CHƯƠNG IX
PHẨM UỐNG RƯỢU
Số 81
CHUYỆN UỐNG RƯỢU
(Tiền thân Surāpāna)
Chúng con đã uống rượu…
Trong khi trú tại vườn Cù-sư-la (Ghosita) gần
Kiều-thương-di (Kosambi), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Trưởng lão Bà-kiệt-đà
(Sāgata).
Sau khi trải qua kỳ an cư mùa mưa tại thành Xá-vệ, đức
Thế Tôn đi đến khất thức tại một thị trấn tên là Bạt-đà-việt (Bhaddavatika). Ở
đó, những người chăn bò, chăn dê, nông dân và người đi đường đã đảnh lễ và chặn
Ngài lại. Họ nói:
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ nên đến bến nước Cây Xoài, vì
tại trú xứ của các đạo sĩ lõa thể ở bến nước cây xoài ấy, có một con rắn thần
rất độc tên là Rắn thần bến nước Cây Xoài. Nếu Ngài đến đó nó sẽ làm hại Ngài
đấy.
Như thể không nghe lời họ nói, mặc dù họ lập lại lời cẩn
báo này ba lần, đức Thế Tôn vẫn cứ lên đường đến đó. Trong khi đức Thế Tôn trú
tại một khu rừng gần Bạt-đà-việt, thì Trưởng lão Bà-kiệt-đà, một thị giả của
Ngài, có đủ các thần thông của hạng người phàm phu, đã đi đến trú xứ của các đạo
sĩ lõa thể, trải nệm cỏ tại chỗ xà vương trú và ngồi kiết già ở đấy. Không thể
giấu diếm được bản chất xấu ác của mình, rắn thần phun khói ra ngùn ngụt. Trưởng
lão cũng phun khói ra như vậy. Thế rồi rắn thần phun lửa ra. Trưởng lão cũng
phun lửa ra. Nhưng trong khi ngọn lửa của rắn thần không làm hại được Trưởng lão
thì ngọn lửa của Trưởng lão đã gây hại cho rắn thần. Và vì thế, chỉ trong một
thời gian ngắn, Trưởng lão đã nhiếp phục được xà vương, khiến cho nó quy y Tam
bảo và thọ trì các giới. Rồi Trưởng lão đi đến đức Thế Tôn. Và đức Thế Tôn, sau
khi trú một thời gian theo ý muốn tại Bạt-đà-việt, đã lên đường đi đến
Kiều-thương-di. Bấy giờ, câu chuyện Trưởng lão Bà-kiệt-đà nhiếp phục rắn thần
được lan truyền khắp xứ ấy. Thị dân xứ Kiều-thương-di đi đến nghênh đón đức Thế
Tôn và đảnh lễ Ngài. Sau đó, ho đến đánh lễ Trưởng lão Bà-kiệt-đà và thưa:
- Thưa Tôn giả, Tôn giả có thiếu thứ gì thì nói cho chúng
tôi biết để chúng tôi cung cấp.
Trưởng lão giữ im lặng, nhưng nhóm sáu Tỳ-kheo đã trả lời
như sau:
- Thưa các vị, đối với người xuất gia, rượu trắng là thứ
rất được yêu thích. Các vị có thể kiếm cho Trưởng lão một ít rượu trắng được
không?
- Chắc chắn là kiếm được. Các thị dân nói.
Rồi họ thỉnh đức Thế Tôn ngày hôm sau đến thọ trai. Sau
đó, họ trở về thành, và người nào cũng chuẩn bị sẵn trong nhà rượu trắng để cúng
dường cho Trưởng lão. Rồi hôm sau, hết nhà này đến nhà khác, họ mời Trưởng lão
vào uống rượu. Trưởng lão uống say túy lúy nên trên đường ra khỏi thành đã ngã
gục nơi cổng thành và nằm ở đấy lảm nhảm những lời mê sảng. Sau khi thọ trai ở
thành xong và trên đường trở lại tịnh xá, đức Thế Tôn bắt gắp Trưởng lão ở trong
tình trạng như vậy, liền bảo các Tỳ-kheo mang Trưởng lão về. Các Tỳ-kheo đặt
Trưởng lão nằm xuống, để đầu Trưởng lão nơi chân đức Thế Tôn. Thế rồi đức Thế
Tôn hỏi:
- Này các Tỳ-kheo, bây giờ Bà-kiệt-đà có biết kính trọng
ta như trước đây không?
- Bạch Thế Tôn, không ạ.
- Này các Tỳ-kheo, hãy nói cho ta biết, ai là người đã
nhiếp phục xà vương Bến nước Cây Xoài?
- Bạch Thế Tôn, đó là Trưởng lão Bà-kiệt-đà.
- Với tình trạng hiện giờ, các thầy có nghĩ rằng
Bà-kiệt-đà có thể nhiếp phục được một con rắn nước vô hại không?
- Không thể nhiếp phục được, bạch Thế Tôn.
- Này các Tỳ-kheo, như vậy có thích hợp không khi uống
một thứ gì đó mà nó làm cho ta mất đi lý trí?
- Không hợp lý, bạch Thế Tôn.
Sau khi nói với các Tỳ-kheo lời khiển trách Bà-kiệt-đà
như vậy xong, đức Thế Tôn chế định học giới:
- Ai uống chất gây say, người ấy phạm tội cần phải thú
nhận và cầu xin sám hối.
Nói vậy xong, Ngài đi về hương thất của mình.
Tập trung lại trong Chánh pháp đường, các Tỳ-kheo thảo
luận về sự nguy hại của việc uống rượu say:
- Thưa các pháp hữu, uống rượu thật quá nguy hại, ngay cả
một người có trí và thần thông như Trưởng lão Bà-kiệt-đà, mỗi khi uống rượu vào
thì không thấy được công đức của đức Thế Tôn.
Lúc ấy, đức Thế Tôn đi vào và hỏi các Tỳ-kheo đang thảo
luận điều gì. Khi nghe họ thưa lại vấn đề, Ngài nói:
- Này các Tỳ-kheo, không phải chỉ nay những người xuất
gia này mới uống rượu và đánh mất lý trí, mà đời trước họ cũng từng như vậy.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh
vào một gia đình Bà-la-môn sống ở miền bắc nước Ca-thi (Kāsi). Khi đến tuổi
trưởng thành, Bồ-tát xuất gia làm vị tiên nhân. Ngài chứng được Thần thông và
Thiền định, an trú trong hỷ lạc thiền đình, sống cùng với năm trăm đệ tử ở Tuyết
sơn (Himalayas).
Một lần, khi mùa mưa đến, các đệ tử thưa với ngài:
- Thưa Tôn sư, chúng con xin đến những nơi có dân chúng
sống để kiếm muối và giấm.
