CHƯƠNG XV
PHẨM KAKANTAKA
Số 141
CHUYỆN CON KỲ ĐÀ
(Tiền thân Godha)
Kết thân với bạn xấu…
Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một Tỳ-kheo phản bội. Những tình tiết của phần duyên khởi này thì
giống như những gì được trình bày ở chuyện số 26, Tiền thân Mahilā-mukha.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh
làm một con kỳ đà. Khi trưởng thành, Bồ-tát sống trong một cái hang lớn ở nơi bờ
sông cùng với đàn kỳ đà hàng trăm con khác. Bấy giờ, Bồ-tát có một cậu con trai,
một con kỳ đà nhỏ. Con kỳ đà nhỏ này kết bạn với với một con tắc kè hoa và
thường ôm chặt lấy con tắc kè hoa này. Sự thân mật này được báo lên kỳ đà chúa.
Kỳ đà chúa cho gọi con trai đến và nói rằng kết bạn như vậy là không đúng chỗ,
vì tắc kè hoa là một sinh vật thấp kém, và nếu cứ bám chặt lấy tình thân mật này
mà không chịu từ bỏ thì tai hoạ sẽ giáng xuống toàn thể giòng họ kỳ đà. Rồi
Bồ-tát bắt con trai không được quan hệ với con tắc kè hoa kia nữa, nhưng kỳ đà
con vẫn tiếp tục giữ mối tình thân ấy. Bồ-tát khuyên bảo con trai rất nhiều lần,
nhưng nhận thấy rằng lời nói của mình chẳng đem lại tác dụng gì. Và khi thấy
trước mối đe doa sẽ giáng xuống loài kỳ đà do con tắc kè hoa gây ra, Bồ-tát đã
cho đào một lối thoát ở một bên hang để khi cần có thể trốn thoát.
Thời gian trôi đưa, con kỳ đà nhỏ nay trở thành to lớn,
trong khi con tắc kè hoa thì không lớn thêm được chút nào. Và rồi cảm thấy đau
đớn mỗi khi bị con kỳ đà to lớn ôm ấp, con tắc kè hoa đoán biết rằng nó sẽ bị
giết chết nếu sự việc cứ tiếp tục như thế thêm một vài ngày nữa, vì thế nó quyết
định cấu kết với một gã thợ săn để huỷ diệt toàn bộ giòng họ kỳ đà.
Một hôm, vào mùa hè, sau một trận mưa giông, những con
kiến từ tổ bò ra, và những con kỳ đà đã bổ đi khắp nơi để bắt kiến ăn. Bấy giờ,
một người bẫy kỳ đà mang cuốc và dẫn những con
chó đi vào rừng để đào bắt kỳ đà. Con tắc kè hoa muốn dẫn dụ người đánh bẫy nên
đi đến nằm trước mặt ông ta và hỏi ông ta vào rừng làm gì. Người đánh bẫy trả
lời:
- Ta vào rừng để bắt kỳ đà.
Nghe thế, tắc kè hoa nói:
- Hay lắm, ở đây tôi biết có một hang kỳ đà có hàng trăm
con. Hãy mang lửa và cỏ theo tôi.
Nói rồi, nó đưa người đánh bẫy đến nơi những con kỳ đà
sống và nói:
- Bây giơ ông hãy chất cỏ vào đây và xông khói những con
kỳ đà. Hãy đặt những con chó của mình ở xung quanh và cấm lấy một cây gậy lớn
chực sẵn. Rồi khi những con kỳ đà chạy ra, hãy đập chúng chết và chất thành
đống.
Nói vậy xong, con tắc kè hoa phản bội rút lui ở một nơi
gần đó. Ở đấy, nó nằm xuống với cái đầu ngẩng lên, tự nhủ thầm: “Hôm nay ta sẽ
nhìn thấy sự bại vong của kẻ thù ta.”
Người đánh bẫy bắt đầu xông khói vào hang kỳ đà. Những
con kỳ đà vì sợ mất mạng nên từ trong hang chạy tán loạn ra. Khi chúng chạy ra
ngoài, người đánh bẫy lấy gậy đập vào đầu chúng, và nếu con nào bị đánh trượt
thì chúng sẽ trở thành mồi cho lũ chó của ông ta. Và như vậy, có một sự sát hại
thảm khóc đối với loài kỳ đà. Biết rằng đây chính là việc làm của con tắc kè
hoa, Bồ-tát kêu lớn lên:
- Không nên kết thân với loài độc ác, vì như vậy sẽ mang
lại sầu khổ cho đồng loại của mình. Hãy xem, chỉ vì một con tắc kè hoa độc ác mà
đã làm cho tất cả những con kỳ đà này phải chịu tai họa.
Nói vậy xong, Bồ-tát bèn trốn thoát ra ngoài bằng con
đường thoát hiểm đã được đào sẵn, và trong khi chạy ra đã đọc lên bài kệ:
Kết thân với bạn xấu
Thì không tốt cho ta
Chỉ vì kết bạn thân
Với con tắc kè hoa
Mà giòng họ kỳ đà
Đã phải chịu mất mạng.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là con tắc kè hoa, Tỳ-kheo
lừa dối này là con kỳ đà con ương ngạnh, còn ta chính là kỳ đà chúa.
Số 142
CHUYỆN CON CHÓ RỪNG
(Tiền thân Sigāla)
Ông nắm chặt cây gậy…
Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về âm mưu muốn giết hại Ngài của Đề-bà-đạt-đa.
Khi nghe các Tỳ-kheo tập họp lại trong Chánh pháp đường
bàn luận vấn đề, đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheo, vào đời trước, Đề-bà-đạt-đa cũng đã
từng hành động như vậy, tuy thế việc làm của ông ta bị thất bại. Và do vì chủ
tâm xấu ác của mình mà ông ta đã chịu khổ nhọc.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh
làm một con chó rừng, sống trong một khu rừng nghĩa địa cùng với một đàn chó
rừng đông đúc, và là vua của đàn chó này. Bấy giờ, có một lễ hội được tổ chức
tại thành Vương Xá (Rājagaha). Đây là một lễ hội mà mọi người tham gia đều uống
rượu nồng.
Bấy giờ, có một nhóm những kẻ ăn chơi, mang theo nhiều đồ
ăn thức uống, trưng diện áo quần đẹp nhất, ngồi ca hát và vui vẻ ăn uống. Vào
lúc nửa đêm, họ ăn hết thịt nhưng rượu thì còn nhiều. Thế rồi khi một người
trong bọn họ đòi xin thêm thịt thì được bảo rằng thịt đã hết. Người này nói:
- Thức ăn không bao giờ thiếu trong khi ta còn đứng đây.
