CHƯƠNG VIII
PHẨM CÂY BÀ-NA (VARAṆA)
Số 71
CHUYỆN CÂY BÀ-NA
(Tiền thân Varaṇa)
Hãy học từ anh ta…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về Đại đức Đế-sa (Tissa), con vị Điền chủ.
Chuyện kể rằng, một hôm, ba mươi thiện nam tử sống ở
thành Xá-vệ là bằng hữu của nhau, đã cùng với đoàn tùy tùng đông đảo của mình
mang nước hoa, hoa tươi và áo vải đi đến tinh xá Kỳ Viên để nghe đức Thế Tôn
thuyết pháp. Đến nơi, họ ngồi nghỉ một lát ở trong các vườn cây: như vườn cây
Thiết thọ, vườn cây Sa-la…Đến chiều, khi đức Thế Tôn từ hương phòng có mùi thơm
ngát đi đến Chánh pháp đường và ngồi lên Phật tọa trang nghiêm, các thiện nam tử
này cùng với đoàn tuỳ tùng của mình đi đến Chánh pháp đường, dâng cúng nước hoa
và hoa tươi lên đức Thế Tôn rồi đảnh lễ nơi chân của Ngài – đôi chân tuyệt đẹp
như hoa sen nở rộ, giữa lòng có in hình bánh xe – và sau đó họ ngồi xuống
nghe Pháp. Họ suy nghĩ: “Chúng ta sẽ phát nguyện xuất gia y theo sự hiểu biết
của chúng ta về Pháp mà đức Thế Tôn thuyết giảng.” Do đó khi đức Thế Tôn rời
giảng đường, họ đi đến chỗ Ngài và cung kính đảnh lễ cầu xin được xuất gia. Đức
Thế Tôn chấp nhận lời thỉnh cầu của họ. Rồi được sự tận tâm giúp đở của các Sư
trưởng và Giáo thọ, họ được thọ cụ túc giới. Và sau năm năm đồng trú với các Sư
trưởng và Giáo thọ, họ đã học thuộc lòng hai bản kinh tóm tắt (?), biết những gì
nên làm và không nên làm, học thuộc lòng ba cách nói lời hồi hướng, và học cách
may nhuộm y.
Bấy giờ, vì muốn thực hành pháp sa môn, họ xin phép sư
trưởng cùng giáo thọ sư của họ và đi đến đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ đức Thế
Tôn xong, họ ngồi xuống và thưa:
- Bạch Thế Tôn, chúng con băn khoăn lo lắng về vòng sanh
hữu; sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết. Xin Thế Tôn dạy cho chúng con một đề mục
thiền quán để nhờ đó chúng con giải thoát khỏi vòng luân hồi.
Đức Thế Tôn cân nhắc rồi chọn lấy một đề mục thích hợp
trong số ba mươi tám đề mục thiền quán và giảng giải cho họ. Sau khi nhận lấy đề
mục thiền quan nơi đức Thế Tôn, họ cung kính đảnh lễ Ngài và trở về phòng thất
của mình. Rồi sau khi ngắm nhìn các Sư trưởng và Giáo thọ xong, họ ôm bát khoác
y ra đi thực hành pháp sa môn.
Bấy giờ, trong số họ có một Tỳ-kheo tên là Đế-sa, con vị
Điền chủ, là một người yếu kém, nhụt chí nhưng tham ăn vị ngon. Vị này nghĩ: “Ta
sẽ không bao giờ có thế sống ở trong rừng được, không thể sống bằng tinh tấn nỗ
lực, và không thể sống bằng hạnh khách thực được. Vậy việc ra đi của ta có lợi
ích gì chứ? Ta sẽ quay trở lại thôi.” Và thế là vị này bỏ cuộc, đã quay trở lại
sau khi đi với các Tỳ-kheo được một đoạn đường. Còn các Tỳ-kheo khác đi bộ qua
xứ Câu-tát-la để đến một ngôi làng ở biên địa, và họ an cư mùa mưa tại một khu
rừng gần ngôi làng ấy. Sau ba tháng tinh tấn tu tập, hạt giống trí tuệ khai mở,
họ chứng được thánh quả A-la-hán, làm cho quả đất reo hò lên vì vui mừng. Kết
thúc an cư mùa mưa, sau khi làm lễ Tự tứ xong, họ lên đường đi đến đức Thế Tôn
để bạch với Ngài các sở chứng mà họ đã đạt được. Sau khi đi đến tinh xá Kỳ Viên,
họ để bình bát và y áo tại một chỗ rồi đến viếng thăm các sư trưởng và giáo thọ
của họ. Mong muốn được diện kiến đức Thế Tôn, họ đi đến chỗ Ngài và cung kính
ngồi xuống. Đức Thế Tôn ân cần tiếp đón họ. Sau đó họ bạch lên Ngài những sở
chứng mà họ đã chứng đạt và được Ngài tán thán. Nghe đức Thế Tôn tán thán các
Tỳ-kheo ấy, Đại đức Đế-sa con vị Điền chủ mong muốn thực hành pháp sa môn vô
cùng. Riêng các Tỳ-kheo kia, họ xin đức Thế Tôn cho phép họ quay trở lại trú xứ
trước đây của mình ở trong rừng và được Ngài chấp nhận. Họ cung kính đảnh lễ và
trở lại am thất của mình.
Bấy giờ, chính ngay đêm hôm ấy, Đại đức Đế-sa mong muốn
thực hành ngay hạnh khổ hạnh. Và khi hăng hái sốt sắng thực hành pháp sa môn, vị
này đã ngủ ngồi bên mép chiếc giường gỗ. Rồi vừa sau canh giữa, vị này xoay mình
và ngã xuống, khiến cho xương đùi bị gãy, chịu đau đớn vô cùng. Vì thế, các
Tỳ-kheo kia phải ở lại chăm sóc vị này, và chuyến đi như vậy bị đình chỉ.
Do đó khi họ đến yết kiến đức Phật, Ngài hỏi:
- Không phải hôm qua các thầy xin phép là hôm nay ra đi
sao?
- Bạch Thế Tôn, đúng như thế. Nhưng pháp hữu của chúng
con là Đại đức Đế-sa, trong khi hăng hái thực hành pháp sa môn đã ngũ thiếp đi,
để rồi bị ngã xuống và khiến xương đùi bị gãy, do đó chuyến đi của chúng con bị
đình chỉ.
Đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu vị này vì nỗ
lực thái quá và hăng hái phi thời đã làm hoãn lại chuyến đi của các thầy, mà đời
trước vị này cũng đã trì hoãn chuyến đi của các thầy như vậy.
Sau đó, theo lời thỉnh cầu của các Tỳ-kheo này, đức Thế
Tôn kể một câu chuyện đời quá khứ.
* * *
Thuở xưa, tại xứ Xoa-thi-la (Takkasilā) thuộc vương quốc
Kiền-đà-la (Gandhāra), Bồ-tát thọ sanh làm một vị giáo sư nỗi tiếng thế gian, là
thầy của năm trăm thanh niên Bà-la-môn. Một hôm, những người đệ tử này đi vào
rừng để lấy củi cho thầy của mình, và họ bận rộn làm công việc đó. Trong số họ
có một người rất lười biếng, anh ta đi đến một gốc cây to lớn và tưởng rằng cây
ấy đã khô và hư mục. Vì thế anh ta nghĩ rằng anh ta có thể yên tâm ngủ nghỉ
thoải mái, sau đó trèo lên bẻ một vài nhánh mang về là được. Thế là anh ta trải
áo ngoài của mình ra và nằm ngủ, lớn tiếng ngáy khò khò. Các thanh niên
Bà-la-môn kia bó củi lại thành từng bó và mang về nhà. Khi họ đi ngang người
thanh niên đang ngủ, họ lấy chân đá vào cho đến khi anh ta thức dậy, rồi để anh
ta lại đó và ra về.
Người này thức dậy và dụi vội mắt, sau đó nửa tỉnh nửa
mê, anh ta bắt đầu leo lên cây. Nhưng một cành cây khi anh ta kéo đến để bẻ đã
bật mạnh lên và đập vào mắt anh ta. Với một tay bịt lên con mắt bị thương, anh
ta dùng cánh tay còn lại bẻ những nhành cây tươi, sau đó leo xuống, buộc các
nhành cây lại thành một bó và vội vàng mang về nhà, quăng bó củi tươi của mình
lên trên những bó củi khác.
Cũng chính vào ngày hôm đó, một gia đình ở miền quê đến
mời vị giáo sư vào ngày mai tới nhà họ để họ cúng duờng. Vì thế vị giáo sư cho
gọi các đệ tử tập trung lại và bảo họ ngay mai đến ngôi làng đó, dặn họ phải ăn
trước khi đi. Ngài nói:
- Này các con, sáng sớm ngày mai, các con hãy nấu một ít
cháo gạo và ăn trước khi đi. Đến đấy, các con hãy nhận lấy phần của các con và
lấy một phần cho ta rồi mang tất cả về nhà.
Vì thế sáng sớm hôm sau, họ đánh thức một người thị nữ
dậy để nấu bữa ăn sáng cho họ. Người thị nữ đi lấy củi để đốt lửa và đã lấy
trúng bỏ củi tươi nằm trên cùng đống củi, sau đó cô mồi lửa lên. Cô dùng miệng
thổi mãi nhưng không làm cho ngọn lửa cháy lên được, cứ thổi như vậy cho đến khi
mặt trời mọc. Các thanh niên nói:
- Bây giờ trời đã sáng, chúng ta không thể đi được vì quá
trể.
Thế rồi họ đến gặp giáo sư của họ. Giáo sư hỏi:
- Này các con, các con vẫn chưa lên đường sao?
- Thưa thầy, chúng con không đi được.
- Tại sao lại không đi được?
- Bởi vì thanh niên biếng nhác kia, khi đi vào rừng lấy
củi với chúng con đã ngủ say sưa dưới gốc cây, rồi để bù lại thời gian đã mất,
anh ta vội vàng leo lên cây và bị cành cây quất vào mắt, sau đó mang về nhà một
mớ củi tươi và ném nó lên trên đống củi của chúng con. Thế rồi khi người thị nữ
sửa soạn nấu cháo cho chúng con, cô đã đi đến đống củi và lấy trúng bó củi của
anh ta, tưởng rằng đó là củi khô, vì thế đến khi mặt trời đã mọc vẫn không thể
đốt lửa được. Đây là nguyên nhân làm hoãn lại chuyến đi của chúng con.
Nghe câu chuyện của các thanh niên Bà-la-môn, vị giáo sư
nói rằng việc làm của một kẻ ngu si thì luôn gây ra những mối nguy hại, và ngài
đọc lên bài kệ này:
Hãy học từ anh ta
Kẻ bẻ nhành cây xanh
Ai trì hoãn công việc
Cuối cùng chịu khổ thân.
Bồ-tát giảng giải vấn đề như vậy. Rồi sau một đời thực
hành bố thí và làm việc thiện, Bồ-tát mạng chung và thọ sanh theo hành nghiệp
của mình.
* * *
Đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu tiên người này
đã làm cản trở các thấy, mà đời trước người này cũng đã từng làm như thế.
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của
hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Thuở đó, Tỳ-kheo làm gãy xuơng đùi là thanh niên
Bà-la-môn bị thương mắt, đệ tử của Phật là những thanh niên Bà-la-môn, còn ta
chính là vị giáo sư Bà-la-môn.
Số 72
CHUYỆN VOI CHÚA ĐỨC HẠNH
(Tiền thân Sīlavanāga)
Với những kẻ vong ân…
Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về Đề-bà-đạt-đa. Chư Tỳ-kheo ngồi trong Chánh pháp đường và nói:
- Thưa các Pháp hữu, Đề-bà-đạt-đa là một kẻ vong ân, ông
ta không nhận ra những công hạnh của đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn đi vào Chánh pháp đường và hỏi họ đạng bàn
luận điều gì. Khi nghe được sự việc, Ngài nói:
- Này các Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu tiên
Đề-bà-đạt-đa đã thể hiện sự vong ân của mình, mà đời trước ông ta cũng đã thể
hiện như vậy. Và cũng chính đời ấy, ông ta không bao giờ nhận ra công hạnh của
ta.
Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của các Tỳ-kheo, đức Thế
Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát nhập thai vào một con voi sống ở Tuyết sơn. Khi sanh ra, toàn
thân của Bồ-tát có màu trắng bạch, giống như một khối bạc lớn. Hai con mắt giống
như hai qủa cầu bằng kim cương, như năm loại ánh sáng chiếu toả; cái miệng màu
đỏ, giống như một tấm vải đỏ; cái vòi giống như sợi dây bằng bạc có điểm những
chấm vàng đỏ; và bốn cái chân thì như thể được đánh bóng bằng sơn mài. Thân hình
của Bồ-tát có vẻ đẹp tuyệt diệu như vậy, lại được trang điểm thêm mười hạnh
Ba-la-mật. Khi lớn lên, những con voi ở Tuyết sơn họp lại và tôn Bồ-tát làm chủ
đàn. Trong khi sống tại Tuyết sơn cùng với hội chúng tám mươi ngàn con voi,
Bồ-tát nhận thấy sự sai trái ở trong đàn voi nên đã tách ra khỏi đàn và sống một
mình ở trong rừng. Và với đời sống đức hạnh của mình, Bồ-tát được xưng danh là
Voi chúa đức hạnh.
Bấy giờ, một người thợ rừng sống ở Ba-la-nại đi đến Tuyết
sơn, ông ta vào rừng để tìm kiếm một vài vật dụng cho nghề nghiệp của mình. Bị
lạc đường, anh ta cứ chạy lui chạy tới, sợ hãi về cái chết treo ở trước mắt, anh
ta giang tay khóc lóc trong nỗi tuyệt vọng. Nghe có tiếng người than khóc,
Bồ-tát khởi lòng từ bi và quyết định đến cứu giúp anh ta. Bồ-tát đi gần đến chỗ
anh ta. Nhưng khi nhìn thấy một con voi đi đến, người thợ rừng kinh hoàng bỏ
chạy. Nhìn thấy anh ta bỏ chạy, Bồ-tát bèn dừng lại đấy, và như vậy kẻ kia cũng
dừng lại. Sau đó Bồ-tát lại đi đến và người thợ rừng lại bỏ chạy. Thấy Bồ-tát
dừng lại khi thấy anh ta bỏ chạy, người này dừng lại suy nghĩ: “Con voi này dừng
lại khi thấy ta chạy, còn khi thấy ta dừng lại thì đi đến. Ta nghĩ con thú này
không có ý hại ta mà muốn giúp ta.” Nghĩ thế, anh ta trở nên can đảm và đứng lại
không chạy nữa. Bồ-tát đi đến gần và hỏi:
- Này anh bạn, tại sao bạn lang thang khóc than ở đây?
- Thưa ngài, tôi bị lạc đường và sợ chết.
Thế rồi voi đưa anh ta về chỗ ở của mình, và ở đó đã nuôi
anh ta một vài ngày, cho anh ta ăn đủ loại trái cây. Sau đó voi nói:
- Này bạn, xin đừng sợ. Tôi sẽ mang bạn trở lại vùng đất
có con người sống.
Nói rồi, voi đặt người thợ rừng lên trên lưng mình và
mang anh ta trở lại chỗ con người cư trú. Nhưng kẻ vong ân nghĩ rằng, nếu có ai
hỏi, anh ta sẽ nói những điều có thể nói. Vì thế khi anh ta ngồi trên lưng voi
để đi ra khỏi rừng, anh ta cố ghi nhớ những dáng cây, hình núi. Cuối cùng, voi
mang anh ta ra khỏi rừng và đặt anh ta xuống con đường cái Ba-la-nại, nói:
- Này bạn, còn đường bạn đi đây rồi. Đừng nói với ai dù
họ có hỏi hay không hỏi về chỗ ở của ta.
Nói lời tiễn biệt vậy xong, Bồ-tát quay trở về trú xứ của
mình.
Đến Ba-la-nại, khi đi ngang qua kinh thành, người thợ
rừng đi đến cửa tiệm của những nghệ nhân làm ngà voi. Ở đó, anh ta nhìn thấy ngà
voi được chế tác thành đủ thứ hình dạng. Anh ta hỏi những nghệ nhân rằng họ có
mua ngà của một con voi còn sống không. Những nghệ nhân trả lời:
- Anh hỏi gì lạ vậy? Ngà con voi còn sống thì giá trị hơn
rất nhiều so với ngà con voi đã chết đấy.
- Vậy thì tôi sẽ mang đến cho các anh một số ngà voi.
Anh ta nói và đi đến chỗ Bồ-tát cư trú, mang theo thực
phẩm đi đường và một cái cưa sắc. Bồ-tát thấy anh ta thì hỏi anh ta trở lại làm
gì. Anh ta than van rằng anh ta đang sống trong một tình cảnh quá ư khó khăn
khốn khổ đến độ không biết phải sống bằng cách nào. Vì vậy anh ta đến xin những
chiếc ngà của con voi tốt bụng để bán kiếm tiền sinh sống! Bồ-tát nói:
- Thôi được, ta sẽ cho anh cặp ngà của ta nếu anh có một
chiếc cưa để cắt.
- Thưa ngài, tôi có mang theo một cái cưa.
- Vậy hãy cưa lấy những chiếc ngà của ta và mang về.
Bồ-tát nói.
Rồi Bồ-tát quỳ gối xuống và nằm trên đất giống như một
con bò. Người thợ rừng cưa hai chiếc ngà chính của Bồ-tát! Khi chúng được cưa
đứt, Bồ-tát dùng vòi quấn lấy hai chiếc ngà trao cho anh ta và nói:
- Này anh bạn, đừng nghĩ rằng vì cặp ngà này không có giá
trị với ta nên ta cho bạn. Mà do vì một trăm lần, một trăm ngàn lần đáng quý hơn
là những chiếc ngà Nhất thiết trí, mà nhờ đó ta có thể thấu hiểu được vạn pháp.
Do đó, bố thí cho bạn cặp ngà này là vì ta mong đạt đến Nhất thiết trí.
Nói vậy xong, voi đưa cặp ngà cho người thợ rừng như là
sự trả giá cho Nhất thiết trí.
