CHƯƠNG XIV
PHẨM ASAMPDANA
Số 131
CHUYỆN KẺ VONG ÂN
(Tiền thân Asampadāna)
Nếu người bạn đóng vai kẻ keo kiệt…
Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về Đề-bà-đạt-đa.
Bấy giờ, chư Tỳ-kheo tập họp lại trong Chánh pháp đường
và bàn luận:
- Thưa các pháp hữu, Đề-bà-đạt-đa vong ân, không thấy
được công đức của đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn bước vào và hỏi họ đang bàn luận việc gì. Khi
nghe thuật lại sự việc, Ngài nói:
- Này các Tỳ-kheo, không phải chỉ nay Đề-bà-đạt-đa mới
vong ân, mà đời trước ông ta cũng đã như thế.
Nói vậy xong, Ngài kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Ma-kiệt-đà (Magadha) trị vì thành
Vương-xá (Rājagaha), Bồ-tát là một vị Trưởng giả có tám trăm triệu đồng tiền
vàng và được mạnh danh là Trưởng giả Triệu Phú. Bấy giờ ở thành Ba-la-nại, cũng
có một vị trưởng giả có tài sản tám trăm triệu đồng tiên vàng. Vì này tên là
Piliya và là một người bạn thân của Trưởng giả Triệu Phú. Rồi vì một lý do gì
đó, trưởng giả Piliya ở Ba-la-nại đã lâm vào cảnh túng quẫn, tất cả tài sản mất
sạch và trở nên nghèo khổ xác xơ. Trong cảnh bần cùng, ông ta đã đưa vợ mình đi
đến thành Vương xá để gặp Trưởng giả Triệu phú với hy vọng sẽ được giúp đỡ.
Trưởng giả Triệu Phú đón tiếp người bạn của mình và đối xử như một vị khách quý,
rồi đợi một lúc thích hợp thì hỏi bạn mình đến đấy có việc gì không. Piliya trả
lời:
- Tôi bây giờ là kẻ cùng kiệt. Tôi đã mất hết tài sản, vì
thế đến đây nhờ bạn giúp đỡ.
Trưởng giả Triệu Phú nói:
- Hãy yên tâm! Đừng lo sợ điều đó.
Rồi Ngài cho mở kho bạc và trao cho Piliya bốn trăm triệu
đồng tiền vàng. Kế tiếp, Ngài phân chia toàn bộ gia sản của mình, cả động sản và
bất động sản, ra làm hai phần bằng nhau và trao cho bạn của mình một nửa. Piliya
nhận lấy số tài sản này, quay trở lại Ba-la-nại và sống ở đấy.
Một thời gian không lâu sau, một tai họa tương tự đã ập
xuống Trưởng giả Triệu Phú, vậy là đến lượt Ngài đánh mất toàn bộ gia sản. Trong
giờ phút túng quẫn, Ngài tìm nơi giúp đỡ và nhớ ra rằng mình đã giúp cho Piliya
một nửa gia sản. Nghĩ có thể đến nhờ ông ta giúp đỡ mà không sợ bị bỏ rơi nên
Ngài cùng với vợ rời Vương xá để đi đến Ba-la-nại. Tại đường vào kình thành,
Ngài nói với vợ:
- Này bà, bà đi bộ dọc đường với tôi như thế này thì
không thích hợp lắm. Vậy bà hãy ngồi lại đây, đợi tôi cho xe cùng với người hầu
đến đưa bà vào kinh thành cho nó tử tế.
Nói vậy xong, Trưởng giả để vợ lại nhà trọ, còn mình một
mình đi vào kinh thành. Đến nhà Piliya, Ngài báo tin cho vị này biết là Trưởng
giả Triệu Phú ở thành Vương Xá đến thăm. Piliya nói:
- Tốt lắm, hãy đưa ông ấy vào.
Nhưng khi thấy được tình trạng của bạn, Piliya không đứng
dậy đón tiếp cũng không chào lấy một lời, mà chỉ hỏi:
- Anh đến có việc gì không?
- Tôi đến để thăm bạn?
- Anh đang nghỉ ở đâu?
- Bây giờ tôi chưa có chỗ. Tôi để vợ của tôi ở tại nhà
trọ và đến thẳng đây gặp bạn.
- Đây không có chỗ cho anh. Hãy lấy một ít gạo bố thí,
tìm một nơi nào đó mà nấu ăn, sau đó đi và đừng bao giờ trở lại đây gặp tôi nữa.
Nói vậy xong, con người giàu có này bảo người nô lệ lấy
cho người bạn bất hạnh của mình một nửa lon cám mịn và đổ nó ở nơi vạt áo người
bạn. Ông ta đối xử như vậy dù rằng mỗi ngày ông ta có cả một ngàn xe đầy lúa tốt
nhất được đập ra và chất đầy tràn các kho lẫm của mình. Con người bất lương này
đã bình thản nhận bốn trăm triệu đồng tiền vàng, bây giờ lại bố thí cho người
bạn hảo tâm của mình một nửa lon cám. Thế rồi người nô lệ lường cám trong thúng
và mang nó đến cho Bồ-tát. Bồ-tát phân vân trong lòng là không biết nên nhận hay
không. Ngài nghĩ: “Kẻ vong ân bội nghĩa này cắt đứt tình bạn với ta bởi bây giờ
ta bị cùng kiệt. Nếu giờ đây ta không nhận món quà tầm thường kia thì ta cũng
xấu xa như nó. Vì hạng người thấp hèn họ luôn xem thường món quà tầm thường, vi
phạm chuẩn tắc tình bạn. Vậy ta sẽ nhận lấy số cám này để thực hiện bổn phận
người bạn của mình.” Nghĩ thế, Ngài cột cám vào nơi vạt áo của mình và quay trở
lại chỗ người vợ trọ. Người vợ hỏi:
- Này ông, ông nhận được gì?
- Người bạn Piliya của chúng ta đã cho chúng ta mớ cám
này và đuổi chúng ta đi.
- Ôi, tại sao ông lại nhận nó? Nó có xứng với bốn trăm
triệu đồng tiền vàng không? Người vợ vừa nói vừa khóc.
Bồ-tát nói:
- Bà ạ, đừng có khóc. Tôi nhận nó chỉ vì tôi không muốn
vi phạm chuẩn tắc tình bạn. Sao bà phải khóc chứ?
Nói xong, Ngài đọc lên bài kệ này:
Nếu người bạn đống vai kẻ keo kiệt
Một người ngu sẽ tuyệt hẳn tình giao
Ta nhận cám của ông ta bố thí
Để không phá mối tình bạn thanh cao.