- Này các con, ta sẽ ở lại đây một mình. Các con hãy đi
và bảo trọng sức khỏe, rồi khi nào hết mùa mưa thì quay trở lại.
- Thưa vâng. Họ nói.
Rồi họ cung kính đảnh lễ Tôn sư của mình và đi đến
Ba-la-nại. Ở đấy, họ chọn nơi cư trú trong ngự uyển của vua. Vào sáng hôm sau,
họ đến một ngôi làng bên ngoài kinh thành để khất thực và nhận được nhiều đồ ăn
ở đấy. Ngày kế tiếp nữa, họ trở về lại kinh thành. Dân chúng ân cần cúng dường
thực phẩm cho họ và sau đó thưa với nhà vua:
- Tâu hoàng thượng, có năm trăm ẩn sĩ từ Tuyết sơn xuống
đang trú trong ngự uyển, họ là những nhà khổ hạnh, tu hành tinh tấn, vô dục và
giới hạnh.
Nghe đức hạnh của họ như vậy, nhà vua liền đi đến ngự
uyển, ân cần mời họ ở lại đó bốn tháng. Họ chấp nhận lời mời của vua. Từ hôm đó,
họ được mời ăn ở trong hoàng cung và cư trú ở trong ngự uyển.
Nhưng rồi một hôm, một lễ hội rượu được tổ chức ở kinh
thành. Nhà vua nghĩ rằng những người xuất gia thì khó kiếm được rượu nên đã cúng
dường cho năm trăm ẩn sĩ rất nhiều những thứ rượu ngon nhất. Các ẩn sĩ uống rượu
và sau đó trở về ngự uyển. Ở đấy, phấn khíc vì say rượu, một số người nhảy múa,
một số người ca hát, trong khi một số khác, chán ngán múa hát, đã đá tung những
cái thúng đựng gạo và những vật dụng khác, rồi sau đó cả hết nằm lăn ra ngủ. Sau
khi hết say rượu, họ tỉnh dậy, nhìn thấy cảnh tượng do vì say rượu gây ra, họ
khóc than và nói:
- Chúng ta đã làm điều không nên làm. Chúng ta làm điều
xấu xa này bởi chúng ta ở xa Tôn sư.
Rồi ngay lập tức, họ rời khỏi ngự uyển và trở lại Tuyết
sơn. Đem bình bát và các vật dụng cất đi, họ đảnh lễ Tôn sư và ngồi xuống. Tôn
sư hỏi:
- Này các con, các con có an lạc tại những nơi có dân
chúng sống không? Các con có mệt mỏi khi đi khất thực không? Các con có sống hòa
hợp với nhau không?
- Thưa Tôn sư, chúng con an lạc, nhưng chúng con đã uống
thức uồng không được phép uống, để rồi chúng con mất hết lý trí, dẫn đến làm trò
múa hát không còn biết mình là ai.
Chúng con đã uống rượu
Múa hát và khóc than
Uống rượu mất lý trí
May chưa thành khỉ hoang.
Nghe thế, Bồ-tát nói:
- Sự việc xảy ra như vậy là do không sống dưới sự săn sóc
của Tôn sư.
Sau khi quở trách các ẩn sĩ xong, Bồ-tát khuyến giáo:
- Từ này về sau, các con không bao giờ được làm điều như
vậy nữa.
Rồi Bồ-tát trọn đời tu tập thiền định không gián đoạn, và
về sau được sanh lên Phạm thiên giới.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân (Từ
đây về sau, chúng ta sẽ bỏ qua những từ “sau khi nêu lên mói liên hệ”):
- Thuở đó, đệ tử của ta là nhóm các ẩn sĩ, còn ta chính
là tôn sư của họ.
Số 82
CHUYỆN NAM TỬ MITTAVINDA
(Tiền thân Mittavinda)
Không còn cư trú trong lầu bạc…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một Tỳ-kheo bướng bỉnh. Những tình tiết của chuyện Tiền thân xảy
ra vào thời Phật Ca Diếp này sẽ được trình bày ở Tiền thân Mahā-Mittavindaka, số
439, Tập Mười.
* * *
Không còn cư trú trong lầu bạc
Trong lâu đài vàng và thuỷ tinh
Giờ mang mũ đá, khổ không dứt
Cho đến tội diệt và mạng chung.
Nói như vậy xong, Bồ-tát trở về trú xứ của mình ở thiên
giới. Còn Mittavindaka khi đội cái mũ ấy vào, đã chịu khổ đau khóc liệt cho đến
khi ác tội tiêu diệt, rồi anh ta mạng chung và tái sanh theo hành nghiệp của
mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Tỳ-kheo bướng bỉnh này thuở đó là Mittavinda, còn ta
chính là vua của chư thiên.
Số 83
CHUYỆN NGƯỜI CÓ TÊN VẬN XUI
(Tiền thân Kālakaṇṇi)
Bảy bước giúp ta là bằng hữu…
Trong khi trú tại Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này
về một người bạn của Trưởng giả Cấp Cô Độc (Anātha-piṇḍika). Người bạn này có
tên là Vận Xui
Tương truyền, hai người này chơi thân với nhau và cùng
học với nhau một chỗ. Nhưng một thời gian sau, người bạn này lâm vào cảnh bần
cùng, không thể kiếm sống được nên đã đi đến Trưởng giả. Trưởng giả đối xử tử tế
với ông, trả tiền cho ông để ông trông coi gia sản cho mình. Và người bạn nghèo
này đã làm tất cả mọi công việc được Trưởng giả giao. Từ khi đến nhà Trưởng giả,
ông thường nghe những câu như: “Hãy đứng dậy, Vận Xui.” “Hãy ngồi xuống, Vận
Xui” “Hãy ăn đi, Vận Xui.”
Một hôm, những bạn thân của Trưởng giả đến thăm ông và
nói:
- Thưa Trưởng giả, đừng để hạng người như vậy ở trong nhà
ông. Nghe những lời xui xẻo như: “Hãy đứng dậy, Vận Xui” “Hãy ngồi xuống, Vận
Xui” Hay “Hãy ăn đi, Vận Xui” cũng đủ làm cho một con quỷ dạ xoa sợ hãi. Người
này không ngang hàng với ông. Nó là kẻ bần cùng khốn khổ, rủi ro bám chặt lấy
thân. Tại sao ông lại đi liên hệ với nó?
Trưởng giả Cấp Cô Độc bác bỏ lời khuyên đó:
- Không phải như vậy! Cái tên chỉ dùng để biểu thị cho
một người. Một người có trí không đánh giá người khác qua cái tên của họ. Chỉ vì
danh xưng mà sinh ra mê tín thì thật là không thích hợp. Tôi sẽ không bao giờ bỏ
đi người bạn cùng chơi thân từ tấm bé chỉ vì cái tên của người ấy.