Người thợ rừng mang những chiếc ngà về và đem bán. Rồi
sau khi anh ta tiêu xài hết số tiền ấy, anh ta quay trở lại chỗ Bồ-tát và nói
rằng hai chiếc ngà chỉ mang lại cho anh ta số tiền đủ trả món nợ cũ, vì thế muốn
xin Bồ-tát những chiếc ngà còn lại. Bồ-tát bằng lòng và trao cho anh ta những
chiếc ngà còn lại sau khi cắt nó giống như trước. Người thợ rừng mang về và cũng
bán như vậy. Rồi anh ta lại đi đến gặp Bồ-tát và nói:
- Thưa ngài, thật tệ hại, tôi không cách nào kiếm sống
được. Xin cho tôi các chân ngà của ngài.
- Vậy hãy lấy chúng.
Bồ-tát nói và nằm xuống như trước. Thế là con người hèn
hạ độc ác ấy đạp lên chiếc vòi cao quý như sợi dây bằng bạc của Bồ-tát, leo lên
chiếc đầu như đỉnh núi Kelāsa phủ tuyết của Bồ-tát. Rồi anh ta đánh vào gốc
những chiếc ngà cho đến khi văng sạch thịt xung quanh ra. Sau đó anh ta cưa các
gốc ngà này và mang đi. Nhưng khi kẻ độc ác kia vừa khuất khỏi tầm mắt của
Bồ-tát, mặt đất cứng, rộng lớn không thể tưởng tượng được, có thể chống đở được
sức nặng kinh khủng của núi Tu-di (Sineru) cùng với các đỉnh núi vây quanh, trên
đó có đủ phân rác nhơ nhuốc, bấy giờ nổ tung ra thành một một đường nứt lớn, như
thể không mang nỗi gánh nặng độc ác kia! Ngay lúc ấy, những ngọn lửa từ tận đáy
A-tỳ địa ngục bốc lên cuốn lấy kẻ vong ân như đang trùm lấy anh ta bằng một cái
màn khâm liệm tử tội, rồi cuốn anh ta mang đi. Và khi kẻ vong ân kia bị nuốt vào
lòng đất, thần cây trú ở khu rừng ấy đã làm cho cả khu rừng vang dội bằng những
lời này:
- Những kẻ vong ân bạc nghĩa thì dù có đem vương quốc của
vua Chuyển Luân Thánh vương trao cho cũng không thỏa mãn!
Và Thần cây đã thuyết pháp qua bài kệ sau:
Với những kẻ vong ân
Không bao giờ biết đủ
Dầu cho cả thế giới
Vẫn không thoả lòng tham.
Thần cây lại làm cho cả khu rừng vang dội bằng những lời
thuyết giảng như vậy. Còn Bồ-tát sống hết tuổi thọ, sau đó mạng chung và tái
sanh theo hành nghiệp của mình.
* * *
Đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu Đề-bà-đạt-đa
đã thể hiện sự vong ân của mình, mà chính đời trước ông ta cũng đã từng như vậy.
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là kẻ vong ân bội nghĩa,
Xá-lợi-phất là thần cây, còn ta chính là Tượng vương đức hạnh.
Số 73
CHUYỆN LỜI NÓI CHÂN THẬT
(Tiền thân Saccamkira)
Người hiểu đời đưa ra…
Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về âm mưu sát hại Ngài.
Các Tỳ-kheo ngồi trong Chánh pháp đường và nói về sự độc
ác của Đề-bà-đạt-đa:
- Thưa các Pháp hữu, Đề-bà-đạt-đa không hề biết được oai
đức của đức Thế Tôn. Ông ta thậm chí còn âm mưu sát hại Ngài.
Đức Thế Tôn đi vào Chánh pháp đường và hỏi chư vị đang
bàn luận điều gì. Khi nghe sự việc, Ngài nói:
- Này các Tỳ-kheo, không phải chỉ nay Đề-bà-đạt-đa mới âm
mưu sát hại ta mà đời trước ông ta cũng đã từng làm điều như thế.
Nói vậy xong, Ngài kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi trị vì xứ Ba-la-nại, vua Phạm Dự
(Brahmadatta) có một người con trai tên là Thái tử Ác Nghịch. Thái tử là một
người hung ác bạo tàn, giống như một con rắn độc bị thương. Thái tử không bao
giờ nói với ai mà không mắng chửi hay đánh đập họ. Đối với người ở trong nội
cung cũng như ngoại cung, thái tử giống như hạt bụi ở trong mắt họ, giống như
một con quỷ khát máu, họ sợ hãi và ghê tởm thái tử.
Một hôm, muốn vui chơi ở sông, thái tử cùng với đoàng tùy
tùng đông đảo của mình đi đến bờ sông. Rồi một trận cuồng phong nổi lên, trời
đất tối sầm lại. Thái tử gọi những người hầu:
- Này các ngươi, hãy đưa ta ra giữa sông, tắm cho ta và
mang ta trở về.
Thế là những người hầu mang thái tử ra giữa sông, và ở đó
họ cùng bàn bạc với nhau:
- Vua sẽ làm gì được chúng ta nào? Chúng ta hãy giết chết
con người độc ác này ngay tại nơi đây.
Rồi họ ném thái tử vào trong nước và la lớn:
- Đồ súc sanh, hãy vào đấy đi!
Khi họ đi vào bờ, người ở đấy hỏi thái tử đâu rồi, họ
đáp:
- Chúng tôi không nhìn thấy thái tử. Thái tử thấy cuồng
phong ập xuống nên đi ra khỏi sông và đã về nhà trước chúng tôi.
Những cận thần đi đến yết kiến nhà vua, và nhà vua hỏi
con trai mình ở đâu. Họ nói.
- Tâu hoàng thượng, chúng thần không biết. Một trận cuồng
phong ập xuống, chúng thần nghĩ rằng thái tử đã về trước nên mới về.
Nhà vua sai mở hết các cửa, rồi ông đi xuống bờ sông, ra
lệnh lùng sục tất cả mọi nơi để tìm kiếm vị thái tử mất tích nhưng không thể lần
ra được dấu vết của vị này.
Còn thái tử, trong cơn cuồng phong đen kịt, đã bị dòng
nước cuốn trôi. Và khi trôi ngang qua một thân cây, thái tử leo lên thân cây đó
và như thế trôi lềnh bềnh theo dòng nước, kêu khóc thảm thiết vì sợ chết đuối.
Bấy giờ, có một vị thương nhân giàu có ở Ba-la-nại, trước
khi chết có chôn ở bờ sông ấy bốn trăm triệu đồng tiền vàng. Và bởi lòng tham về
số tài sản đó mà sau khi chết đã tái sanh làm một con rắn sống tại nơi chôn cất
tài sản quý giá của mình. Và cũng chính tại chỗ ấy, một người khác đã chôn ba
trăm triệu đồng tiền vàng, và cũng chính bởi lòng tham ái về số tài sản ấy nên
tái sanh làm một con chuột sống tại chỗ ấy. Khi nước tràn vào nơi ở của hai con
vật này, chúng bèn trốn chạy bằng con đường mà nước tràn vào, rồi chúng bơi
ngang qua dòng nước và tình cờ nhìn thấy khúc cây mà thái tử đang ngồi trên đó.
Con rắn bò lên một đầu khúc cây, còn con chuột leo lên một đầu khác, và như thế
cả hai cùng ngồi với thái tử trên thân cây ấy.
Trên bờ sông ấy có một cây bông gòn, và trên cây ấy có
một con vẹt nhỏ đang sống. Cây bông gòn này bị dòng nước dâng cao đánh bật gốc
rễ nên ngã vào dòng sông. Mưa lớn đã đập vào con vẹt khiến nó không thể bay
được, và vì thế nó đậu xuống trên thân cây ấy. Như vậy, lúc này có bốn kẻ cùng
trôi dạt trên một khúc cây.
Bấy giờ, Bồ-tát thọ sanh làm một vị Bà-la-môn sống ở miền
Tây Bắc. Đến tuổi trưởng thành, ngài xuất gia làm một vị tiên nhân, dựng thảo am
ở bên một khúc sông uốn cong và sống ở đó. Vào lúc nửa đêm, khi ngài đang kinh
hành lui tới thì nghe tiếng thái tử kêu cứu. Ngài nghĩ: “Một ẩn sĩ đầy lòng từ
bi lân mẫn như ta thì không thể ngồi nhìn người này chết được.” Thế là ngài vui
vẻ nói:
- Đừng sợ hãi! Đừng sợ hãi!
Thế rồi ngài băng ngang qua dòng nước, nắm lấy một đầu
khúc cây, và với sức mạnh như voi đã kéo nhanh nó vào bờ, thận trọng đặt thái tử
lên trên bờ. Sau đó nhìn thấy con rắn, con chuột và con vẹt, ngài mang chúng đến
thảo am của mình và đốt lửa sưởi ấm cho nhưng con vật này trước, vì chúng là
những sinh vật yếu ớt, rồi sau đó mới sưởi ấm cho thái tử. Làm xong việc đó,
Ngài mang nhiều loài trái cây đến cho những vị khách của mình, trước tiên ngài
chăm sóc những con thú rồi sau đó mới đến thái tử. Thái tử thấy vậy thì giận
điên lên, nhủ thầm: “Gã ẩn sĩ đểu giả này không biết tôn kính dòng dõi hoàng tộc
của ta nên mới cho loài thú vật có quyền hơn ta.” Vì thế thái tử nuôi lòng oán
hận và chờ dịp trả thù Bồ-tát.
Một vài ngày sau, khi tất cả đã hồi phục lại sức khỏe và
nước cũng đã rút xuống, con rắn bái biệt ẩn sĩ và nói:
- Thưa Tôn giả, Tôn giả đã giúp đở con thật nhiều. Con
không phải là một kẻ nghèo khó đâu, bởi vì con có bốn trăm triệu đồng tiền vàng
được chôn giấu ở chỗ kia. Nếu Tôn giả muốn tiền tài thì tất cả kho báu của con
sẽ thuộc về Tôn giả. Tôn giả chỉ việc đến tại chỗ ấy và gọi “Rắn ơi”.
Kế đến là con chuột chào bái biệt. Nó cũng hứa với ẩn sĩ
như vậy đối với kho báu của mình, bảo ẩn sĩ nếu cần tiền thì hãy đến chỗ ấy và
gọi “Chuột ơi”
Sau đó con vẹt đến chào tạm biệt. Nó nói:
- Thưa Tôn giả, vàng bạc thì con đây không có. Nhưng nếu
ngài muốn gạo ngon thì cứ đến chỗ con ở và gọi “Vẹt ơi” thì con và dòng tộc của
con sẽ cúng cho ngài nhiều xe đầy gạo ngon.
Cuối cùng đến lượt thái tử. Thái tử lòng chứa đầy sự vong
ân hèn hạ nên quyết giết chết ân nhân của mình nếu Bồ-tát đến viếng thăm y.
Nhưng cố che dấu ý đồ đó, y nói:
- Thưa Tôn giả, khi nào lên ngôi vua, tôi sẽ mời tôn giả
đến để tôi cúng dường bốn vật dụng cần thiết.
Nói vậy xong thái tử ra đi và không lâu sau đó thì lên
ngôi vua.
Bồ-tát muốn thử lòng bốn kẻ này nên trước hết ngài đi đến
chỗ con rắn, đứng gần nơi nó ở và gọi “Rắn ơi”. Nghe tiếng gọi, con răn bò ra,
cung kính chào hỏi và nói:
- Thưa Tôn giả, ở tại chỗ này có bốn trăm triệu đồng tiền
vàng. Tôn giả hãy đào lên và mang hết đi.
- Được rồi, khi nào cần ta sẽ lấy, ta không quên đâu.
Từ giã con rắn, Bồ-tát đi đến chỗ con chuột sống và gọi
lớn “Chuột ơi!” Con chuột đi ra và làm giống như con rắn vậy. Kế đó Bồ-tát đi
đến con vẹt và gọi lớn “Vẹt ơi!” Nghe tiếng gọi của ngài, con chim từ trên ngọn
cây lập tức bay xuống, cung kính hỏi Bồ-tát rằng ngài có muốn nó và họ hàng của
nó mang về cho ngài lúa mọc hoang ở Tuyết sơn không. Bồ-tát cũng từ chối và hứa
với chim rằng khi nào cần ngài sẽ nhờ chim giúp.
Cuối cùng, muốn thử lòng nhà vua nên Bồ-tát đi đến ngự
viên. Rồi ngày hôm sau, Bồ-tát ăn bận chỉnh tề và đi vào kinh thành khất thực.
Ngay lúc ấy, vị vua vong ân với trang sức vô cùng lông lẫy đang ngự trên con
quốc tượng, diễu hành trong một đám rước long trọng quanh kinh thành, theo sau
là một đám tùy tùng đông đảo. Trông thấy Bồ-tát từ xa, ông ta suy nghĩ: “Gã khổ
hạnh đểu cáng này đến đây xin ăn và nương nhờ ta. Ta phải chặt cái đầu của gã
trước khi gã công bố cho người đời biết những gì gã đã giúp đở cho ta.”
Với ý đồ đó, ông ra hiệu cho đám quân hầu, và đám quân
hầu hỏi nhà vua muốn họ làm gì. Vua nói:
- Ta nghĩ gã ẩn sĩ đểu cáng kia đến đây quấy rầy ta. Đừng
để ta thấy gã tai họa kia đến gần ta. Hãy bắt lấy gã và trói tay lại, đánh đập
gã tại các ngả tư đường, sau đó kéo gã ra khỏi kinh thành và chặt đầu gã tại
pháp trường, lấy một cái cộc đống xuyên qua người gã.
Vâng theo mệnh lệnh của nhà vua, đám quân hầu trói bậc
Đại sĩ vô tội lại, đánh đập ngài tại các ngã tư đường và sau đó đưa Ngài đến
pháp trường. Nhưng tất cả những lằn roi của chúng không làm cho Bồ-tát dao động,
và ngài cũng không hề thốt lên lời khóc than kêu cha gọi mẹ! Ngài chỉ nói lên
bài kệ này:
Người hiểu đời đưa ra
Cách ngôn chân thực này:
Thà cứu khúc gỗ trôi
Hơn cứu một con người.
Mỗi khi bị đánh đến nơi đâu, Bồ-tát lại đọc lên những
dòng kệ này. Cho đến cuối cùng, một người có trí trong đám những kẻ đứng xem đã
hỏi ẩn sĩ rằng ngài đã giúp gì cho vua của họ. Thế là Bồ-tát kể lại đầu đuôi câu
chuyện, và sau đó nói:
- Do vì cứu vớt người này ra khỏi dòng nước lũ mà tôi đã
tự rước họa vào thân. Và khi nghĩ rằng do vì tôi không chịu nghe theo lời các
bậc hiền trí ngày xưa nên tôi nói lên điều như các vị đã nghe.
Nghe kể lại sự việc như vậy, các Sát-đế-lợi, Bà-la-môn và
hết thảy mọi người có mặt ở đó vô cùng căm phẩn đến độ đồng thanh la lớn:
- Vị vua vong ân này đã khước từ ngay cả ân đức của một
người tốt bụng đã cứu mạng mình. Làm gì chúng ta có thể có được ích lợi từ một
ông vua như thế? Hãy bắt lấy tên bạo chúa này!
Và trong cơn tức giận, họ đã lao đến nhà vua từ mọi
hướng, dùng tên dao, gậy gộc, đất đá, hay bất cứ thứ vũ khí gì mà họ nắm được,
rồi họ giết chết vua ngay tại chỗ khi vua đang cưỡi trên con voi của mình. Sau
đó họ kéo xác vua đến một cái rãnh và ném nó vào trong ấy. Rồi họ tôn Bồ-tát lên
làm vua để cai trị họ.
Bấy giờ, Bồ-tát là một vị minh quân. Một hôm, muốn thử
lòng con rắn, con chuột và con vẹt, Bồ-tát cùng với đoàn tùy tùng đông đảo đi
đến nơi con rắn ở. Khi nghe gọi “Rắn ơi”, con rắn từ trong hang bò ra, cung kính
chào hỏi Ngài và nói:
- Thưa Tôn giả, đây là kho báu của ngài, xin hãy lấy nó.
Thế là nhà vua giao bốn trăm triệu đồng tiền vàng cho các
cận thần của mình rồi đi đến nơi con chuột sống và gọi “Chuột ơi”. Con chuột bò
ra và chào hỏi nhà vua, rồi trao cho Ngài ba trăm triệu đồng tiền vàng. Vua giao
số tiền cho các cận thần giữ rồi đi đến chỗ con vẹt đang ở và gọi “Vẹt ơi”. Cũng
như vậy, con chim bay đến, kính lễ nơi chân ngài và hỏi nhà vua có cần nó mang
lúa đến không. Nhà vua nói:
- Khi nào cần lúa, xin làm phiền ngươi mang đến. Bây giờ
chúng ta hãy đi đã.
Như thế, cùng với bảy trăm triệu đồng tiền vàng cùng với
con rắn, con chuột và con vẹt, nhà vua trở lại kinh thành. Ở đấy, trong cung
điện nguy nga, nhà vua ngự trên một tầng lầu trang trọng, rồi ông cho đem cất và
canh giữ số tài sản ấy. Nhà vua sai làm một cái ống bằng vàng cho con rắn ở, một
cái hộp bằng pha lê cho con chuột ở, và một cái lòng bằng vàng cho con vẹt.
Hàng ngày, tuân theo lệnh nhà vua, thức ăn phục vụ cho ba
con vật này được đựng trong những chén vàng: bắp rang ngon ngọt dành cho con vẹt
và con rắn, còn gạo thơm dành cho con chuột. Và vua thường thực hành bố thí và
làm các việc thiện. Như vậy, nhà vua cùng với ba con vật ấy sống với nhau trong
hòa thuận và thương yêu. Rồi đến khi mệnh chúng, họ đã tái sanh theo hành nghiệp
của họ.
* * *
Đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheo, không phải nay Đề-bà-đạt-đa mới âm mưu
sát hại ta, mà đời trước ông ta cũng từng làm như vậy.
Kết thúc Pháp thoại, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của
hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là Ác Ngịch vương, Xá-lợi-phất là
con rắn, Mục-kiền-liên là con chuột, A-nan là con vẹt, còn ta chính là vị vua
chính trực đã dành được vương quốc.