Nhưng người vợ vẫn khóc. Khi ấy, một người nô lệ mà trước
đây Trưởng giả Triệu phú đã cho Piliya đang đi ngang qua nơi ấy và nghe tiếng
khóc của bà chủ cũ. Nhận ra ông bà chủ cũ của mình, người này quỳ xuống dưới
chân, nức nở khóc và hỏi lý do hai người đến đó. Thế rồi, Bồ-tát đã kể cho người
này nghe toàn bộ câu chuyện. Người này nghe xong bèn nói lời động viên:
- Xin ông bà hãy yên tâm.
Rồi người này đưa hai ông bà chủ về nhà của mình, sửa
soạn nước thơm cho họ tắm và nấu cơm cho họ dùng. Sau đó, người này thông báo
cho những nô lệ khác biết là ông bà chủ cũ của họ đã đến. Một vài ngày sau,
những người nô lệ này tập họp lại và đi đến hoàng cung, và ở đấy họ tạo ra sự
náo loạn. Nhà vua hỏi duyên cớ sự việc, và họ đã thuật lại toàn bộ câu chuyện.
Vua cho gọi hai vị trưởng giả đến và hỏi Trưởng giả Triệu
Phú rằng có đúng là Ngài đã cho Piliya bốn trăm triệu đồng tiền vàng hay không.
Trưởng giả nói:
- Thưa hoàng thượng, khi gặp cảnh khốn cùng, người bạn
của tôi đã đến giải bày với tôi và cầu xin tôi giúp đỡ. Tôi đã cho cho ông ta
một nửa, không chỉ tiền bạc mà cả động sản và bất động sản tôi có.
- Có đúng vậy không? Vua hỏi Piliya.
- Thưa hoàng thượng, đúng như vậy.
- Còn khi người bạn hảo tâm của ông đến giải bày với ông
và nhờ ông giúp đỡ, ông có tỏ lòng kính trọng và giúp đỡ bạn không?
Đến đây Piliya giữ im lặng.
- Có phải ông đã cho người bạn của mình một nửa lon cám
và đổ vào nơi vạt áo không?
Piliya lại im lặng.
Sau đó, vua bàn bạc với các đại thần cách giải quyết vụ
việc. Và sau khi bàn bạc xong, vua phán quyết:
- Hãy đến nhà Piliya và lấy toàn bộ tài sản của Piliya
trao cho Trưởng giả Triệu Phú.
Bồ-tát nói:
- Thưa hoàng thượng, tôi không muốn tài sản của người
khác. Tôi chỉ xin nhận lại số tài sản mà trước đây tôi đã cho ông ta thôi.
Thế rồi nhà vua ra lệnh rằng, Bồ-tát nên có lại tài sản
của mình. Sau khi nhận lại được tài sản của mình, Bồ-tát cùng với đoàn nô lệ
đông đảo trở về lại Vương-xá. Ở đấy, Ngài sắp xếp lại công việc làm ăn, rồi sau
một đời bố thí và làm việc thiện, Ngài qua đời và đi theo hành nghiệp của mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là Trưởng giả Piliya, còn ta
chính là Trưởng giả Triệu Phú.
Số 132
CHUYỆN NĂM VỊ THẦY
(Tiền thân Pañcagaru)
Nghe lời khuyên tốt…
Trong khi trú tại tịnh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về sự cám dỗ của các con gái của Ma vương ở tại Cây bàng của người
chăn dê, câu chuyện liên quan đến một bài kinh. Đức Thế Tôn trích dẫn bài kinh,
bắt đầu bằng những lời này:
Đẹp rực rỡ, chúng đến
Ái, sân hận và tham.
Như Lai làm chúng bay
Như bông bay trước gió.
Sau khi đức Thế Tôn vừa đọc xong bài kinh, chư Tỳ-kheo
tập họp lại trong Chánh pháp đường và nói về sự kiện các con gái của ma vương đã
dùng sắc đẹp tuyệt trần của mình để cám dỗ bậc Toàn giác, nhưng tuy thế vẫn
không cám dỗ được Ngài, vì Ngài không mở mắt nhìn chúng. Họ tán thán rằng Ngài
thật là kỳ diệu!
Đức Thế Tôn bước vào và hỏi các Tỳ-kheo về đề tài họ đang
bàn luận. Khi nghe thuật lại vấn đề, Ngài nói:
- Này các Tỳ-kheo, thật không có gì kỳ diệu khi đời nay
ta không nhìn con gái của ma vương, lúc mà ta đã đoạn trừ các lậu hoặc và chứng
đạt giác ngộ. Vào đời trước, khi ta đang còn tìm cầu trí tuệ, khi các lậu hoặc
vẫn còn xâm chiếm tâm ta, vậy mà ta đã tìm ra được sức mạnh để không nhìn thiên
sắc, là con đường dục tham dẫn đến làm hư hại giới đức. Và nhờ kiềm chế dục
tham, ta đã đạt được vương quốc.
Nói vậy xong, Ngài kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát là vị
hoàng tử út trong số một trăm vị hoàng tử. Công việc mạo hiểm của hoàng tử út ở
câu chuyện này cũng giống như ở câu chuyện số 96, Tiền thân Takkasilā. Ở đây,
khi dân chúng đem vương quốc trao cho Bồ-tát, và khi Ngài nhận nó và được tôn
lên làm vua, dân chúng đã trang hoàng kinh thành giống như thành phố của chư
thiên và hoàng cung thì giống cung trời Đế thích. Rồi Bồ-tát vào thành, bước vào
đại sãnh đường rộng lớn trong hoàng cung. Và ở đấy, bằng tất cả sắc đẹp kì diệu
của mình, Ngài đã ngự lên long tọa bằng ngọc bảo được đặt bên dưới một cây lọng
trắng. Các triều thần, Bà-la-môn và hàng quý tộc trang sức lộng lẫy đứng xung
quanh Ngài. Trong khi đó, mưới sáu ngàn vũ nữ xin đẹp như các tiên nữ thì ca
hát, nhảy múa và đánh đàn, cho đến khi cả hoàng cung vang dội âm thanh giống như
đại dương rền vang tiếng sấm. Ngắm nhìn vương vị huy hoàng của mình, Bồ-tát suy
nghĩ, nếu ngày trước Ngài nhìn sắc đẹp của đám dạ xoa thì bây giờ Ngài đã chịu
khổ đau, không còn sống sót để nhìn ngằm sự nguy nga tráng lệ này. Điều này có
được là nhờ Ngài làm theo lời khuyên của chư Phật Độc Giác. Và khi trong tâm
khởi lên những suy nghĩ như vậy, Bồ-tát đã đọc lên những dòng kệ này:
Nghe theo lời khuyên tốt
Kiên định không lung lay
Với con tim gan dạ
Đường đi không đổi thay.
