ra. Sau đó, thả con chó ra, nhà vua dùng hết sức mạnh phi thường của
mình, và bằng cách lắc qua lắc lại đã thoát hai cánh tay ra khỏi đất! Thế rồi
bám lấy bờ hố, nhà vua trườn mình lên và thoát ra khỏi hố giống như một đám mây
bay đi trước gió. Rồi nhà vua động viên các cận thần, sau đó bắt đầu đào đất
quanh từng người một để kéo họ ra, cho đến khi tất cả các triều thần được giải
thoát và đứng ở trong nghĩa địa.
Bấy giờ, người ta quăng một xác chết vào một nơi trong
nghĩa địa - chỗ đường phân chia địa phận của hai con dạ xoa. Và hai con dạ xoa
đang tranh cãi về việc phân chia xác chết ấy. Chúng nói:
- Chúng ta không thể tự phân chia xác chết này được. Vua
Câu Giới này là người công minh, ông ấy sẽ phân chia nó cho chúng ta. Chúng ta
hãy đi đến ông ấy.
Vì thế chúng nắm lấy chân xác chết kéo đến nhà vua và
nói:
- Thưa hoàng thượng, hãy phân chia xác người này ra hai
phần cho chúng tôi.
Nhà vua nói:
- Này hai vị, tôi sẽ chia cho hai vị. Nhưng bây giờ tôi
đang dơ bẩn. Trước hết các vị hãy tắm cho tôi đã.
Ngay lập tức, bằng năng lực của mình, những con dạ xoa
mang đến cho vua Câu Giới nước hoa được chuẩn bị cho vị vua cướp nước. Và khi
nhà vua tắm xong, chúng lại mang đến cho vua long bào được dành cho kẻ cướp nước
kia mặc. Khi nhà vua mặc đồ xong, chúng lại mang đến cho ngài một cái hộp chứa
bốn loại nước hoa. Khi nhà vua xức nước hoa xong, với một cái giỏ bằng vàng,
chúng mang đến cho ngài đủ loại bông hoa được gắn trên những cái quạt nạm ngọc.
Rồi khi nhà vua dùng bông hoa trang sức xong, những con da xoa hỏi ngài có muốn
chúng phục vụ gì thêm không. Nhà vua nói cho chúng biết là ngài đang đói bụng.
Vì thế những con dạ xoa lại ra đi và sau đó mang về cho ngài thứ cơm được ướp
bằng tất cả những hương thơm tốt nhất mà nó được chuẩn bị cho vị vua cướp nước.
Sau khi tắm, xức nước hoa, mặc áo quần và trang điểm xong, nhà vua đã dùng món
ăn sang trọng ấy. Sau đó, những con dạ xoa mang nước uống ướp hoa được đựng
trong cái bình bằng vàng của vị vua cướp nước kia đến cho ngài uống, và cũng
không quên mang đến cho ngài một cái chén bằng vàng. Khi nhà vua uống nước, súc
miệng và lau tay xong, chúng lại mạng đến cho ngai trầu thơm để nhai và hỏi ngài
có cần gì thêm nữa không. Ngài nói:
- Bằng thần lực của các vị, hãy mang đến cho ta thanh
kiếm báu nằm trên gối của vị vua cướp nước kia.
Ngay lập tức, thanh kiếm được mang đến cho vua. Sau đó
nhà vua nắm lấy xác chết và dựng đứng nó lên, bổ thanh kiếm từ đỉnh đầu xuống
chia thành hai phần, rồi trao cho mỗi con dạ xoa mỗi phần. Xong xuôi, nhà vua
rửa thanh kiếm và đeo nó vào một bên.
Sau khi ăn uống no nê, những con dạ xoa cảm thấy sung
sướng, và bằng lòng biết ơn đã hỏi nhà vua có muốn chúng làm thêm gì nữa không.
Vua nói:
- Bằng thần lực của các vị, hãy đặt ta vào phòng ngủ của
vị vua cướp nước và đưa các triều thần của ta trở về nhà của họ.
- Vâng, thưa hoàng thượng.
Những con dạ xoa vâng lời và tức khắc đi làm việc đó.
Bấy giờ, vị vua cướp nước đang nằm ngủ trên long sàng ở
trong vương phòng. Và khi vị vua cướp nước đang ngủ say, vua Câu Giới đã dùng
mặt bằng của thanh kiếm đánh vào bụng ông ta. Vị vua cướp nước hoảng sợ thức
dậy, và dưới ánh sáng của ngọn đèn, đã nhìn thấy vua Đại Câu Giới. Dồn hết can
đảm, ông ta rời giường đứng dậy và nói:
- Thưa hoàng thượng, bây giờ là canh đêm, hoàng cung được
canh gác và các cửa đều được đống - không người nào có thể vào được, vậy làm thế
nào ngài đến được bên giường ta, tay cầm kiếm và mặc hoàng bào lộng lẫy như vậy?
Vua Câu Giới kể cho ông ta nghe mọi chi tiết về câu
chuyện giải thoát của mình. Vị vua cướp nước nghe thế thì vô cùng kinh ngạc, bèn
nói:
- Thưa hoàng thượng, tôi mặc dù mang bản chất con ngươi
nhưng lại không biết được những công đức của ngài. Trong khi công đức đó lại
được các con dạ xoa hung ác ăn thịt uống máu kia biết rõ. Thưa hoàng thượng, từ
này trở đi tôi sẽ không bao giờ mưu tính chống lại một bậc nhân đức như ngài
nữa.
Nói vậy xong, ông nắm lấy gươm và phát lời thề nguyện giữ
tình thân hữu, sau đó cầu xin vua Câu Giới tha thứ cho ông. Rồi ông đặt nhà vua
nằm lên long sàng, còn mình thì nằm trên một cái giường nhỏ.
Vào sáng ngày hôm sau, khi mặt trời vừa mọc, tất cả thần
dân đủ các cấp bậc và địa vị đã tập trung lại theo tiếng trống lệnh của vị vua
cướp nước. Trước sự hiện diện của họ, ông đã tán thán vua Câu Giới giống như làm
cho mặt trăng rằm sáng tỏa giữa trời. Rồi ngay trước mặt họ, ông lại cầu xin vua
Câu Giới tha thứ cho mình và trao trả lại vương quốc cho ngài, nói rằng:
- Từ này trở đi, hãy để trách nhiệm giải quyết những quân
phiến loạn và chống đối cho tôi. Ngài hãy cai trị vương quốc của mình, còn tôi
sẽ canh giữ và bảo vệ nó.