Ta sẽ đi đến khu rừng nghĩa địa, giết một chó rừng lảng vảng ăn thịt ở đấy và
mang thịt trở về.
Nói vậy xong, anh ta chụp lấy một cây gậy, ra khỏi kinh
thành để đến nghĩa địa qua đường một ống cống. Ở đó, anh ta nằm xuống, nắm gậy
trong tay và giả vờ đã chết. Vừa lúc ấy, Bồ-tát cùng với những con chó rừng khác
đi đến nơi ấy và nhìn thấy xác chết giả vờ này. Nghi ngờ có sự đánh lừa, Bồ-tát
quyết định kiểm tra vấn đề. Vì thế, Bồ-tát đi vòng xuống phía dưới gió và qua
việc đánh hơi đã biết ngay rằng người này không phải là một xác chết thật sự.
Quyết định làm cho người kia xấu hổ trước khi bỏ đi, Bồ-tát lén bò đến gần và
dùng răn cắn lấy cây gậy kéo đi. Gã ăn chơi không biết Bồ-tát đến. Gã không chịu
buông cây gậy mà nắm lấy cây gậy chặt hơn. Thế rồi, Bồ-tát thụt lui một vài bước
và nói:
- Này ông bạn, nếu ông bạn đã chết thì ông bạn sẽ không
nắm chặt cây gậy như vậy khi tôi kéo nó. Rõ ràng là ông bạn đang đánh lừa kẻ
khác.
Nói vậy xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ này:
Ông nắm chặt cây gậy
Do đó tôi biết ông
Rõ ràng đang đánh lừa
Mà không phải xác chết.
Biết sự việc đã bị vạch trần, gã ăn chơi bật đứng dậy và
ném cây gậy vào Bồ-tát, nhưng anh ta không ném trúng. Anh ta nói:
- Hãy cút đi con vật kia. Lần này ta đã để sổng mày.
Bồ-tát quay đầu lại và nói:
- Ngươi thật sự để sổng ta, nhưng ngươi chắc chắn không
sổng khỏi những khổ đau trong đại địa ngục và mười sáu địa ngục nhỏ.
Gã ăn chơi tay không rời khỏi nghĩa địa. Rồi sau khi tắm
rửa ở một rãnh nước, gã đi vào kinh thành bằng con đường mà gã đã đi ra.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là gã ăn chơi kia, còn ta chính
là vua chó rừng.
Số 143
CHUYỆN CON SƯ TỬ
(Tiền thân Virocana)
Xác ngươi bị nghiền nát...
Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về những nỗ lực của Đề-bà-đạt-đa tại Gayāsisa nhằm tự cho mình là bậc
Toàn Giác.
Khi thiền định biến mất, Đề-bà-đạt-đa đã đánh mất thanh
danh và lợi dưỡng mà trước đây mình có. Rồi trong tình trạng bối rối, ông ta yêu
cầu đức Thế Tôn hãy thừa nhận năm điểm mà ông đưa ra. Điều này bị từ chối, ông
ta bèn phá hòa hợp Tăng và đi đến Gayāsila cùng với năm trăm Tỳ-kheo trẻ, là
những đệ tử của hai thượng thủ đệ tử của đức Thế Tôn, những người chưa thuần
thục trong Pháp và Luật. Với hội chúng này, Đề-bà-đạt-đa đã thực hiện những Tăng
sự riêng biệt, ở tại những trú xứ riêng biệt.
Sau đó, khi biết rõ trí của những Tỳ-kheo trẻ này đã đến
hồi thuần thục, đức Thế Tôn bèn đưa hai Đại đệ tử đến gặp họ. Khi nhìn thấy hai
vị đến, Đề-bà-đạt-đa lấy làm hoan hỉ và ông đã thuyết giảng suốt đêm. Khi thuyết
giảng như vậy, ông luôn cố tỏ ra mình có đủ tài đức của một vị Phật. Rồi tự cho
mình là một vị Phật, ông nói:
- Này hiền giả Xá-lợi-phất, hội chúng vẫn còn thức và
tỉnh táo. Mời Hiền giả thuyết pháp cho họ nghe. Lưng ta đã đau vì công việc. Ta
cần nghỉ ngơi trong chốc lát.
Nói vậy xong, ông ta bỏ đi nằm ngủ. Thế rồi hai vị thượng
thủ đệ tử đã thuyết giảng cho các Tỳ-kheo, làm cho họ giác ngộ về Đạo và Quả,
rồi sau đó đem họ trở lại tinh xá Trúc Lâm.
Thấy tinh xá không còn bóng dáng Tỳ-kheo nào, Kokālika đi
đến Đề-bà-đạt-đa và nói:
- Hiền giả, hai vị thượng thủ đệ tử đã giải tán hội chúng
của hiền giả và để lại tinh xá trống không, vậy mà hiền giả vẫn còn nằm đây ngủ.
Nói vậy xong, Kokālika lột thượng y của Đề-bà-đạt-đa và
đá vào ngực ông không chút thương tiếc như thể đá một cái cọc vào vách đất. Máu
từ trong miệng Đề-bà-đạt-đa trào ra. Và từ hôm đó, do ảnh hưởng bởi trận đòn này
mà ông thường xuyên bị ốm đau hành hạ.
Đức Thế Tôn hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
- Này Xá-lợi-phất, Đề-bà-đạt-đa đã làm gì khi thầy đến
đó?
- Bạch Thế Tôn, Đề-bà-đạt-đa tự cho mình là một vị Phật,
bắt chước làm theo như thế nhưng đã gặp tai họa.
Đức Thế Tôn nói:
- Này Xá-lợi-phất, giống như bây giờ vậy, đời trước
Đề-bà-đạt-đa cũng bắt chước ta và đã gặp tai họa.
Sau đó theo lời thỉnh cầu của Tôn giả, đức Thế Tôn kể câu
chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh
làm một con sư tử có bờm lông dài, sống tại hang Vàng ở vùng Tuyết sơn. Một hôm,
sư tử đi ra khỏi hang, ngước mặt nhìn bốn phương rồi rống lớn lên khi đi tìm
mồi. Giết một con trâu lớn, sư tử ăn phần thịt ngon nhất. Sau khi ăn thịt xong,
sư tử đi xuống một hồ nước, uống đầy nước trong như pha lê rồi trở về hang của
mình.
Bấy giờ, có một con chó rừng đang vội vã chạy, bất ngờ
nhìn thấy sư tử, không thể trốn thoát được nên sụp người xuống nơi chân sư tử.
Sư tử hỏi:
- Này chó rừng, ngươi muốn gì?
- Thưa ngài, xin nhận con làm người hầu của ngài.