Tránh trú xứ Dạ xoa
Và cạm bẫy chúng bày
Và trong lúc cần thiết
Đạt đại giải thoát này.
Bậc Đại sĩ đã giảng dạy bằng những lời kệ như vậy. Từ đó,
Ngài cai trị vương quốc bằng sự công chính, bố thí và làm các việc thiện khác,
rồi đến khi mạng chung đã đi theo hành nghiệp của mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Thuở đó, ta chính là vị hoàng tử đã đi đến Xoa-thi-la
và đạt được vương quốc.
Số 133
CHUYỆN LỬA ĐỐT
(Tiền thân Ghatāsana)
Trông kìa! Nơi bạn ở…
Trong khi trú tại tịnh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một thầy Tỳ-kheo. Thầy này nhận lấy một đề tài thiền quán nơi đức
Thế Tôn rồi đi đến vùng biên địa, chọn nơi trú trong khu rừng gần một ngôi làng
nhỏ và trải qua kỳ an cư mùa mưa ở đó. Nhưng ngày vào tháng đầu tiên, trong khi
thầy đi vào làng khất thực thì thảo am của thầy bị thiêu cháy. Mất mát nơi nương
náu, thầy kể lại với các cư sĩ việc rủi ro của mình, và các cư sĩ hứa sẽ làm lại
cho thầy một thảo am khác. Tuy hứa như vậy, nhưng ba tháng trôi qua các cư sĩ
vẫn không làm thảo am mới cho thầy. Vì không có nơi an trú yên ổn nên Tỳ-kheo
này không thành công trong việc tu tập thiền định, ngay cả một tia sáng cũng
không phát khởi lên được trong thầy. Rồi khi kết thúc kỳ an cư mùa mưa, thầy trở
về Kỳ Viên, đảnh lễ đức Thế Tôn và đứng sang một bên. Đức Thế Tôn hỏi thầy có
thành công trong thiền định hay không. Thầy thuật lại toàn bộ sự việc đã xảy ra
với mình. Đức Thế Tôn nói:
- Này Tỳ-kheo, vào đời trước, ngay cả loài thú vật cũng
có thế phân biệt được đâu là tốt đâu là xấu cho chúng và vì thế đã kịp thời bỏ
đi trước khi trú xứ đã che chở cho chúng trong những ngày an lạc trở thành nơi
chốn nguy hiểm. Và nếu loài thú còn biết phân biệt được như vậy thì chẳng lẽ nào
thầy lại thiếu đi trí tuệ không làm được như chúng?
Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của Tỳ-kheo này, đức Thế
Tôn kể câu chuyên đời quá khứ.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh
làm một con chim. Khi khôn lớn, nhờ công đức của mình, chim trở thành vị vua của
loài chim. Chúa chim xây tổ của mình trên một cây lớn có cành nhánh sum suê bao
phủ cả mặt hồ và sống với đám tùy tùng của mình ở đấy. Những con chim này đậu
ngủ trên những cành cây và thải phân xuống hồ nước bên dưới. Bấy giờ ở hồ nước
ấy có một con rắn chúa tên là Caṇḍa sống. Điên tiết vì hồ nước của mình bị vấy
bẩn, con rắn quyết định trả thù đàn chim bằng cách thiêu chết chúng. Thế là một
đêm nọ, khi cả đàn chim đang đậu dọc theo những cành cây thì rắn chúa bắt đầu ra
tay. Trước tiên nó làm cho hồ nước sôi lên, sau đó làm cho khói bóc và kế đến là
làm cho ngọn lửa vọt lên cao như một cây cọ dừa.
Nhìn thấy ngọn lửa từ nước bóc lên, Bồ-tát nói với bầy
chim:
- Nước được dùng để dập tắt lửa, nhưng ở đây nước lại
đang bóc cháy. Đây không phải là nơi dành cho chúng ta. Chúng ta hãy tìm một nơi
khác để cư trú thôi.
Nói vậy xong, chim đọc lên bài kệ:
Trông kìa! Nơi bạn ở
Đang đứng trên hiểm nguy
Lửa thiêu đốt cả nước
Vậy hãy bay nhanh đi
Đi xa khỏi cây này
Nơi đây rất đáng sợ.
Sau đó Bồ-tát cùng với những con chim nghe theo lời mình
bay đi, còn những con chim không nghe lời, ở lại ở đó, đều bị thiêu cháy cả.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn thuyết giảng Bốn thánh
đế. Kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo này chứng được quả A-la-hán. Rồi đức Thế
Tôn nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, đệ tử của Ta là những con chim biết nghe
lời, còn ta chính là chim chúa.
Số 134
CHUYỆN THIỀN ĐỊNH THANH TỊNH
(Tiền thân Jhānasodhana)
Có tưởng cùng với không có tưởng…
Trong khi trú tại tịnh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về lời giảng giải rõ ràng của bậc Tướng Quân Chánh Pháp Xá-lợi-phất
tại cổng thành Samkassa, về một vấn đề được đức Thế Tôn trình bày một cách súc
tích. Và sau đây là câu chuyện quá khứ mà đức Thế Tôn đã kể.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự trị vì Ba-la-nại…Bồ-tát khi sắp qua
đời ở trong rừng đã nói: “Phi tưởng phi phi tưởng xứ.”…Và các ẩn sĩ không tin
lời giải thích về lời dạy của Đạo sư mà người đệ tử thượng thủ của Bồ-tát đã đưa
ra. Thế rồi Bồ-tát từ cõi trời Quang Âm đã trở lại, và từ giữa không trung đã
đọc lên bài kệ này:
Có tưởng cùng với không có tưởng
Cả hai đều luôn bị khổ đau
Từ bỏ cả hai, trừ uế nhiễm
Được lạc thanh tịnh chứng thiền sâu.
Kết thúc bài kệ, Bồ-tát tán thán vị đệ tử thượng thủ của
mình và trở lại cõi trời Quang Âm. Khi ấy, những ẩn sĩ kia mới tin lời vị đệ tử
thượng thủ.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Thuở đó, Xá-lợi-phất là vị đệ tử thượng thủ, còn ta
chính là Đại Phạm thiên.
Số 135
CHUYỆN ÁNH SÁNG MẶT TRĂNG
(Tiền thân Candābha)
Ai tư niệm thuần thục…
Trong khi trú tại tịnh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về lời giảng giải rõ ràng của Tôn giả Xá-lợi-phất ở tại cổng thành
Samkassa.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát khi
sắp qua đời ở trong rừng, đã trả lời các đệ tử bằng những từ: “Ánh sáng của mặt
trăng và Ánh sáng của mặt trời.” Nói xong những lời này thì Ngài qua đời và sanh
về cõi trời Quang Âm.