Một hôm, Trưởng giả đi đến một ngôi làng do mình làm thôn
trưởng và để người bạn của mình ở lại giữ nhà. Nghe Trưởng giả đi vắng, một bọn
cướp quyết định đến cướp nhà ông. Chúng đợi tối đến, trang bị đầy đủ vũ khí và
bao vây lấy ngôi nhà. Nhưng ‘Vận Xui’ nghi rằng thế nào bọn cướp cũng đến nên
ngồi canh chúng. Và khi biết bọn cướp kéo đến, người này chạy khắp nhà để đánh
thức mọi người dậy, bảo người này thổi tù và, người kia đánh trống, cho đến khi
cả ngôi nhà ồn ào lên như thể có đầy đủ người hầu kẻ ở trong ấy. Những tên cướp
thấy vậy thì nói:
- Nhà này đâu có vắng người như chúng ta nghe nói. Trưởng
giả chắc chắn đang ở nhà.
Thế là quăng hết đất đá, gậy gộc…, chúng bỏ chạy để giữ
mạng. Ngày hôm sau, người ta nhìn thấy đất đá gậy gộc nằm quanh nhà thì vô cùng
sợ hại, và họ đã khen ngợi Vận Xui hết lời:
- Nếu ngôi nhà không được người hiền trí này canh giữ thì
những tên cướp đã xông vào theo ý muốn và cướp phá hết rồi còn gì. Nhờ
người bạn trung thành này mà Trưởng giả gặp được điều may mắn tốt đẹp
Và khi Trưởng giả từ ngôi làng ấy trở về, nghe người ta
kể lại toàn bộ câu chuyện thì nói:
- Trước đây, các vị muốn ta đuổi người canh giữ nhà cửa
đáng tin cậy này đi. Nếu ta nghe theo lời khuyên của các vị mà đuổi ông ấy đi
thì bây giờ ta trở thành một kẻ ăn xin rồi. Như vậy không phải cái tên, mà chính
là cái tâm bên trong làm nên một con người.
Nói vậy xong, Trưởng giả đã tăng lương cho bạn mình. Rồi
nghĩ đây là một câu chuyện hay nên kể, Trưởng giả đi đến đức Thế Tôn và kể lại
toàn bộ câu chuyện. Đức Thế Tôn nói:
- Trưởng giả, đây không phải lần đầu người bạn có tên Vận
Xui của ông đã cứu lấy tại sản của ông thoát khỏi tay bọn cướp, mà đời trước
điều tương tự như vậy cũng đã từng xảy ra.
Rồi theo lời thỉnh cầu của Trưởng giả Cấp Cô Độc, đức Thế
Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại
(Benares), Bồ-tát là một vị Trưởng giả danh tiếng lừng lẫy, và ngài có một người
bạn cũng tên là Vận Xui. Những tình tiết của câu chuyện xảy ra giống như ở phần
chuyện duyên khởi ở trên. Khi từ điền trang của mình trở về và nghe kể lại những
gì đã xảy ra, Bồ-tát nói với những người bạn của mình:
- Nếu tôi nghe theo lời khuyên của các vị mà đuổi người
bạn trung thành của tôi đi thì giờ này tôi đã trở thành một người ăn xin rồi.
Nói vậy xong, ngài đọc lên bài kệ này:
Bảy bước giúp ta là bằng hữu
Bước mười hai bước là bạn thân
Nữa tháng, một tháng thân tộc gần
Thời gian lâu hơn cũng như vậy
Vậy bạn Vận Xui, sao ta đuổi
Người ta đã biết nhiều năm nay.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, A-nan là Vận Xui, cón ta chính là Trưởng
giả xứ Ba-la-nại.
Số 84
CHUYỆN CON ĐƯỜNG ĐƯA ĐẾN LỢI ÍCH
(Tiền thân Atthassadvāra)
Cầu không có tật bệnh…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về một cậu bé tinh thông các vấn đề về lợi ích tinh thần.
Cậu bé này là con trai của một triệu phú giàu có. Khi lên
bảy tuổi, cậu tỏ ra rất mực thông minh và luôn quan tâm đến lợi ích tinh thần.
Một hôm, cậu đi đến hỏi cha về những con đường đưa đến lợi ích tinh thần. Người
cha không thể trả lời được nên nghĩ: “Đây là một câu hỏi khó mà ngoại trừ đức
Phật Chánh Giác ra, còn từ cõi trời cao nhất cho đến tận địa ngục không một ai
có thể trả lời được.” Vì thế, mang theo nhiều nước hoa, hoa tươi và hương liệu,
ông đưa con trai mình đi đến tinh xá Kỳ Viên. Đến nơi, ông cung kính đảnh lễ đức
Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên và bạch với Ngài:
- Bạch Thế Tôn, đây là con trai của con. Cháu là đứa trẻ
thông mình và luôn quan tâm đến lợi ích tinh thần. Cháu hỏi con về những con
đường đưa đến lợi ích tinh thần. Con không trả lời được nên đến đây thỉnh cầu
đức Thế Tôn. Mong Thế Tôn giải quyết câu hỏi này giúp con.
Đức Thế Tôn nói:
- Này cư sĩ, cậu bé này đời trước đã từng hỏi ta câu hỏi
như vậy, và ta cũng đã từng trả lời rồi. Thuở ấy cậu bé đã biết được câu trả
lời, nhưng bây giờ quên đi là do trải qua nhiều kiếp tái sanh.
Rồi theo lời thỉnh cầu của người cha, đức Thế Tôn kể câu
chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát là một
vị triệu phú rất giàu có. Ngài có một người con trai, và cậu bé này khi mới lên
bảy, đã tỏ ra là một người rất thông minh và luôn quan tâm đến lợi ích tinh
thần. Một hôm, cậu bé đến hỏi cha về những con đường đưa đến lợi ích tinh thần.
Người cha trả lời cho cậu qua bài kệ này:
Cầu không có tật bệnh
Là lợi ích tối thượng,
Có giới đức cùng với
Lắng nghe bậc trưởng thượng
Tuỳ thuận học giáo pháp
Tâm viễn ly chấp trước
Chính là sáu con đường
Dẫn đến điều lợi ích.
Bằng cách này, Bồ-tát đã trả lời cho câu hỏi của con trai
về những con đường đưa đến lợi ích tinh thần, và câu bé từ hôm đó đã thực hành
theo sáu pháp này. Còn Bồ-tát sau một đời bố thí và làm việc thiện, đến khi mạng
chung đã đi theo hành nghiệp của mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Cậu bé bây giờ cũng chính là cậu bé thuở đó, còn ta
chính là vị triệu phú.