- Hay lắm, hầu hạ ta người sẽ được ăn phần thịt ngon
nhất.
Nói vậy xong, sư tử đưa sói trở về hang Vàng. Từ đó về
sau, chó rừng được ăn phần thịt thừa của sư tử và chẳng bao lâu thì trở nên to
mập.
Một hôm, nằm trong hang, sư tử bảo chó rừng hãy trèo lên
đỉnh núi để quán sát các thung lũng phía dưới, nếu thấy muốn ăn thịt con voi,
con ngựa hay con trâu...nào thì hãy đến cung kính thưa với sư tử rằng: Thưa ông
chủ, xin ngài hãy thể hiện sức mạnh của mình. Lúc đó Sư tử sẽ giết chết con thú
đó để ăn thịt và cho chó rừng một phần. Từ đó, chó rừng thường leo lên những
đỉnh núi cao, và mỗi khi nhìn thấy con thú nào bên dưới mà nó muốn ăn thịt thì
nó sẽ thuật lại điều đó với sư tử bằng cách quý xuống nơi chân sư tử và nói:
“Thưa ông chủ, xin ngài hãy thể hiện sức mạnh của mình.” Ngay sau đó, sư tử sẽ
nhanh chống đi đến giết chết con thú, dầu đó là một con voi động dục, rồi cùng
với chó rừng ăn phần thịt ngon nhất. Chén no nê phần thịt của mình xong, chó
rừng trở về hang của mình ngủ.
Thời gian trôi qua, chó rừng ngày càng trở nên to lớn và
tính kiêu ngạo cũng bắt đầu xuất hiện. Nó tự nhủ: “Lẽ nào ta không phải là một
sinh vật bốn chân? Vậy tại sao ngày lại ngày ta cứ làm kẻ nhận sự bố thí của kẻ
khác chứ? Từ này về sau, ta sẽ tự giết voi và các loài thú khác để ăn thịt. Sư
tử vua của loại thú chỉ giết chúng bằng thể thức: ‘Thưa ông chủ, xin ngài thể
hiện sức mạnh của mình.’ Ta sẽ bắt sư tử gọi ta: ‘Thưa chó rừng, xin ngài hãy
thể hiện sức mạnh của mình.’ Ta sẽ tự giết con voi để ăn thịt.” Nghĩ thế, nó đi
đến sư tử, nói rằng lâu nay nó đã sống nhờ vào thịt thú mà sư đã giết, và bây
giờ nó muốn ăn một con voi do chính nó giết. Rồi sau cùng nó yêu cầu sư tử hãy
để cho nó nằm ở chỗ nằm của sư tử ở hang Vàng, trong khi sư tử phải leo lên đỉnh
núi để tìm kiếm một con voi. Và khi nào thấy được con mồi, nó yêu cầu sư tử nên
đến gặp nó ở trong hang và nói: “Thưa ngài chó rừng, xin ngài hãy thể hiện sức
mạnh của mình.” Nó cầu xin sư tử đừng bực mình về điều này. Sư tử nói:
- Này chó rừng, chỉ có loài sư tử mới có thể giết được
loài voi, chưa từng thấy trên đời này một con chó rừng có thể đương đầu nổi với
loài voi. Từ bỏ ảo tưởng đó đi và hãy tiếp tục ăn thịt do ta giết.
Mặc dù sư tử nói như vậy nhưng chó rừng vẫn không từ bỏ ý
định ấy, nó tiếp tục nài nỉ yêu cầu. Thế là cuối cùng sư tử đành chịu nhượng bộ,
bảo chó rừng nằm trong hang, còn mình trèo lên đỉnh núi, và ở đấy sư tử đã nhìn
thấy một con voi đang trong thời kỳ động dục. Sư tử quay về đứng nơi cửa hang và
nói:
- Thưa ngài chó rừng, xin hãy thể hiện sức mạnh của mình.
Thế là từ trong hang Vàng, chó rừng lao nhanh ra khỏi
hang, ngước đầu nhìn quanh bốn hướng và cất lên ba tiếng hú. Rồi nó nhảy vồ lên
con voi, dự định túm chặt đầu voi. Nhưng không thể thành tựu được ý định đó, chó
rừng bị rơi xuống nơi chân voi. Con voi tức giận, đưa chân phải của mình lên và
nghiền nát đầu con chó rừng, chà nát xương nó thành bột. Rồi sau khi nghiền nát
xác con chó và gom nó lại thành một đống, con voi đại tiện lên đấy rồi rống lên
lớn tiếng và chạy vào rừng. Nhìn thấy toàn bộ sự việc này, Bồ-tát nói lên bài
kệ:
Xác ngươi bị nghiền nát
Não ngươi biến thành bùn
Hôm nay ngươi chứng minh
Sức mạnh của chính mình.
Rồi Bồ-tát sống hết tuổi thọ và sau đó tái sanh theo hành
nghiệp của mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là chó rừng, còn ta chính là sư
tử.
Số 144
CHUYỆN CÁI ĐUÔI BÒ
(Tiền thân Naṅguṭṭha)
Ôi lửa thần hèn hạ...
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về những du sĩ lõa thể tà mạng Ajivikas. Tương truyền rằng, những du
sĩ này thường thực hành những pháp tu khổ hạnh sai lạc ở phía sau tinh xá Kỳ
Viên. Nhiều Tỳ-kheo cảm thấy bối rối khi nhìn thấy các du sĩ này chịu đau đớn để
thực hành những phương pháp khổ hạnh như ngồi chồm hỗm, đu đưa qua lại trên
không giống như những con dơi, nằm trên gai, tự đốt cháy mình bằng năm ngọn lửa
và nhiều pháp tu khổ hạnh sai lạc khác, nên đã hỏi đức Thế Tôn rằng có lợi ích
gì trong những pháp tu như vậy không. Đức Thế Tôn trả lời:
- Này các Tỳ-kheo, không có bất kỳ lợi ích nào cả trong
các pháp tu đó. Vào đời trước, những bậc hiền trí nghĩ rằng những pháp tu khổ
hạnh sẽ đem lại lợi ích nên đã mang ngọn lửa ngày sinh của mình vào rừng. Nhưng
rồi nhận thấy rằng việc tế lễ lửa thần hay các pháp tu tương tự như vậy không
đem lại kết qủa gì nên họ lập tức lấy nước dập tắt ngọn lửa ấy. Rồi sau
nhờ tu tập thiền định, họ đã đạt được Thắng trí cùng Thiền chứng và được sanh về
Phạm thiên giới.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại,
Bồ-tát sanh vào một gia đình Bà-la-môn ở miền Bắc. Vào ngày sanh Bồ-tát, cha mẹ
đã đốt lên ngọn lửa ngày sinh.