Số 74
CHUYỆN QUY LUẬT CÂY RỪNG
(Tiền thân Rukkhadhamma)
Thân tộc nên hòa hợp…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về một vụ tranh chấp nước mà điều đó đã mang đến tai họa cho
họ hàng thân tộc của Ngài. Khi biết được sự việc này, đức Thế Tôn đi ngang qua
không trung, ngồi kiết già ở trên sông Lư-tì-ni (Rohiṇī) và chiếu ra những tia
đen sẫm, khiến cho cho họ hàng thân tộc của Ngài hoảng sợ (Ở đây chỉ là phần tóm
tắt. Chi tiết đầy đủ sẽ được trình bày trong Tiền thân Kuṇāla, số 536.) Bấy giờ,
đức Thế Tôn nói với họ hàng thân tộc của mình:
- Thưa chư vị họ hàng thân tộc, các vị nên sống hòa thuận
với nhau. Vì khi họ hàng thân tộc sống hòa hợp với nhau thì kẻ thù không tìm
thấy cơ hội. Đừng nói gì đến loài người, ngay cả loài cây vô thức cũng nên phải
hợp quần với nhau. Thuở xưa, tại Tuyết sơn, một trận bảo lớn đã ập xuống một khu
rừng Sa-la. Nhưng do vì các cây, bụi cây, lùm cây và các dây leo của khu rừng đó
hợp quần buộc chặt lại với nhau nên trận bảo không thể phá đổ được dù chỉ môt
thân cây, mà chỉ lướt qua trên ngọn cây không hề gây hại gì. Nhưng có một cây
lớn mọc ở trong sân, mặc dù có nhiều cành nhánh, nhưng bởi vì nó không hợp quần
đan kết với những cây khác nên đã bị trận bảo đánh bật gốc làm đổ nhào xuống.
Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của các họ hàng thân
tộc, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại
(Benares), lúc này vị vua Tỳ-sa-môn (Vessavaṇa) đầu tiên qua đời, thiên chủ Đế
Thích cử một vị vua mới đến thay thế trị vì. Sau khi lên ngôi, Tân vương
Tỳ-sa-môn này đã gửi thông điệp đến tất cả các thần cây, bụi cây, lùm cây…, bảo
họ hãy chọn nơi cư trú mà họ thích nhất. Bấy giờ, Bồ-tát thọ sanh làm một vị
thần cây trú ở rừng cây Sa-la tại vùng Tuyết sơn. Lời khuyên của Ngài đối với họ
hàng thân tộc trong việc chọn lựa nơi cư trú là phải tránh xa những cây đứng một
mình ở chỗ trống, hãy chọn nơi cư trú của họ quanh chỗ mà Ngài đã chọn cư trú ở
trong rừng Sa-la. Ngay sau đó, những thần cây có trí đã nghe theo lời khuyên của
Bồ-tát, chọn cho họ chỗ cư trú xung quanh cây của Ngài. Nhưng những thần thần
cây ngu si nói:
- Tại sao chúng ta lại cư trú trong rừng chứ? Chúng ta
hãy chọn trú xứ của chúng ta tại những nơi có loài người sống, ở ngoài làng,
thành phố, hoặc ở kinh đô. Vì những thần cây trú ở những nơi như vậy sẽ nhận
được đồ dâng cúng dồi dào nhất và được kính trọng cao nhất.
Vì thế họ đi đến nơi có loài người sồng, và chọn trú xứ
của mình ở một số cây lớn mọc tại những chỗ trống.
Một hôm, có một trận bão lớn tràn qua xứ đó. Các cây cổ
thụ mọc một mình, dầu rễ ăn sâu vào trong đất và là những cây vững chắc nhất
nhưng không có cây nào là không bị hại. Thân nhành của chúng bị trận bão đập
gãy, gốc rễ bị đánh bật và rơi ngã xuống đất. Nhưng khi trận bão ập xuống rừng
Sa-la với các cây cối hợp quần đan mắc lẫn nhau, sự mạnh của nó trở thành vô
ích, vì dù nó có tấn công đến đâu thì cũng chẳng có cây nào bị gãy đỗ.
Những thần cây trú xứ bị hủy hoại, không còn nơi nương
thân, đã bồng bế con cái của mình trở về lại Tuyết sơn. Ở đấy, họ kể lại sự việc
khổ ưu của họ với các thần cây ở rừng Sa-la. Những vị này lần lượt thưa lại với
Bồ-tát về sự việc quay về đáng buồn của những vị kia. Bồ-tát nói:
- Bởi vì không nghe lời bậc hiền trí nên họ mới gánh chịu
hậu qủa như vậy.
Nói vậy xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ này:
Thân tộc nên hòa hợp
Như cây sống trong rừng.
Cây lớn mọc đơn độc
Bị gió bão đánh ngã.
Bồ-tát đã thuyết giảng cho họ như vậy. Rồi khi tuổi thọ
hết, Ngài đã tái sanh theo hành nghiệp của mình.
* * *
Đức Thế Tôn nói:
- Như vậy thưa họ hàng thân tộc, chư vị nên sống hòa hợp,
nhu thuận, thương yêu và ái kính lẫn nhau.
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Thuở đó, đệ tử của Phật là các thần cây, còn ta chính
là vị thần cây hiền trí.
Số 75
CHUYỆN LOÀI CÁ
(Tiền thân Maccha)
Nổi sấm, Pa-jun-na…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về sự kiện trời mưa do Ngài tạo ra.
Chuyện kể rằng, một thuở, tại xứ Câu-tát-la, trời không
có mưa, vụ mùa khô cháy và khắp nơi ao hồ đều khô cạn. Ngay cả hồ Kỳ Viên gần
cổng ra vào Kỳ Viên cũng khô cạn. Những loài cá, rùa phải chôn mình vào trong
bùn. Sau đó những con qụa, diều hâu với những cái mỏ như mủi giáo bay đến, cặm
cụi mổ lấy mổ để đám rùa cá để ăn thịt mặc cho chúng ngo ngoe vùng vẫy.
Khi nhìn thấy đám rùa cá bị hủy diệt như vậy, đức Thế Tôn
khởi lòng từ bi. Ngài nói:
- Hôm nay ta phải làm cho trời mưa.
Vì thế lúc trời vừa sáng, sau khi tắm rửa xong, đức Thế
Tôn đợi đến đúng giờ thì đi khất thực. Với oai quang viên mãn, đức Thế Tôn cùng
với hội chúng Tỳ-kheo vây quanh đi vào thành Xá-vệ khất thực. Vào buổi chiều,
sau khi khất thực ở Xá-vệ xong, đức Thế Tôn lên đường trở lại tinh xá, rồi Ngài
dừng lại trên bậc thang cấp dẫn xuống hồ Kỳ Viên và nói với Tôn giả A-nan:
- Này A-nan, hãy mang đến cho ta một cái áo tắm. Ta sẽ
tắm trong hồ Kỳ Viên này.
- Nhưng thưa Thế Tôn, nước trong hồ này hoàn toàn khô
cạn, chỉ còn có bùn mà thôi. Tôn giả A-nan nói.
- Này A-nan, năng lực của một vị Phật rất lớn. Hãy đi
mang đến cho ta một cái áo tắm. Đức Thế Tôn nói,
Thế là Tôn giả ra đi và mang đến cho Ngài một chiếc áo
tắm. Đức Thế Tôn mặc áo vào, quấn một đầu áo quanh thắt lưng, còn một đầu phủ
lên cơ thể. Mặc áo xong, Ngài đứng trên những bậc thang cấp của hồ và nói:
- Ta sẽ tắm ở trong hồ Kỳ Viên.
Ngay khi đó, chiếc ngai đá màu vàng của Thiên chủ Đế
Thích chợt nóng lên khi ông ngồi trên đó. Thiên chủ tìm hiểu nguyên nhân, nhận
ra được vấn đề nên cho gọi Thần mây mưa đến và nói.
- Đức Thế Tôn đang đứng trên bậc thang cấp hồ Kỳ Viên và
muốn tắm. Hãy gấp làm một cơn mưa đổ xuống khắp vương quốc Câu-tát-la.
Vâng theo lệnh của Đế Thích, Thần mây mưa mặc vào mình
một tấm mây giống như một bộ đồ lót, và lấy một tấm mây khác khoác ra ngoài. Rồi
hát lên bài ca gọi mưa, vị này theo hướng đông lao đi. Ở phương đông, vị này
xuất hiện trong hình thức một đám mây to lớn bằng sân đập lúa. Đám mây lớn dần
lên thành một trăm, rồi một ngàn sân đập lúa. Sau đó vị này làm sấm chớp, và
hướng mặt phun mưa xuống khắp xứ Câu-tát-la. Cơn mưa đổ xuống liên tục đã nhanh
chống làm hồ Kỳ Viên ngập đầy nước, và khi nước dâng đến các bậc cấp cao nhất
của hồ thì trời mới ngưng mưa.
Thế rồi đức Thế Tôn bước vào hồ tắm, sau đó lên khỏi hồ,
mặc đôi y màu
đỏ, buộc thắt lưng vào, và đắp chiếc y giác ngộ lên một bên vai. Trong hình thức
như vậy, cùng với chúng Tỳ-kheo vây quanh, Ngài trở về Hương phòng có mùi thơm
hoa tươi êm dịu của mình. Ở đấy, Ngài ngồi lên Phật tọa, và khi các Tỳ-kheo thực
hiện xong các phận sự của mình, đức Thế Tôn đứng dậy nơi bậc cấp bằng ngọc của
bảo tọa và thuyết giảng cho các Tỳ-kheo. Sau khi thuyết giảng xong và cho các
Tỳ-kheo ra về, Ngài đi vào hương phòng, nằm nghiêng người xuống một bên như
giáng nằm của sư tử.
Một hôm, chư Tỳ-kheo tập họp lại trong Chánh pháp đường
và nói về hạnh nhẫn nhục cùng lòng từ bi của đức Thế Tôn:
- Thưa các Pháp hữu, khi mùa vụ khô cháy, ao hồ cạn kiệt
nước và đám cá rùa rơi vào tình cảnh khốn đốn, đức Thế Tôn đã khởi lòng từ bi
cứu vớt chúng. Ngài đã mặc áo tắm vào, đứng trên bậc thang cấp của hồ Kỳ Viên và
trong phút chốc đã làm cho mưa từ trên trời trút xuống, khiến cho khắp xứ
Câu-tát-la như được tràn ngập trong những cơn mưa. Rồi sau khi giúp chúng thoát
khỏi tất cả những khổ đau về thân tâm như vậy xong, Ngài đã trở về tịnh xá.
Câu chuyện đang nói đến đó thì đức Thế Tôn từ Hương phòng
đi ra, Ngài bước vào Chánh pháp đường và hỏi các Tỳ-kheo đang cùng bạn luận điều
gì. Khi nghe họ bạch lại sự việc, Ngài nói:
- Này các Tỳ-kheo, không phải chỉ nay Thế Tôn mới làm cho
mưa rơi xuống đúng vào thời điểm mà toàn thể đều cần mưa. Đời trước, khi thọ
sanh làm thú vật, là vua của loài cá, đức Thế Tôn cũng từng làm điều như vậy.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, tại chính thành Xá-vệ nước Câu-tát-la này, ở
chỗ hồ Kỳ Viên bây giờ có một hồ nược được bao quanh bằng một đám cây leo chằng
chịt. Bấy giờ, Bồ-tát thọ sanh làm một con cá sống ở trong ấy. Và giống như bây
giờ, ở xứ ấy trời không có mưa. Mùa vụ khô cháy, nước trong các ao hồ cạn kiệt,
còn đám cá rùa thì phải chịu chôn mình trong bùn. Tương tự như vậy, khi đám cá
rùa trong hồ phải dấu thân trong bùn, nhưng con qụa cùng các loài chim khác lũ
lượt kéo đến đó, dùng mỏ mổ chúng lên và ăn thịt. Nhìn thấy họ hàng thân tộc bị
hủy diệt, và biết rằng không ai ngoài mình có thế cứu được chúng trong thời điểm
cần thiết này, Bồ-tát quyết lập một Thệ nguyện chân thật, mà nhờ tác dụng của
nó, mưa từ trên trời sẽ rơi xuống, cứu lấy họ hàng thân tộc của mình thoát khỏi
chết chóc.
Vì thế, Bồ-tát rẽ bùn đen và đi ra. Đó là một con cá to
lớn, lớn như một cái hộp được làm bằng gỗ đàn hương tốt nhất, có màu đen sì vì
bị bùn làm bẩn. Bồ-tát mở đôi mắt như hòn ngọc được cọ sạch ra, nhìn lên trời và
nói với Pajjuna, vua của chư thiên như thế này:
Thưa Pajjuna, lòng tôi đang nặng trĩu khổ đau vì họ hàng
thân tộc của tôi. Khi một bậc giới hạnh như tôi đau khổ vì họ hàng thân tộc của
mình, vậy tại sao ngài lại không làm cho mưa rơi xuống? Bản thân tôi, mặc dù
sanh ra trong loài có thói quen ăn thịt dòng tộc của mình, nhưng từ nhỏ đến giờ
ta chưa bao giờ ăn một con cá nào, ngay cả con cá nhỏ như hạt gạo, và ta cũng
chưa bao giờ đoạt lấy mạng sống của một sinh vật nào. Bằng lời thề nguyện chân
thật của mình, tôi cầu xin ngài hãy làm cho mưa rơi xuống để cứu lấy họ hàng
thân tộc của tôi.
Nói vậy xong, bằng bài kệ này, Bồ-tát nói với Pajjunna,
vua của chư thiên, như nói với một người hầu:
Nỗi sấm, Pa-jun-na
Để ngăn chặn qụa kia
Làm cho nó ưu khổ
Để ta thoát hoạn nạn.
Như vậy, như một ông chủ bảo một người hầu, Bồ-tát bảo
Pajjunna làm mưa lớn đổ xuống và nhờ đó giải thoát đám cá rùa ra khỏi nỗi sợ
chết chóc. Rồi đến khi mạng chung, Bồ-tát tái sanh theo hành nghiệp của mình.
* * *
Đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheo, như vậy không phải chỉ nay Thế Tôn mới
làm cho mưa rơi xuống, mà đời trước, khi còn là một con cá Thế Tôn cũng đã từng
làm như thế.
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, chúng đệ tử của ta là những con cá, A-nan
là Pajjunna - vua của chư thiên, còn ta chính là vua cá.
Số 76
CHUYỆN KHÔNG SỢ HÃI
(Tiền thân Asamkiya)
Trong làng tôi không sợ…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về một nam cư sĩ sống tại Xá-vệ (Sāvatthi).
Tương truyền rằng, vị này là một Thánh đệ tử đã chứng
được quả Dự lưu, vì một vài công việc nên một hôm đã lên đường cùng đi với người
cầm đầu của một đoàn lữ hành. Đến một khu rừng nọ, họ tháo những cỗ xe ra và làm
thành một doanh trại. Ở đó, vị thiện nam đi kinh hành tại một gốc cây gần chỗ
người chủ đoàn.
Bấy giờ có năm trăm tên cướp, vì mục đích đánh cướp nên
sau khi xem xét thời khắc đã cầm lấy gậy tên cùng những loại vũ khí khác bao vây
lấy doanh trại này. Vị cư sĩ vẫn đi kinh hành mãi như vậy. Những tên cướp
trông thấy vậy thì nói:
- Đó chắc là người canh gác của chúng. Chúng ta chờ khi
nào hắn đi ngủ thì vào đánh cướp.
Vì không thể đột kích nên bọn cướp đứng yên tại nhiều
nơi. Còn vị nam cư sĩ ấy vẫn đi kinh hành: đi hết canh một, qua hết canh giữa,
và cuối cùng qua hết canh chót. Đến khi trời rạng đông, bọn cướp không tìm được
cơ hội nên đành ném hết đất đá gậy gộc và bỏ chạy.
Sau khi làm xong công việc, vị nam cư sĩ trở lại Xá-vệ,
đi đến chỗ đức Thế Tôn và bạch hỏi:
- Bạch Thế Tôn, có phải người ta khi bảo vệ mình cũng là
bảo vệ người khác không?
- Này cư sĩ, đúng như vậy. Trong khi bảo vệ mình là người
ta đang bảo vệ người khác, và trong khi bảo vệ người khác là người ta cũng đang
bảo vệ mình.
- Ôi, lời Thế Tôn nói thật hay thay! Khi con cùng đi với
người chủ đoàn lái buôn, con quyết định bảo vệ lấy mình bằng cách đi kinh hành
dưới một gốc cây, và nhờ đó con đã bảo vệ được cả đoàn lái buôn.
Đức Thế Tôn nói:
- Này cư sĩ, thuở xưa cũng như vậy, các bậc hiền trí
trong khi bảo vệ mình cũng đã bảo vệ người khác.
Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của vị cư sĩ, đức Thế
Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sanh
làm một vị Bà-la-môn. Đến tuổi trưởng thành, thấy được những nguy hiểm trong các
dục, Bồ-tát xuất gia làm vị tiên nhân sống ở vùng Tuyết sơn. Vì cần muối và gia
vị nên Bồ-tát đã đi về miền quê, ngài đi cùng với một đoàn thương nhân. Khi đoàn
thương nhân dừng lại nghỉ tại một nơi trong rừng, Bồ-tát đi kinh hành tại một
gốc cây gần nơi đoàn thương nhân và ngài thọ hưởng thiền lạc.
Bấy giờ, sau bửa ăn tối, năm trăm tên cướp kéo đến bao
vây lấy doanh trại để cướp bóc, nhưng khi nhìn thầy vị ẩn sĩ, chúng dừng lại và
nói:
- Nếu hắn nhìn thấy chúng ta thì hắn sẽ báo động. Vì vậy
chúng ta hãy chờ cho hắn đi ngủ rồi sau đó hẳn vào đánh cướp.
Nhưng suốt cả đêm, vị ẩn sĩ cứ kinh hành liên tục như
vậy. Bọn cướp không tìm được cơ hội nên đã ném hết gậy gộc đất đá và nói lớn với
những thương nhân:
- Này các vị thương nhân, nếu hôm nay không có vị ẩn sĩ
đi kinh hành dưới gốc cây ấy thì tất cả các vị đã bị bọn ta đánh cướp rồi. Ngày
mai hãy nhớ tiếp đãi tử tế vị ẩn sĩ đó.