Nói như vậy xong, vua Câu-tát-la trị tội kẻ vu không và
sau đó đem đạo quân trở về lại vương quốc của mình.
Rồi khi ngồi trên ngai vàng có chân như chân nai được đặt
dưới một cây lọng trắng uy nghi, vua Đại Câu Giới thọ hưởng vinh quang của mình
và suy nghĩ: “Nêu ta không kiên nhẫn thì ta sẽ không thọ hưởng được sự vinh
quang này, cũng như không cứu được mạng sống một ngàn triều thần của ta. Nhờ
kiên nhẫn mà ta đã dành lại được vương quốc đã bị mất và cứu sống một ngàn triều
thần. Qủa thực cần phải tinh tấn không ngừng với tâm dũng mãnh, vì xét thấy rằng
kết quả của sự kiên nhẫn thì thật kỳ diệu.” Rồi nhà vua đọc lên bài kệ chí
thành này:
Khó khăn giữ hy vọng
Không thối thất, nãn lòng
Ta vượt qua tai họa
Đạt được điều mình mong.
Đọc kệ xong, với tâm thành kính, Bồ-tát nói rằng những ai
tinh tấn nỗ lực hành thiện thì sẽ đạt được qủa báo tốt đẹp. Rồi sau khi trải qua
một đời làm việc công đức, Bồ-tát mạng chung và thọ sanh theo hành nghiệp của
mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn thuyết giảng Tứ
Thánh đế. Kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo thối thất tinh tấn chứng được quả
A-la-hán. Rồi đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện
Tiền thân:
- Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là vị quan phản bội, đệ tử
của Phật là một ngàn đại thần, còn ta chính là vua Đại Câu Giới.
Số 52
CHUYỆN TIỂU GIÀ-DA-CA
(Tiền thân Cūḷa-Janaka)
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo thối thất tinh tấn khác. Tất cả những tình
tiết của câu chuyện này sẽ được trình bày ở Tiền thân Mahā-janaka.
Ngự dưới lọng trằng uy quyền, nhà vua đã đọc lên bài kệ
này:
Khó khăn nuôi hy vọng
Khổ đau không nãn lòng
Ta vượt qua khổ nạn
Đi đến thấy bờ kia.
Ở đây, thầy Tỳ-kheo này cũng chứng được quả A-la-hán. Còn
nhận diện Tiền thân thì đức Phật Toàn giác là vua Già-da-ca.
Số 53
CHUYỆN CHIẾC BÌNH ĐẦY
(Tiền thân Puṇṇapāti)
Rượu ngon sao không uống…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về sự kiện rượu bị bỏ thuốc.
Bấy giờ, một số người nghiện rượu ở Xá-vệ gặp mặt nhau và
bàn bạc:
- Tiền uống rượu của chúng ta không còn nữa. Làm sao
chúng ta kiếm được tiền đây?
- Đừng lo! Tôi đã có một kế nhỏ. Một tên nói.
- Kế gì vậy? Những tên khác hỏi.
Tên kia nói:
- Trưởng giả Cấp Cô Độc có thói quen đeo nhẫn và mặc áo
quần đắt tiền khi đi đến yết kiến nhà vua. Chúng ta hãy dựng một cái quán rượu,
sau đó pha một ít thuốc mê vào trong rượu và ngồi đợi sẵn ở quán đó. Khi Cấp Cô
Độc đi ngang qua đó, chúng ta hãy mời Trưởng giả vào nhập bọn với chúng ta và
tiếp rượu cho ông ấy uống đến say. Sau đó chúng ta sẽ lột nhẫn và áo quần của
ông ấy để bán lấy tiền uống rượu.
Mưu kế của anh ta làm những tên khác vô cùng hài lòng, và
thế là chúng bắt đầu tiến hành. Khi trưởng giả Cấp Cô Độc đang trở về, chúng đi
ra đón và mời ông vào cùng uống rượu, nói rằng chúng có một ít rượu quý và ông
nên uống trước khi về.
Trưởng giả nghĩ: “Một người đệ tử Phật đã đắc qủa Dự lưu
lại có thể uống rượu được sao? Mặc dù ta không thèm rượu, nhưng ta phải vạch mặt
những tên lưu manh này.” Vì thế ông đi vào quán rượu của chúng. Ở đấy, thấy cách
thức của chúng, ông biết ngay rằng rượu đã bị pha thuốc mê nên quyết định làm
cho những tên vô lại này phải trốn khỏi đây. Vì thế ông kết tội ngay rằng:
- Các ngươi pha thuốc mê vào trong rượu để cho người lạ
uống, và khi thấy họ uống say rồi thì ăn cướp đồ của họ. Các ngươi ngồi ở quán
do các ngươi mở ra và khen ngợi rượu của mình, trong khi các ngươi không có kẻ
nào dám uống rượu này. Nếu rượu này không pha thuốc mê thì các người hãy uống
đi.
Bản kết tội này đã làm cho bọn nghiện rượu phải bỏ trốn.
Rồi Trưởng giả Cấp Cô Độc trở về nhà. Nghĩ rằng cần phải kể lại sự kiện này với
đức Phật nên Trưởng giả đã đi đến tinh xá Kỳ Viên và thuật lại câu chuyện. Nghe
xong câu chuyện, đức Thế Tôn nói:
- Này cư sĩ, bây giờ những kẻ vô lại này rắp tâm lừa gạt
ông, còn trong đời quá khứ, chúng đã rắp tâm lừa gạt những bậc hiền trí.
Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của Trưởng giả, đức Thế
Tôn đã kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, vua khi Phạm Dự (Bramadatta) trị vì xứ
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát là vị Tài quan của kinh thành này. Bấy giờ cũng có
một bọn nghiện rượu như vậy. Chúng gặp nhau bày mưu kế, sau đó pha thuốc mê, đi
ra đón đường và mời vị Tài quan giống như ở phần duyên khởi. Vị Tài quan hoàn
toàn không muốn uống rượu, nhưng tuy thế vẫn đi vào với chúng. Nhìn thấy cách
thức chúng làm, ngài nhận ra ngay mưu đồ của chúng. Nghĩ phải làm cho chúng
hoảng sợ mà bỏ chạy nên ngài đã nói:
- Rượu này là thứ thức uống nặng mùi, nếu tôi uống vào
thì tâm trí sẽ không sáng suốt khi đến gặp vua. Vậy các vị hãy ngồi ở đây, đợi
tôi đến gặp vua xong và khi quay trở về sẽ tính chuyện này.