Năm Bồ-tát mười sáu tuổi, cha mẹ đã nói với Bồ-tát thế
này:
- Này con trai, vào ngày sinh của con, cha mẹ đã đốt lên
cho con một ngọn lửa sinh nhật. Bây giờ con hãy chọn lựa: nếu con muốn sống đời
sống gia đình thì hãy học tập ba bộ Vệ-đà, còn nếu con muốn sanh lên Phạm thiên
giới thì hãy mang ngọn lửa của con vào rừng và phụng thờ nó ở đấy, như vậy con
sẽ được ân sủng của Đại Phạm thiên và về sau được sanh lên Phạm thiên giới.
Bồ-tát thưa với cha mẹ rằng đời sống gia đình không đem
lại cho mình niềm vui. Sau đó đi Ngài đi vào rừng, dựng một thảo am để sống và
phụng thờ ngọn lửa. Một hôm, dân chúng ở một ngôi làng biên địa đã cúng cho
Bồ-tát một con bò. Khi dắt con bò về thảo am, Bồ-tát nghĩ sẽ cúng tế con bò cho
Thần lửa. Nhưng thấy không có muối, và nghĩ rằng Thần lửa không thể ăn thịt dâng
cúng của mình mà không có muối, nên Bồ-tát quyết định trở lại ngôi làng để xin
muối. Thế rồi, Bồ-tát cột con bò và trở lại ngôi làng.
Trong khi Bồ-tát ra đi, một toán thợ săn đã kéo đến nơi
ấy. Nhìn thấy con bò, họ liền giết nó để lấy thịt ăn buổi tối. Ăn uống xong, họ
mang số thịt còn thừa ra đi, chỉ để lại cái đuôi, bộ da và bốn cái chân. Bồ-tát
quay trở về, thấy chỉ còn lại những thứ này thì nghĩ: “Thần lửa này không thể hộ
trì được cho chính mình thì làm sao hộ trì được cho ta chứ? Thật phung phí thời
gian để săn sóc nó, trong khi nó không đem lại được chút thiện ích nào.”
Mất hết ý muốn phụng thờ Lửa thần, Bồ-tát nói:
- Hỡi Lửa thần, nếu ngài không thể hộ trì được cho chính
ngài thì làm sao ngài có thể hộ trì được cho tôi? Thịt không còn nữa, vậy ngài
phải dùng những thứ dư thừa này vậy.
Nói vậy xong, Bồ-tát ném vào ngọn lửa cái đuôi cùng những
thứ mà những tên ăn trộm đã để lại, và ngài đọc lên bài kệ này:
Ôi thần lửa hèn hạ
Đây đuôi dành cho ngài
Hãy nghĩ mình may mắn
Vì nhận được quá nhiều!
Thịt ngon đã mất hết
Hôm nay hãy nhận đuôi!
Nói vậy xong, bậc Đại sĩ lấy lửa dập tắt ngon lửa và bỏ
đi. Rồi Ngài xuất gia làm ẩn sĩ, chứng được Thắng trí cùng Thiền định, và về sau
được sanh lên Phạm thiên giới.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Thuở đó, ta chính là vị ẩn sĩ đã dập tắt ngọn lửa.
Số 145
CHUYỆN CON VẸT RADHA
(Tiền thân Rādha)
Nửa đêm bao người đến...
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một Tỳ-kheo luyến ái người vợ cũ thuở còn tại gia. Những tình tiết
của câu chuyện sẽ được trình bày ở chuyện số 423, Tiền thân Idriya.
Ở đây, đức Thế Tôn nói với Tỳ-kheo này:
- Này Tỳ-kheo, không thể canh giữ được nữ nhân, không thể
canh giữ được dù có sắp đặt. Vào đời trước, chính thầy đã thấy rằng mọi canh gác
của mình đều là vô ích, thế thì nay thầy có thể mong thành công được sao?
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát thọ
sanh làm một con vẹt. Một Bà-la-môn ở nước Ca-thi (Kāsi) đã nhận làm cha của hai
anh em Bồ-tát và đối xử với họ như con của mình. Bồ-tát có tên là Poṭṭhapāda, và
người em có tên là Rādha.
Bấy giờ, Bà-la-môn này có một người vợ xấu xa trắc nết.
Một hôm, có việc phải vắng nhà, Bà-la-môn đã nói với hai chú vẹt:
- Này hai con, nếu mẹ của hai con để tâm làm việc tà hạnh
thì hai con hãy ngăn cản nhé.
Bồ-tát nói:
- Thưa cha, chúng con sẽ làm điều đó nếu chúng con thấy
có thể. Còn nếu thấy không thể thì chúng con sẽ gữ im lặng.
Rồi sau khi giao hai chú vẹt cho vợ mình trông coi,
Bà-la-môn liền ra đi. Từ ngày hôm đó, ngày nào vợ của ông cũng làm điều tà hạnh.
Những tình nhân của bà ra vào nhà không ngớt. Bức xúc khi thấy cảnh này, Radha
nói với Bồ-tát:
- Anh ạ, cha chúng ta trước lúc ra đi có bảo chúng ta
phải ngăn chặn việc làm tà hạnh của mẹ, bây giờ mẹ suốt ngày không làm điều gì
ngoài hành tà hạnh. Vậy chúng ta hãy ngăn chặn mẹ.
Bồ-tát nói:
- Này em, em nói năng thật điên rồ. Dù em có thể dùng tay
mang bà ta đi thì cũng không thể giữ được bà ta. Chớ có làm điều không thế ấy.
Nói vậy xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ:
Nửa đêm bao người đến
Này em, em có hay?
Em thật quá khờ dại
Khi có ý định này.
Tình người vợ không thể
Kiềm chế dục bà này.
Trình bày lý do như vậy xong, Bồ-tát không cho phép em
mình nói với nữ Bà-la-môn. Và bà này cứ vậy tiếp tục làm điều tà quấy một cách
thỏa thích trong lúc chồng vắng nhà. Khi trở về, Bà-la-môn đã hỏi Potthapada về
việc làm của vợ mình. Bồ-tát đã thành thật thuật lại tất cả những gì đã xảy ra
và nói:
- Thưa cha, tại sao cha lại đi quan hệ với một phụ nữ xấu
xa như vậy.
Rồi Bồ-tát nói thêm:
- Thưa cha, con đã thuật lại với cha những việc làm xấu
xa của mẹ con, bây giờ chúng con biết là mình không thể ở đây được nữa.