Bấy giờ, khi vị đệ tử thượng thủ giảng giải lời của bậc
Đạo sư, các vị đệ tử khác không tin lời vị ấy. Vì thế Bồ-tát quay trở lại và từ
giữa không trung đọc lên bài kệ này:
Ai tư niệm thuần thục
Ánh mặt trời mặt trăng
Thì sau khi mạng chung
Được sanh Quang Âm thiên.
Sau khi giảng dạy như vậy xong, Bồ-tát tán thán vị đệ tử
thượng thủ của mình rồi trở lại cõi trời Quang Âm.
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Thuở đó, Xá-lợi-phất là vị đệ tử thượng thủ, còn ta là
Đại Phạm thiên.
Số 136
CHUYỆN THIÊN NGA LÔNG VÀNG
(Tiền thân Suvaṇṇahamsa)
Phải thiểu dục tri túc…
Đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo ni có tên là
Nan-đà Mập.
Có một nam cư sĩ cúng dường tỏi cho chúng Tỳ-kheo ni, và
bảo người quản gia của mình rằng khi các Tỳ-kheo ni đến thì hãy cúng dường cho
mỗi người hai hoặc ba nắm tỏi. Từ ấy trở đi, các Tỳ-kheo ni thường đến nhà hoặc
ra đồng của vị cư sĩ để nhận tỏi.
Một hôm, vào ngày lễ hội, số tỏi dự trữ trong nhà vị cư
sĩ đã hết. Bấy giờ, khi Tỳ-kheo ni Nan-đà Mập cùng với một số Tỳ-kheo ni khác đi
đến nhà vị cư sĩ ấy để xin tỏi thì được nói rằng số tỏi đem về nhà đã lỡ sử dụng
hết, và rằng cô nên đi đến ruộng để lấy nó. Thế rồi cô đi đến ruộng và mang về
một lượng tỏi .
Vị quản gia tức giận và nói rằng các Tỳ-kheo ni này quá tham lam. Lời nói này đã
làm cho các Tỳ-kheo ni thiểu dục khó chịu. Các Tỳ-kheo cũng cảm thấy khó chịu
khi nghe các Tỳ-kheo ni thuật lại sự việc, và họ đã bạch điều này lên đức Thế
Tôn. Đức Thế Tôn phê bình lòng tham của Tỳ-kheo ni Nan-đà Mập và nói:
- Này các Tỳ-kheo, một người đầy tham lam thì gây khó
chịu cho ngay cả người mẹ sinh ra mình. Một người tham lam thì không thể đem lại
niềm tin cho người chưa có niềm tin, cũng không thể làm tăng trưởng niềm tin cho
người đã có niềm tin; không thể đem lại đồ cúng dường, cũng không giữ được những
đồ cúng dường khi đã nhận được. Ngược lại, những người thiểu dục thì có thể làm
được tất cả điều này.
Đức Thế Tôn đã giảng dạy cho các Tỳ-kheo bằng những lời
như vậy và sau cùng Ngài nói:
- Này các Tỳ-kheo, cũng như bây giờ, Nan-đà Mập vào thời
quá khứ cũng tham lam như vậy.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ sau.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại
(Benares), Bồ-tát sanh làm một vị Bà-la-môn. Đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát lập
gia đình với một cô gái môn đăng hộ đối và họ sinh được ba người con gái có tên
là Nandā, Nanda-vatī, và Sundari-nandā. Rồi Bồ-tát qua đời, và vợ con của Ngài
đã đến những người hàng xóm và bạn bè để ở nhờ. Sau khi qua đời, Bồ-tát tái sanh
làm một con thiên nga lông vàng có khả năng nhớ được các kiếp sống trước. Lớn
lên, quán sát hình dáng cao quý và bộ lông vàng của mình, thiên nga nhớ ra rằng
kiếp trước đó mình là một con người. Nhận thấy vợ và con gái của mình đang làm
thuê làm mướn cho người khác để mưu sinh, thiên nga nhớ đến bộ lông bằng vàng
của mình và nghĩ rằng nếu mình cho vợ và các con gái một cọng lông bằng vàng thì
đời sống của họ sẽ được sung túc. Nghĩ thế, thiên nga bay đến nơi họ sống và đậu
trên cây xà chính ở mái nhà. Nhìn thấy Bồ-tát, bà vợ và các cô con gái hỏi rằng
chim ở đâu đến. Bồ-tát trả lời:
- Trước đây ta là cha của các con. Ta qua đời và tái sanh
làm một con thiên nga có lông vàng. Nay ta viếng thăm các con để giúp các con
chấm dứt công việc làm thuê làm mướn cơ cực. Ta sẽ cho các con những cọng lông
vàng của ta, một lần một cọng. Các con hãy đem bán chúng để sống một đời sống an
ổn, thoải mái.
Nói vậy xong, chim cho họ những cọng lông của mình và bay
đi. Từ hôm đó, thỉnh thoảng chim bay trở lại và cho họ những cọng lông của mình.
Và với số tiền bán lông này, những nữ Bà-la-môn trở nên giàu có thịnh vượng. Thế
rồi một hôm, người mẹ nói với các cô con gái:
- Này các con, loài muông thú khó mà tin được. Rồi một
ngày nào đó cha của các con sẽ ra đi và không bao giờ trở lại. Vậy lần tới chim
đến, các con hãy nhân cơ hội đó mà nhổ sạch hết lông vàng, làm như vậy chúng ta
sẽ nắm chắc được tất cả số lông.
Các cô con gái nghĩ làm như vậy sẽ khiến cho chim đau đớn
nên từ chối không làm. Thế rồi một hôm, khi thiên nga lông vàng đến, người mẹ vì
lòng tham lam đã gọi chim đến rồi sau đó dùng hai tay chụp lấy chim và nhổ sạch
hết lông. Bấy giờ, lông của Bồ-tát có đặc tính rằng, nếu chúng bị nhổ ra trái
với ý muốn của chim thì chúng sẽ không còn là những cọng lông vàng nữa mà trở
thành lông của một con cò. Và bấy giờ chú chim đáng thương, dù cố dang hai cánh
ra thì cũng không thể bay được. Rồi nữ Bà-la-môn đã ném chim vào trong một cái
thùng và nuôi chim ở đấy. Thời gian dần trôi, lông của chim mọc trở lại như
trước (nhưng bây giờ lông toàn một màu trắng). Sau đó, chim đã bay trở về trú xứ
của mình và không bao giờ trở lại nữa.
* * *
Kết thúc câu chuyện, đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheođà Mập đời trước cũng đã từng tham lam như nay
vậy. Và lòng tham của cô ta đã khiến cho cô ta mất hết vàng cũng giống như bây
giờ mất hết tỏi. Thêm nữa, chính vì lòng tham của của cô này mà toàn thể chúng
Tỳ-kheo ni mất đi số tỏi được cúng dường. Do đó, các thầy phải biết thiểu dục,
bằng lòng với phẩm vật được cúng dường cho mình, dù đồ cúng dường đó rất nhỏ.