Nói vậy xong, chúng bỏ đi. Rồi khi trời sáng, những
thương nhân nhìn thấy đất đá gậy gộc mà bọn cướp quăng lại thì rất sợ hãi, họ đi
đến, cung kính đảnh lễ Bồ-tát và hỏi rằng ngài có nhìn thấy những tên cướp hay
không. Bồ-tát đáp:
- Thưa các vị, tôi có thấy.
- Thấy một bọn cướp đông như vậy mà ngài không hoảng hốt
sợ hãi sao?
Chỉ những người giàu có khi thấy bọn cướp mới sợ hãi. Còn
tôi là kẻ không một cắc bạc dính túi thì có gì để phải sợ chứ? Dù sống trong
làng hay trong rừng, tôi cũng không có gì để lo âu sợ hãi cả.
Nói vậy xong, để thuyết pháp cho họ, ngài đọc lên bài kệ
này:
Trong làng tôi không sợ
Trong rừng tôi cũng không
Nương vào lòng từ bi
Tôi hành đạo giải thoát.
Khi Bồ-tát thuyết giảng cho những thương nhân bằng bài kệ
như vậy, tâm những người này trở nên an lạc, và họ đã cung kính đảnh lễ ngài.
Rồi Bồ-tát suốt đời tu tập Tứ vô lượng tâm, sau đó tái sanh về Phạm thiên giới.
* * *
Kết thúc Pháp thoại, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của
hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, đệ tử của đức Phật là những thương nhân,
còn ta chính là vị tiên nhân ẩn sĩ.
Số 77
CHUYỆN ĐẠI MỘNG
(Tiền thân Mahāsupina)
Bò đực, cây xanh và bò cái…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về mười sáu giấc mộng kỳ lạ.
Tương truyền rằng, vua Câu-tát-la (Kosala) sau khi ngủ
suốt đêm, gần mãn đêm, đã nằm mơ thấy mười sáu giấc mộng lớn. Rồi khi thức dậy,
ông vô cùng kinh hãi và lo sợ về những điềm xấu sẽ xảy ra cho mình. Nỗi sợ hãi
về cái chết đè nặng lên vua đến nỗi ông không thể cử động được, cứ nằm co lại ở
trên long sàng. Bấy giờ, vào lúc rạng đông, các Bà-la-môn cùng các vị tư tế đi
đến yết kiến nhà vua, cung kính vấn an và hỏi vua ngủ có an giấc không. Nhà vua
trả lời:
- Thưa các quốc sư, làm sao trẫm có thể ngủ an giấc khi
vào lúc gần sáng trẫm nằm mơ thấy mưới sáu giấc mộng kỳ lạ, và kể từ lúc đó trẫm
trở nên sợ hãi. Thưa các quốc sư, hãy nói cho trẫm hay các giấc mộng này báo
trước điềm gì.
- Nếu nghe được những giấc mộng đó, chúng thần sẽ có thể
đoán được.
Thế rồi nhà vua kể cho họ những giấc mộng của ông và hỏi
rằng những cảnh mộng kia sẽ đưa đến cho ông điều gì. Các Bà-la-môn nghe vậy thì
nắm chặt bàn tay lại. Thấy thế nhà vua hỏi:
- Thưa các Bà-la-môn, tại sao các vị nắm chặt tay lại?
- Tâu hoàng thượng, bởi vì đây là những giấc mộng xấu?
- Chúng báo trước điều gì? Vua hỏi.
- Tâu hoàng thượng, một trong ba tai họa xảy ra sẽ làm
hại vương quốc, tính mạng và tài sản của hoàng thượng.
- Vậy có cách gì giải nạn không?
- Rõ ràng những giấc mộng này cảnh báo điều không thể cữu
vãn được. Tuy nhiên, chúng thần sẽ tìm cách cữu vãn chúng. Nếu không thì tài học
cao hiểu rộng của chúng thần có ích gì?
- Vậy các khanh định làm gì để giải trừ các tai họa đó?
- Tâu hoàng thượng, bất cứ nơi đâu có ngã tư, chúng thần
đều lập đàn cúng tế.
Trong nỗi kinh hãi, nhà vua nói:
- Thưa các quốc sư, tính mạng của trẫm nằm trong tay các
khanh. Các khanh hãy nhanh chống tiến hành để giữ bình an cho trẫm.
Các Bà-la-môn hớn hở nghĩ: “Vậy là chúng ta sẽ có một
khoản tiền lớn và đủ các thứ thực phẩm.” Rồi họ bảo nhà vua đừng sợ và rời khỏi
hoàng cung.
Ở bên ngoài kinh thành, họ đào một cái hố tế lễ và thu
gom một lượng lớn thú vật bốn chân - toàn loại toàn hảo không có khuyết tật, và
vô số chim muông. Nhưng rồi họ vẫn cứ thấy còn thiếu nên cứ trở lại hoàng cung
để xin thứ này thứ nọ. Bấy giờ, những việc làm của họ đều được hoàng hậu
Mạt-lợi-ca (Mallikā) theo dõi. Hoàng hậu thấy vậy bèn đi đến nhà vua, hỏi rằng
những Bà-la-môn này có việc gì mà cứ lui tới chỗ vua mãi hoài như vậy. Vua nói:
- Trẫm thèm được như ái khanh. Một con rắn đã chui vào
trong tai ái khanh mà ái khanh chẳng hay chẳng biết gì cả.
- Đại vương muốn ám chỉ gì thế?
- Trẫm đã nằm mơ. Ôi, toàn những giấc mơ đen đủi! Những
Bà-la-môn nói với trẫm là chúng báo trước ba đại hoạn. Vì thế họ nóng lòng dâng
đồ tế lễ để giải trừ hoạn nạn. Và đó là lý do họ thường lui tới nơi đây.
- Thế nhưng hoàng thượng đã thỉnh ý Bà-la-môn Tối thắng
của hai cõi chư thiên và loài người chưa?
- Ái khanh, người ấy là ai vậy? Vua hỏi.
- Hoàng thượng không biết Đạo sư Bà-la-môn tối thắng thế
gian, Bậc giác ngộ, thanh tịnh và vô cấu ấy thật sao? Đức Thế Tôn chắc chắn sẽ
biết được những giấc mộng của hoàng thượng. Hoàng thượng nên đến thỉnh vấn Ngài.
- Hoàng hậu, trẫm sẽ đến đó. Nhà vua nói.
Rồi nhà vua đi đến tinh xá, đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi
xuống. Bằng giọng từ ái, đức Thế Tôn hỏi:
- Thưa hoàng thượng, có việc gì mà hoàng thượng đến đây
vào sáng sớm thế này?
Vua đáp:
- Bạch Thế Tôn, mới khuya nay trẫm nằm mơ thấy mười sáu
giấc mộng kỳ lạ, vì quá kinh hãi nên trẫm đã kể lại cho các Bà-la-môn những giấc
mộng đó. Những Bà-la-môn nói với trẫm rằng những giấc mộng đó báo trước những
tai họa sẽ xảy ra, và rằng để giải trừ những tai ương báo trước đó họ phải lập
đàn tế lễ bất cứ nơi đâu có ngã tư đường. Vì thế họ đôn đáo chuẩn bị mọi thứ, và
do đó khiến cho nhiều sinh vật sợ hãi cái chết kề cận trước mắt. Trẫm cầu xin
Thế Tôn, Bậc Tối thắng của hai cõi nhân thiên, Bậc Toàn giác có thể thông suốt
mọi sự ở trong quá khứ cũng như hiện tai và tương lai, hãy nói cho trẫm biết
những giấc mộng kia của trẫm sẽ báo trước điều gì.
- Thưa hoàng thượng, đúng như vậy. Không có người nào
ngoài ta có thể nói được những giấc mộng của hoàng thượng báo trước điều gì. Ta
sẽ nói cho hoàng thượng biết. Nhưng trước hết hãy nói cho ta biết tất cả những
giấc mộng của hoàng thượng đã diễn ra như thế nào.
- Bạch Thế Tôn, trẫm sẽ nói.
Và bắt đầu từ bảng liệt kê này, thứ tự những giấc mộng
bắt đầu xuất hiện:
Bò đực, cây xanh và bò cái
Bê con, bát đĩa, ngựa đồng hoang
Thêm chó rừng cái, bình đựng nước
Hồ nước, cơm sống, gỗ hương đàn
Bầu thì chìm lặn, đá lại nỗi
Ếch nhái đi ăn loài rắn đen
Quạ có tùy tùng lông rực rỡ
Chó sói sợ dê loại yếu hèn.
- Bạch Thế Tôn, những giấc mộng dưới đây của trẩm có điềm
gì?
- Trẫm mơ thấy rằng, có bốn con bò đực có màu đen tuyền
từ bốn hướng chính chạy vào sân hoàng cung với ý định đánh nhau. Và dân chúng lũ
lượt kéo lại xem những con bò đánh nhau đã tập hợp thành một đám người đông đúc.
Nhưng những con bò chỉ kình mặt nhau, gầm rống vang lên và cuối cùng bỏ chạy mà
không đánh nhau gì cả. Đó là giấc mộng đầu tiên của trẫm. Điều này có nghĩa gì?
- Thưa hoàng thượng, giấc mộng đó sẽ không có hiệu quả gì
trong thời của ngài cũng như thời của tôi. Nhưng về sau, vào thời những vị vua
xan tham và bất chính, khi dân chúng làm điều phi pháp, nhân thế suy đồi, điều
thiện giảm dần, điều ác tăng trưởng. Vào những ngày thế giới suy đồi như vậy, sẽ
không có mưa từ trời rơi xuống, không có gió thổi, mùa vụ khô héo, và nạn đói
kém hoành hành khắp nơi. Sau đó mây từ bốn phương kéo đến như thể trời sắp mưa.
Trước tiên lúa ngô mà những phụ nữ đem ra phơi được vội vã đem vào nhà, sau đó
những người đàn ông sẽ mang cuốc mang giỏ đi đắp đê. Trời như có hiện tượng mưa
tới, sấm gầm rền vang, ánh chớp từ mây lóe sáng. Nhưng giống như những con bò ở
trong giấc mộng của hoàng thượng không chịu đánh nhau, cũng vậy, những đám mây
này không đem mưa đến. Do đó, những gì mà các Bà-la-môn nói với hoàng thượng là
chỉ vì miếng cơm manh áo mà nói vậy.
Sau khi nói xong toàn bộ giấc mộng này, đức Thế Tôn nói:
- Thưa hoàng thượng, xin hãy nói cho tôi giấc mộng thứ
hai của ngài.
Nhà vua nói:
- Bạch Thế Tôn, giấc mộng thứ hai thì thế này: có những
cây nhỏ từ dưới đất trồi lên, khi chúng mọc cao chừng hai ba gang tay thì chúng
đơm hoa kết trái! Đây là giấc mộng thứ hai, nó báo trước điềm gì?
Đức Thế Tôn nói:
- Thưa hoàng thượng, giấc mộng này sẽ ứng nghiệm khi thế
giới này suy tàn và con người yểu mệnh. Vào thời vị lại, dục vọng rất mạnh.
Nhưng cô gái còn rất trẻ lại đến sống chung với những người đàn ông, rồi cũng
theo lề lối phụ nữ, họ mang thai và sinh con. Những bông hoa tượng trưng cho sự
việc xảy ra, còn quả tượng trưng cho con cái của họ. Nhưng tâu hoàng thượng,
ngài không có gì phải lo sợ về giấc mộng này cả, hãy nói cho tôi nghe giấc mộng
thứ ba đi.
- Bạch Thế Tôn, trẫm mơ thấy những con bò cái đang bú sữa
những con bê con do nó sinh ra vào chính ngày hôm đó. Đây là giấc mộng thứ ba
của trẫm, nó có nghĩa gì vậy?
- Giấc mộng này cũng sẽ ứng nghiệm vào đời tương lai, khi
mà người già không còn được kính trọng. Vào thời này, người ta không còn kính
trọng cha mẹ của mình cũng như nhạc phụ nhạc mẫu của mình, và chính họ trở thành
người quản lý gia sản. Nếu họ thích thì họ cho cha mẹ cơm ăn áo mặc, còn nếu họ
không thích thì họ không cho cha mẹ những món quà đó. Do đó, những người già trở
nên nghèo túng và phải sống nương nhờ vào ân huệ của con cái mình, họ giống như
những con bò mẹ bú sữa những con bê con mới sinh ra được một ngày. Nhưng hoàng
thượng không có gì phải lo lắng về giấc mộng đó, hãy kể cho trẫm giấc mộng thứ
tư đi.
- Bạch Thế Tôn, trẫm mơ thấy người ta tháo ách ra khỏi
những con bò kéo mạnh khỏe sung sức và tròng nó vào những con bò nhỏ và bắt
chúng kéo xe. Những con bò này không kham nỗi gánh nặng đặt lên mình chúng nên
cự tuyệt và dậm chân tại chỗ, khiến cho các cỗ xe không di chuyển được. Đây là
giấc mộng thứ tư của trẫm, nó có nghĩa gì vậy?
- Thưa hoàng thượng, giấc mộng này chỉ ứng nghiệm vào đời
vị lai, thời những vị hôn quân bạo chúa. Vào đời vị lai ấy, những vị hôn quân
xan tham sẽ không tỏ lòng kính trọng những vị hiền trí thông thái, có đủ sách
lược và thành thạo việc đời; cũng không bổ nhiệm những vị phán quan tài trí và
am tường phép nước vào pháp đình. Ngược lại, họ đi kính trọng những kẻ thơ trẻ
ngu si và bổ nhiệm chúng giữ chức điều khiển pháp đường. Những người này vừa ngu
trong việc trị nước, vừa thiếu hẳn những kiến thức thực tiễn, nên không thể mang
nỗi gánh nặng cao quý cũng không thể trị dân trị nước được, vì thế đã đánh mất
đi giềng mối quốc gia bởi sự bất tài của mình. Trong khi đó, những bậc hiền trí
thông thái mặc dầu có khả năng giải quyết những khó khăn đó, nhưng khi nghĩ lại
việc họ đã từng bị ruồng bỏ thì khước từ và nói rằng: “Đó không phải là trách
nhiệm của chúng ta. Chúng ta là những người ngoài cuộc. Cứ để cho những cậu bé
trong cuộc lo liệu việc đó.” Do đó họ đứng tránh xa, và như vậy sự suy tàn đã đè
lấy những vị hôn quân này. Điều đó thì cũng như việc tròng ách vào đám bò nhỏ
không đủ sức mạnh kéo những cỗ xe nặng mà lại không tròng ách vào đám bò kéo
sung sức và mạnh khỏe có thể làm được việc này. Tuy thế, hoàng thượng không có
gì phải lo sợ về giấc mơ này, hãy kể cho tôi giấc mộng thứ năm của ngài đi.
- Bạch Thế Tôn, trẫm mơ thấy một con ngựa có mồm ở hai
bên, và khi cỏ được đưa vào hai bên, nó ăn bằng cả hai mồm. Đây là giấc mộng thứ
năm, nó có nghĩa gì vậy?
- Giấc mộng này cũng chỉ ứng nghiệm trong đời vị lai, vào
thời những vị hôn quân ngu si bổ nhiệm những kẻ tham lam bất chính làm phán
quan. Những kẻ ngu si hèn hạ này xem thường những điều thiện. Chúng sẽ nhận của
hối lộ từ cả hai phía khi ngồi xét kiện và chất đầy của cải hối lộ được nhận từ
cả hai phía này. Sự kiện này giống như những con ngựa ăn cỏ bằng cả hai miệng
một lần. Tuy thế, hoàng thượng không có gì lo sợ cả, hãy nói cho tôi giấc mộng
thứ sáu của ngài đi.
- Bạch Thế Tôn, trẫm mơ thầy người ta đưa một cái bát
bằng vàng sáng bóng trị giá một trăm ngàn đồng tiền vàng để cho một con chó rừng
già đái vào trong ấy. Và trẫm thấy con thú đó đã làm như vậy. Đây là giấc mộng
thứ sáu của trẫm. Điều này có nghĩa gì?
Giấc mộng này chỉ ứng nghiệm vào đời vị lai. Vào thời vị
lai ấy, những vị hôn quân, mặc dù xuất thân từ dòng tộc vua chúa nhưng lại không
tin tưởng những người thuộc dòng quý tộc trước đây, không tôn trọng họ, mà thay
vào đó là đề cao hạng người hạ đẳng, khiến cho hàng quý tộc hoá thành nghèo hèn
còn đám hạ đẳng trở thành hàng quyền thế. Sau đó trong cảnh bần cùng túng thiếu,
những gia đình quý tộc này đã phải tìm kế mưu sinh bằng cách nương nhờ vào đám
quý tộc mới phất lên và đem con gái mình gả cho chúng. Như vậy, việc kết hôn
giữa những tiểu thư quí tộc với hàng hạ đẳng thì có khác gì chó rừng già đại
tiện vào trong cái bát vàng. Tuy thế, hoàng thượng không có gì phải lo sợ cả,
xin hãy kể cho tôi giấc mộng thứ bảy của ngài.
- Bạch Thế Tôn, trẫm mơ thấy một người đàn ông đang bện
một sợi dây thừng. Và trong khi bện như vậy, ông ta thả sợi dây xuống nơi chân.
Còn dưới cái ghế ông ta ngồi, có một con chó rừng cái đói mồi đang gặm sợi dây
thừng mà ông ta bên, nhưng ông ta không hề hay biết điều đó. Trẫm đã thấy như
vậy. Đây là giấc mộng thứ bảy của trẫm. Điều này có nghĩa gì?