Nói vậy xong, Bồ-tát cúi lạy nơi chân vị Bà-la-môn rồi
cùng với Radha bay vào rừng.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn thuyết giảng Tứ thánh
đế. Kết thúc thời pháp, Tỳ-kheo luyến ái người vợ cũ tại gia chứng được quả Dự
lưu. Rồi đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, hai vợ chồng này là hai vợ chồng
Bà-la-môn, A-nan là Rādha, còn ta chính là Poṭṭhapāda.
Số 146
CHUYỆN CON QỤA
(Tiền thân Kāka)
Cổ chúng ta mệt mõi...
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một số Tỳ-kheo lớn tuổi. Tương truyền rằng, những người này khi
còn sống đời tại gia, họ là những vị điền chủ giàu có ở thành Xá-vệ và đều là
bạn bè của nhau. Rồi khi cùng nhau làm việc phước đức, họ đã được nghe đức Thế
Tôn thuyết giảng. Họ nói:
- Chúng ta nay đã già. Nhà cửa, gia sản nay đối với chúng
ta còn có nghĩa gì chứ? Vậy chúng ta hãy xuất gia, thực hành theo giáo pháp từ
bi của đức Phật để diệt trừ khổ đau.
Thế là họ chia hết tài sản của mình cho các con. Rồi từ
giã quyến thuộc đang đầm đìa nước mắt, họ đến đảnh lễ đức Thế Tôn cầu xin xuất
gia. Nhưng khi gia nhập vào Tăng đoàn, họ đã không thực hành theo đời sống của
người xuất gia. Và bởi vì tuổi đã cao, họ không thông hiểu được Giáo pháp. Giống
như khi còn sống đời gia chủ, bây giờ đã là Tỳ-kheo họ cũng vậy, họ xây dựng một
xóm am thất bên cận tinh xá và sống với nhau ở đấy. Còn mỗi khi đi khất thực, họ
thường đến nhà vợ, nhà con cái của mình và ăn uống tại đấy. Ngoài ra, các vị lớn
tuổi này thường được bà vợ của một người trong họ cúng dường, và họ thường mang
thức ăn khất thực được đến nhà này để ăn ở đấy cùng với món canh, ca ri mà bà
này cung cấp. Rồi khi ba này bị bệnh và qua đời, các Tỳ-kheo lớn tuổi trở về
tinh xá, bắt đầu ôm cổ nhau đi quanh khóc than về cái chết của người thí chủ đã
cúng dường canh và ca ri cho họ.
Nghe tiếng khóc than ồn ào của những người này, các
Tỳ-kheo muốn biết nguyên nhân khiến những người kia đau khổ nên đi đến nơi ấy.
Rồi những Tỳ-kheo lớn tuổi đã kể lại sự kiện người thí chủ tốt bụng của họ đã
qua đời, và rằng họ khóc bởi họ đã mất bà ta, sẽ không bao giờ được gặp bà nữa.
Các Tỳ-kheo sửng sốt trước cách hành xử sai trái này. Sau đó, chư vị tập họp lại
trong Chánh pháp đường và bàn về nguyên nhân khiến những Tỳ-kheo lớn tuổi kia
đau khổ. Đức Thế Tôn bước vào Chánh pháp đường và hỏi chư vị đang bàn luận điều
gì. Khi nghe vấn đề, Ngài nói:
- Này các Tỳ-kheo, vào đời quá khứ, cũng chính cái chết
của người phụ nữ này đã khiến cho họ đi khắp nơi khóc than. Thuở đó, khi bà ta
là một con qụa và bị chết đuổi ngoài biển, những người này đã khổ nhọc tát nước,
nghĩ rằng sẽ làm cạn nước biển để tìm kiếm nó. Và rồi họ được người hiền trí cứu
giúp.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh
làm một vị thần biển. Bấy giờ, có một con quạ cùng với vợ mình đáp xuống tìm mồi
trên bờ biển, nơi mà một vài người vừa bỏ đi sau khi dâng cúng cho rắn thần sữa,
cơm, cá, thịt, rươu...Con quạ cùng với vợ bay đến ăn thỏa thích những đồ cúng tế
và uống rất nhiều rượu, và cả hai đều bị say. Sau đó vì muốn chơi đùa trên biển
nên chúng đã bơi trên những con sóng để nô đùa. Khi ấy, một cơn sóng ập đến cuốn
con qụa mái đi và một con cá đã bơi đến nuốt lấy nó.
- Ôi, người vợ đáng thương của tôi bị chết rồi.
Con quạ trống kêu lên và sầu bi khóc than. Nghe tiếng
than khóc của nó, một đàn quạ đông đúc đã kéo đến nơi ấy và hỏi con quạ trống
rằng điều gì đã làm cho nó khổ đau. Và khi nghe nó kể lại sự việc vợ nó đã bị
sóng cuốn trôi ra biển, cả đàn quạ cùng đồng thanh khóc than. Bất chợt chúng
khởi lên suy nghĩ rằng, chúng có sức mạnh hơn biển cả, và rằng tất cả chúng phải
tát cạn biển để cứu người bạn của chúng! Thế là chúng bắt đầu dùng mỏ hớp từng
ngụm nước để làm cạn biển. Rồi khi cổ họng chúng bị nước muối làm cho đau rát
chúng bèn lên bờ nghỉ ngơi. Cứ như vậy chúng quần quật làm việc, mãi đến khi
miệng và hàm của chúng khô cháy còn mắt của chúng đỏ ngầu lên, và chúng sắp rơi
xuống vì kiệt sức. Thế rồi trong nỗi tuyệt vọng, chúng họp mặt lại và nói với
nhau:
- Thật vô ích khi chúng ta dóc sức tát cạn nước biển. Vì
khi chúng ta vừa lấy nước đem đi đổ thì tại chỗ đó nước đã đầy lại ngay. Chúng
ta cứ mãi làm thế này những sẽ không bao giờ tát cạn được nước biển.
Nói vậy xong, chúng đọc lên bài kệ:
Cổ chúng ta mệt mõi
Miệng chúng ta cháy khô
Nhưng biển cả thì vẫn
Đầy mãi không khô cạn.
Sau đó, cả đàn quạ bắt đầu cất tiếng ca ngợi vẻ đẹp của
quạ cái:
- Ôi! Mắt, mỏ, lông và hình dáng của nàng thật đẹp; tiếng
nói của nàng thật dịu ngọt. Chính vẻ đẹp của nàng đã khiến biển cả ghen tức nên
biển đã cướp nàng đem đi.
Và khi chúng cùng cất lên những lơi vô nghĩa này thì thần
biển từ ngoài khơi, hoá hiện thành một con yêu quái đến đuổi chúng đi, và nhờ
cách đó chúng được an toàn.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Thuở đó, vợ của Tỳ-kheo lớn tuổi là con quạ mái, người
chồng là con quạ trống, các Tỳ-kheo lớn tuổi kia là đàn quạ, còn ta chính là
thần biển.