Nói vậy xong, Ngài đọc lên bài kệ này:
Phải thiểu dục tri túc
Chớ tham lam quá độ
Xem kẻ bắt thiên nga
Vàng không còn có nữa.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn khiển trách Tỳ-kheo ni tham lam
kia và chế định học giới: Tỳ-kheo ni nào ăn tỏi thì phạm tội cần phải sám hối.
Rồi Ngài nói lên mối liên hệ của hai câu chuyện:
- Vào thuở đó, Nan-đà Mập là nữ Bà-la-môn, ba Tỳ-kheo ni
là ba người con gái của nữ Bà-la-môn, còn ta chính là thiên nga có lông vàng.
Số 137
CHUYỆN CON MÈO
(Tiền thân Babbu)
Cho một mèo thức ăn…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một học giới có liên quan đến mẹ của Kānā. Vị này là một tín nữ
sống ở thành Xá-vệ, được biết với tên gọi là mẹ của Kānā, là một thánh đệ tử đã
chứng được quả Dự lưu. Con gái của bà tên là Kānā đã kết hôn với một thiện nam
cùng giòng tộc ở một ngôi làng khác. Một hôm, vì một vài công việc, cô trở về
nhà gặp mẹ. Sau một vài ngày, chồng của cô gửi thư nói rằng chàng ta muốn cô trở
về nhà. Cô gái hỏi ý kiến mẹ là có nên về hay không. Người mẹ bảo cô về nhưng
nói thêm rằng cô không nên trở về tay không như vậy khi ở đây đã lâu, và vì thế
đã làm cho cô một cái bánh. Đúng khi ấy, một Tỳ-kheo đi đến
mẹ mời Tỳ-kheo ngồi và cúng dường bánh mà bà mới nướng. Tỳ-kheo ấy ra đi và nói
cho một Tỳ-kheo khác biết. Vị thứ hai đi đến ngôi nhà này đúng lúc chiếc bánh
thứ hai được làm cho cô con gái mang về nhà vừa mới nướng xong, và người mẹ cũng
đã cúng dường cho Tỳ-kheo chiếc bánh này. Rồi Tỳ-kheo này nói với Tỳ-kheo thứ
ba. Vị thứ ba nói với vị thứ tư. Và như vậy, cứ mỗi chiếc bánh mới làm ra lại
được cúng cho một vị mới đến. Kết quả là cô con gái không thể trở về nhà được.
Người chồng lại gửi thư cho cô lần thứ hai rồi lần thứ ba. Đến lá thư thứ ba thì
người chồng nói rằng, nếu cô không trở về thì chàng sẽ lấy một người vợ khác. Cứ
mỗi lá thư, sự việc lại xảy ra tương tự như vậy, và vì thế người chồng đã lấy
một người vợ khác. Và cô vợ khi nghe được tin này thì tủi phận khóc than.
Biết rõ điều này, vào lúc sáng sớm, đức Thế Tôn đắp y và
mang bát đi đến nhà mẹ của Kānā, ngồi lên chỗ ngồi được soạn sẵn cho mình. Rồi
Ngài hỏi cô gái tại sao lại khóc. Nghe được nguyên do, Ngài nói lời an ủi người
mẹ rồi đứng dậy và trở về tinh xá.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo biết được tình cảnh của cô Kānā, do
vì việc làm của bốn Tỳ-kheo mà ba lần không trở về nhà chồng được. Một hôm, chư
vị tập họp lại trong Chánh pháp đường và bàn luận về điều đó. Lúc ấy, đức Thế
Tôn đi vào Chánh pháp đường và hỏi họ đang bàn luận điều gì. Khi nghe họ thuật
lại sự việc, Ngài nói:
- Này các Tỳ-kheo, không phải chỉ nay bốn Tỳ-kheo này mới
làm cho mẹ của Kānā sầu khổ qua việc ăn bánh của bà, mà đời trước họ cũng đã
từng làm điều tương tự như vậy.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại
(Banares), Bồ-tát sanh vào một gia đình làm nghề đẽo đá. Đến tuổi trưởng thành,
Ngài trở nên tinh xảo trong công việc đẽo đá của mình. Bấy giờ ở nước Ca-thi, có
một vị thương nhân rất giàu có, của cải có đến bốn trăm triệu đồng tiền vàng.
Khi vợ của vị này qua đời, vì quá tham đắm tiền của nên bà đã tái sanh làm một
con chuột sống ở trên kho báu. Rồi cả gia đình này lần lượt qua đời, bao gồm cả
vị thương nhân, và căn nhà đó trở thành hoang phế đìu hiu.
Bấy giờ, Bồ-tát đang khai thác và đẽo đá gần bên ngôi
làng bỏ hoang này. Con chuột thường nhìn thấy Ngài mỗi khi nó đi tìm thức ăn và
rồi sinh lòng yêu thương. Khi nghĩ rằng kho châu báu lớn của mình rồi sẽ tiêu
tan khi mình chết, con chuột khởi lên ý tưởng là sẽ cùng với Bồ-tát hưởng thụ số
tài sản ấy. Vì thế một hôm, nó ngậm một đồng tiền vàng nơi miệng và đi đến chỗ
Bồ-tát. Nhìn thấy điều này, Bồ-tát thân mật hỏi han:
- Này bạn, lý do gì bạn mang đồng tiền vàng đến đây?
- Anh bạn, anh hãy lấy tiền này mà tiêu xài và mua thịt
cho tôi.
Không thể từ chối, Bồ-tát nhận tiền và trích nửa đồng mua
thịt đem cho con chuột. Con chuột mang thịt về ổ và ăn một cách thỏa thích. Sự
việc tiếp tục tái diễn, con chuột mỗi ngày đưa cho Bồ-tát một đồng tiền vàng, và
Ngài lại cung cấp thịt cho nó. Nhưng rồi một hôm, chuột bị một con mèo bắt lấy.
Chuột nói:
- Đừng giết tôi.
- Sao lại không? Ta đang đói lã ra đây, và ta phải giết
mày để ăn cho đỡ đói.
- Thôi được, nhưng trước tiên hãy nói cho tôi biết là ông
thường xuyên đói hay chỉ đói ngày hôm nay thôi.
- Mọi ngày ta đều đói cả.
- Nếu như vậy thì tôi sẽ thường xuyên cung cấp thịt cho
ông, chỉ cần ông thả tôi đi.
- Mày phải nhớ đấy. Mèo nói và thả chuột đi.