Rồi khi ngài quay trở về, nhưng tên vô lại nhìn thấy ngài
thì gọi. Nhưng khi nhìn bình rượu có pha thuốc mê, ngài đã làm cho chúng hoảng
sợ bằng cách nói:
- Tôi không thích cách làm của các vị. Những bình rượu
vẫn còn đầy như lúc tôi rời khỏi đây. Các vị chỉ có khoác lác khen ngợi rượu của
mình, nhưng một giọt lại không dám nhắp môi. Nếu đó là rượu ngon thì chắc các vị
đã uống rồi! Rượu này chắc chắn đã bị bỏ thuốc mê!
Nói xong, ngài đọc lên bài kệ này:
Rươụ ngon sao không uống
Lại khoác lác ngợi khen?
Chứng cứ không dám uống
Cho thấy rượu không lành.
Rồi Bồ-tát suốt đời làm việc thiện, đến khi mạng chung đã
thọ sinh theo hành nghiệp của mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Những tên vô lại thuở ấy cũng chính là họ bây giờ, còn
ta chính là vị Tài quan (Quan giữ tiền).
Số 54
CHUYỆN TRÁI CÂY
(Tiền thân Phala)
Khi cây mọc gần làng…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về một nam cư sĩ thành thạo về trái cây. Chuyện kể rằng, một
điền chủ ở Xá-vệ đã mời đức Phật và các Tỳ-kheo đến ngồi ở khu vườn của mình rồi
cúng dường cháo và bánh. Sau đó, ông bảo người làm vườn của mình đi dạo cùng với
các Tỳ-kheo và cúng dường xoài cùng những trái cây khác cho chư vị. Vâng theo
lời chủ, người này đưa các Tỳ-kheo đi dạo quanh vườn. Và vị này, chỉ nhìn thoáng
qua cây là biết được trái cây nào còn xanh, trái nào gần chín và trái nào đã
chín. Điều vị này nói luôn luôn được xem là xác thực. Thế rồi, chư Tỳ-kheo đi
đến đức Thế Tôn và kể lại sự kiện người làm vườn thành thạo về trái cây, nói
rằng trong khi đang đứng trong vườn, vị này có thể nói chính xác tình trạng các
trái cây còn treo trên cành. Nghe thế, đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheo, không phải chỉ có người làm vườn này
mới thành thạo về trái cây, mà đời trước những bậc hiền trí cũng có sự thành
thạo như vậy.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ
Ba-la-nại (Benares), Bộ-tát thọ sanh vào một gia đình thương nhân. Khi đến tuổi
trưởng thành, ngài đã đi buôn với năm trăm cỗ xe. Một hôm, ngài đi đến một khu
rừng lớn. Dừng lại trước bìa rừng, ngài tập hợp đoàn người lại và nói:
- Này các vị, trong khu rừng này có những cây độc sống.
Vì thế các vị không được nếm bất cứ lá, hoa hay trái cây lạ nào khi chưa hỏi ta.
Đoàn ngươi hứa làm theo và bắt đầu đi vào rừng. Bấy giờ,
tại nơi bìa rừng này có một ngôi làng, và ở ngoài ngôi làng ấy có một cái cây
tên là Trái Cây Gì. Thân, nhành, hoa và lá của cây này thì giống y như cây xoài.
Và không chỉ hình dáng bên ngoài mà ngay cả hương vị của trái cây - lúc sống
cũng như lúc chín - đều giống như trái xoài. Nhưng nếu ăn vào, thì đó là thứ
chất độc chết người, khiến người ăn chết ngay lập tức.
Bấy giờ, có một vài người tham ăn đi đầu đoàn người, đi
đến cây này, tưởng đó là cây xoài nên ăn trái cây. Nhưng một số người khác nói:
- Chúng ta hãy hỏi trưởng đoàn của chúng ta đã.
Vì thế họ cầm trái cây và chờ người trưởng đoàn đi đến.
Biết đó không phải là trái xoài, ngài nói:
- Đây không phải là cây xoài mà là cây Trái Cây Gì. Các
vị không được ăn trái cây này.
Sau khi ngăn không cho họ ăn, Bồ-tát lo lắng chăm sóc
những người đã ăn trái. Trước tiên ngài làm cho họ nôn ra, sau đó cho họ ăn bốn
loại thức ăn ngọt. Và những người này cuối cùng đã được hồi phục.
Trước đây, có những người nghĩ dưới cây này, đã bỏ mạng
vì do ăn trái cây độc mà họ lầm tưởng là cây xoài. Vào sáng hôm sau, dân làng đi
đến, nhìn thấy họ nằm chết ở đấy thì nắm lấy chân họ ném vào một chỗ kín, sau đó
lấy hết tất cả tư trang, hàng hoá và xe cộ của đoàn lái buôn.
Còn bây giờ, khi nghe những thương nhân bị trúng độc, dân
làng vào sáng sớm đã vội vàng chạy đến cây đó, vừa chạy vừa nói đến những thứ mà
mình sẽ có được: một số thì nói đàn bò này là của họ, một số khác thì nói những
cỗ xe này là của họ, trong khi một số khác lại đòi chia hàng hóa. Nhưng khi họ
hổn hển chạy đến cây đó, thấy cả đoàn thương nhân đều còn sống và khỏe mạnh thì
vô cùng thất vọng. Thế là họ hỏi:
- Làm sao các vị biết đây không phải là cây xoài?
- Không phải chúng tôi biết, mà là người trưởng đoàn của
chúng tôi biết đấy.
Nghe thế, dân làng đi đến Bồ-tát và nói:
- Thưa bậc hiền trí, tại sao ngài biết đây không phải là
cây xoài?
Bồ-tát trả lời rằng có hai điều nói với ngài, và đã đọc
lên bài kệ này:
Khi cây mộc gần làng,
Dễ dàng leo trèo lên
Do vậy ta nhận biết
Không lành trái cây này.
Rồi sau khi thuyết pháp cho mọi người xong, Bồ-tát an
toàn đi đến nơi đã định.
* * *
Đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheo, vào đời trước, các bậc hiền trí cũng
thành thạo trong việc xem trái cây.
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của
hai câu chuyện và nhận diện Tiền thần:
- Vào thuở đó, đệ tử của ta là đoàn người lái buôn, còn
ta chính là người thương nhân trưởng đoàn.
Số 55
CHUYỆN THÁI TỬ NGŨ VÕ KHÍ
(Tiền thân Pañcāvudha)
Từ bỏ tâm tham trước…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo thối thất tinh tấn.