Số 85
CHUYỆN CÂY CÓ TRÁI ĐỘC
(Tiền thân Kimpakka)
Tai họa tương lai không nhìn thấy…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một Tỳ-kheo tham dục.
Theo truyền thuyết, có một thiện nam tử đặt niềm tin vào
giáo pháp của đức Phật và xuất gia. Nhưng một hôm, khi đang khất thực ở thành
Xá-vệ, thầy nhìn thấy một nữ nhân ăn bận xiêm y lộng lẫy và đã khởi tâm tham
đắm. Các sư trưởng cùng các giáo thọ đưa thầy đến gặp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn
hỏi rằng có thật thầy khởi tâm tham dục không. Khi nghe thầy này thừa nhận có,
đức Thế Tôn nói:
- Này Tỳ-kheo, năm dục lúc được thọ hưởng thì thật sự êm
ái, nhưng sự thọ hưởng này sẽ đưa đến những khổ đau do tái sanh vào trong địa
ngục và các ác thú. Sự kiện này cũng giống như việc ăn trái cây Kimpakka (Trái
Cây Gì). Trái cây Kimpakka thì có hương vị thơm ngát và ngọt ngào, nhưng khi ăn
vào thì nó phá hủy nội tạng cho đến chết. Vào thuở trước, nhiều người không thấy
được bản chất nguy hại của nó, nên bị vẻ đẹp, hương thơm và vị ngọt của nó quyết
rũ, để rồi ăn nó và bị chết.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm
người trưởng đoàn của một đoàn lái buôn. Một hôm, Ngài cùng với năm trăm cỗ xe
đi từ Đông sang Tây, và sau đó đi đến biên một khu rừng. Tập hợp đoàn người lại,
Ngài nói:
- Trong rừng này có nhiều cây có trái độc, vì vậy không
ai được phép ăn trái cây lạ khi chưa hỏi ta.
Sau khi đi ngang qua khu rừng, đến một biên rừng khác thì
họ nhìn thấy một cây Kimpakka với cành nhánh trĩu quả. Về hình dáng, mùi vị,
thân, nhành, lá và trái thì cây này giống y như một cây xoài. Một số người nhìn
thấy hình dáng như vậy thì nhầm lẫn đó là cây xoài nên đã hái trái nó để ăn.
Nhưng một số khác nói:
- Chúng ta hãy hỏi trưởng đoàn của chúng ta trước khi ăn.
Những người này hái trái cây và đứng chờ Bồ-tát đi đến.
Khi đi đến, Bồ-tát bảo họ ném bỏ trái cây mà họ đã hái. Còn những ai đã ăn, Ngài
làm cho họ nôn mửa ra. Một số người trong họ qua khỏi, nhưng những người ăn
trước hết thì bị chết.
Rồi Bồ-tát đến nơi đã định một cách an toàn. Ở đấy, ngài
bán hàng hoá, thâu lấy tiền lời và trở về nhà. Và sau khi trải qua một đời bố
thí và làm các việc thiện khác, Bồ-tát qua đời và đi theo hành nghiệp của mình.
* * *
Khi kể xong câu chuyện, đức Phật Chánh Giác đã đọc lên
bài kệ này:
Tai họa tương lai, không nhìn thấy
Hạ mình chiều chuộng các dục tham
Những người như vậy, khi quả chín
Như ăn trái độc Kim-pa-ka.
Sau khi chỉ ra rằng: các dục tham đem lại êm ái vào lúc
thọ dụng nhưng cuối cùng lại chịu khổ đau, đức Thế Tôn thuyết giảng Tứ Thánh đế.
Vào lúc kết thúc thời pháp, thầy Tỳ-kheo tham dục chứng được quả Dự lưu. Trong
khi các đệ tử khác của đức Phật: một số chứng được quả Dự lưu, một số chứng được
quả Nhất lai, một số chứng được qủa Bất lai, và một số chứng được quả A-la-hán.
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, đệ tử của ta là đoàn lái buôn, còn ta
chính là người trưởng đoàn của họ.
Số 86
CHUYỆN KIỂM TRA GIỚI ĐỨC
(Tiền thân Sīlavīmamsana)
Giới đức không gì sánh...
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một Bà-la-môn thử nghiệm giới đức của mình. Người này được vua
Câu-tát-la ủng hộ, đã quy y Tam bảo, thọ trì Ngũ giới, và thông suốt ba bộ
Vệ-đà. Nhà vua nghĩ đây là một người có giới đức nên rất kính trọng. Nhưng vị
này nghĩ: “Nhà vua kính trọng ta hơn những Bà-la-môn khác và biểu lộ sự quan tâm
rất mực của ông bằng cách cử ta làm người thầy tinh thần. Nhưng sự kính trọng
của ông không biết là do ta có giới đức hay là do dòng dõi, gia đình, quốc độ,
nghề nghiệp của ta? Ta phải làm sáng tỏ điều này, không để chậm trể được.”
Thế rồi một hôm, khi rời hoàng cung, vị này đã lấy cắp
một đồng tiền vàng tại quầy của quan thủ khố và ra về. Quan thủ khố vì kính
trọng Bà-la-môn này nên ngồi im không nói một lời. Ngày hôm sau, Bà-la-môn lấy
hai đồng. Quan thủ khố vẫn không phản ứng gì. Ngày thứ ba, khi Bà-la-môn vóc lấy
một nắm tiền đầy, lúc này quan thủ khố kêu lên:
- Đây là ngày thứ ba ông ăn cắp tiền của nhà vua.
Rồi anh ta hô lên ba lần:
- Tôi đã bắt được một tên cướp lấy cắp tiền.
Thế là một đám đông từ khắp nơi kéo đến, nói lớn:
- Ôi, vậy mà từ trước đến nay ông giả bộ có đức hạnh.
Rồi họ đánh ông hai ba cái và đưa ông đến trước nhà vua.
Nhà vua rất đỗi buồn phiền, hỏi ông:
- Bà-la-môn, cớ sao ông lại làm điều xấu xa như vậy?
Rồi vua ra lệnh:
- Hãy đưa ông ta đi và xử trị thích đáng.
- Thưa hoàng thượng, tôi không phải là kẻ cướp.
- Vậy tại sao ngươi lại lấy tiền từ nơi kho?