Từ đó trở đi, chuột phải chia số thịt mà Bồ-tát cung cấp
cho mình thành hai phần. Một phần trao cho mèo còn một phần giữ lại cho mình.
Bấy giờ, như số phận phải mang, con chuột này một ngày nọ
lại bị một con mèo khác bắt lấy và nó phải trả giá để giải thoát cũng bằng những
lời lẽ tương tư như trên. Thế là lúc này, thức ăn hàng ngày phải được chia thành
ba phần. Và khi chuột bị một con mèo thứ ba bắt, một sự thỏa thuận tương tự lại
xảy ra, và số thịt bây giờ được chia thành bốn phần. Sau đó con mèo thứ tư bắt
nó, và thức ăn phải chia thành năm phần. Con chuột, do sút giảm phần thức ăn, đã
trở nên gầy còm, cơ thể chỉ còn da bọc xương. Nhìn thấy người bạn của mình ngày
càng gầy mòn như vậy, Bồ-tát hỏi chuột lý do tại sao. Nghe chuột kể lại tất cả
sự việc đã xảy ra với mình, Bồ-tát nói:
- Tại sao lâu nay bạn không nói với tôi điều đó? Thôi hãy
an tâm, tôi sẽ giúp bạn thoát khỏi những khó khăn này.
Thế rồi Bồ-tát lấy một khối pha lê nguyên chất và khoét ở
đấy một cái lổ, sau đó bảo con chuột bò vào trong ấy:
- Này bạn, giờ bạn hãy ở lại đây, và rồi khi có kẻ nào đó
đến gần thì hãy đe dọa, chửi rủa thật hung hãn.
Con chuột vâng lời, bò vào trong cái lỗ pha lê và chờ
đợi. Khi con mèo đầu tiên đi đến đòi thịt, chuột nói:
- Hãy cút đi mụ mèo độc ác kia! Tại sao ta phải cung cấp
thịt cho ngươi? Hãy về mà ăn con cái của ngươi đi!
Con mèo nghe những lời này thì tức điên lên, và không hề
biết con chuột đang ở bên trong pha lê, nó đã nhảy vồ lên con chuột để ăn thịt.
Cú nhảy của nó quá mạnh đến độ lòng ngực bị đập vỡ khi va vào lớp pha lê, khiến
mắt nó lồi ra khỏi đầu. Như vậy, con mèo bị giết chết và xác của nó bị xô xuống
một nơi khuất kín. Cùng cách như vậy, bốn con mèo lần lượt bỏ mạng. Từ đó về
sau, con chuột biết ơn mỗi ngày đã mang đến cho Bồ-tát hai hoặc ba đồng tiền
vàng thay vì một đồng như trước, và như vậy dần dần, nó mang cho Bồ-tát toàn bộ
kho báu ấy. Rồi cả hai sống với nhau trong tình thân hữu bền vững, cho đến khi
mạng chung đã tái sanh theo hành nghiệp của mình.
* * *
Kể xong câu chuyện, Bậc Chánh Đẳng Giác đã đọc lên bài kệ
này:
Cho một mèo thức ăn
Mèo thứ hai xuất hiện
Mèo thứ ba, thứ tư
Cùng đều theo cách ấy.
Rồi chứng kiến bốn mèo
Chết bởi chạm pha lê.
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, bốn Tỳ-kheo là bốn con mèo, mẹ của Kānā là
con chuột, còn ta là người thợ đẽo đá.
Số 138
CHUYỆN CON CẮC KÈ
(Tiền thân Godha)
Tóc bện cùng với y vỏ cây…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một kẻ lừa đảo. Những tình huống của câu chuyện thì giống như ở
chuyện số 128.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại
(Benares), Bồ-tát sanh làm một con cắc kè. Bấy giờ, có một ẩn sĩ khổ hạnh sống
trong một thảo am gần một ngôi làng ở vùng biên địa. Vị này đã chứng được năm
Thắng trí và rất được dân làng kính trọng. Trong khi đó, Bồ-tát sống tại một gò
mối nắm ở cuối con đường mà vị ẩn sĩ đi kinh hành, và mỗi ngày hai hoặc ba lần
cắc kè đi đến chỗ ẫn sĩ để nghe giảng pháp. Và vì kính trọng Bậc giới đức này
nên Bồ-tát đã rời bỏ trú xứ của mình để đến đấy sống. Sau một thời gian, vị ẩn
sĩ tạm biệt dân làng và ra đi. Khi vị này đi rồi, có một ẩn sĩ giả dối đến thảo
am ấy sống. Nghĩ rằng người mới đến này cũng đầy đủ giới hạnh, Bồ-tát đã đối xử
với ông ta như vị ẩn sĩ trước.
Một hôm, vào mùa khô hạn, một cơn mưa dông bất chợt đổ
xuống đã khiến cho những con kiến bò ra khỏi tổ. Và những con cắc kè khi bò ra
ngoài để ăn kiến, đã bị dân làng bắt đi rất nhiều. Chúng được xào trộn với dấm
và đường để đem cúng dường cho vị ẩn sĩ. Khoái khẩu với mùi vị món ăn này, vị ẩn
sĩ bèn hỏi đó là món gì và được trả lời cho biết đó là món thịt cắc kè.
Nghe thế, vị ẩn sĩ nghĩ ngay đến con cắc kè đẹp kỳ lạ
sống gần thảo am của mình và quyết định giết cắc kè để ăn thịt. Vì thế, ông ta
chuẩn bị sẵn xoong chảo cùng với gia vị để xào nấu thịt cắc kè. Rồi dấu một cái
vồ bên dưới chiếc y, ông ta ngồi nơi cửa thảo am chờ Bồ-tát đến với một thái độ
tỏ ra bình thản. Vào buổi chiều, Bồ-tát đi đến. Và khi đi đến gần, Bồ-tát nhìn
thấy vị ẩn sĩ ấy hoàn toàn không giống với thường ngày, ông ta ngồi chờ mình với
thái độ báo hiệu điều gì đó không tốt sắp xảy ra. Đứng phía dưới ngọn gió từ
hướng thảo am của vị ẩn sĩ, Bồ-tát ngửi thấy mùi vị thịt cắc kè, và ngay lập tức
nhận ra rằng, chính mùi vị thịt cắc kè đã khiến cho ẩn sĩ muốn dùng vồ giết mình
để ăn thịt. Vì thế, Bồ-tát bèn quay vào hang của mình mà không viếng thăm vị ẩn
sĩ nữa. Nhìn thấy Bồ-tát không đến, vị ẩn sĩ nghĩ rằng cắc kè chắc đã đoán biết
mưu đồ của mình, và ông ta phân vân không biết vì sao cắc kè lại biết được điều
đó. Quyết không để cắc kè trốn thoát, vị ẩn sĩ liền rút cái vồ ra và ném vào cắc
kè, nhưng cái vồ chỉ trúng vào mút đuôi. Nhanh như cắt, Bồ-tát chạy vội vào
hang. Rồi thò đầu ra một cái lỗ khác, cắc kè nói:
- Này kẻ lừa đảo bất lương kia, y áo của người đã khiến
cho ta tin ngươi, nhưng bây giờ ta biết được bản chất thấp hèn độc ác của ngươi.