- Giấc mộng này cũng chỉ ứng nghiệm trong đời vị lai. Vào
thời vị lai đó, đám nữ nhân thèm khát đàn ông, rượu nồng và xiêm y. Họ đi lang
thang khắp nơi để thọ hưởng lạc thú trần gian. Trong sự phóng đảng và hư hỏng
kia, những nữ nhân này sẽ uống rượu với đám tình nhân của họ, rồi phô trương
khoe khoang những vòng hoa, nước hương và sáp thơm. Chúng không còn màng đến
những bổn phận gia đình dù là cấp thiết nhất, suốt ngày cứ nhìn qua những kẻ hở
cao tít ở những bức tường bên ngoài để chờ đợi đám nhân tình đến. Chúng lại đem
cả thóc đậu giống được để dành gieo hạt vụ sau ra giã để làm món ăn ngon. Bằng
cách ấy, chúng đã phá nát hết kho thóc mà những người chồng đã kiếm được ngoài
ruộng đồng bằng cuốc sâu cày bẩm. Chúng phá nát gia sản của đám đàn ông khốn khổ
giống như con chó rừng nằm dưới ghế gặm sợi dây mà người thợ bện dây đang bện.
Tuy nhiên, hoàng thượng không có gì phải lo sợ, xin hãy kể cho tôi giấc mộng thứ
tám của ngài.
- Bạch Thế Tôn, Trẫm mơ thấy tại cổng hoàng cung có một
chiếc bình đầy ắp nước được đặt ở giữa những chiếc bình không. Và từ bốn phương,
có bốn dòng người bất tận đủ bốn đẳng cấp nối đuôi nhau mang nước trong các bình
bằng đất đến đổ vào chiếc bình đầy đó và khiến nước chảy tràn ra ngoài. Tuy thế,
họ vẫn cứ tiếp tục đổ nước vào chiếc bình đã đầy tràn đó, mà không một ai thèm
để mắt đến những chiếc bình không khác. Đây là giấc mộng thứ tám của trẫm, điều
này có nghĩa gì?
Giấc mộng này cũng chỉ ứng nghiệm vào đời tương lai. Vào
thời thế giới suy tàn, vương quốc trở nên suy yếu, vua chúa trở nên nghèo khổ và
hà tiện. Người giàu nhất trong họ cũng không có nhiều hơn một trăm ngàn đồng
tiền vàng trong kho. Thế là trong cảnh túng thiếu, những vua chúa này đã bắt tất
cả dân chúng ra làm việc cho chúng. Thế rồi vì lợi ích của vua, dân chúng phải
bỏ hết việc riêng, đi gieo lúa đậu, trông coi, gặt hái, đập lúa và mang về kho
cho vua; vì lợi ích của vua, họ phải trồng mía, làm đường nấu mật; vì lợi ích
của vua, dân chúng phải trồng các vườn hoa, vườn cây ăn trái, và thu hoạch hoa
quả. Khi thu hoạch đủ loại sản phẩm, họ đổ đầy vào các kho của vua khiến cho
chúng đầy tràn ra ngoài trong khi không màng nhìn đến kho vựa trống rỗng ở nhà
của mình. Sự kiện này cũng giống như mang nước đổ vào bình đầy trong khi không
thèm để ý đến những chiếc bình không. Tuy thế đại vương không có gì phải sợ hãi
cả, hãy kể cho tôi giấc mộng thứ chín của ngài.
- Bạch Thế Tôn, trẫm mơ thấy một hồ nước sâu xung quanh
có bờ đắp cao và trong ấy mọc đầy năm loại hoa sen. Từ các phía, những loài vật
hai chân và bốn chân kéo đến đó để uống nước. Ở giữa hồ, nước sâu và đục như
bùn, còn ven bờ hồ, nơi các loài thú kéo xuống uống nước thì nước trong vắt và
lấp lánh. Đây là giấc mộng thứ chín của trẫm, nó có nghĩa gì vậy?
- Giấc mộng này cũng chỉ ứng nghiệm vào đời vị lai. Vào
thời này, những vua chúa trở nên bất chính, cai trị vương quốc theo ý muốn và sở
thích của riêng mình mà không xử án theo công lý. Những vua chúa này tham muốn
tiền tài và trở nên béo mập nhờ nhận của hối lộ. Họ không tỏ lòng nhân từ thương
yêu đối với dân chúng, mà hung bạo tàn ác, vơ vét của cải bằng cách chèn ép thần
dân của họ như nghiền ép những cây mía ở trong máy xay. Họ đánh thuế dân chúng
đến độ dân chúng không còn một đồng tiền dính túi. Không thể chịu nỗi món sưu
thuế đề nặng ấy, dân chúng từ làng quê đến thành thị lũ lượt bỏ xứ ra đi, đến ẩn
náu tại những vùng biên giới của vương quốc, khiến cho vùng đất ở giữa vương
quốc hoá thành hoang vắng tiêu điều, trong khi các vùng biên giới thì tràn đầy
người, giống như nước bùn ở giữa hồ và nước trong ở xung quanh bờ vậy. Tuy thế,
hoàng thượng không có gì phải sợ hãi về điều này, hãy kể cho tôi giấc mộng thứ
mười của ngài đi.
- Bạch Thế Tôn, trẫm mơ thấy cơm sôi ở trong nồi nhưng
không được nấu chín. Vì không được nấu chín nên gạo trong nồi như được chia
riêng ra để nấu trong ba giai đoạn riêng biệt. Phần thì nhão nước, phần thì khô
sống, và một phần thì được nấu vừa chín. Đây là giấc mộng thứ mười của trẫm, nó
có nghĩa gì vậy?
- Giấc mộng này cũng chỉ ứng nghiệm vào đời vị lại. Vào
thời ấy, vua chúa sẽ trở nên bất minh, và dân chúng sống với đám vua chúa này
cũng trở nên bất minh như họ; các Bà-la-môn, gia chủ, thị dân, nông dân cũng như
vậy. Đúng thế, dân chúng đều bất chính cả, ngay những vị hiền thánh, những
Bà-la-môn cũng như thế. Kế đó là những vị thần bảo hộ họ - những vị thần mà họ
dâng đồ tế lễ, những vị thần cây, những vị thần giữa không trung cũng trở thành
bất chính cả. Ngay cả những ngọn gió thổi qua vương quốc của đám hôn quân này
cũng trở thành tàn khóc và hỗn loạn. Chúng làm rung chuyển lâu đài của cõi thiên
giới, khiến cho các vị thần trú ở đó tức giận để rồi họ không cho mưa xuống,
hoặc có mưa thì không mưa xuống khắp cả vương quốc cùng một lúc, cũng không có
những cơn mưa rào tốt lành rơi xuống khắp các vùng đất canh tác hay gieo hạt để
giúp dân chúng đang lúc khó khăn. Và như thế trong một quốc gia nói chung, trong
mỗi làng xã, ao hồ nói riêng, mưa đã không rơi xuống cùng một lần trên cùng một
vùng đất. Nếu mưa xuống phần trên thì sẽ không mưa xuống phần dưới. Như vậy, mùa
vụ nơi thì bị hư hại hết bởi mưa tầm tã, nơi thì bị khô cháy vì hạn hán, nhưng
có nơi lại phát đạt nhờ mưa thuận gió hòa. Như thế, mùa màng được gieo trồng
trong cùng một vương quốc lại giống như cơm ở trong một nồi không có giống
nhau. Tuy thế, hoàng thượng không có gì phải sợ hãi việc đó cả. Hãy kể cho tôi
giấc mộng thứ mười một của ngài đi.
- Bạch Thế Tôn, trẫm mơ thấy sữa chua được đem đổi lấy gỗ
hương đàn quý - trị giá một trăm ngàn đồng tiền vàng. Đây là giấc mộng thứ mười
một của trẫm. Điều này có nghĩa gì?
- Giấc mộng này cũng chỉ ứng nghiệm vào thời vị lai, thời
mà giáo pháp của ta suy tàn. Vào thời ấy, xuất hiện nhiều Tỳ-kheo đầy dục tham
và vô tàm quý. Vì miếng ăn, họ đã thuyết giảng chính giáo pháp mà ta đã giảng
dạy nhằm loại trừ dục tham! Do vì miếng ăn, họ đã từ bỏ chánh pháp và tự đứng
vào hàng ngủ ngoại đạo, họ không thuyết giảng giáo pháp đưa đến Niết-bàn. Hơn
thế nữa, khi họ thuyết pháp, mục đích của họ chỉ là dùng ngôn từ hoa mỹ ngọt
ngào cốt khiến người đời cúng dường cho họ y áo đắt tiền cùng những phẩm vật
khác, và họ chỉ để tâm đến những thứ cúng dường ấy. Một số Tỳ-kheo khác lại ngồi
nơi đường cái, tại gốc đường, tại cửa hoàng cung.., cúi mình xuống thuyết pháp
để kiếm tiền, phải, để kiếm những đồng tiền lớn nhỏ đủ loại! Và khi họ đem giáo
pháp quý giá đưa đến Niết-bàn của ta để đổi lấy y áo thực phẩm hay bán rẻ đi thì
họ có khác gì những người đem gỗ hương đàn trị giá một trăm ngàn đồng tiền vàng
để đối lấy sữa chua. Tuy thế, hoàng thượng không có gì phải lo về việc này cả.
Hãy kể cho tôi giấc mộng thứ mười hai của ngài đi.
- Bạch Thế Tôn, trẫm mơ thấy một trái bầu rỗng chìm xuống
dưới nước. Giấc mộng này có nghĩa gì?
- Giấc mộng này cũng sẽ ứng nghiệm vào đời vị lai, thời
có những vị hôn quân, thời thế gian điên đảo. Vào thời đó, các vua chúa sẽ không
trọng dụng hàng quý tộc mà chỉ trọng dụng hàng hạ đẳng, và hạng người này sẽ trở
thành những quan chức đầy quyền hành trong khi giới quý tộc lại rơi vào cảnh bần
cùng khốn đốn. Cũng như vậy trong chốn hoàng gia, tại cổng cung điện, tại sãnh
đường hay tại các pháp đường cũng chỉ có lời lẽ của hạng hạ đẳng (hạng người
tượng trưng cho bầu bí rỗng ruột) được thiết lập, như thể chúng chìm xuống tận
đáy nước. Cũng như vậy trong các hội chúng Tỳ-kheo, trong những buổi hội họp lớn
nhỏ, trong tứ sự cúng dường như y bát, sàng toạ..., chỉ có ý kiến của những kẻ
xấu xa hèn hạ được xem là có quyền quyết định chứ không phải ý kiến của những
Tỳ-kheo thiểu dục tri túc. Khắp nơi đều như vậy, chẳng khác gì cảnh bầu bí rỗng
ruột lại chìm xuống nước. Tuy thế, hoàng thượng không có gì phải sợ hãi về việc
này cả. Xin kể cho tôi giấc mộng thứ mười ba của ngài đi.
Nhà vua nói:
- Bạch Thế Tôn, trẫm mơ thấy những tảng đã cứng và to lớn
như những ngôi nhà lại nỗi bồng bềnh như những con tàu trên mặt nước. Điều này
có nghĩa gì?
- Giấc mộng này cũng chỉ ứng nghiệm vào thời vị lại như
tôi đã nói ở trên. Vào thời này, đám hôn quân sẽ trọng dụng hạng hạ đẳng, và
hạng người này trở thành tầng lớp quan lại có quyền thế, trong khi tầng lớp quý
tộc lại rơi vào cảnh bần cùng khốn khổ. Người ta không còn kính trọng giới quý
tộc nữa mà chỉ kính trọng hàng người giàu sang mới phất thôi. Trong hoàng cung,
trong sãnh đường, hay ở trong các pháp đường, lời nói của hàng quý tộc am tường
pháp luật (hạng người tượng trưng cho những tảng đá cứng) bị gạt bỏ ngoài tai,
không ai thèm để ý đến. Mỗi khi những người này nói thì đám quan lại mới nổi chỉ
cười khinh bỉ và nói: “Những người này đang nói gì vậy?”. Cũng như vậy, trong
các hội chúng Tỳ-kheo, như đã nói trước đây, người ta dường như không còn kính
trọng những bậc trưởng thượng nên lời nói của những vị này không được lặn sâu
xuống mà trôi nổi giống như những tảng đá trôi nổi trên nước. Tuy thế, hoàng
thượng không có điều gì phải lo lắng về điều này cả. Hãy kể cho tôi giấc mộng
thứ mười bốn của ngài đi.
- Bạch Thế Tôn, trẫm mơ thấy những con ếch không lớn hơn
những bông hoa bé nhỏ, lại lanh lẹ săn đuổi những con rắn đen to lớn, cắn chúng
ra thành nhiều đoạn như những cọng sen và nhai nuốt sạch chúng. Giấc mộng này có
nghĩa gì?
- Giấc mộng này cũng chỉ ứng nghiệm vào đời vị lai như
tôi đã nói ở trên, khi mà thế giới này trở nên suy tàn. Bấy giờ, dục vọng của
nam nhân rất mạnh. Dục vọng quá nóng bỏng đã khiến họ trở thành nô lệ cho đám
thê thiếp non dại. Mọi việc trong nhà từ người hầu kẻ ở đến trâu bò, gia súc,
vàng bạc.., đều do đám thê thiếp quyết định. Nếu người chồng có hỏi rằng tiền
bạc hay áo quần để ở đâu thì ngay lập tức anh ta được bảo rằng nó ở đâu mặc nó,
rằng anh ta nên biết việc của mình đi, đừng tò mò tọc mạch về thứ này thứ kia
trong nhà vợ của anh ta. Và thêm nữa, bằng nhiều cách thức, đám thê thiếp
lại châm chọc, chửi rủa và sỉ nhục để trấn áp sai sử chồng của họ, giống như sai
sử kẻ hầu người ở vậy. Sự kiện này cũng giống như đám ếch con không lớn hơn
những bông hoa bé tí lại đi nhai nuốt những con rắn đen to lớn. Tuy nhiên, hoàng
thượng không có gì phải lo sợ việc này. Hãy nói cho tôi giấc mộng thứ mười lăm
của ngài đi.
- Bạch Thế Tôn, trẫm mơ thấy một con quạ đồng có đủ mười
Ác Hạnh, hộ tống nó là một đám chim tuỳ tùng, mà bầy chim này bởi có sắc lông
màu vàng nên được gọi tên là Hoàng Kim Nga. Giấc mộng này có ý nghĩa gì?
Giấc mộng này cũng chỉ ứng nghiệm trong thời vị lai, thời
các vị vua hèn yếu. Bấy giờ sẽ xuất hiện những vị vua chúa không biết gì về voi
ngựa hay những tài nghệ khác, và là những kẻ hèn nhát nơi chiến trận. Vì sợ bị
truất phế hay bị tống xuất ra khỏi vương quốc nên thay vì đưa những người quý
tộc thì họ lại đưa đám lính gác, hầu tắm, thợ hớt tóc…lên nắm quyền. Như vậy, bị
thất sủng khỏi ân huệ của vua và không thể nương tựa được vào bản thân mình nên
hàng quý tộc phải hạ mình theo hầu đám quan lại mới phất, giống như bầy Hoàng
Kim Nga hộ tống con quạ vậy. Tuy nhiên, hoàng thượng không có gì phải sợ hãi về
việc này. Hãy kể cho tôi giấc mộng thứ mười sáu của ngài.
- Bạch Thế Tôn, xưa nay loài báo thường săn bắt dê, nhưng
trẫm mơ thấy những con dê săn đuổi lũ báo và xé xác nhai ngấu nghiến. Trong khi
thoáng thấy bóng dáng bầy dê ở đằng xa, lũ sói đã kinh hãi tháo chạy và vội vàng
ẩn nấp trong những bụi cây. Giấc mơ của trẫm là như vậy. Nó có nghĩa gì?
- Giấc mộng này cũng sẽ ứng nghiệm vào đời vị lai, dưới
triều những vị hôn quân. Bấy giờ, hạng cùng đinh sẽ được đưa lên nắm quyền lực
và trở thành sủng thần của vua chúa, trong khi hàng quý tộc lại rơi vào cảnh bần
cùng tối tăm. Vì dành được thế lực trong các pháp đường do bởi nhận được ân sủng
vua ban, nên đám quan lại mới phất này sẽ đòi đất đai hương hỏa, áo vải và tất
cả tài sản của hàng quý tộc trước đây. Và khi hàng quý tộc bênh vực cho quyền
lợi của họ trước pháp đường thì bị thuộc hạ của vua lấy gậy đánh đập và lôi kéo
ra ngoài cùng với những lời lẽ khinh bỉ như: “Này những kẻ ngu ngốc, hãy biết vị
thế của mình! Cái gì? Các người muốn lý sự với bọn ta hả? Đức vua sẽ biết sự láo
xược của các ngươi, và bọn ta sẽ chặt tay chân của các ngươi ra và trừng trị
thích đáng cả thảy!” Đến đây, các quý tộc kinh hãi chấp nhận rằng tài sản của họ
thật sự là của đám quan lại hống hách mới nổi, và sẽ bảo với bọn mới phất này
hãy nhận lấy tài sản. Rồi họ trở về nhà và ngồi co rúm lại trong nỗi kinh hãi.
Tương tự như vậy, những Tỳ-kheo xấu ác sẽ sách nhiễu quậy phá các Tỳ-kheo giới
đức, cho đến khi những người này nhận thấy không có ai giúp đở phải bỏ trốn vào
rừng sâu. Sự đàn áp hàng quý tộc và các Tỳ-kheo giới đức do bọn cùng đinh và các
Tỳ-kheo xấu ác thi hành thì cũng giống như bầy sói bị lũ dê làm cho kinh hãi.
Tuy nhiên, hoàng thượng không có gì phải sợ hãi về điều này. Vì giấc mộng này
cũng chỉ ứng nghiệm trong đời vị lai mà thôi. Như vậy, không phải vì sự thật,
không phải vì lòng yêu mến hoàng thượng thúc đẩy các Bà-la-môn tiên đoán như
vậy, mà chỉ vì lòng tham muốn lợi lộc, và chính sự hiểu biết được nuôi dưỡng bởi
lòng tham lam đã khiến cho họ thốt ra lời lẽ tự tư tự lợi.
Giảng giải ý nghĩa của mưới sáu giấc mộng lớn như vậy
xong, đức Thế Tôn nói tiếp:
- Thưa hoàng thượng, ngài không phải là người đầu tiên
thấy những giấc mộng này. Đời trước, các vị vua cũng từng thấy những giấc mộng
như vậy. Và cũng như bây giờ, các Bà-la-môn tìm ra cái cớ ở trong những giấc
mộng này để xin lập đàn tể lễ. Rồi trong trường hợp này, các vua theo lời chỉ
dẫn của các vị hiền nhân hữu trí đã thỉnh cầu Bồ-tát, và bậc hiền trí ngày xưa
đã giảng giải giống như bây giờ vậy.
Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của nhà vua, đức Thế Tôn
kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Bramadatta) trị vì xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm một Bà-la-môn sống ở phương Bắc. Khi đến tuổi trưởng
thành, Bồ-tát xuất gia làm một vị tiên nhân ẩn sĩ. Ngài tu tập và chứng đắc được
Thần thông cùng Thiền định, và sống tại Tuyết sơn trong hỷ lạc thiền định.
Bấy giờ, cùng hình thức như trên, vua Phạm Dự tại
Ba-la-nại đã mơ thấy những giấc mộng này, và ông đã tham vấn các Bà-la-môn về
các giấc mộng đó. Và cũng như bây giờ, các Bà-la-môn đã lập đàn tế lễ. Trong số
ấy, có một Bà-la-môn trẻ có trí tuệ, là đệ tử của vị tư tế của vua, đã thưa với
thầy của mình:
- Thưa thầy, thầy đã dạy cho con ba bộ Vệ-đà. Vậy không
phải các kinh trong đó đều dạy rằng giết một sinh vật thì không đem lại đời sống
cho một sinh vật khác hay sao?
- Con à, việc này sẽ đem lại tiền cho chúng ta, một lượng
tiền rất lớn đấy. Hình như con sợ hao tổn kho báu của vua!
Thanh niên Bà-la-môn nói:
- Thưa thầy, vậy thầy cứ làm theo ý mình. Riêng phần con,
con còn nấn ná với thầy làm gì nữa chứ?
Nói vậy xong, chàng trai từ giã thầy mình và đi đến ngự
viên.
Chính vào ngày đó, Bồ-tát biết hết điều này, ngài nghĩ:
“Nếu hôm nay ta viếng nơi dân chúng sống, ta sẽ giải thoát cho nhiều sinh vật
thoát khỏi cảnh giam cầm.” Vì thế, bay qua không trung, Bồ-tát hạ xuống ngự viên
và an tọa trên tảng đá dành cho lễ nghi; thân thể ngài sáng chói như một bức
tượng bằng vàng. Thanh niên Bà-la-môn đi đến gần, cung kính đảnh lễ Bồ-tát và
ngồi xuống một bên với thái độ thân thiện. Cuộc đàm luận hòa ái diễn ra, và
Bồ-tát hỏi thanh niên Bà-la-môn rằng chàng có nghĩ là nhà vua cai trị đúng pháp
không. Thanh niên Bà-la-môn trả lời:
- Thưa Tôn giả, đức vua là một vị anh quân, nhưng các
Bà-la-môn đã làm cho ngài ngã theo tà ác. Khi được nhà vua tham vấn về mười sáu
giấc mộng mà ngài mơ thấy, các Bà-la-môn đã chụp ngay cơ hội đó để xin lập đàn
tế lễ và khởi hành làm ngay việc đó. Thưa Tôn giả, nếu ngài đến giải thích cho
vua biết rõ ý nghĩa thật sự của những giấc mộng đó thì như vậy sẽ giải phóng cho
rất nhiều sinh vật thoát khỏi chết chóc, điều này chẳng phải là một việc lành
sao?
- Nhưng này nam tử, ta không biết nhà vua và ông ấy cũng
chẳng biết ta. Tuy thế, nếu vua đến đây và hỏi ta thì ta sẽ nói với ông.
- Thưa Tôn giả, con sẽ đưa vua đến đây. Chỉ mong Tôn giả
ngồi đây đợi chốc lát cho đến khi con trở lại. Thanh niên Bà-la-môn nói.
Được Bồ-tát chấp nhận, chàng trai đến yết kiến nhà vua và
tâu rằng:
- Tâu hoàng thượng, có một vị ẩn sĩ phi thân qua không
trung và giáng hạ xuống ngự viên, vị này nói rằng sẽ giảng giải những giấc mộng
của ngài. Hoàng thượng có thể kể lại các giấc mộng của mình cho vị ẩn sĩ này
được không?
Khi nghe sự việc này, nhà vua lập tức cùng với đoàn tuỳ
tùng đông đảo đi đến ngự viên. Đến nơi, vua đảnh lễ vị ẩn sĩ và ngồi xuống một
bên, sau đó hỏi rằng có thật là ngài biết những gì sẽ xảy ra từ những giấc mộng
của ông. Bồ-tát đáp:
- Thưa hoàng thượng, đúng như vậy, nhưng trước tiên hoàng
thượng hãy cho tôi nghe nhưng giấc mộng mà hoàng thượng đã mơ thấy.
- Thưa Tôn giả, trẫm sẽ nói.
Nhà vua đáp lời và bắt đầu đọc như sau:
Bò đực, cây xanh và bò cái
Bê con, bát đĩa, ngựa đồng hoang
Thêm chó rừng cái, bình đựng nước
Hồ nước, cơm sống, gỗ hương đàn
Bầu thì chìm lặn, đá lại nỗi
Ếch nhái đi ăn loài rắn đen
Quạ có tùy tùng lông rực rỡ
Chó sói sợ dê loại yếu hèn.
Và sau đó, nhà vua tiếp tục kể những giấc mộng của mình
giống như những gì mà vua Ba-tư-nặc đã mô tả ở trên. Bậc Đại sĩ nói:
- Thôi đủ rồi, ngài không có điều gì để sợ hãi về những
điều này cả.
Sau khi trấn an nhà vua và giải phóng bầy thú đông đúc
kia thoát khỏi giam cầm, Bồ-tát lại phi thân lên an trụ giữa không trung, thuyết
giáo cho nhà vua, thiết lập cho ông năm giới, rồi kết thúc bằng những lời này:
- Thưa hoàng thượng, từ này về sau xin ngài đừng kết hợp
với những Bà-la-môn kia trong việc sát sanh tế lễ nữa.
Sau khi thuyết giảng vậy xong, Bồ-tát phi thân qua không
trung và trở về trú xứ của mình. Còn nhà vua, một lòng gìn giữ lời dạy đã được
nghe, rồi sau khi trải qua một đời thực hành bố thì và tạo thiện nghiệp, đã qua
đời và đi theo hành nghiệp của mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nói:
- Hoàng thượng không có gì phải lo sợ về các giấc mộng
này cả. Hãy dẹp bỏ việc tế lễ này đi!
Sau khi bảo vua dẹp bỏ việc tế lễ và giải cứu cho đàn súc
vật, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, A-nan là nhà vua, Xá-lợi-phất là thanh
niên Bà-la-môn, còn ta chính là vị ẩn sĩ.
Số 78
CHUYỆN TRIỆU PHÚ Y-LỢI-TÁT
(Tiền thân Illīsa)
Mắt lé, lưng gù, chân khập khiễng…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về một vị triệu phú keo kiệt. Chuyện kể rằng, gần thần
Vương-xá (Rājagāha), có một thị trấn tên là Tát-ca-la (Jagghery) và có một vị
triệu phú sống ở đấy. Vị này có tài sản tám trăm triệu đồng tiền vàng và được
mạnh danh là Triệu phú hà tiện. Ông ta hà tiện đến nỗi một giọt dầu nhỏ lấy ra
từ một ngọn cỏ cũng không dám cho ai và cũng không dám dùng. Như thế, tài sản
của ông không đem lại ích lợi gì cho gia đình, cho các Sa môn và các Bà-la-môn.
Tài sản ấy nguyên vẹn không ai được hưởng cả, giống như một hồ nước có quỷ la
sát ở. Một hôm, đức Thế Tôn thức dậy vào sáng sớm, khởi lòng từ bi và quán sát
khắp cả thế gian, xem có người nào nhân duyên giác ngộ đã chính muồi. Khi quán
sát như vậy, đức Thế Tôn nhận biết, cách đó bốn trăm dặm, vị triệu phú keo kiệt
này cùng với vợ ông ta có đủ nhân duyên chứng đắc quả Dự lưu.
Ngày trước đó, sau khi đi đến hoàng cung chầu vua, vị
triệu phú đang trên đường về nhà thì nhìn thấy một người dân quê đói bụng đang
ăn một cái bánh được nhồi với bột chua. Thấy như vậy, vị triệu phú khởi lên thèm
muốn! Nhưng khi về đến nhà, ông ta nghĩ: “Nếu ta bảo ta muốn ăn bánh nhồi bột
chua thì mọi người trong nhà này cũng sẽ muốn ăn với ta, và như thế có nghĩa
rằng ta phải tốn nhiều gạo, bơ và đường. Ta không được nói với ai một lời nào.”
Vì thế ông ta đi lui đi tới, dằn nén sự thèm muốn của mình. Cứ mãi như thế, ông
ta càng lúc càng trở nên vàng vọt, mất máu như những sợi dây nổi lên đầy cơ thể
tiều tuỵ. Cuối cùng không thể chịu đựng nỗi nữa, ông ta đi vào phòng riêng và
nằm co ro trên giường. Nhưng vì sợ hao tổn tài sản, ông ta vẫn không mở miệng
nói với ai một lời! Thế rồi vợ ông ta đi vào, vuốt lưng ông và nói:
- Này ông, ông có vấn đề gì không ổn sao?
- Không có vấn đề gì cả. Ông ta đáp.
- Hay nhà vua gắt gổng ông?
- Nhà vua không gắt gổng tôi.
- Vậy có phải các con hay bọn tôi tớ làm điều gì khiến
ông bực mình?
- Không có những việc như vậy.
- Hay ông thèm ăn thứ gì?
Nhưng rồi ông ta vẫn không nói lấy một lời, cứ nằm im
lặng trên giường, tất cả cũng chỉ vì sợ hao hụt tài sản.
- Này ông, hãy nói cho tôi biết là ông thèm muốn thứ gì.
Bà vợ nói.
- Tôi thèm muốn một thứ. Ông ta nuốt nước miếng trả lời.
- Này ông, thứ đó là thứ gì?
- Tôi muốn được ăn bánh chiên bột!
- Trời ơi, sao ông không nói ra ngay đi? Ông dư giàu đấy
chứ! Tôi sẽ chiên bánh để chiêu đãi cả thị trấn Tát-ca-la này.
- Tại sao lại bận tâm đến họ? Họ phải làm mà kiếm ăn chứ?
- Thôi được rồi, tôi sẽ chiên đủ cho những người ở cùng
đường với chúng ta.
- Bà sang quá nhỉ!
- Thế thì tôi chỉ làm đủ cho người trong nhà này.
- Sao bà lại phung phí vậy.
- Vây thôi, tôi chỉ làm đủ cho các con của chúng ta.
- Sao lại lo lắng cho bọn chúng?
- Vậy tốt nhất tôi chỉ làm đủ cho ông và tôi ăn.
- Tại sao lại có bà ở trong ấy?
- Vậy thì tôi chỉ làm đủ cho một mình ông ăn vậy.
Vị triệu phú nói:
- Nói khẽ thôi, ở đây có nhiều người đang chờ đợi nấu ăn
đấy. Nhớ để lại những hạt gao nguyên, chỉ lấy những hạt gạo nát thôi, rồi lấy
một cái lò than, một cái chảo, chỉ ít sữa, bơ, mật và mật đường, sau đó mang lên
trên tầng lầu thứ bảy và chiên bánh ở đó. Ở đấy, ta sẽ ngồi ăn một mình mà không
bị ai quấy rầy.
Vâng theo ý muốn của chồng, bà vợ mang tất cả những thứ
cần thiết và trèo lên lầu. Bà bảo các nô tỳ đi chỗ khác và cho mời vị triệu phú
lên. Vị triệu phú trèo lên, đống và cài chốt tất cả các cửa sau khi đi qua, cho
đến khi trèo đến tầng lầu thứ bảy, và cửa của tầng lầu này cũng được ông đống
chặt lại. Rồi ông ngồi xuống. Vợ của ông đốt lửa nhen lò, đặt chảo lên và bắt
đầu chiên bánh.
Bấy giờ vào sáng sớm, đức Thế Tôn nói với Trưởng lão
Mục-kiền-liên:
- Này Mục-kiền-liên, vị Triệu phú keo kiệt ở thị trấn
Tát-ca-la gần thần Vương Xá, vì muốn ăn bánh một mình, sợ để người khác biết nên
đã cho chiên bánh trên tầng lầu thứ bảy. Thầy hãy đến đó để nhiếp hoá con người
ấy, rồi bằng thần thông của mình, mang hai vợ chồng người ấy cùng với bánh sữa,
bơ và mật đường về tinh xá Kỳ Viên này. Hôm nay, ta với năm trăm Tỳ-kheo sẽ ngồi
tại tinh xá này và ta sẽ dùng thứ bánh ấy cùng với họ.
Vâng theo lời chỉ dạy của đức Thế Tôn, Trưởng lão dùng
thần thông đi đến thị trấn Tát-ca-la. Trưởng lão đứng giữa hư không, trước cửa
căn phòng của vị triệu phú, bận y trong và y ngoài một cách thích hợp, sáng chói
như một bức tượng bằng châu báu. Bất ngờ nhìn thấy Trưởng lão, vị triệu phú sợ
hãi run lên. Ông ta nghĩ: “Ta trèo lên đây là để trốn tránh những vị khách như
vậy, thế mà bây giờ lại có người đứng ngoài cửa sổ!” Không hiểu ra được những gì
ông cần phải hiểu, vị triệu phú thịnh nộ nói lắp bắp giống như đường và muối bỏ
vào trong lửa:
- Này Sa môn, chỉ đứng giữa không trung như vậy thì có
được gì nào? Dầu ông có đi lui đi tới giữa không trung cho đến khi tạo thành một
con đường giữa hư không vốn không có đường thì ông vẫn không có được thứ gì.
Trưởng lão liền đi qua đi lại giữa hư không! Vị triệu phú
nói:
- Ông đi qua đi lại như vậy sẽ kiếm được gì nào? Dầu ông
có ngồi kiết già thiền định giữa không trung vẫn không kiếm được thứ gì.
Trưởng lão bèn ngồi kiết già! Thế là vị triệu phú nói:
- Ông ngồi đó thì kiếm được gì? Dù ông có đến đứng bên
ngưỡng cửa thì vẫn không thể kiếm được thứ gì nữa kìa!
Trưỡng lão đến đứng bên ngưỡng cửa. Vị triệu phú nói:
- Đứng nơi ngưỡng cửa thì ông kiếm được gì nào? Dầu ông
có phun ra khói thì vẫn không thể kiếm được thứ gì nữa là!
Thế là Trưởng lão phun khói ra, cho đến khi cả toà lâu
đài đầy khói. Mắt vị triệu phú bắt đầu cay nhức giống như bị kim châm. Và cuối
cùng vì sợ toà nhà của mình bị đốt cháy nên ông ta không giám nói thêm: “Ông vẫn
không kiếm được gì dầu ông có đốt lửa lên”. Ông ta nghĩ: “Vị Trưởng lão này thật
kiên trì! Không có gì là nhất định không đi! Thôi ta cho ông một cái bánh vậy”.
Thế là ông nói với vợ:
- Này bà, chiên cho vị Sa môn ấy một cái bánh nhỏ rồi
tống cổ ông ta đi.
Thế là bà vợ trộn một chút bột nhỏ và bỏ vào chảo. Nhưng
bột đã nở ra mãi cho đến khi đầy cả chảo và trở thành một cái bánh rất lớn! Vị
triệu phú thấy vậy thì nói:
- Sao bà phải dùng nhiều bột thế!
Và thế là ông ta tự tay dùng đầu mút cãi muỗng lấy một
chút xíu bột và bỏ vào trong chảo để chiên. Nhưng chút bột nhỏ này đã trở thành
một cái bánh lớn, còn lớn hơn cả cái bánh trước. Và cứ như vậy, ông ta càng
chiên bánh nở càng lớn. Thế là nãn chí, ông ta nói với vợ:
- Này bà, hãy đưa cho ông ta một cái bánh.
Nhưng khi bà vợ lấy một cái bánh ở rổ, ngay lập tức những
chiếc bánh khác đều bị dính chặt với nó. Vì thế bà nói với chồng rằng những cái
bánh đã dính chặt với nhau, và rằng bà không thể tách chúng ra được. Vị triệu
phú nói:
- Được rồi, để tôi tách chúng ra.
Nhưng rồi ông ta cũng không thể tách được! Vậy là hai vợ
chồng nắm lấy cả đống bánh ở nơi gốc nhà và cố sức tách nó ra, nhưng dầu họ có
cố hết sức cũng không thể tách những chiếc bánh ra được. Bấy giờ, vì cố sức kéo
những chiếc bánh ra, thân thể vị triệu phú ướt đẫm mồ hôi và do đó lòng ham muốn
của ông cũng không còn nữa. Thế là ông nói với vợ:
- Tôi không muốn ăn bánh nữa. Hãy đem bánh cùng với rổ
rá, đường mật đưa cho vị Sa môn đó.
Bà vợ mang rổ đi đến Trưỡng lão. Thế rồi Trưởng lão
thuyết pháp cho cả hai người: nói lên sự cao quý của Tam bảo, và dạy rằng bố thí
là sự cúng dường chân thật. Ngài nêu rõ kết quả của bố thí và những việc lành
khác giống như làm cho mặt trăng toả sáng giữa trời. Nghe Trưởng lão thuyết
giảng, vị triệu phú nói:
- Thưa Tôn giả, mời ngài đến đây và ngồi lên ghế này để
dùng bánh.
Trưởng lão nói:
- Triệu phú, bậc Chánh Đẳng Giác cùng với năm trăm
Tỳ-kheo đang ngồi chờ ở tịnh xá để dùng bánh, nếu ông hoan hỷ thì xin mời hai
ông bà mang lấy bánh và chúng ta đi đến đức Thế Tôn.
- Nhưng thưa Tôn giả, đức Thế Tôn hiện giờ đang ở đâu?
- Ngài hiện ở tại tinh xá Kỳ viên, cách đây khoảng bốn
trăm dặm.
- Thưa Tôn giả, làm cách nào chúng ta đi hết được đoạn
đường đó mà không phải mất nhiều thời giờ?