Đức Thế Tôn hỏi thầy này:
- Này Tỳ-kheo, có thật là thầy thối thất tinh tấn không?
- Thật có vậy, bạch Thế Tôn.
- Này Tỳ-kheo, vào đời trước, những bậc hiền trí đã dành
được vương vị nhờ biết tinh tấn dũng mãnh trong những trường hợp cần thiết.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát nhập thai làm con của hoàng hậu vị vua này. Vào ngày
lễ đặt tên, cha mẹ của Bồ-tát đã mời tám trăm vị Bà-la-môn đến xem số cho ngài,
và ban cho những người này những đồ vật hảo hạng làm thỏa lòng mong muốn của họ.
Nhìn thấy triển vọng được biểu hiện ra ngoài qua vận tướng huy hoàng, những
Bà-la-môn thông thái này đã tiên đoán rằng, khi vua cha qua đời, thái tử sẽ kế
thừa vương vị và trở thành một vị vua hùng mạnh đầy đủ mọi oai đức. Ngài sẽ nỗi
danh với những chiến công hiển hách trong việc sử dụng năm thứ vũ khí, sẽ trở
thành con người vô thượng ở cõi Ấn Độ. Và căn cứ vào lời tiên đoán của các
Bà-la-môn, vua và hoàng hậu đã đặt tên cho thái tử là Thái tử Ngũ Võ Khí.
Bấy giờ, khi thái tử đến tuổi trưởng thành, đúng mười sáu
tuổi, nhà vua bảo thái tử hãy đi xa học tập. Thái tử hỏi:
- Thưa phụ vương, con phải học với ai?
- Học với một vị thầy danh tiếng tại thành Xoa-thi-la
(Takkasilā) ở nước Kiền-đà-la (Gandhāra). Và đây là tiền học phí để con trả cho
ông ấy.
Nhà vua nói và đưa cho thái tử một ngàn đồng tiền vàng.
Thế rồi thái tử đến Xoa-thi-la và học tập ở đấy. Khi thái
từ học xong và chuẩn vị trở về, người thầy đã trao cho thái tử năm loại võ khí.
Cầm lấy vũ khí, thái tử chào người thầy tôn kính của mình và từ Xoa-thi-la khởi
hành trở lại Ba-la-nại.
Trên đường đi, thái tử đi đến một khu rừng có một con dạ
xoa tên là Mao Niêm (long dính) cư trú. Và tại lối vào rừng, người dân ở đấy gặp
thái tử thì cố sức chặn lại. Họ nói:
- Này thành niên Bà-la-môn, anh không nên đi vào khu rừng
này. Khu rừng này có con dạ xoa tên là Mao Niêm cư trú, nó sẽ giết chết bất cứ
ai mà nó gặp.
Nhưng hùng dũng như một con sư tử, Bồ-tát tự tin đi nhanh
vào rừng, và khi đến giữa rừng thì gặp con quỷ dạ xoa. Con quỷ dạ xoa hiện ra
hình dáng to lớn như cây cọ dừa, với cái đầu to như một lùm cây và cặp mắt to
như hai cái bát; hai cái răng nanh thì như hai củ cải và cái mỏ của một con diều
hâu; cái bụng của nó bôi đầy máu; còn hai lòng bàn tay và hai lòng bàn chân thì
có màu xanh đen! Con quỷ dạ xoa hỏi lớn:
- Ngươi đi đâu? Hãy dừng lại! Ngươi là còn mồi của ta.
Bồ-tát trả lời:
- Này dạ xoa, ta biết những gì phải làm khi đi vào khu
rừng này. Ngươi chớ khờ dại đi đến gần ta. Nếu người đến gần, ta sẽ dùng mũi tên
độc bắn giết chết ngươi ngay tại chỗ.
Thách thức như vậy xong, thái tử lắp vào cung một mũi tên
có tẩm thuốc độc gây tử vong và bắn vào con dạ xoa. Nhưng mũi tên chỉ dính vào
lớp lông bờm xờm của nó. Thế rồi hết mũi tên này đến mũi tên khác, thái tử bắn
mãi cho đến mũi tên thứ năm mươi, và tất cả đều dính vào lớp lông bờm xờm của
con dạ xoa. Sau đó, con dạ xoa lắc cho những mũi tên rớt xuống dưới chân nó và
đi đến Bồ-tát. Bồ-tát lại hét lên thách thức và rút gươm ra đâm vào con dạ xoa.
Nhưng giống như những mũi tên, cây gươm dài hơn tám tấc của Bồ-tát cũng bị dính
vào lớp lông dính. Kế đến Bồ-tát phóng cái lao vào nó, và cái lao cũng dính chặt
vào lớp lông. Thấy vậy, Bồ-tát dùng cây gậy đánh vào nó, nhưng giống như những
thứ vũ khi kia, cây gậy cũng bị dính chặt vào. Do đó Bồ-tát hét lên:
- Này dạ xoa, ngươi chắc chưa bao giờ nghe đến ta, Thái
tử Ngũ Võ Khí. Khi ta mạo hiểm đi vào khu rừng này, ta đặt tin tưởng không phải
ở trong cái cung và những thứ vũ khí khác của ta mà ở trong chính ta! Bây giờ ta
sẽ đánh người, cú đánh này sẽ làm cho người nát thành cát bụi.
Nói vậy xong, Bồ-tát dùng tay phải đánh vào con con dạ
xoa, nhưng cánh tay dính chặt trên lớp lông. Sau đó Bồ-tát lần lượt dùng tay
trái, rồi chân phải, chân trái đánh vào con dạ xoa, nhưng tay và chân cũng bị
dính chặt vào lớp lông. Bồ-tát lại hét lên:
- Ta sẽ nghiền nát ngươi thành bụi!
Rồi Bồ-tát dùng đầu đánh vào con dạ xoa, và cái đầu cũng
bị dính chặt.
Nhưng dầu khi bị dính chặt đầu cùng tứ chi và bị treo vào
con dạ xoa như vậy, Bồ-tát vẫn không hề sợ hãi, không hề nãn lòng. Con dạ xoa
thấy vậy thì nghĩ: “Đây không phải là một con người bình thường mà chính là một
con sư tử giữa loài người, một anh hùng không có địch thủ. Mặc dù bị một con dạ
xoa như ta tóm lấy, anh ta vẫn không tỏ vẻ sợ hãi. Từ khi ta bắt đầu giết người
bộ hành trên con đường này đến nay, ta chưa bao giờ nhìn thấy một người như anh
ta. Tại sao anh ta không sợ?” Không dám ăn thịt Bồ-tát vội, nó hỏi:
- Này thanh niên Bà-la-môn, tại cớ sao người lại không sợ
chết?