- Thưa hoàng thượng, bởi ngài tỏ lòng kính trọng tôi, và
bởi tôi quyết định tìm hiểu là sự kính trọng đó được dành cho dòng dõi, gia
đình... của tôi hay là cho giới đức của tôi. Đó là lý do tôi đã lấy tiền. Và nay
tôi biết chắc rằng (bởi ngài ra lệnh trừng phạt tôi), ngài kính trọng tôi là do
giới đức của tôi chứ không phải do dòng dõi, gia đình...của tôi. Tôi hiểu rằng
giới đức là điều lành tối thượng. Tôi cũng hiểu rằng, tôi không bao giờ có thể
đạt được giới đức trong đời sống này khi tôi vẫn sống đời cư sĩ, hưởng thụ những
lạc thú cấu nhiễm. Do đó, chính ngày hôm nay, tôi muốn đi đến bậc Đạo Sư ở tinh
xá Kỳ Viên và xuất gia ở đấy. Xin hoàng thượng cho phép cho tôi được toại
nguyện.
Được nhà vua cho phép, Bà-la-môn đi đến Kỳ Viên. Tất cả
bạn bè và họ hạng của ông cố làm cho ông từ bỏ ý định đó, nhưng nhận thấy sự cố
gắng của họ chỉ là vô ích nên đã để cho ông ra đi. Ông đi đến đức Thế Tôn và xin
được gia nhập Tăng đoàn. Rồi sau khi xuất gia, lãnh thọ Sa-di giới và Cụ túc
giới, ông tu tập thiền quán và chứng được A-la-hán. Sau đó, ông đi đến đức Thế
Tôn và nói:
- Bạch Thế Tôn, con xuất gia và chứng được quả tối thắng.
Nghe được lời xác chứng này, các Tỳ-kheo tập họp lại
trong Chánh pháp đường và bàn luận về công đức của vị tế sư của vua, người đã
kiểm tra giới đức của mình, sau đó từ giã nhà vua để xuất gia, và bây giờ chứng
được qủa vị A-la-hán. Đức Thế Tôn đi vào Chánh pháp đường và hỏi các Tỳ-kheo
đang bàn luận điều gì. Khi nghe thưa lại sự việc, Ngài nói:
- Này các Tỳ-kheo, việc Bà-la-môn này kiểm tra giới đức
của mình và đạt được giải thoát sau khi xuất gia không phải nay mới có. Thuở
trước, bậc hiền trí sau khi kiểm tra giới đức, cũng xuất gia và tìm được giải
thoát cho mình.
Nói vậy xong, Ngài kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại
(Benares), Bồ-tát là vị tế sư của vua. Bồ-tát là người chuyên thực hành bố thí,
làm các việc thiện, tâm hướng đến giới đức, và giữ năm giới không thối chuyển.
Nhà vua kính trọng ngài hơn hẳn những Bà-la-môn khác. Mọi tình tiết của câu
chuyện diễn ra giống như ở trên.
Nhưng ở đây, khi bị trói lại và đang trên đường đến chỗ
nhà vua, Bồ-tát gặp một vài người dụ rắn đang dùng một con rắn để trình diễn. Họ
nắm lấy đuôi rắn, cổ rắn, và cuốn nó quanh cổ của mình. Thấy vậy, Bồ-tát bảo
những người kia chớ chơi trò ấy, vì con rắn sẽ cắn và giết chết họ ngay lập tức.
Nhưng những người này nói:
- Bà-la-môn, đây là một con rắn giới đức và có huấn
luyện, nó sẽ không xấu ác như ông đâu. Ông do xấu ác và tà hạnh nên mới bị bắt
đi như vậy.
Nghe thế, Bồ-tát nghĩ: “Ngay cả loài rắn, nếu chúng không
cắn hay làm hại thì được gọi là có giới đức, vậy huống gì loài người chúng ta!
Rõ ràng giới đức là điều tối thượng nhất trong đời, không có điều gì vượt qua
được.”
Sau đó Bồ-tát được đưa đến trước nhà vua. Vua hỏi:
- Này các khanh, có việc gì vậy?
- Tâu hoàng thượng, tên cướp này lấy cắp tiền ở kho của
hoàng thượng.
- Hãy mang nó đi hành hình.
- Tâu hoàng thượng, tôi không phải là kẻ cướp.
- Thế cớ sao ngươi lại lấy tiền.
Rồi Bồ-tát đã trả lời giống như ở trên, và kết thúc như
sau:
- Đó là lý do tại sao tôi kết luận rằng: giới đức là điều
vi diệu và cao cả nhất trong cuộc đời. Giống như con rắn, khi nó không cắn và
gây hại cho ai thì nó được gọi là có giới đức. Cũng chính vì lý do này mà giới
đức được xem là điều vi diệu và cao cả nhất trong tất cả các pháp.
Rồi để tán thán giới đức, Bồ-tát đọc lên bài kệ:
Giới đức không gì sánh
Nó cao nhất ở đời
Xem rắn không hại người
Có đức, nó được gọi.
Thuyết pháp cho nhà vua bằng bài kệ như vậy xong, Bồ-tát
đoạn trừ các dục, xuất gia làm vị tiên nhân và đi đến Tuyết sơn. Ở đó, ngài
chứng được năm trí và tám thiền, rồi về sau được sanh về Phạm thiên giới.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Thuở ấy, đệ tử của ta là hội chúng của nhà vua, còn ta
chính là vị tế sư.
Số 87
CHUYỆN ĐIỀM TỐT XẤU
(Tiền thân Mamgala)
Ai từ bỏ điềm báo...
Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một Bà-la-môn chuyên tiên đoán điềm tốt xấu thông qua áo quần.
Tương truyền, có một Bà-la-môn sống ở tại thành Vương-xá
(Rājagaha), là một người mê tín và tà kiến, không tin vào Tam bảo. Bà-la-môn này
rất giàu, có vô số tài sản. Một hôm, sau khi tắm xong, Bà-la-môn bảo đem bộ áo
quần đến để mặc thì được báo cho biết là bộ áo quần nằm trong rương đã bị một
con chuột cái gặm đứt. Nghe thế, ông ta nghĩ: “Nếu bộ áo quần này để ở trong nhà
thì nó sẽ đem lại điềm xấu. Một điềm xấu như vậy chắc chắn sẽ mang lại tai họa.
Cũng không thể đem nó cho các con hay những đày tớ của ta được, bởi vì bất cứ ai
mặc bộ đồ này, sẽ mang lại điều rủi ro cho những người xung quanh. Vậy ta phải
vứt nó ở nơi nghĩa địa quăng xác (nơi xác chết được quăng cho thú hoang ăn mà
không chôn hay thiêu). Nhưng ai sẽ làm việc này? Ta không thể giao cho các đày
tớ làm việc này được, bởi vì họ sẽ khởi lòng tham và giữ lấy bộ áo, điều làm hủy
hoại gia đình ta. Vậy ta phải giao bộ áo quần này cho con trai ta và bảo nó đem
đi vứt bỏ.”