- Triệu phú, nếu ông muốn, tôi sẽ đưa ông đến đó bằng
năng lực thần thông của tôi. Đầu chân thang tại lâu đài của ông sẽ vẫn ở nơi
này, nhưng chân thang sẽ ở tại cổng chính của tinh xá Kỳ viên. Bằng cách này, ta
sẽ đưa ông đến gặp đức Thế Tôn bằng thời gian đi từ lầu xuống chân cầu thang.
- Thưa Tôn giả, xin hãy làm như vậy. Triệu phú nói.
Thế rồi Trưởng lão giữ đầu của câu thang ở tại đó và nói:
- Chân cầu thang này hãy đến cổng chính Kỳ viên.
Và sự việc đã xảy ra đúng như vậy! Bằng cách này, Trưởng
lão đã đưa hai vợ chồng vị triệu phú đến Kỳ viên nhanh hơn họ đi từ cầu thang
xuống lầu.
Sau đó hai vợ chồng vị triệu phú đến trước đức Thế Tôn và
nói rằng giờ thọ trai đã đến. Đức Thế Tôn đi vào thực đường, an toạ trên Phật
toạ được dành cho mình cùng với các Tỳ-kheo ngồi xung quanh. Thế rồi vị Triệu
phú rót nước cúng dường lên tay đức Phật và các Tỳ-kheo, trong khi vợ của ông
đặt bánh vào trong bình bát của đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nhận lấy bánh vừa đủ
ăn, và năm trăm trăm Tỳ-kheo cũng làm như thế. Tiếp đó, vị triệu phú đi xung
quanh để cúng dường sữa trộn với bơ, mật ong và đường cục. Rồi đức Thế Tôn và
các Tỳ-kheo kết thúc bữa thọ trai. Sau đó, hai vợ chồng vị triệu phú ăn đến thỏa
thích, nhưng tuy vậy bánh vẫn không hết. Thậm chí khi tất cả các Tỳ-kheo cùng
những người ăn đồ thừa khắp cả tinh xá đã được chia đủ phần thì số bánh vẫn
không hết. Thế là họ thưa lên đức Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, số bánh vẫn không hết.
- Vậy hãy vứt bỏ bánh đó bên cổng lớn của Kỳ Viên.
Thế là họ vứt bánh đó vào một cái hang không xa cổng Kỳ
Viên, và chỗ ấy nay được gọi là “hang Bách chiên trong chảo”.
Vị triệu phú cùng với vợ đi đến đứng một bên đức Thế Tôn,
và đức Thế Tôn đã nói lên lời tùy hỷ công đức. Kết thúc lời tuỳ hỷ, hai vợ chồng
này đắc được quả Dự lưu. Rồi hai người đảnh lễ đức Thế Tôn, trèo lên cầu thang ở
cổng lớn và trở lại toà nhà của mình. Về sau, vị triệu phú hào phóng cúng dường
tám trăm triệu đồng tiền vàng vào giáo pháp của đức Thế Tôn.
Ngày hôm sau, sau khi đi khất thực ở Xá-vệ xong, đức Thế
Tôn quay trở lại tinh xá Kỳ Viên, truyền giảng Phật pháp cho các Tỳ-kheo và sau
đó trở về Hương phòng tỉnh toạ. Vào buổi tối, chư Tỳ-kheo tập họp lại trong
Chánh pháp đường và nói:
- Thưa các pháp hữu, năng lực của Trưởng lão
Mục-kiền-liên thì thật là lớn! Chỉ trong giây lát đã chuyển hoá một kẻ hà tiện
trở thành rộng lượng, rồi đưa vị này mang theo bánh đến tinh xá Kỳ Viên, đặt vị
này ở trước đức Thế Tôn và khiến cho hai vợ chồng chứng được quả Dự lưu. Ôi,
năng lực của Trưởng lão thất là lớn!
Khi chư vị ngồi nói về những công đức của Trưởng lão như
vậy thì đức Thế Tôn đi vào. Ngài hỏi họ bàn luận chuyện gì. Khi nghe họ thưa vấn
đề, Ngài nói:
- Này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo khi chuyển hoá một gia
đình thì nên tiếp cận gia đình ấy mà không gây phiền toái và làm tổn hại họ,
giống như một con ong khi hút mật hoa không làm tổn hại hoa kia. Cũng như vậy,
Tỳ-kheo nên đi đến gần để tuyên thuyết công đức tối thắng của Phật.
Rồi đức Thế Tôn đọc lên bài kệ này:
Như ong không hại hương, sắc hoa
Nương hoa lấy mật rồi bay xa
Bậc Thánh vào làng cũng như thế
Không gây tổn hại mỗi đường qua.
Sau đó để tán thán công đức của Trưởng lão Mục-kiền-liên,
đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu tiên vị triệu
phú keo kiệt đó được Mục-kiền-liên chuyển hoá. Vào đời trước, Trưởng lão cũng đã
nhiếp phục ông ta và dạy cho ông ta biết mối liên kết với nhau giữa hành vi và
kết qủa.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại
(Benares), có một vị triệu phú tên là Y-lợi-tát (Illisa), vị này có tài sản lên
đến tám trăm triệu đồng tiền vàng và cũng có đủ tất cả những khuyết điểm của con
người. Ông ta bị què lại thêm gù lưng và lé mắt. Ông là người bất tín, keo kiệt
bủn xỉn, không bao giờ cho ai thứ gì từ kho của mình, và bản thân mình cũng
không dám hưởng thụ. Nhà của ông giống như một cái hồ bị quỷ la sát ám. Tuy thế,
trải qua bảy đời, tổ tiên của ông là những người có tâm rộng rãi, bố thí hết sức
hào phóng. Nhưng đến đời ông làm triệu phú, ông đã phá vỡ truyền thống của gia
đình mình: đốt cháy nhà tế bần, đánh đập xua đuổi người nghèo khó và tích trữ
tài sản.
Một hôm, sau khi đến chầu vua và trên đường về nhà, vị
triệu phú nhìn thấy một người dân quê. Người này sau khi đi đường mệt mõi, đang
ngồi trên một cái ghế, lấy một bình rượu chua rót ra nơi chén và nhấm nó với một
miếng cá khô ươn thối. Vị triệu phú thấy vậy thì rất thém uống thứ rượu đó,
nhưng rồi lại nghĩ: “Nếu ta uống rượu thì những người khác cũng sẽ muốn uống với
ta, và điều đó có nghĩa rằng ta bị hao tốn tài sản”. Vì thế ông ta đi lui đi
tới, cố kìm nén cơn thèm khát của mình. Nhưng rồi không thể chịu đựng nỗi mãi
được, ông ta trở nên vàng vọt như cây bông già và các mạch máu nổi lên khắp thân
thể gầy rạc. Cuối cùng, ông đi vào phòng và nằm co ro trên giường. Vợ ông đi
vào, xoa lưng ông và hỏi:
- Này ông, ông có việc gì không vui sao?
(Những tình tiết tiếp theo đều giống như câu chuyện được
kể ở trên.) Nhưng ở đây, khi bà vợ nói: “Vậy tôi chỉ nấu rượu đủ cho một mình
ông uống” thì ông ta nói:
- Nếu bà nấu rượu ở nhà thì sẽ có nhiều người canh chờ,
còn nếu cho đi mua rượu về và ngồi ở đây uống thì không thể được.
Vì thế ông ta đưa ra một xu lẻ và bảo người nô lệ đến
quán mang về cho ông một bình rượu. Khi người nô lệ mang rượu trở về, ông ta bảo
người này mang rượu đi ra khỏi kinh thành để đến một bờ sông, rồi ông cho đặt
bình rượu vào một lùm cây hẻo lánh và đuổi người nô lệ đi. Chờ khi người nô lệ
đi đã xa, ông rót rượu ra chén và bắt đầu uống,
Bấy giờ, cha của vị triệu phú này, trước đây nhờ thực
hành bố thí và các việc lành khác nên đã được thọ sanh làm Thiên chủ Đế Thích.
Khi ấy, Đế Thích tự hỏi không biết việc bố thí của mình có còn được tiếp
tục hay không, và rồi ông biết rằng sự bố thí của mình đã chấm dứt, và cũng nhận
thấy được cách ăn ở của con trai mình. Ông thấy được con trai mình đã phá bỏ
truyền thống của gia đình mình như thế nào: đốt những nhà bố thí, đánh đập và
đuổi những người nghèo khổ ra khỏi nhà; và ông cũng thấy cách thức mà người con
trai keo kiệt của mình, vì sợ người khác cùng uống rượu, đã lén đến một bụi cây
để uống rượu một mình. Xúc động bởi cảnh tượng đó, Đế Thích nghĩ: “Ta sẽ đi đến
con ta và cho nó thấy rằng: gieo nhân thế nào thì gặt quả thế ấy. Ta sẽ chuyển
hoá nó, khiến cho nó biết thực hành bố thí và xứng đáng sanh về thiên giới.” Vì
thế, Đế Thích giáng trần và hoá hiện làm vị triệu phú Y-lợi-tát què chân, lưng
gù và mắt lé. Bằng hình thức này, ông đi vào kinh thành Ma-kiệt-đà và đến cổng
hoàng cung, rồi sau đó báo tin cho vua biết mình đã tới. Và khi nhà vua cho gọi
vào, ông đi vào, cung kính khấu đầu chào rồi đứng qua một bên. Nhà vua hỏi:
- Triệu phú, có việc gì mà ông đến đây phi thời như vậy?
- Tâu hoàng thượng, tôi đến đây để thưa rằng tôi có tám
trăm triệu đồng tiền vàng ở nhà. Xin hoàng thượng cho người đem số tài sản này
sung vào ngân khố hoàng gia.
- Triệu phú, thôi được rồi, tài sản trong cung ta nhiều
hơn cả số tài sản của ông.
- Tâu hoàng thượng, nếu ngài không nhận thì tôi sẽ đem số
tài sản này bố thì theo ý muốn của tôi.
- Triệu phú, ông cứ làm như vậy. Nhà vua bảo.
- Thưa vâng, tâu hoàng thượng.
Y-lợi-tát (do Đế Thích hoá hiện) nói, rồi cung kính khấu
đầu chào vua và đi về nhà của vị triệu phú thật. Những nô lệ tập trung lại quanh
ông, nhưng không người nào không nói đó là ông chủ thật của họ. Đế thích đi vào
và đứng nơi ngưỡng cửa, cho gọi người gác cổng đến và nói:
- Nếu có người nào giống ta đến đây và tự xưng là chủ của
nhà này thì các ngươi hãy lấy gậy đánh đập và đuổi ông ta ra.
Sau đó Đế Thích đi lên lầu, ngồi lên một chiếc ghế lộng
lẫy và cho gọi vợ của Y-lợi-tát đến. Khi bà vợ đi đến, ông mỉm cười và nói:
- Này bà, chúng ta hãy bố thí.
Nghe thế, vợ, con cái và những nô lệ đều nghĩ: “Lâu nay
ông ấy đâu có thích bố thí, nay chắc do uống rượu say nên mới sinh lòng tốt và
rộng lượng như vậy.” Và người vợ nói với ông:
- Này ông, hãy bố thí theo ý muốn của ông.
- Vậy hãy cho gọi người rao tin đến, bảo nó đánh trống
thông báo khắp cả kinh thành rằng: tất cả những ai muốn vàng, bạc, kim cương,
ngọc trai…thì hãy đến nhà triệu phú Y-lợi-tát.
Người vợ đã làm như ông bảo và một đám đông ngay lập tức
mang giỏ mang bao tập trung lại trước nhà. Sau đó, Đế Thích bảo mở hết các kho
châu báu ra và nói:
- Đây là quà của ta cho các vị, hãy lấy những gì các vị
muốn và đi về.
Đám người này lấy tài sản chứa trong kho ra, chất chúng
thành từng đống trên sàn nhà, sau đó đổ đầy vào các bao và chậu mà họ mang đến,
rồi mang chúng đi. Trong số họ, có một người nông dân đã cột cỗ xe của Y-lợi-tát
vào những con ngựa của vị triệu phú này, chất đầy bảy loại châu báu và theo
đường cái đi ra khỏi kinh thành. Khi đi như vậy, ông đi đến gần bụi cây và tán
dương vị triệu phú bằng những lời sau:
- Mong rằng ngài Y-lợi-tát sống đến một trăm tuổi! Những
gì mà ngài bố thí cho tôi ngày hôm này, có thể cho tôi sống trọn đời mà không
phải làm việc. Những con bò này là của ai? Là của ngài. Cổ xe này là của ai? Là
của ngài. Tài sản trong cỗ xe này là của ai? Lại của ngài. Tất cả tài sản này
không phải cha mẹ tôi cho tôi, mà chính ngài cho tôi.
Vị triệu phú nghe những lời này thì sợ hãi run lên. Ông
ta nghĩ: “Tại sao người này đề cập đến tên của ta trong lời nói của nó, có thể
nào nhà vua đã phân phát tài sản của ta cho dân chúng?” Phân vân suy nghĩ, ông
nhảy ra khỏi bụi cây, nhận ra những con bò và cỗ xe của mình, liền đến cầm lấy
sợi dây cột bò và nói:
- Này anh kia, hãy dừng lại. Những con bò và cỗ xe này là
của ta.
Người kia nhảy xuống xe, và nói một cách giận giữ:
- A, đồ láo khoét! Triệu phú Y-lợi-tát đang bố thi tài
sản khắp tất cả kinh thành. Ông có vấn đề gì vậy.
Nói xong, người này xông đến đánh vào lưng vị triệu phú
giống như sét đánh và lấy xe ra đi. Y-lợi-tát đứng dậy, chân tay run rẩy, lau
vội bùn đất rồi chay nhanh theo cỗ xe của mình và nắm lấy nó. Người nông dân lại
nhảy xuống xe, nắm lấy tóc của Y-lợi-tát, bẻ gập người ông lại, đấm vào đầu ông
một lúc, sau đó nắm lấy cổ và ném ông trở lại con đường mà ông đi đến, rồi ra
đi. Tỉnh rượu lại nhờ trận đòn thô bạo này, Y-lợi-tát vội vã trở về nhà. Đến
nơi, nhìn thấy dân chúng đang thu dọn tài sản, vị triệu phú nắm lấy hết người
này đến người kia và nói:
- Trời đất ơi! Cái gì thế này? Có phải nhà vua đang tước
đoạt tài sản của ta?
Và những ai ông đến nắm lấy đều bị họ đánh ngã xuống. Bị
bầm tím và đau đớn, ông liền đi vào nhà để tìm nơi ẩn trốn, nhưng bị người gác
cổng chặn lại, nói:
- Ê, thằng láo xược! Mày có thể đi đâu được?
Trước hết, người gác cổng lấy tre đánh thẳng vào ông, sau
đó nắm lấy ông và ném ra khỏi nhà. Y-lợi-tát suy nghĩ: “Ngoài nhà vua ra, không
có người nào có thể bênh vực cho ta.” Thế rồi ông đi đến hoàng cung và nói:
- Ôi, thưa hoàng thượng, tại sao ngài lại đi cướp đoạt
tài sản của tôi như vậy chứ?
- Triệu phú, đâu phải tại ta. Không phải chính ông đã đến
đây và bày tỏ ý muốn bố thí tài sản của mình nếu như ta không nhận số tài sản ấy
sao? Không phải ông đã cho người rao tin đi khắp kinh thành thông báo và đã thực
hành bồ thí sao?
- Ôi không, tâu hoàng thượng, tôi thật không có đến chỗ
ngài với mục đích như vậy. Hoàng thượng chẳng lẽ không biết tính keo kiệt của
tôi, không biết tôi không bao giờ cho ai dầu chỉ một giọt dầu nhỏ lấy ra từ nơi
ngọn cỏ sao! Xin hoàng thượng cho gọi người đã đem tài sản của tôi bố thí đến,
và xét hỏi y về vấn đề này.
Sau đó, nhà vua cho gọi Đế Thích đến. Và hai người này
đều giống nhau như đúc. Cả vua lẫn các đại thần không ai có thể nói được ai là
triệu phú thật. Y-lợi-tát keo kiệt nói:
- Thưa hoàng thượng, người này không phải là triệu phú.
Tôi mới là triệu phú.
Nhà vua nói:
- Ta thật không thể nói ai là Y-lợi-tát thật. Có người
nào có thể phân biệt được họ cho chính xác đây?
- Tâu hoàng thượng, vợ của tôi phân biệt được.
Thế rồi khi được đưa đến hỏi rằng ai trong hai người này
là chồng, thì bà vợ nói rằng Đế Thích là chồng của bà và đi đến bên ông. Con cái
và những nô lệ của Y-lợi-tát lần lượt được đưa đến và được hỏi tương tự như vậy,
nhưng tất cả đều đồng ý nói rằng Đế Thích là triệu phú thật. Thế rồi Y-lợi-tát
nghĩ rằng ông ta có một nốt ruồi trên đầu được tóc che kín, mà chỉ một mình thợ
cắt tóc của ông biết được điều đó. Vì thế, như là nguồn hy vọng sau cùng, ông đề
nghị đưa người thợ hớt tóc của ông đến nhận diện. Bấy giờ, Bồ-tát là người thợ
cắt tóc. Vì vậy, khi được đưa đến hỏi rằng có thể phân biệt được ai là Y-lợi-tát
thật không thì thợ cắt tóc nói:
- Thưa hoàng thượng, tôi có thể nói nếu tôi được kiểm tra
đầu của hai người này.
- Vậy hãy nhìn xem đầu của họ. Nhà vua nói.
Và ngay lúc đó, Đế Thích biến hoá ra một
nốt ruồi trên đầu mình! Sau khi kiểm tra cả
hai, Bồ-tát thưa rằng cả hai đều có nốt ruồi trên đầu giống nhau, và rằng không
thể nói được ai trong hai người này là Y-lợi-tát thật. Rồi ngài đọc lên bài kệ
này:
Mắt lé, lưng gù, chân khập khiễng
Và cả nốt ruồi cũng giống nhau
Vì thế tôi không thể nói được
Y-lợi-tát thật là người nào.
Nghe Bồ-tát nói như vậy, vị triệu phú run rẩy hoảng sợ,
và không chịu đựng nỗi việc mất đi nguồn tài sản quý giá của mình, ông đã ngã
xuống đất bất tỉnh. Ngay sau đó, Đế Thích bằng thần thông lực của mình, đã bay
lên không trung và nói với nhà vua thế này:
- Thưa hoàng thượng, ta không phải Y-lợi-tát mà là Thiên
chủ Đế Thích.