Bồ-tát trả lời:
- Tại sao ta không sợ chết à? Bởi vì mỗi chúng sanh đều
phải kết thúc bằng cái chết không tiên liệu được. Hơn nữa, trong người ta có một
thanh gươm bằng kim cương mà ngươi sẽ không bao giờ tiêu hoá được nếu ngươi ăn
ta. Nó sẽ cắt nội tạng của ngươi thành nhiều mảnh, và như vậy cái chết của ta
cũng chính là cái chết của ngươi. Do đó ta không sợ hãi.
(Ở đây Bồ-tát muốn nói đến thanh gươm trí tuệ ở bên trong
ngài.)
Nghe thế, dạ xoa suy nghĩ: “Thanh niên Bà-la-môn này chắc
chắn đang nói thật. Ta sẽ không thể tiêu hoá được dầu chỉ một miếng thịt nhỏ như
hạt đậu của con người anh hùng này. Ta sẽ để cho anh ta đi.” Vì sợ mất mạng, con
dạ xoa đã để cho Bồ-tát được tự do ra đi. Nó nói:
- Này thanh niên Bà-la-môn, anh là một con sư tử giữa
loài người, vì vậy ta sẽ không ăn thịt anh. Anh được thoát khỏi tay ta như mặt
trăng thoát khỏi miệng A-tu-la (Rāhu). Thôi hãy quay về làm an vui thân tộc, bạn
bè và đất nước của anh đi.
Bồ-tát trả lời:
- Này dạ xoa, ta sẽ ra đi. Nhưng đối với ngươi, do những
ác nghiệp trong đời quá khứ mà nay ngươi thọ sanh làm con dạ xoa tham lam, hung
dữ và ăn thịt. Nếu ngươi còn tiếp tục tạo ác nghiệp trong đời này, ngươi sẽ phải
trải qua hết cảnh tối tăm này đến cảnh tối tăm khác. Nhưng nay gặp ta, ngươi
không thể làm điều ác. Nên biết rằng sát sanh sẽ bị đọa vào địa ngục, hoặc súc
sanh, hoặc ngạ quỷ, hoặc A-tu-la. Còn nếu được tái sanh vào cõi người thì phải
chịu sự yểu mệnh do những ác nghiệp ấy gây nên.
Bằng đủ mọi cách, Bồ-tát đã trình bày về những quả báo
xấu của năm ác giới, và những quả báo tốt lành của năm thiện giới. Và như vậy
bằng nhiều cách khác nhau, Bồ-tát đã thuyết giảng, làm cho dạ xoa biết sợ hãi,
rồi ngài cải đổi nó, làm cho nó thấm nhuần giới pháp và thiết lập cho nó năm
giới. Sau đó, Bồ-tát cho con dạ xoa làm vị thần ở khu rừng đó với cái quyền được
nhận phẩm vật của những người cúng tế, và bảo nó không nên dao động phóng dật.
Rồi Bồ-tát đi ra khỏi rừng và báo tin cho mọi người biết về việc thay đổi tâm
tính của con dạ xoa. Cuối cùng, Bồ-tát trang bị năm loại vũ khí, trở về
Ba-la-nại trình diện phụ vương và hoàng hậu. Về sau, khi lên làm vua, Bồ-tát đã
cai trị vương quốc một cách công chánh. Rồi trải qua một đời thực hành bố thí và
làm việc thiện, Bồ-tát mệnh chung và tái sanh theo hành nghiệp của mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Giác đã
đọc lên bài kệ:
Từ bỏ tâm tham trước
Tu tập các pháp lành
Đạt Niết-bàn an ổn
Kiết sử được đoạn tận.
Như vậy, sau khi thuyết pháp nhằm hướng đến qủa vị
A-la-hán rốt ráo, đức Thế Tôn tiếp tục thuyết giảng Tứ Thánh đế. Kết thúc các
Thánh đế, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền
thân:
- Vào thuở đó, Angulimāla là con dạ xoa, còn ta chính là
Thái tử Ngũ Võ Khí.
Số 56
CHUYỆN KHỐI VÀNG
(Tiền thân Kañcanakkhandha)
Tâm ý đầy hoan hỷ…
Trong một lần trú tại thành Xá-vệ (Sāvatthi), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo. Tương truyền rằng, sau khi nghe đức Thế
Tôn thuyết pháp, một thiện nam tử sống ở thành Xá-vệ đã phát tâm quy y Tam bảo
và sau đó xuất gia. Các sư trưởng và giáo thọ của thầy này tiếp đến đã dạy cho
thầy mười giới, rồi lần lượt giảng dạy Tiểu giới, Trung giới, Đại giới; đưa ra
Giới hộ trì Ba-la-đề-mộc-xoa (Pātimokkha, giới bổn), Giới chế ngự các căn, Giới
thanh tịnh mạng, Giới sử dụng các loại đồ vật.
Thầy Tỳ-kheo trẻ suy nghĩ: “Thật có quá nhiều giới, ta
chắc chắn không thể nào giữ trọn. Nếu không thể giữ trọn các giới thì xuất gia
có lợi ích gì chứ? Cách tốt nhất là ta nên hoàn tục, nuôi dạy vợ con, sống
cuộc đời làm việc bố thí và thực hành thiện nghiệp.” Thế rồi thầy thưa với các
Tôn giả những gì thầy nghĩ, nói thêm rằng thầy sẽ hoàn tục và muốn trả lại y
bát. Các Tôn giả nghe thế thì nói:
- Nếu thầy nghĩ vậy thì hãy cứ về, nhưng trước khi về ít
nhất thầy cũng nên đến đảnh lễ đức Thế Tôn.
Rồi chư vị đưa thầy Tỳ-kheo trẻ này đến Chánh pháp đường
gặp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn hỏi:
- Này các Tỳ-kheo, tại sao các thầy đưa Tỳ-kheo này đến
đây gặp ta trong khi vị này không muốn?
- Bạch Thế Tôn, thầy này nói rằng không thể giữ được Giới
pháp và muốn trả y bát lại. Ví thế chúng con đưa thầy này đến gặp đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn hỏi:
- Này các Tỳ-kheo, nhưng tại sao các thấy lại trao cho
thầy này nhiều giới như vậy? Thầy này chỉ có thể giữ được những gì mình có thể,
ngoài ra không thể hơn được. Các thầy không nên phạm lỗi lầm này nữa. Còn đối
với trường hợp này, ta biết những gì nên làm.