Số 147
CHUYỆN ÁO VẢI ĐỎ
(Tiền thân Puppharatta)
Ta không đau nỗi đau...
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về một Tỳ-kheo luyến ái. Bấy giờ đức Thế Tôn hỏi:
- Này Tỳ-kheo, có thật là thấy luyến ái không?
- Bạch Thế Tôn, thật có như vậy?
- Thầy luyến ái ai?
- Bạch Thế Tôn, đó là người vợ cũ thuở con còn tại gia.
Cô ấy là một phụ nữ quá duyên dáng và xinh đẹp đến độ con không thể sống khi
thiếu cô ấy.
Đức Thế Tôn nói:
- Này Tỳ-kheo, cô ta có hại cho thầy đấy. Vào đời trước,
chính vì cô ta mà thầy bị đâm trên cọc nhọn, và chính vì lúc sắp mạng chung thầy
cứ lảm nhảm khóc thương cô ta mà đã bị tái sanh vào địa ngục. Thế thì tại sao
bây giờ thầy lại luyến ái cô ta.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ sau.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh
làm vị thần ở trên không trung. Bấy giờ tại Ba-la-nại, lễ hội đêm Kattikā được
tổ chức. Thành phố được trang hoàng như thành phố của chư thiên, và mọi người
đều tham gia lễ hội. Có một người đàn ông nghèo nọ chỉ có một đôi áo vải thô.
Anh ta giặt và ủi đôi áo cho đến khi áo có đến trăm ngàn nếp gấp. Nhưng vợ anh
ta nói:
- Chàng ạ, khi choàng vai chàng đi chơi hội, thiếp muốn
có một chiếc áo màu đỏ để mặc ngoài và một chiếc để mặc trong.
- Nàng ạ, nghèo như chúng ta thì kiếm đâu ra áo màu đỏ.
Hãy mặc chiếc áo sạch đẹp này để đi chơi hội vậy.
- Nếu không có những chiếc áo màu đỏ thì thiếp không đi
chơi đâu cả. Chàng hãy kiếm một nữ nhân khác mà cùng đi chơi hội.
- Sao nàng lại làm khổ ta vậy? Chúng ta làm sao kiếm được
áo đỏ chứ?
- Mỗi khi đã muốn thì sẽ có cách. Không phải trong
kho của vua có áo màu đỏ sao?
- Nàng ạ, kho của nhà vua thì như cái hồ có quỷ dạ xoa ở.
Ở đó được canh giữ chặt chẽ nên không thể vào được. Hãy từ bỏ ảo tưởng này đi và
bằng lòng với những gì nàng có.
- Nhưng vào ban đêm tối trời thì có điều gì ngăn chặn
được một người muốn đến nơi mình thích?
Cô ta khăng khăng nài nỉ như vậy, và chàng trai vì yêu cô
nên đã chịu nhượng bộ và hứa sẽ làm theo ý muốn của cô. Liều cả mạng sống, vào
ban đêm, chàng trai đi ra khỏi thành, phá hàng rào và đột nhập vào kho vua.
Tiếng động do việc phá rào đã đánh thức những người canh gác. Họ vùng dậy và bắt
lấy tên trộm. Rồi khi bắt được anh ta, họ chửi rủa, đánh đập và trói anh ta lại.
Vào sáng hôm sau, họ đưa anh ta đến trước nhà vua. Nhà vua lập tức hạ lệnh lấy
cọc nhọn đâm sống anh ta. Thế là họ trói hai tay anh ta lại sau lưng, kéo anh ta
ra khỏi kinh thành cùng với tiếng trống báo hiệu hành quyết, rồi sau đó đâm sống
anh ta. Anh ta cảm thấy đớn đau cực độ. Thêm nữa, những con qua đậu ở trên đầu
anh ta đã dùng miệng nhọn như dao găm mổ mắt anh ta. Tuy vậy, anh ta không để ý
đến nỗi đớn đau ấy mà chỉ nghĩ đến vợ mình. Anh ta than khóc: “Ôi, vậy là ta
không được đi chơi lễ hội với nàng khi nàng mặc áo màu hoa đỏ và quàng tay qua
cổ ta.”
Than vậy xong, anh ta đọc lên bài kệ:
Ta không đau nỗi đau
Bị cọc nhọn đâm qua
Cũng không đau nỗi đau
Qụa mổ vào mắt ta.
Mà nỗi đau thật sự
Là vợ ta không được
Mặc áo màu hoa đỏ
Tham dự ngày lễ hội.
Anh ta lảm nhảm về vợ của mình như vậy, rồi sau đó chết
và tái sanh về địa ngục.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Hai vợ chồng bây giờ cũng chính là hai vợ chồng thuở
ấy, còn ta thuở ấy là vị Thần ở trên không trung đã chứng kiến toàn bộ câu
chuyện.
Số 148
CHUYỆN CON CHÓ RỪNG
(Tiền thân Sigāla)
Một lần khiếp đến già...
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu
chuyện này về việc ly dục.
Chuyện kể rằng, có năm trăm người bạn giàu có, là con
trai của những phú thương ở thành Xá-vệ, sau khi nghe đức Thế Tôn thuyết giảng,
đã phát khởi niềm tin vào giáo pháp và xuất gia sống ở tinh xá Kỳ Viên, nơi mà
Trưởng giả Cấp Cô Độc đã mua nó bằng số tiền vàng lát khắp khu vườn.
Một hôm nọ, vào lúc nửa đêm, những niệm tưởng dục tham
khởi lên trong tâm trí của những vị này, và trong cơn phiền não ấy, họ đã chấp
trước những dục tham mà họ đã từ bỏ. Vào lúc ấy, đức Thế Tôn dương lên ngọn đèn
nhất thiết trí của mình để soi xét xem các Tỳ-kheo ở Kỳ Viên có bị dục tham chi
phối hay không. Và khi quán chiếu tâm tưởng của những người này, Ngài nhận biết
rằng các dục tham đang khởi lên trong tâm họ. Như người mẹ chăm sóc đứa con duy
nhất của mình, hay như người bị chột mắt cẩn thận với con mắt còn lại, đức Thế
Tôn chăm sóc những đệ tử của mình cũng như thế. Vào buổi sáng hay bất cứ thời
khắc nào phiền não sinh khởi, xung đột trong tâm người đệ tử, Ngài sẽ không để
cho họ bị phiền não khống chế trói buộc mà ngay trong chính thời khắc ấy, Ngài
sẽ chế ngự những dục tham ấy của họ. Do vậy, đức Thế Tôn nghĩ: “Sự kiện này cũng
giống như khi những tên trộm đột nhập vào kinh thành của một vị vua, nay ta sẽ
thuyết giảng giáo pháp ngay cho những Tỳ-kheo này, để họ chế ngự phiền não và
chứng đắc A-la-hán.”