Thế rồi người ta lau mặt và dội nước lên Y-lợi-tát. Sau
khi hồi tỉnh, ông đứng lên đảnh lễ Đế Thích. Đế Thích nói:
- Này Y-lợi-tát, tài sản này là của ta chứ không phải của
ngươi. Ta là cha của ngươi và ngươi là con ta. Ta suốt đời nhờ bố thí cho người
nghèo và làm thiện sự nên có được tài sản này và trở thành Đế Thích. Nhưng ngươi
không theo gương ta, biến làm một người keo kiệt bủn xỉn. Ngươi đập bỏ nhà bố
thí, đuổi những người nghèo ra khỏi nhà và chỉ biết tích trữ tài sản. Người
không dám hưởng thụ tài sản đó cũng không muốn chia sẻ cho bất cứ ai. Kho báu
của ngươi như một hồ nước có quỷ dạ xoa ở, không một người nào có thể uống cho
vơi khát. Mặc dù vậy, nếu ngươi xây dựng lại nhà bố thí của ta và bố thí cho
người nghèo, thì điều đó sẽ gây dựng lại cho ngươi những điều thiện lành. Còn
nếu ngươi không làm như vậy, ta sẽ tước hết tất cả tài sản của ngươi, đánh ngươi
bằng chày kim cang của Đế Thích (Indra) và giết chết ngươi.
Nghe đe dọa như vậy, Y-lợi-tát sợ mất mạng nên nói:
- Từ này về sau, con sẽ bố thí.
Đế Thích chấp nhận lời hứa của Y-lợi-tát. Rồi ngồi giữa
không trung, ông thiết lập cho con mình các giới và thuyết pháp cho vị này, rồi
sau đó trở lại trú xứ của mình. Còn Y-lợi-tát từ đó chuyên tâm bố thí và thực
hành thiện nghiệp, rồi sau khi mạng chung đã sanh về thiên giới.
* * *
Đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
Mục-kiền-liên chuyển hoá vị triệu phú keo kiệt, mà trước đây thầy ấy cũng đã
từng chuyển hoá người này như thế.
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nêu lên mối liên hệ của
hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Thuở đó, Triệu phú keo kiệt là Y-lợi-tát, Mục-kiền-liên
là Đế Thích, còn ta chính là người thợ cắt tóc.
Số 79
CHUYỆN TIẾNG TRỐNG THÌNH THÌNH
(Tiền thân Kharassara)
Cho bọn cướp cơ hội…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một vị đại thần.
Chuyện kể rằng, ông này được nhà vua ưu ái. Và sau khi
được triều đình cho một ngôi làng ở vùng biên địa làm lợi tức, vị này đã bí mật
sắp xếp với một băng cướp, rằng ông ta sẽ đưa dân làng vào rừng và để ngôi làng
không lại cho những tên cướp cướp bóc, với điều kiện là chúng chia cho ông một
nửa số tài sản cướp được. Và rồi vào lúc tảng sáng, khi ngôi làng không còn ai
canh gác, những tên cướp kéo xuống, giết gia súc và ăn thịt, cướp phá làng rồi
sau đó ra đi cùng với số tài sản cướp được trước khi vị đại thần cùng với dân
làng trở về vào buổi chiều. Nhưng không lâu sau đó, việc làm bất lương của vị
này bị lộ ra và lọt đến tai nhà vua. Nhà vua cho gọi vị này đến, và khi việc làm
bất lương này được làm sáng tỏ, vua đã giáng chức vị này và đưa một người khác
lên làm trưởng làng. Sau đó nhà vua đi đến tinh xá Kỳ Viên và kể với đức Thế Tôn
những gì đã xảy ra. Đức Thế Tôn nói:
- Hoàng thượng, người này không phải chỉ nay mới có tâm
tính như vậy mà đời trước cũng đã từng như thế.
Rồi theo lời thỉnh cầu của nhà vua, đức Thế Tôn kể câu
chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi trị vì Ba-la-nại (Benares), Phạm Dự
(Brahmadatta chỉ định một vị đại thần nọ làm trưởng làng một ngôi làng ở vùng
biên địa. Và mọi chuyện xảy ra giống như trường hợp ở trên.
Bấy giờ, Bồ-tát vì công việc buôn bán nên đi khắp các
ngôi làng biên địa, và ngài đã ở lại chính ngôi làng đó. Và khi vị trưởng làng
cùng với dân làng đánh trống thình thình quay trở về vào buổi chiều, Bồ-tát nói:
- Tên bất lương này đã cấu kết với bọn cướp để cướp phá
làng. Rồi chờ khi bọn cướp đã chuồn vào rừng trở lại, đã đánh trống quay trở về,
giả vờ không biết chút gì về điều bất ổn đã xảy ra.
Nói vậy xong, ngài đọc lên bài kệ này:
Cho bọn cướp cơ hội
Lùng sục giết gia súc
Đốt nhà, bắt dân chúng
Và bây giờ đúng lúc
Đánh trống trở về nhà
Không một chút hổ thẹn.
Bằng bài kệ như vậy, Bồ-tát đã lên án vị trưởng làng này.
Rồi không lâu sau đó, việc làm của vị trưởng làng bị phát hiện, và kẻ bất lương
này bị nhà vua trừng trị thích đáng vì việc làm xấu ác của y.
* * *
Đức Thế Tôn nói:
- Thưa hoàng thượng, không phải chỉ nay vị ấy mới có tâm
tính như vậy, mà đời trường vị này cũng đã từng như thế.
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn đưa ra mối liên hệ của
hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Người trưởng làng bây giờ cũng chính là người trưởng
làng thuở đó, còn ta chính là người hiền trí đã đọc lên bài kệ.
Số 80
CHUYỆN THỢ DỆT TẤT-MA-TẮC-NA
(Tiền thân Bhīmasena)
Khoác lác lòng dũng cảm…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một một Tỳ-kheo ưa khoe khoang khoác lác.
Chuyện kể rằng, vị này thường tập hợp các Tỳ-kheo đủ mọi
hạng tuổi lại và đi quanh khoe khoang với những người này về dòng dõi cao quý
của mình.
- Thưa các pháp hữu, không có gia đình nào cao quý như
gia đình tôi, không có dòng tộc nào vượt qua được dòng tộc tôi. Tôi là con cháu
thuộc dòng dõi vua chúa, không có người nào bằng tôi trong dòng dõi cũng như
đẳng cấp xuất thân. Vàng bạc, của cải mà chúng tôi có thì vô cùng tận. Tôi tớ và
người hầu của chúng tôi được ăn cơm với thịt hầm, được mặc áo vải Ba-la-nại,
được xức nước hoa Ba-la-nại tốt nhất. Riêng tôi, do vì xuất gia nên phải chấp
nhận thức ăn đạm bạc và áo quần thô sơ như vậy.
Nhưng một Tỳ-kheo khác, sau khi tìm hiểu thân thế gia tộc
của vị này, đã phơi trần cho các Tỳ-kheo thấy sự khoe khoang của vị này là trống
rỗng. Thế rồi các Tỳ-kheo tập họp lại trong Chánh pháp đường và bắt đầu bàn luận
về việc Tỳ-kheo này, dù đã phát nguyện từ bỏ mọi điều trần tục, chỉ trung thành
với giáo lý giải thoát, vậy mà đi khắp nơi khoe khoang khoác lác với các Tỳ-kheo
khác. Trong khi các Tỳ-kheo đang bàn luận về hành vi sai quấy của vị này thì đức
Thế Tôn đi vào. Ngài hỏi chư vị bàn luận điều gì. Và khi nghe họ trình bày vấn
đề, Ngài nói:
- Này các Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu vị này đi khắp
nơi khoe khoang khoác lác như vậy, mà đời trước vị này cũng từng khoác lác và
lừa dối mọi người.
Nói vậy xong, Ngài kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh vào một gia đình Bà-la-môn tại một thị trấn ở phương Bắc.
Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát theo học với một vị thầy lừng danh ở
Xoa-thi-la (Takkasilā). Ở đấy, Bồ-tát học ba bộ Vệ-đà, mười tám ngành nghề, và
hoàn tất việc học của mình. Bồ-tát được mệnh danh là Hiền nhân Tiểu Cung Thủ.
Rời Xoa-thi-la, Bồ-tát đi đến nước Andhra để tìm nơi thực hành những gì đã học.
Bấy giờ, ở kiếp sống này, Bồ-tát là một người hơi bị gù lưng, lùn và bé nhỏ.
Ngài nghĩ: “Nếu ta đến yết kiến một vị vua nào đó thì vị này sẽ hỏi: Một người
lùn tịt như ngươi thì thích hợp được công việc gì. Vậy ta phải kiếm một người
đàn ông cao lớn để làm bình phong cho ta và ta sẽ kiếm sống nhờ cái bóng đường
bệ của người này.” Vì thế, Bồ-tát đi đến khu phố dệt vải và ở đấy ngài trông
thấy một người thợ dệt to lớn tên là Tất-ma-tắc-na (Bhīmasena). Sau khi chào
nhau xong, Bồ-tát hỏi:
- Này bạn, bạn tên gì?
- Tôi tên là Tất-ma-tắc-na.
- Một người cao lớn đẹp trai như bạn sao lại đi làm công
việc chán ngắt này?
- Bởi vì tôi không thể kiếm sống được bằng nghề nghiệp
nào khác.
- Này bạn, đừng làm nghề dệt vải này nữa. Khắp thế gian
nay, không có một người bắn cung nào có thể sánh được với tôi, nhưng nhà vua coi
khinh tôi vì tôi là một người lùn. Nếu bạn đến chỗ vua và khoe khoang tài năng
bắn cung của bạn thì nhà vua sẽ trả lương cho bạn và thường xuyên bảo bạn làm
việc. Trong khi đó, tôi sẽ ở sau lưng bạn để thực hiện những nhiệm vụ được dành
cho bạn, và như vậy tôi sẽ kiếm sống nhờ cái bóng của bạn. Bằng cách này, cả hai
chúng ta đều thịnh vượng và phát đạt. Hãy làm như tôi bảo đi.
- Vâng, tôi sẽ làm theo ý bạn. Người thợ dệt nói.
Thế là Bồ-tát đưa người thợ dệt đến Ba-la-nại, để cho anh
ta đi trước, còn mình thì đi theo sau, giả làm một đứa tiểu đồng học bắn cung.
Và khi đến cổng hoàng cung, họ báo tin cho vua biết họ đến. Nhà vua cho gọi họ
vào. Hai người đi vào và khấu đầu chào nhà vua. Nhà vua hỏi:
- Có việc gì mà hai ngươi đến đây?
- Tôi là một người bắn cung thiện nghệ, khắp cả thế gian
này không có người bắn cung nào sánh bằng tôi. Tất-ma-tắc-na nói.
- Để phục vụ cho ta, ngươi muốn bao nhiêu tiền lương?
- Thưa đại vương, cứ nửa tháng tôi lấy một ngàn đồng tiền
vàng.
- Còn người đi cùng với ngươi là ai?
- Thưa đại vương, nó là một đứa tiểu đồng.
- Được rồi, ngươi hãy ở lại phục vụ ta.
Thế là từ đó, Tất-ma-tắc-na bắt đầu phục vụ cho vua,
nhưng Bồ-tát là người làm tất cả mọi việc cho anh ta. Bấy giờ, trong một khu
rừng ở Ca-thi (Kāsi), có một con cọp thường chận đường và ăn thịt rất nhiều
người. Khi tin này được trình lên nhà vua, ông cho gọi Tất-ma-tắc-na đền và hỏi
vị này có thể bắt được con cọp đó không. Vị này nói:
- Thưa đại vương, tôi được gọi là một người bắn cung, vậy
tại sao tôi không bắt được con cọp này chứ?
Nhà vua trả tiền và bảo vị này đi thi hành nhiệm vụ.
Tất-ma-tắc-na đi về và kể lại cho Bồ-tát tin tức này, Bồ-tát nói.
- Được lắm, bạn hãy đi.
- Thế bạn không đi sao?
- Vâng, tôi không đi, nhưng tôi sẽ bảo cho bạn một kế
nhỏ.
- Này bạn, hãy nói cho tôi biết.
- Bạn đừng vội vàng đến hang ổ con cọp một mình. Điều cần
làm là phải tập hợp một số dân làng khỏe mạnh lại, mang theo một hoặc hai ngàn
cây cung và đi đến đó. Khi biết con cọp thức dậy, bạn hãy trốn vào trong một lùm
cây và nằm sấp sát xuống đất. Các dân làng sẽ bắn chết con cọp. Khi con cọp chết
rồi, bạn hãy dùng răng cắn một sợi dây bò và kéo dây đến chỗ con cọp chết. Nhìn
thấy xác chết con vật, bạn hãy nói lớn: “Ai đã giết con cọp này? Ta muốn dẫn con
cọp này đến nhà vua bằng sợi dây này giống như dẫn một con bò nên mới đi vào lùm
cây để lấy nó. Vậy mà các người đã giết nó trước khi ta mang sơi dây về, ta muốn
biết ai đã giết chết nó?” Thế là dân làng vì quá sợ hãi nên hối lộ cho bạn rất
nhiều tiền để bạn không báo việc đó với vua. Và rồi sau đó bạn lại được cho là
người đã giết con cọp và nhà vua cũng sẽ cho bạn nhiều tiền.
- Rất hay.
Tất-ma-tắc-na nói và đi giết cọp theo cách mà Bồ-tát đã
bảo. Sau khi làm cho con đường an toàn để lữ khách đi lại, vị này cùng với đoàn
tuỳ tùng đông đảo trở về Ba-la-nại và tâu vấn đề lên nhà vua:
- Tâu đại vương, tôi đã giết chết con cọp. Bây giờ khu
rừng đã được an toàn để cho hành khách đi lại.
Nhà vua rất bằng lòng nên cho vị này nhiều tiền của.
Một hôm khác, người ta bẩm báo rằng có một con đường nọ
bị một con trâu quấy phá, và nhà vua bảo Tất-ma-tắc-na đi giết con trâu này. Làm
theo lời chỉ dẫn của Bồ-tát, vị này giết được con trâu cùng cách giống như đã
giết con cọp và trở về, rồi lại được nhà vua thưởng cho nhiều tiền của. Bấy giờ,
anh ta trở thành một người có uy quyền lớn. Say đắm quyền thế danh vọng mới, anh
ta trở nên coi khinh Bồ-tát, không thèm nghe theo lời khuyên của Bồ-tát nữa. Anh
ta nói:
- Này anh, tôi có thể xoay xở kiếm sống được mà không cần
phải nhờ anh. Anh nghĩ là không có người nào khác ngoài anh sao?
Anh ta nói với Bồ-tát như vậy và thêm nhiều lời thô bỉ
khác.
Rồi một vài ngày sau, một vị vua thù địch kéo quân đến
Ba-la-nại và bao vây lấy kinh thành. Vị vua này đưa thư vào hỏi vua Ba-la-nại
rằng: đầu hàng giao vương quốc hay giao chiến. Vua Ba-la-nại bảo Tất-ma-tắc-na
ra giao chiến với vị vua thù địch. Tất-ma-tắc-na trang bị từ đầu đến chân bằng
trang phục lính trận và cỡi lên con voi chiến toàn thân được bao bọc bằng lớp áo
giáp. Bồ-tát sợ Tất-ma-tắc-na bị giết nên trang bị áo giáp từ đầu đến chân và
khiêm tốn ngồi sau lưng Tất-ma-tắc-na. Với một đạo quân vây quanh, con voi ra
khỏi cổng thành và đến trước bãi chiến trường. Nghe tiếng trống trận,
Tất-ma-tắc-na sợ hãi run lên. Bồ-tát nói:
- Nếu bây giờ đầu hàng, bạn sẽ bị giết chết.
Thế rồi Bồ-tát lấy một sợi dây và cột chặt Tất-ma-tắc-na
lại để cho anh ta khỏi rời khỏi lưng voi. Nhưng khi nhìn thấy bãi chiến trường,
Tất-ma-tắc-na vì quá sợ chết nên đã đại tiểu tiện trên lưng voi. Bồ-tát nói:
- Ôi, hiện tại không ăn khớp với quá khứ! Trước đây bạn
tỏ ra là một kẻ chiến binh, thế mà bây giờ lòng dũng cảm của bạn là đại tiểu
tiện ở trên lưng voi.
Nói vậy xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ này:
Khoác lác lòng dũng cảm
Lớn tiếng giọng tự kiêu
Bạn thề giết kẻ địch
Giờ phách lạc hồn xiêu
Bạn ơi nếu như vậy
Đâu phù hợp bao nhiêu?
Chế nhạo như vậy xong, Bồ-tát nói tiếp:
- Này bạn, nhưng bạn chớ có sợ hãi. Lẽ nào tôi ở đây lại
không bảo vệ bạn?
Thế rồi Bồ-tát đỡ anh ta xuống lưng voi, bảo anh ta tắm
rửa và trở về nhà. Bồ-tát nói:
- Hôm nay ta sẽ có được danh tiếng.
Bồ-tát nói và xông vào chiến trận. Rồi sau khi đập tan
doanh trại của vị vua đối nghịch, Bồ-tát bắt sống vị vua này dẫn đến vua
Ba-la-nại. Nhà vua vì quá vui sướng nên đã ban thưởng cho Bồ-tát nhiều danh
vọng. Từ đó về sau, khắp cõi Ấn Độ đều biết đến tiếng tăm của Hiền giả Tiểu Xạ
Thủ. Vua cho Tất-ma-tắc-na tiền công và trả anh ta về lại nhà. Còn riêng vua
suốt đời thực hành bố thì và làm việc thiện, đến khi mạng chung đã đi theo hành
nghiệp của mình.
* * *
Đức Thế Tôn nói:
- Như vậy này các Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu tiên
Tỳ-kheo này ưa thích khoe khoang khoác lác, mà đời trước thầy này cũng đã từng
như vậy.
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn đưa ra mỗi liên hệ của
hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Tỳ-kheo ưa khoe khoang khoác lác này thuở đó là
Tất-ma-tắc-na, còn ta chính là Hiền nhân Tiểu Xạ Thủ.
|