Rồi hướng đến thầy Tỳ-kheo trẻ, đức Thế Tôn nói:
- Này Tỳ-kheo, hãy đến đây. Sao lại bận tâm đến tất cả
các giới? Thầy có thể giữ được ba giới không?
- Thưa được, bạch Thế Tôn.
- Vậy từ bây giờ, thầy hãy phòng hộ ba căn môn là thân,
khẩu và ý. Không được làm các điều ác dù về thân, khẩu hay ý. Thầy chỉ giữ ba
giới này thôi, chớ có hoàn tục.
- Bạch Thế Tôn, con sẽ giữ ba giới này.
Thầy Tỳ-kheo trả lời như vậy rồi cùng với các giáo thọ và
sư trưởng quay trở về. Và khi thọ trì ba giới này, thấy Tỳ-kheo ấy nghĩ: “Các
giáo thọ và sư trưởng đã nói cho ta toàn bộ giới pháp, nhưng bởi họ không phải
là Phật nên không thể làm cho ta nắm bắt được các giới này. Trong khi bậc Toàn
Giác, vì nhờ chứng ngộ được Phật quả, là một bậc Pháp Vương, đã trình bày tất cả
các giời thành ba điều liên quan đến các căn môn, và làm cho ta thấu hiểu một
cách rõ ràng. Đức Thế Tôn thực sự là người đã giúp đỡ ta.” Thế rồi thầy phát
triển thiền quán và một vài ngày sau thì chứng được thánh quả A-la-hán.
Khi các Tỳ-kheo nghe sự kiện này, chư vị tập họp lại
trong Chánh pháp đường và bàn về điều đó. Họ kể lại sự kiện thầy Tỳ-kheo kia dự
định hoàn tục vì nghĩ không thể giữ trọn giới pháp, nhưng đức Thế Tôn đã thâu
tóm tất cả giới thành ba điều và bảo thầy này giữ ba giới đó. Và như thế, nhờ
đức Thế Tôn mà thấy này đã chứng được thánh quả A-la-hán. Họ nói rằng đức Phật
thật là vi diệu.
Vào lúc đó, đức Thế Tôn đi vào và nghe được vấn đề mà chư
vị đang bàn. Ngài nói:
- Này các Tỳ-kheo, ngay cả một vật nặng cũng trở nên nhẹ
nếu được phân thành từng phần. Như vào đời quá khứ, các bậc hiền trí khi tìm
thấy một khối vàng lớn, quá nặng nhấc lên không được, đã đập nó ra thành từng
mảnh và lần lượt mang vàng đi.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ
Ba-la-nại(Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một người nông phu sống tại một ngôi
làng nọ. Một hôm, Bồ-tát đang cày trên một thửa ruộng tại ngôi làng đó. Thửa
ruộng này trước đây, một vị thương nhân giàu có trước khi qua đời đã chôn ở đấy
một khối vàng lớn, to bằng bắp đùi người và cao đến bốn khuỷnh tay. Lưỡi cày của
Bồ-tát đụng phải khối vàng này thì mắc cứng lại. Nghĩ rằng đó là một cái rễ cây
đâm ngang, Bồ-tát đã đào nó lên. Nhưng khi nhận ra đó là khối vàng, ngài đã lau
chúi sạch sẽ lớp bùn bám trên vàng. Kết thúc ngày làm việc, vào lúc hoàng hôn,
ngài đem cất cày bừa, thử kê vai vác khối vàng ấy đi. Nhưng ngài không thể nhấc
nó lên được. Vì thế ngài ngồi xuống và nghĩ cách sử dụng khối vàng này như thế
nào: “Ta sẽ dùng phần này vào việc sinh sống, phần này chôn cất làm tài sản tích
lũy, phần này dùng để buôn bán, và phần này dùng bố thí và làm việc thiện.” Nghĩ
như thế, Bồ-tát đã phân chia khối vàng thành bốn phần, và sự phân chia này đã
giúp ngài dễ dàng mang khối vàng về nhà. Rồi sau một đời làm việc bố thí và thực
hành thiện nghiệp, Bồ-tát mệnh chung và thọ sanh theo hành nghiệp của mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Giác đã
đọc lên bài kệ này:
Tâm ý đầy hoan hỷ
Tu tập các pháp lành
Đạt Niết-bàn an ổn
Kiết sử được đoạn tận.
Như vậy, sau khi thuyết pháp hướng đến qủa vị A-la-hán
rốt ráo, đức Thế Tôn liên kết hai câu chuyện lại và nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, ta chính là người đã được khối vàng.
Số 57
CHUYỆN CON KHỈ CHÚA
(Tiền thân Vānarinda)
Khỉ vương như ngài vậy…
Trong một lần trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về những cố gắng của Đề-bà-đạt-đa nhằm giết hại Ngài. Khi nghe
Đề-bà-đạt-đa có ý định giết mình, đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu tiên
Đề-bà-đạt-đa cố tìm cách giết ta thôi đâu, mà vào đời trước chính ông ta cũng đã
từng làm như vậy, nhưng rồi ý muốn độc ác của vị này không thành tựu.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con khỉ. Khi trưởng thành, khỉ lớn
như một con lừa con và vô cùng mạnh mẽ. Khỉ sống một mình trên bờ sông. Giữa
sông ấy có một hòn đảo và trên đảo ấy có các loại cây ăn trái như xoài,
dừa.v.v.. mọc. Và ở giữa dòng nước, nửa nằm giữa hòn đảo và bờ sông, có một tảng
đá nhô lên khỏi mặt nước. Mạnh như một con voi, Bồ-tát thường nhảy từ bờ sông
đến tảng đá và sau đó từ tảng đá nhảy sang hòn đảo. Ở đấy, Bồ-tát ăn thỏa thích
các loại trái, và vào buổi chiều thì quay trở về theo cách đã đến. Ngày lại
ngày, khỉ sống theo cách như vậy.
Bấy giớ, có hai vợ chồng cá sấu sống ở con sông đó. Con
sấu cái có chửa, khi nhìn thấy khỉ nhảy qua nhảy lại như vậy thì khởi lòng muốn
ăn quả tim của khỉ. Bởi vậy nó bảo con sấu đực hãy bắt con khỉ cho nó. Hứa làm
theo lòng mong muốn của sấu cái, sấu đực đi đến nằm nơi tảng đá, định sẽ bắt lấy
khỉ khi khỉ quay trở về vào buổi chiều.