Vì thế, Ngài ra khỏi hương phòng, và bằng âm thanh dịu
ngọt đã gọi Tôn giả A-nan, bậc Pháp tạng đến. Tôn giả A-nan đi đến và cung kính
đứng hầu một bên chờ Ngài sai bảo. Thế rồi, đức Thế Tôn bảo Tôn giả hãy tập họp
tất cả các Tỳ-kheo sống ở Kỳ Viên lại trong hương thất của mình. Tương truyền,
bấy giờ đức Thế Tôn nghĩ rằng nếu chỉ triệu tập năm trăm Tỳ-kheo này thì họ sẽ
cho rằng Ngài đã biết được tâm tưởng phiền não của họ, vì thế sẽ sinh lòng bối
rối và rồi không đến tiếp nhận Giáo pháp, do đó Ngài đã cho tập họp tất cả các
Tỳ-kheo trú ở Kỳ Viên. Tôn giả A-nan cầm chìa khoá đi hết phòng này đến phòng
khác để tập họp các Tỳ-kheo cho đến khi tất cả đều tập họp lại trong hương
phòng. Rồi Tôn giả sửa soạn Phật tọa. Trong oai nghi trang nghiêm như núi Tu di
tựa trên mặt đất vững chắc, đức Thế Tôn ngự lên Phật tọa, phát chiếu hào quang
từng vòng từng vòng chồng lên nhau như những vòng hoa sáu màu. Hào quang ấy phân
chia thành từng khối lớn kích cỡ như cái đĩa, như cái lộng, như ngọn tháp, cho
đến khi như những tia sáng chiếu tận đến thiên giới, giống như khi mặt trời mọc
làm chuyển động đáy biển sâu.
Với tâm thành kính vô biên, các Tỳ-kheo đảnh lễ đức Thế
Tôn và ngồi xuống xung quanh Ngài, như bao quanh Ngài bằng một tấm màn màu đỏ
cam. Rồi bằng Phạm âm, đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo thì không nên nuôi dưỡng
ba ý tưởng bất thiện: dục, sân và hại. Đừng bao giờ cho rằng các phiền não khởi
lên trong tâm là vấn đề nhỏ nhặt. Vì các phiền não thì giống như kẻ thù, mà kẻ
thù thì không thể là vấn đề nhỏ, mỗi khi có cơ hội thì kẻ thù sẽ huỷ diệt tất
cả. Cũng như vậy phiền não, mặc dầu nhỏ lúc bắt đầu mới sanh khởi, nhưng khi có
điều kiện để phát triển lên thì nó sẽ hủy diệt tất cả. Phiền não thì như thuốc
độc ở trong thức ăn, như mụt ngứa ở trên da, như sấm sét; hãy tránh xa nó, phải
sợ hãi nó. Hãy lập tức diệt trừ phiền não mỗi khi chúng khởi lên, đựng để chúng
ẩn náu một giây phút nào ở trong tâm. Phải nên loại trừ chúng ngay bằng sức mạnh
của giác sát, giống như giọt nước mưa lăn trôi lập tức khi rơi trên lá sen.
Những bậc hiền trí thuở trước, dầu một phiền não nhỏ cũng vô cùng căm ghét, tìm
cách diệt trừ nó trước khi nó phát triển mạnh lên.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khư này.
* * *
Thuở xưa, Khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại
(Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con chó rừng, sống bên bờ sông trong một khu
rừng nọ. Bấy giờ, có một con voi già nằm chết bên bờ sông Hằng. Và chó rừng
trong khi đi kiếm mồi, đã lấy làm sung sướng khi nhìn thấy một khối thịt lớn như
vậy. Trước tiên chó cắn vào vòi con voi, và thấy rằng nó giống như cái cán cày.
“Cái này không thể ăn được,” chó rừng nói và cắn vào cái ngà. Nhưng cắn vào ngà
thì như cắn vào xương. Thế rồi chó thử cắn vào tai voi, nhưng cắn lỗ tai thì như
cắn vành cái rỗ sàng lúa. Thế là chó trở qua cắn cái bụng, nhưng thấy rằng cái
bụng thì như cái thúng đựng hạt. Những cái chân cũng không tốt hơn gì, vì chúng
giống như cái cỗi giã. Chó tiếp tục cắn lấy cái đuôi, nhưng cái đuôi thì giống
như cái chày. “Không thể ăn được thứ này.” Chó rừng nói. Rồi khi không tìm ra
được nơi nào có thể ăn được, chó rừng bèn thử cắn vào bộ phần đại tiện của con
voi và nhận thấy rằng nó mềm như một cái bánh. Chó nói: “cuối cùng thì ta cũng
đã tìm ra được một nơi có thịt mềm.” Rồi nó theo nơi thích hợp ấy mà ăn vào
trong bụng. Ở trong bụng, chó ăn cật, tim...và uống máu để giải khát. Và khi đêm
đến, chó nằm ngủ ở trong đó. Khi nằm ở trong ấy, chó rừng nghĩ: “Cái xác thú này
vừa cung cấp thịt lại vừa làm nhà cho ta, vậy cớ gì ta phải xa rời nó chứ?” Vì
thế chó ở lại sống trong bụng voi và ăn dần những thứ trong ấy. Thời gian trôi
qua, ánh nắng mặt trời cùng những cơn gió mùa hè đã làm cho bộ da con voi khô
cứng và nhăn nhúm lại, cho đến khi bít lấp lối mà trước đây con chó đi vào. Và
thế là phần bên trong bụng voi bây giờ hoàn toàn tối tăm. Như vậy, con chó sống
tách biệt với thế giới bên ngoài, bị giam cầm nơi nghĩa địa giữa cuộc đời. Rồi
da và thịt con voi bị khô cứng lại còn máu thì cạn kiệt. Con chó sợ hãi tuyệt
vọng, chạy quanh và đập vào khắp nơi trong bụng con voi để mong tìm đường thoát
thân, nhưng sự cố gắng chỉ là vô ích. Như thế, nó cư nhảy lên nhảy xuống trong
đó như một cục bột ở trong nồi nước đang sôi. Rồi một trận mưa giông đổ xuống.