Một kẻ ăn cướp như ngươi thì có xứng đáng khi khoác y áo ẩn sĩ không?
Quở trách vị ẩn sĩ giả dối như vậy xong, Bồ-tát đọc lên
bài kệ này:
Tóc bện cùng với y vỏ cây
Bắt chước ẩn sĩ ở trước đây?
Ngươi thật không phải người giới hạnh
Dơ bẩn xấu xa ngươi chứa đầy.
Bằng bài kệ này, Bồ-tát đã vạch trần tâm địa độc ác xấu
xa của vị ẩn sĩ, sau đó Bồ-tát rút vào trong gò mối. Còn vị ẩn sĩ khổ hạnh độc
ác sau đó đã bỏ đi nơi khác.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Thuở đó, kẻ lừa dối này là ẩn sĩ độc ác, Xá-lợi-phất là
vị ẩn sĩ có giới hạnh mà trước đó đã sống ở thảo am, còn ta chính là con cắc kè.
Số 139
CHUYỆN HAI MẶT THẤT BẠI
(Tiền thân Ubhatobhaṭṭha)
Chồng mù, vợ bị đánh…
Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về Đề-bà-đạt-đa.
Chuyện kể rằng, một hôm, các Tỳ-kheo tập họp lại trong
Chánh pháp đường và nói:
- Thưa các Pháp hữu, như một cây đuốc từ nơi giàn thiêu,
bị cháy cả hai đầu và bị dính phân ở giữa, không thể dùng làm củi ở trong rừng,
cũng không thể dùng làm củi ở nơi lò đốt của làng, cũng như thế, việc
Đề-bà-đạt-đa xuất gia theo đạo giải thoát này chỉ đem lại cho ông ta hai mặt
khiếm khuyết, hai mặt thất bại: đó là những lạc thú của đời sống tại gia bị đánh
mất và phạm hạnh Sa môn không được viên mãn.
Đức Thế Tôn bước vào Chánh pháp đường và hỏi các Tỳ-kheo
đang bàn luận điều gì. Khi nghe được vấn đề, Ngài nói:
- Này các Tỳ-kheo, vào đời trước, Đề-bà-đạt-đa cũng đã
từng thất bại ở cả hai mặt như vậy.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh
làm một vị Thần cây trú tại một ngôi làng làm nghề đánh cá. Bấy giờ, một vị ngư
phủ của ngôi làng này cùng với đứa con trai nhỏ của mình mang dụng cụ đánh cá đi
và quăng câu vào một hồ nước mà các ngư dân khác thường đến bắt cá. Thế rồi lưỡi
câu của ông bị mắc vào một gốc cây gãy và ông không thể kéo nó lên được. Vị ngư
phủ nghĩ: “Lưỡi câu chắc đã móc được một con cá lớn! Ta phải bảo con ta về nhà
báo cho vợ ta biết và bảo bà ấy hãy bày ra một vụ cãi vã để giữ chân những người
hàng xóm, để không có người nào muốn đến chia phần với ta.” Vì thế, ông ta bảo
cậu con trai chạy về nhà nói với vợ của mình rằng ông đã câu được một con cá lớn
và bà phải dàn xếp một vụ gây hấn để giữ chân những người hàng xóm. Thế rồi, sợ
dây câu bị đứt, ông ta bèn cởi áo ngoài ra và nhảy xuống nước để bắt cá. Nhưng
khi đang dò dẫm bắt cá, ông ta vấp mạnh vào gốc cây và té nhào xuống nước, khiến
cho hư cả hai mắt. Nhân cơ hội đó, một tên trộm đã lẻn đến lấy cắp áo quần của
ông để ở trên bờ. Trong nỗi đớn đau cực độ, ông ta dùng hai tay bịt lấy cặp mắt
mù, chân tay run rẩy trèo lên bờ và cố gắng tìm kiếm quần áo.
Trong khi đó vợ của ông ta, để giữ chân những người hàng
xóm bằng cách cố ý tạo ra một vụ cãi vã, đã đeo một chiếc lá thốt nốt vào sau
một tai và lấy nhọ nồi bôi đen một mắt. Với cái lốt đó, bà ta nâng niu ôm lấy
một con chó và đi đến gọi người hàng xóm. Một phụ nữ thấy vậy thì nói với bà ta:
- Trời đất ơi! Bà bị điên rồi sao!
Bà vợ ngư phủ liền bắt bẻ.
- Tao không điên. Mày đã sĩ nhục tao một cách vô cớ bằng
lời lẽ vu khống. Hãy đi đến thôn trưởng với tao. Tao sẽ phạt vạ mày tám đồng
tiền vì tội lăng mạ tao.
Với những lời giận giữ như vậy, bà vợ đưa người kia đi
đến nhà vị thôn trưởng. Nhưng khi vụ việc được đưa ra xét xử thì người vợ của vị
ngư phủ bị phạt tiền. Người ta trói bà lại và đánh đập để đòi tiền phạt. Bấy
giờ, khi nhìn thấy tai họa xảy đến với người vợ ở làng và người chồng ở trong
rừng, Thần cây đứng trên chạc ba cây đã nói:
- Này ngư phủ, cả công việc trong nước lẫn trên cạn của
ông thật là vô ích, cả hai đều bị thất bại.
Nói vậy xong, Thần cây đọc lên bài kệ này:
Chồng mù, vợ bị đánh
Sự việc đã rõ ràng
Cả hai đều thất bại
Cả hai khổ phải mang.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là vị ngư phủ, còn ta chính
là Thần cây.
Số 140
CHUYỆN CON QỤA
(Tiền thân Kāka)
Sợ hãi không hề dứt…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một vị Sư trưởng tài trí. Những tình tiết của câu chuyện sẽ được
trình bày ở Tiền thân Bhaddsāla, số 465, Tập mười hai.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh
làm một con quạ. Một hôm, vị tế sư của nhà vua từ kinh thành đi đến sông để tắm.
Rồi sau khi tắm xong, ông xức nước hoa, trang điểm vòng hoa, mặc áo quần sang
trọng nhất và trở về thành. Lúc này, ở trên mái vòm của cổng thành, có hai con
quạ đậu trên ấy. Một con nói với một con khác:
- Này bạn, tôi muốn đại tiện lên đầu vị Bà-la-môn này.