Vì thế, gọi con trai mình đến, ông kể cho con trai toàn
bộ sự việc và bảo cậu ta đem bộ áo quần đi vứt ở nghĩa địa quăng xác. Nhưng
không được lấy tay đụng vào nó mà dùng một cây gậy mang nó đi, và sau khi vứt nó
xong phải tắm rửa sạch sẽ mới được trở về nhà.
Bấy giờ vào buổi sáng, đức Thế Tôn quan sát khắp nơi xem
có người nào có thể giáo hoá được không, và Ngài nhận thấy rằng hai cha con
người này có đầy đủ nhân duyên đạt được quả Dự lưu. Vì thế, như người thợ săn
trên đường đi săn, Ngài đi đến và ngồi tại lối đi vào nghĩa địa ấy, phóng ra hào
quang sáu màu của một vị Phật. Vừa khi ấy, thanh niên Bà-la-môn đi đến nghĩa
địa. Anh ta làm theo lời cha bảo, thận trọng mang bộ áo quần trên đầu cây gậy,
giống như mang một con rắn nhà.
- Này thanh niên Bà-la-môn, anh đang làm gì vậy? Đức Thế
Tôn hỏi:
Anh ta trả lời:
- Thưa Tôn giả Gô-ta-ma (Gotama), bộ áo quấn này bị một
con rắn cắn đứt, nó được xem như là dấu hiệu của một điềm xấu, như là nọc độc
gây chết người của một con rắn. Cha tôi sợ rằng nếu giao cho một người đày tớ
đem bộ áo quần này đi vứt, anh ta sẽ khởi lòng tham và giữ nó lại, nên đã bảo
tôi làm việc này. Tôi hứa sẽ vứt bộ áo quần này và sau đó tắm rửa sạch sẽ nên
mới đi đến nơi đây.
- Thế thì hãy ném bộ áo quần ấy đi. Đức Thế Tôn nói.
Thanh niên Bà-la-môn đã làm như vậy.
- Bộ áo quần này sẽ thích hợp với ta.
Đức Thế Tôn vừa nói vừa nhặt lấy bộ áo quần trước mặt
thanh niên Ba-la-môn, không để ý đến những lời van nài khẩn khoản lập đi lập lại
của chàng thanh niên là đừng có lấy nó. Rồi Ngài đi về hướng tinh xá Trúc Lâm.
Thanh niên Bà-la-môn chạy nhanh về nhà, kể lại cho cha sự
việc Sa-môn Gô-ta-ma nói rằng bộ quấn áo đó thích hợp với Ngài và đã cương quyết
mang nó về tinh xá Trúc Lâm, bất chấp những lời van nài khẩn khoản của mình.
Nghe thế, Bà-la-môn suy nghĩ: “Bộ áo quần này bị yểm điềm xấu. Sa-môn Gô-ta-ma
nếu mặc vào sẽ gặp tai họa, và điều đó sẽ làm cho ta mang tiếng xấu. Vậy ta sẽ
cúng cho Sa-môn Gô-ta-ma nhiều bộ áo quần khác để Ngài quăng bộ đồ đó đi.” Thế
rồi, mang theo rất nhiều y áo, ông cùng với con trai mình đi đến tinh xá Trúc
Lâm. Khi đến nơi, ông cung kính đứng một bên đức Thế Tôn và nói thế này:
- Thưa Tôn giả Gô-ta-ma, con nghe rằng Ngài đã nhặt lấy
bộ áo quần tại nghĩa địa quăng xác, điều ấy không biết có thật không?
- Này Bà-la-môn, hoàn toàn đúng như vậy.
- Thưa Tôn giả Gô-ta-ma, bộ áo quần đó mang điềm không
tốt, nếu Tôn giả sử dụng nó thì sẽ bị thiệt thân. Nếu Ngài cần y áo thì hãy lấy
những thứ này và vứt bộ đồ đó đi.
Đức Thế Tôn nói:
- Này Bà-la-môn, đối với người xuất gia chúng tôi, các
mảnh vải rách nằm ở bên đường, chỗ tắm giặt, hay bị vứt bỏ ở đống rác, chỗ nghĩa
địa là thứ thích hợp. Thế nhưng ông lại mê tín dị đoan, một việc mà bây giờ cũng
như đời trước ông đã chấp chặt.
- Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của Bà-la-môn, đức Thế
Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, tại thành Vương-xá (Rājagaha) nước Ma-kiệt-đà
(Magadha), có vua Ma-kiệt-đà trị vì công chính. Bấy giờ, Bồ-tát sanh làm một vị
Bà-la-môn sống ở miền Tây Bắc. Lớn lên, Bồ-tát xuất gia sống đời tiên nhân ẩn
sĩ, chứng được Thần thông cùng Thiền định, và cư trú ở vùng Tuyết sơn.
Một lần nọ, Ngài rời Tuyết sơn, đi đến thành Vương-xá và
trú ở ngự viên. Ngày tiếp theo, Ngài đi vào thành khất thực. Nhìn thấy Bồ-tát,
nhà vua liền cho mời Ngài vào hoàng cung, thỉnh Ngài ngồi và cúng dường thức ăn,
rồi sau đó mời Ngài trú lại ngự uyển của mình. Thế là từ hôm đó, Bồ-tát thường
thọ thực tại hoàng cung và cư trú ở trong ngự uyển.
Bấy giờ, tại kinh thành này, có một vị Bà-la-môn chuyên
đoán vận tốt xấu qua y phục. Vị này có một bộ áo quần để trong rương bị một con
chuột gặm đứt. Mọi việc xảy ra giống như câu chuyên kể trên. Khi người con trai
đi đến nghĩa địa, Bồ-tát đã đi đến đó trước và ngồi nơi cổng vào nghĩa địa, sau
đó nhặt lấy bộ quần áo mà chàng trai Bà-la-môn vứt và quay trở về ngự uyển. Khi
nghe con trai thuật lại sự việc, người cha suy nghĩ: “Vị ẩn sĩ thân cận với quốc
vương sẽ chết vì điều này.” Do đó, ông đi đến chỗ Bồ-tát và khẩn khoản bảo Ngài
vứt bộ đồ đó đi, nếu không Ngài sẽ bị thiệt mạng. Nhưng ẩn sĩ đã trả lời:
- Những mảnh vải vứt ở nghĩa địa thì thật tốt cho chúng
tôi. Chúng tôi không mê tin điềm lành điềm dữ, thứ không được chư Phật, chư Phật
Độc Giác, hay chư Bồ-tát tán thành. Và do đó, người có trí không nên tin vào
điềm lành điềm dữ.
- Nghe thuyết pháp như vậy, Bà-la-môn từ bỏ tà kiến và
quy y theo Bồ-tát. Còn Bồ-tát, duy trì thiền quán không ngừng nghỉ, sau khi mạng
chung đã sanh về Phạm thiên giới.