Sau cả ngày dạo khắp hòn đảo, vào buổi chiều, Bồ-tát nhìn
sang hòn đá và phân vân không biết tại sao hòn đá đó lại cao hơn bình thường.
Bấy giờ, Bồ-tát luôn biết chính xác độ cao mức nước ở trong sông và chiều cao
của tảng đá. Vì thế khi nhìn thấy điều này, mặc dù nước vẫn ở mực như vậy, nhưng
tảng đá dường như cao hơn mực nước, Bồ-tát nghi ngờ rằng có một con cá sấu ẩn
núp ở đó đề bắt mình. Để hiểu rõ vấn đề, Bồ-tát gọi lớn, như thể đang nói với
tảng đá:
- Hỡi tảng đá!
Và khi tảng đá vẫn giữ im lặng, khỉ lại gọi:
- Hỡi bạn tảng đá, tại sao hôm nay bạn không trả lời tôi
vậy?
Con cá sấu nghĩ: “À ra vậy, tảng đã có thói quen trả lời
con khỉ. Hôm nay ta phải trả lời thay cho tảng đá.” Vì thế nó nói to lên:
- Này khỉ, có việc gì vậy?
- Bạn là ai thế? Khỉ hỏi.
- Tôi là cá sấu.
- Bạn nằm đó với mục đích gì vậy?
- Để bắt và ăn tim ngươi.
Không có con đường nào khác để trở về, điều duy nhất phải
làm là đánh lừa con các sấu, vì thế Bồ-tát nói lớn:
- Ta không còn lối thoát nào khác ngoài hiến thân cho
bạn, vậy hãy mở miệng ra đế bắt lấy ta khi ta nhảy đến.
Thường, loài cá sấu mỗi khi hả miệng thì mắt của nó nhắm
lại. Vì thế ở đây, con cá sấu này hả miệng ra một cách đầy tin tưởng và nhắm mắt
lại nằm chờ. Thấy vậy, con khỉ khôn ngoan nhảy sang đứng lên trên đầu cá sấu,
rồi từ đầu cá sấu, nhanh như chớp nhảy sang bờ sông. Sự kiện kỳ diệu này đã làm
cho con cá sấu thán phục. Nó nói:
- Này khỉ, ai ở trong đời này nếu có đủ bốn thiện pháp
thì chiến thắng được kẻ thù của mình. Tôi nghĩ bạn có đủ bốn bốn thiện pháp.”
Nói vậy xong, nó đọc lên bài kệ này:
Khỉ vương, như ngài vậy
Ai có đủ bốn pháp
Là chân thật, nghĩ xa
Kiên định và vô uý
Sẽ đánh bại kẻ thù.
Tán thán Bồ-tát như vậy xong, con cá sấu trở lại chỗ ở
của mình.
* * *
Đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên
Đề-bà-đạt-đa cố tìm cách giết hại ta thôi đâu, mà vào đời trước vị này cũng đã
từng làm như vậy.
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn liên kết hai câu chuyện
lại và nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là con cá sấu, nữ Bà-la-môn
Chiền-xà (Ciñcā) là con sấu cái, còn ta chính là Khỉ vương.
Số 58
CHUYỆN BA PHÁP
(Tiền thân Tayodhamma)
Khỉ vương, giống như ngài…
Trong một lần trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về âm mưu sát hại.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ
Ba-la-nại (Benares), Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) thọ sanh làm một con khỉ sống gần
Tuyết sơn, là thủ lĩnh của một đàn khỉ do nó sanh ra. Nghĩ rằng những con khỉ
đực con khi lớn lên có thể đoạt lấy quyền lãnh đạo của mình cho nên con khỉ này
đã dùng răng thiến hết chúng.
Bấy giờ, Bồ-tát nhập thai vào một con khỉ cái, vợ của con
khỉ này. Và mẹ của Bồ-tát, để cứu lấy thai nhi đã bỏ trốn đến một khu rừng dưới
chân núi, và ở đấy đủ ngày đủ tháng thì sinh ra Bồ-tát. Bồ-tát khôn lớn, đến
tuổi trưởng thành thì có sức mạnh phi thường. Một hôm, Bồ-tát hỏi mẹ:
- Thưa mẹ, cha con ở đâu?
- Con trai, cha con sống tại chân ngọn núi kia, là vua
của một đàn khỉ. Khỉ mẹ trả lời.
- Thưa mẹ, xin hãy đưa con đến gặp cha con.
- Con trai, không thể được. Cha con vì sợ các con mình
tranh quyền nên đã dùng răng thiến hết chúng.
- Thưa mẹ, mẹ đừng sợ. Xin hãy đưa con đến đó, con biết
mình phải làm gì. Bồ-tát nói.
Vì thế, khỉ mẹ đưa Bồ-tát đến gặp khỉ cha. Khỉ cha nhìn
thấy con mình, nghĩ rằng con mình lớn lên chắc chắn sẽ truất phế mình nên quyết
định giết chết khỉ con bằng cách giả vờ ôm hôn. Khỉ cha kêu lên:
- Ôi, con trai ta. Lâu nay con sống ở đâu?
Nói vậy xong, nó ôm lấy Bồ-tát và siết chặt như siết bằng
gọng kìm. Nhưng Bồ-tát có sức mạnh như voi, đã siết mạnh trở lại và làm cho
xương sườn khỉ cha như muốn gãy nát.
Thấy vậy, khỉ cha suy nghĩ: “Con trai của ta nếu lớn lên
chắc chắn sẽ giết ta.” Nghĩ thế, nó tìm cách giết chết Bồ-tát. Nhớ ra cách đó
không xa có một hồ nước có quỷ la sát ở, muốn cho con quỷ la sát ở đấy ăn thịt
con mình nên nó nói với Bồ-tát:
- Con trai của ta, nay ta đã già rồi. Ta muốn giao đàn
khỉ này lại cho con. Hôm nay con sẽ làm chúa khỉ. Tại hồ nước gần đây có hai
loại hoa súng, có ba loại hoa sen xanh và năm loại hoa sen trắng. Con hãy đến đó
hái về cho ta một ít.
- Vâng thưa cha, con sẽ đến hái.
Bồ-tát trả lời và ra đi. Đến nơi, Bồ-tát thận trọng đến
gần hồ, xem xét dấu chân trên bờ hồ và nhận ra rằng tất cả đều đi xuống nước mà
không có một dấu chân nào đi trở lên. Biết trong hồ có một con quỷ la sát ở,
Bồ-tát hiểu ra rằng, khỉ cha tự thân không thể giết chết được mình nên muốn mượn
con quỷ la sát giết thay. Bồ-tát nói:
- Nhưng không cần đi xuống nước thì ta cũng hái được hoa
sen.