Con qua kia nói:
- Này bạn, đừng làm điều như vậy, vì Bà-la-môn này là một
bậc đại nhân đấy. Làm cho một vị đại nhân căm giận là điều không hay đâu. Nếu
bạn làm cho ông ta giận thì ông ta sẽ hủy diệt toàn thể đồng loại chúng ta.
- Tôi phải làm điều này. Con quạ thứ nhất nói.
- Thôi được, rồi bạn sẽ biết rõ sự việc.
Con quạ thứ hai nói rồi bay nhanh đi. Rồi khi vị
Bà-la-môn đang ở phía dưới lầu canh, con qụa đã thải phân lên người ông như thả
một tràng hoa. Bà-la-môn tức giận và nuôi lòng hận thù đối với loài quạ.
Bấy giờ, một nữ tỳ phụ trách kho thóc đang trải lúa ra
phơi ở trước cửa kho và ngồi ở đấy để canh giữ. Rồi cô gái ngủ gục. Vừa khi ấy,
một con dê lông lá xù xì đi đến ăn lúa. Cô gái thức dậy và đuổi con dê đi. Con
dê trở lại lần thứ hai rồi lần thứ ba để ăn lúa mỗi khi cô gái ngủ. Thế rồi khi
lần thứ ba đuổi con vật đi, cô gái nghĩ rằng con dê sẽ còn tiếp tục đến ăn lúa,
và điều đó sẽ làm mất đi một nửa kho thóc của cô, vì thế cần phải dùng cách làm
cho con vật sợ hãi bỏ chạy để mình khỏi bị tổn thất nhiều. Vì thế, cô gái nắm
lấy một cây củi cháy dỡ và ngồi xuống, giả vờ ngủ gục như trước. Và khi con dê
đến ăn lúa, cô gái bất ngờ nhảy đến, dùng cây củi cháy dỡ của mình đánh vào cái
lưng bờm xờm lông của con dê. Ngay lập tức, bộ lông bờm xờm của con dê bốc cháy.
Và để làm dịu cơn đau, con dê chạy lao vào kho chứa cỏ khô ở gần chuồng voi và
lăn tròn trong cỏ. Thế rồi kho cỏ bóc cháy và ngọn lửa lan ra đến chuồng voi.
Rồi khi những chuồng voi này bóc cháy, những con voi phải chịu thương tích đau
đớn. Có nhiều con voi bị thương nặng mà các bác sĩ chuyên chăm sóc voi không thể
cứu chữa được. Khi sự việc này được tâu lên nhà vua, vua hỏi vị tế sư là có thứ
thuốc gì có thể cứu chữa được những con voi hay không. Vị tư tế nói rằng ông ta
có biết một loại thuốc. Được hỏi thuốc gì thì ông ta nói rằng đó là mỡ quạ. Thế
là nhà vua ra lệnh giết quạ để lấy mỡ. Ngay lập tức, một cuộc tàn sát quạ quy mô
xảy ra. Nhưng không hề tìm thấy mỡ trong qụa nên người ta tiếp tục sát hại lũ
quạ cho đến khi xác chúng chất thành từng đống khắp nơi.
Bấy giờ, Bồ-tát đang sống tại một nghĩa địa lớn, là thủ
lĩnh của một đàn quạ tám mươi ngàn con. Một con qụa trong đàn báo cho Bồ-tát
biết về nỗi sợ hãi đang bao trùm lên loài quạ. Bồ-tát thấy rằng không ai
ngoài mình có thể đảm trách được nhiệm vụ này nên quyết định ra đi giải cứu đồng
loại ra khỏi nỗi kinh hãi khủng khiếp này. Rồi quán niệm Mười ba la mật, Bồ-tát
chọn lấy lòng Từ ba la mật, sau đó bay một mạch đến cung vua, đi vào cửa sổ đang
mở và đậu bên dưới ngai vua. Một người hầu lập tức đến bắt chim, nhưng nhà vua
vừa bước vào cung đã ngăn anh ta lại. Nghỉ ngơi một lát, bậc Đại sĩ tưởng nhớ
đến lòng từ, từ dưới ngai vua đi ra và nói với nhà vua thế này:
- Thưa đại vương, một vị vua thì không nên đi theo các
dục tham trong khi trị vì vương quốc. Trước khi làm việc gì, cần phải xem xét để
biết toàn bộ vấn đề, và sau đó chỉ làm những điều mà nó đem lại kết quả tốt đẹp.
Nếu vua chúa mà thi hành những điều không đem lại lợi ích thì họ gây ra rất
nhiều sợ hãi, ngay cả sợ hãi về cái chết. Trong việc kê đơn thuốc mỡ quạ, vị tế
sư của ngài đã bị lòng hận thù xúi giục để rồi nói dối, vì loài quạ thì không
bao giờ có mỡ.
Nghe những lời này, nhà vua sinh lòng cảm phục, và ông
bảo Bồ-tát hãy đậu lên ngai vàng của mình. Rồi ông lấy dầu thơm loại tốt nhất
xức dưới cánh chim và đặt thịt cùng với nước dành cho vua vào trong những cái
bát vàng để cho chim dùng. Rồi khi bậc Đại sĩ ăn uống đã no và đang nghỉ ngơi,
nhà vua nói:
- Thưa bậc hiền trí, ngài nói loài quạ không có mỡ.
Nguyên do gì chúng không có mỡ?
- Vì nguyên do này.
Rồi bằng giọng nói vang dội cả hoàng cung, Bồ-tát thuyết
pháp qua bài kệ này:
Sợ hãi không hề dứt
Loại người hại sinh mạng
Do đó không có mỡ
Trong loài quạ chúng tôi.
Giảng giải điều này xong, bậc Đại sĩ dạy nhà vua:
- Thưa đại vương, các bậc vua chúa thì không nên hành
động khi chưa xem xét và biết rõ vấn đề.
Nhà vua lấy làm hoan hỉ nên dâng cho Bồ-tát vương quốc
của mình, nhưng Bồ-tát không nhận. Rồi Bồ-tát truyền trao cho vua năm giới, cầu
xin vua bảo hộ cho tất cả mọi sinh vật thoát khỏi bị giết hại. Nhà vua xúc động
khi nghe những lời này nên đồng ý tha chết cho tất cả các muông thú. Đặc biệt
đối với loài quạ, ông ra lệnh bố thí không được gián đoạn. Mỗi ngày, ông cho nấu
sáu giạ gạo, thêm gia vị thơm ngon vào, rồi đem thức ăn này bố thí cho loài quạ.
Còn riêng bậc Đại sĩ thì được cúng dường thức ăn giống như thức ăn của vua.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, A-nan là vua Ba-la-nại, còn ta chính là
vua quạ.
|