* * *
Sau khi kể xong câu chuyện, đức Phật Chánh Giác đã thuyết
pháp cho Bà-la-môn qua bài kệ này:
Ai từ bỏ điềm báo
Giấc mộng, tướng kiết hung
Sẽ thoát lỗi mê tín
Phiền não được đoạn trừ
Những chấp trước đoạn tận
Không còn bị tái sanh.
Sau khi thuyết pháp cho Bà-la-môn bằng bài kệ như vậy
xong, đức Thế Tôn tuyên thuyết Tứ Thánh đế. Kết thúc thời pháp, Bà-la-môn đó
chứng được quả Dự lưu. Rồi đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Hai cha con bây giờ cũng chính là hai cha con thuở đó,
còn thuở đó ta chính là vị tiên nhân ẩn sĩ.
Số 88
CHUYỆN BÒ ĐỰC TÁT-LAN-BA
(Tiền thân Sārambha)
Hãy nói lời tử tế...
Trong khi trú tại Xá-vệ, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về
học giới liên quan đến lời sĩ nhục. Cả phần duyên khởi lẫn phần chuyện tiền thân
đều giống như chuyện Tiền thân Nandivisāla, số 28.
Nhưng ở trường hợp này có một một sự khác biệt là: Bồ-tát
thọ sanh làm một con bò đực có tên là Tát-lan-ba (Sārambha), và chủ của Bồ-tát
là một vị Bà-la-môn ở Xoa-thi-la (Takkasilā) thuộc nước Kiền-đà-la (Gandhāra).
Sau khi kể xong câu chuyện, đức Phật Chánh Giác đã đọc lên bài kệ này:
Hãy nói lời tử tế
Chớ nói lời mắng nhiếc
Nói lành được quả tốt
Nói ác gặt ưu phiền.
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Thuở đó, A-nan là Bà-la-môn, vợ của Bà-la-môn là
Uppalavaṇṇa, còn ta chính là bò đực Tát-lan-ba.
Số 89
CHUYỆN KẺ DỐI TRÁ
(Tiền thân Kuhaka)
Miệng lưỡi kẻ bất lương...
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về một kẻ dối trá. Những tình tiết của câu chuyện sẽ được
trình bày trong chuyện Tiền thân Uddāla, số 487.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại
(Benares), cận một ngôi làng nhỏ nọ, có một vị ẩn sĩ khổ hạnh dối trá, là một
đạo sĩ bện tóc sống. Vị điền chủ của làng này làm cho ẩn sĩ một một thảo am ở
trong rừng để ở và cung cấp cho vị này những thứ thức ăn ngon lành. Vị điền chủ
tin ẩn sĩ dối trá này là hạng người có giới đức nên đã đem năm trăm đồng tiền
vàng đến chôn ở thảo am và nhờ vị ẩn sĩ canh giữ giúp, vì sợ để ở nhà bọn cướp
sẽ đoạt mất. Vị ẩn sĩ nói:
- Thưa điền chủ, không nên phải nói như vậy. Đối với
những ẩn sĩ xuất gia chúng tôi, sẽ không bao giờ tham muốn tài sản của người
khác.
- Lành thay, thưa Tôn giả.
Vị điền chủ nói và ra về, lòng vô cùng tin tưởng vào lời
nói của kẻ kia. Thế rồi vị ẩn sĩ bất lương này suy nghĩ: “Số tài sản này đủ cho
một người sống suốt cả đời”. Sau một vài ngày, vị ẩn sĩ đem số vàng đến chôn bên
một con đường và quay về sống như cũ tại thảo am của mình. Ngày kế tiếp, sau khi
ăn cơm tại nhà vị điền chủ xong, ẩn sĩ nói:
- Thưa điền chủ, thời gian cũng đã dài từ khi tôi sống ở
đây và được ông ủng hộ cấp dưỡng. Sống lâu ở một nơi thì cũng giống như sống
trong cõi đời trần tục, điều hoàn toàn cấm kị đối với những người tự xưng là ẩn
sĩ. Do đó tôi cần phải ra đi.
Mặc dù vị điền chủ nài nỉ ẩn sĩ ở lại, nhưng không gì có
thể làm thay đổi được quyết định này. Vì vậy vị điền chủ nói:
- Thưa Tôn giả, nếu sự việc phải như thế thì thôi Tôn giả
cứ đi.
Nói xong, điền chủ tiễn vị này ra khỏi làng rồi quay trở
về. Sau khi đi được một quãng, ẩn sĩ nghĩ cần phải đánh lừa vị điền chủ này nên
ông ta cắm một cọng rơm vào búi tóc và quay trở lại. Điền chủ hỏi:
- Thưa Tôn giả, tại sao ngài trở lại?
- Thưa điền chủ, một cọng rơm nơi mái nhà của ông đã mắc
vào tóc tôi. Người xuất gia chúng tôi không được phép lấy bất cứ thứ gì không
cho, vì thế tôi mang nó trả lại cho ông.
- Thưa Tôn giả, vậy hãy vứt cọng rơm rồi đi.
Rồi vị điền chủ nghĩ: “Ôi, vị ẩn sĩ này, một cọng rơm
không phải của mình thì cũng không lấy! Thật là một người có bản tính cẩn
trọng.” Vị điền chủ vô cùng hoan hỉ, đảnh lễ vị ẩn sĩ và từ biệt.
Bấy giờ, Bồ-tát vì công việc buôn bán nên đi đến vùng
biên địa và trú qua đêm tại ngôi làng đó. Nghe những gì vị ẩn sĩ nói, Bồ-tát
sinh tâm nghi ngờ, nghĩ rằng ẩn sĩ này chắc đã ăn cắp một thứ gì đó của người
điền chủ. Và Ngài hỏi người điền chủ có gửi thứ gì cho vị ẩn sĩ này trông coi
không. Điền chủ trả lời:
- Có, tôi có gửi năm trăm đồng tiền vàng.
- Vậy hãy đi xem nó có còn nguyên vẹn không?
Người điền chủ đi đến thảo am của vị ẩn sĩ, tìm kiếm số
tiền vàng và nhận thấy rắng nó đã bị mất. Ông liến trở về báo cho Bồ-tát biết là
số tiền đã bị mất. Bồ-tát nói:
- Kẻ trộm không phải ai khác mà chính là gã ẩn sĩ bện tóc
lừa đảo. Chúng ta hãy đuổi theo bắt lấy ông ta.