Thế rồi Bồ-tát đi đến một chỗ đất khô, lấy đà nhảy qua.
Trong khi nhảy qua như vậy, không hề đụng nước, Bồ-tát nhổ hai cây hoa vươn lên
khỏi mặt nước và đứng xuống bờ bên kia. Rồi từ bờ bên kia nhảy về lại, cũng hình
thức ấy, Bồ-tát nhổ hai cây hoa. Và như thế Bồ-tát hái hoa chất thành đống hai
bên bờ hồ, tuy thế vẫn không bước xuống chỗ ở của con quỷ la sát. Đến khi thấy
không thể nhảy qua lại để hái hoa được nữa, Bồ-tát gom hết hoa lại trên bờ hồ.
Con quỷ la sát thấy vậy thì vô cùng kinh ngạc, suy nghĩ: “Ta sống ở hồ này đã
lâu nhưng chưa bao giờ nhìn thấy một người nào thông minh lạ lùng như vậy! Trong
khi con khỉ này hái được tất cả những bông hoa nó muốn nhưng vẫn không bị ta
bắt.” Rẻ nước đi lên, con quỷ la sát ra khỏi hồ và đến chỗ Bồ-tát đang đứng. Nó
nói với Bồ-tát thế này:
- Thưa khỉ vương, người nào có được ba phẩm tính thì sẽ
chiến thắng được kẻ thù của mình. Ta nghĩ ngài có đủ ba phẩm tính.
Nói vậy xong, nó đọc lên bài kệ này để tán thán Bồ-tát:
Khỉ vương, giống như ngài
Ai ba pháp đầy đủ:
Dũng, Thiện xảo và Trí
Sẽ chiến thằng kẻ thù.
Tán thán như vậy xong, con quỷ la sát hỏi Bồ-tát hái hoa
để làm gì. Bồ-tát trả lời:
- Cha của ta muốn phong ta làm vua, vì thế ta hái hoa
này.
Con quỷ la sát nói:
- Một người vô song như ngài không nên mang hoa. Tôi sẽ
mang hoa cho ngài.
Nói vậy xong, con quỷ nhặt lấy hết toàn bộ số hoa và mang
đi theo Bồ-tát.
Từ xa nhìn thấy điều này, khỉ cha biết rằng âm mưu của
mình đã bị thất bại. Nó nghĩ: “Ta bảo nó đến đó để làm mồi cho con quỷ la sát,
vậy mà bầy giờ nó quay về an toàn cùng với con quỷ mang hoa cho nó! Ta chết đến
nơi rồi!” Rồi con khỉ này kêu lên, tim vỡ ra thành bảy mảnh và chết ngay tại
chỗ. Những con khỉ khác họp lại và tôn Bồ-tát lên làm vua.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn liên kết hai câu
chuyện lại và nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là vua khỉ, còn ta là khỉ
con.
Số 59
CHUYỆN ĐÁNH TRỐNG
(Tiền thân Bherivāsa)
Không nên đánh quá nhiều…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một thầy Tỳ-kheo bướng bỉnh. Đức Thế Tôn hỏi:
- Này Tỳ-kheo, có thật là thầy bướng bỉnh không?
- Bạch Thế Tôn, thật như vậy.
Này Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên thầy bướng
bỉnh đâu, mà vào đời trước chính thầy cũng đã từng như vậy.
* * *
Thửa xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ
Ba-la-nại (Banares), Bồ-tát sanh làm một người đánh trống. Nghe rằng có một lễ
hội được tổ chức ở Ba-la-nại, và hy vọng sẽ kiếm được tiền nhờ đánh trống cho
những người vui chơi lễ hội nên Bồ-tát đã cùng với con trai của mình đi đến
Ba-la-nại. Ở đấy, ông đánh trống và kiếm được nhiều tiền. Trên đường về nhà cùng
với số tiền kiếm được, Bồ-tát phải đi qua một khu rừng có bọn cướp quấy nhiễu.
Khi đi như vậy, người con trai cứ đánh trống liên hồi. Thấy thế Bồ-tát ngăn cản:
- Con không nên đánh trống như vậy, mà chỉ thỉnh thoảng
mới đánh một lần, hãy làm như là một vị đại vương đang đi ngang vậy.
Nhưng bất chấp lời khuyên bảo của cha, người con trai
nghĩ cách tốt nhất để làm cho bọn cướp sợ hãi là cứ đánh trống liên hồi.
Lúc đầu nghe tiếng trống, những tên cướp bỏ chạy, vì
tưởng rằng một vị đại vương đang đi ngang qua. Nhưng khi nghe tiếng trống liên
hồi, chúng thấy rằng mình nhầm lẫn nên quay trở lại để xem người kia thực sự là
ai. Thấy chỉ có hai người, chúng đánh đập và cướp tiền của họ. Bồ-tát than:
- Ôi, bởi con đánh trống liên hồi nên làm mất hết tiền
bạc kiếm được một cách cực nhọc!
Nói vậy xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ này:
Không nên đánh quá nhiều
Đánh nhiều thành nguy hại
Do đánh nhiều mất hết
Số tiền nhờ đánh trống.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của
hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, Tỳ-kheo bướng bỉnh này là người con, còn
ta chính là người cha.
Số 60
CHUYỆN THỔI TÙ VÀ
(Tiền thân Samkhadhamana)
Không nên thổi quá nhiều…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một người bướng bỉnh khác.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm một người thổi tù và. Một hôm, Bồ-tát cùng với cha đi
đến một lễ hội ở Ba-la-nại. Ở đấy, Bồ-tát kiếm được nhiều tiền nhờ thổi tù và
rồi sau đó quay trở về. Trên đường về, Bồ-tát đi qua một khu rừng có bọn cướp
quấy nhiễu, và Bồ-tát khuyên cha không nên thổi tù và liên hồi. Nhưng người cha
nghĩ rằng đó là cách tốt nhất làm cho bọn cướp tránh xa nên cứ thổi liên tục. Do
đó, bọn cướp quay trở lại và cướp sạch số tiền của hai người. Và giống như câu
chuyên trên, Bồ-tát đọc lên bài kệ này:
Không nên thổi quá nhiều
Thổi nhiều thành nguy hại
Do thổi nhiều mất hết
Số tiền thổi tù và.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của
hai câu chuyện và nhận diện Tiện thân:
- Vào thuở đó, thầy Tỳ-kheo bướng bỉnh này là người cha,
còn ta chính là người con.
|