Thế là họ đuổi nhanh theo ông ta. Rồi khi bắt được con
người lừa đảo này, họ đánh đập ông ta, cho đến khi tìm ra được nơi kẻ lừa đảo
này chôn giấu tiền. Khi thu hồi lại được số tiền vàng, Bồ-tát nhìn vị ẩn sĩ và
nói một cách khinh bỉ:
- Một cọng rơm không làm đục lương tâm của ông, nhưng một
trăm đồng tiền vàng thì nó làm đục!
Và Bồ-tát khiển trách ông ta bằng bài kệ này:
Miệng lưỡi kẻ bất lương
Thật khéo nói làm sao
Cọng rơm không để ý
Nhưng vàng để tâm vào!
Bằng cách đó, Bồ-tát khiển trách vị ẩn sĩ này, rồi Ngài
nói thêm:
- Này kẻ giả nhân giả nghĩa, từ này trở đi, đừng bao giờ
làm trò xảo trá như vậy nữa.
Rồi Bồ-tát sống làm các việc thiện, đến khi mạng chung đã
sanh theo hành nghiệp của mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheo, như các thầy thấy đấy, Tỳ-kheo này vào
đời quá khứ cũng đã gian dối lừa đảo như bây giờ vậy.
Và rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, Tỳ-kheo lừa đảo là vị ẩn sĩ, còn ta chính
là người hiền trí.
Số 90
CHUYỆN KẺ VONG ÂN
(Tiền thân Akataññu)
Đối với việc làm tốt...
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyên này về Trưởng giả Cấp Cô Độc (Anātha-piṇḍka)
Chuyện kể rằng, tại vùng biên địa, có một vị thương nhân
là bạn của Trưởng giả Cấp Cô Độc, nhưng hai người chưa bao giờ gặp nhau. Một
hôm, vị thương nhân này chất đầy năm trăm cỗ xe các mặt hàng địa phương và bảo
những người làm công đưa đến Trưởng giả Cấp Cô Độc để đổi lấy những hàng hoá tại
cửa hiệu của Trưởng giả, rồi sau đó mang hàng hoá đổi được ấy về. Thế là người
nhà của vị này đi đến Xá-vệ và tìm đến nhà Trưởng giả Cấp Cô Độc. Trước tiên họ
tặng cho Trưởng giả một món quà, sau đó nói với ông về công việc của họ. Đại
Trưởng giả đón tiếp họ ân cần, sắp xếp chỗ ở và cho họ tiền tiêu. Rồi sau khi
thăm hỏi sức khỏe người chủ của họ, Trưởng giả nhận lấy hàng hoá và đổi cho họ
những mặt hàng khác. Nhận hàng hoá xong, những người này trở về quê và thuật lại
cho ông chủ tất cả mọi việc.
Không lâu sau đó, Trưởng giả Cấp Cô Độc đưa năm trăm cỗ
xe tương tự cùng với hàng hoá đến chính vùng biên địa mà những người này sống.
Và những người làm công cho Trưởng giả, khi đi đến vùng ấy, đã mang quà đi đến
gặp vị thương nhân ở vùng biên địa. Vị thương nhân này hỏi:
- Các vị từ đâu đến đây?
- Chúng tôi từ Xá-vệ đến, là người nhà của Trưởng giả Cấp
Cô Độc bạn của ngài.
- Ai cũng có thể xưng mình là Cấp Cô Độc cả!
Ông ta nói với một thái độ khinh bỉ, sau đó nhận lấy món
quà và bảo họ đi, không cho họ nơi ở cũng như tiền tiêu. Vì thế họ phải tự đổi
lấy hàng hoá của mình, sau đó mang những mặt hàng đổi được về Xá-vệ và thuật lại
sự việc cho Trưởng giả biết.
Một ngày khác, vị thương nhân ở vùng biên địa đó lại đưa
một đoàn năm trăm cỗ xe khác đến Xá-vệ, và người nhà của vị này mang quà đến gặp
Trưởng giả Cấp Cô Độc. Nhưng khi người nhà của Trưởng giả Cấp Cô Độc nhìn thấy
những người này, họ nói:
- Thưa ông chủ, chúng tôi sẽ lo liệu việc này. Chúng tôi
sẽ cung cấp cho họ chỗ ở thích hợp, thức ăn cũng như tiền tiêu.
Rồi họ đưa những người khách ra khỏi kinh thành, bảo
những người này tháo các cỗ xe ra tại một nơi thích hợp, và nói thêm rằng họ sẽ
mang cơm và tiền tiêu từ nhà Trưởng giả Cấp Cô Độc đến cho những người này.
Sau đó vào canh giữa, tập họp các người làm công và đầy
tớ lại, họ đi đến đánh cướp đoàn lái buôn, lột sạch hết áo quần, đuổi những con
bò đi, tháo các bánh xe ra, để cho xe một đường bánh một nẻo. Những người lái
buôn này không còn một thứ gì ngoài chiếc áo che thân, hoảng sợ tháo chạy và tìm
đường trở về vùng biên địa. Sau đó người nhà của Trưởng giả Cấp Cố Độc đã thuật
lại cho ông toàn bộ câu chuyện. Nghe thế ông nói:
- Đây là một câu chuyện quan trọng mà hôm nay cần phải kể
cho đức Thế Tôn nghe.
Vậy là ông đi đến và kể lại câu chuyện này với đức Thế
Tôn. Đức Thế Tôn nói:
- Này cư sĩ, đây không phải là lần đầu tiên vị thương
nhân ở miền biên địa đã biểu lộ tính khí như vậy đâu, mà đời trước ông ta cũng
từng như vậy.
Rồi theo lời thỉnh cầu của Trưởng giả Cấp Cô Độc, đức Thế
Tôn kể câu chuyện quá khứ sau.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát là một
vị Trưởng giả giàu có ở kinh thành ấy. Ngài có một người bạn thương nhân ở vùng
biên địa, và hai người chưa bao giờ gặp nhau. Tất cả các tình tiết của câu
chuyện đều giống như ở trên.
Khi người nhà của Ngài thuật lại những gì họ đã làm, Ngài
nói:
- Chuyện rắc rối này xảy ra là do họ vong ân bội nghĩa
đối với lòng tốt đã được dành cho họ.
Và Ngài tiếp tục thuyết giáo cho hội chúng đông đảo qua
bai kệ:
Đối với việc làm tốt
Ai bội nghĩa vong ân
Thì sau không tìm được
Người giúp đở khi cần.
Bồ-tát đã thuyết pháp với bài kệ như vậy. Rồi sau một đời
làm việc bố thí và thực hành thiện nghiệp, Ngài thọ sanh theo hành nghiệp của
mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Thương nhân ở vùng biên địa bây giờ cũng chính là
thương nhân vùng biên địa thuở đó, còn ta chính là vị Trưởng giả xứ Ba-la-nại.
|