Trận mưa như trút nước đã làm ẩm bộ da thú, khiến nó nở ra và phục hồi lại hình
dạng trước đây của nó, cho đến khi xuất hiện đốm sáng như hình một ngôi sao
chiếu xuyên qua con đường mà trước đó con chó đi vào.
- Ta đã được cứu sống rồi!
Con chó rừng kêu lên và từ phía đầu voi nó lao tới lối đi
ra. Nó xoay xở và thoát ra ngoài, nhưng tất cả lông lá đều rơi rụng hết dọc lối
đi ra. Trước tiên nó bỏ chạy, sau đó nó dừng lại nghỉ, ngồi xuống và ngắm nhìn
cái thân thể giờ đây trơ trụi như một khúc cây cọ dừa. Chó rừng kêu than:
- Ôi, bởi chính lòng tham của ta mà ta gặp nỗi bất hạnh
này. Từ đây về sau, ta sẽ không để cho tham dục chi phối cũng không bao giờ chun
vào xác một con voi nào nữa.
Và nỗi khiếp sợ của chó rừng đã được biểu lộ qua bài kệ
này:
Một lần khiếp đến già
Ôi thật là đáng sợ
Từ này ta xa lấn
Cái bụng của con voi.
Nói vậy xong, chó rừng bỏ chạy, không bao giờ giám nhìn
xác con voi ấy hay bất cứ xác con voi nào khác. Từ dạo ấy, chó rừng không còn bị
tham dục chi phối nữa.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheo, đừng bao giờ để phiền não bám chặt ở
trong tâm. Hãy nhiếp phục chúng ngay nơi chúng sanh khởi.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn tuyên thuyết Tứ thánh đế. Kết
thúc thời pháp, năm trăm Tỳ-kheo đó chứng được quả A-la-hán. Những vị còn lại,
một số chứng được Dự lưu, một số chứng được Nhất lai, và một số chứng được Bất
lai. Rồi đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, ta chính là con chó rừng.
Số 149
CHUYỆN MỘT CHIẾC LÁ
(Tiền thân Ekapaṇṇa)
Cây này dẫu còn nhỏ...
Trong khi trú ở căn nhà có nóc tại Đại lâm gần Tỳ-xá-li
(Vesāli), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một vị thái tử Licchavi độc ác ở
Tỳ-xá-li.
Bấy giờ, thành Vệ-xá-li được hưởng thịnh vượng diệu kỳ.
Kinh thành này có ba lớp thành bao quanh, mỗi lớp cách nhau khoảng một phần tư
dặm, và có ba cổng đi vào cùng với những tháp canh. Trong kinh thành đó, luôn
luôn có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy vị vua cai trị vương quốc. Số phó vương, tướng
lĩnh và quan thủ khố cũng tương đương như vậy. Trong số các vị thái tử của các
vua này, có một người được mệnh danh là Thái tử Licchavi Độc ác, là một chàng
trai hung dữ, sân hận và thô lỗ, luôn trừng phạt và đánh đập người khác giống
như một con rắn điên. Vì bản tính sân hận như vậy nên trước mặt chàng ta, không
một người nào có thể mở miệng nói quá hai ba lời. Cha mẹ, thân tộc, bàn bè không
ai có thể cải đổi chàng ta được. Cuối cùng, cha mẹ chàng trai bất trị này quyết
định đưa chàng đến gặp đức Phật Toàn Giác, vì nhận thấy rằng không có người nào
ngoài Ngài có thể điều phục được tính khí hung dữ của con mình. Thế là họ đưa
chàng trai đến gặp đức Thế Tôn, cung kính đảnh lễ và cầu xin Ngài khuyên dạy cho
chàng. Đức Thế Tôn nói với thái tử:
- Này thái tử, làm người thì không nên sân hận, thô lỗ và
hung ác. Người hung ác thì đối với chạ mẹ đã sinh ra mình, đối với con
cái, đối với anh chị em, và đối với vợ lẫn bạn bè cùng thân tộc họ luôn thô bạo
và không có từ tâm. Kẻ ấy gây ra nỗi sợ hãi, giống như một con rắn lao đến cắn
người, như tên cướp trong rừng nhảy đến chỗ nạn nhân, như con quỷ dạ xoa đi đến
ăn thịt. Người nào hung dữ thì sau khi mạng chung sẽ lập tức bị tái sanh vào địa
ngục hoặc những ác thú. Và ngay trong đời này, dầu khéo được trang sức thì kẻ ấy
vẫn trông xấu xí. Mặt kẻ ấy dù đẹp như mặt trăng tròn đầy cũng sẽ hoá thành xấu
xí như hoa sen bị lửa đốt cháy xém, như gương vàng bị hư hỏng do dơ bẩn. Chính
sự hung dữ như vậy đã đưa người ta đến chỗ dùng gươm tự sát, uống thuốc độc,
treo cổ và gieo mình xuống vực thẳm. Chính vì tính khí hung dữ như vậy nên khi
mạng chung đã bị tái sanh vào ác thú. Cũng như vậy những ai làm hại người khác,
ngay trong đời này họ bị người khác căm ghét và sau khi bỏ thân mạng sẽ bị đọa
vào địa ngục do những ác nghiệp đã tạo. Còn khi được tái sinh lại làm người, họ
sẽ bị các thứ bệnh tật về tai, mắt...vây lấy từ lúc sinh ra cho đến lúc nhắm
mắt. Do đó cần phải tu tập từ tâm và làm việc thiện, nhờ thế sẽ thoát khỏi nỗi
sợ hãi về địa ngục và hình phạt.
Như vậy, nhờ sức mạnh của bài thuyết giáo này mà lòng
kiêu mạn của thái tử lập tức được nhiếp phục. Lòng kiêu mạn và tính ích kỷ biến
mất khỏi thái tử. Tâm tính biến đổi, thái tử trở thành người có nhân từ và
thương yêu. Thái tử không còn mắng chửi hay đánh đập ai nữa, trở nên hiền lành
như một con rắn bị nhổ mất răng nọc, như con cua bị bẻ gảy càng, như con bò bị
bẻ gảy sừng.
Nhìn thấy tính khí thái tử thay đổi như vậy, các Tỳ-kheo
tập họp lại trong Chánh pháp đường và nói về sự kiện Thái tử Licchavi Độc Ác,
người mà cha mẹ dầu có khuyên bảo mấy vẫn không thể cải đổi được, đã được đức
Phật Toàn Giác nhiếp phục chỉ bằng một lời thuyết giáo. Và sự kiện đó giống như
việc thuần phục sáu con voi động dục trong cùng một lúc. Rồi các Tỳ-kheo tán
thán sự kiện này:
- Thưa các pháp hữu, như người huấn luyện voi huấn luyện
con voi cho thuần thục, bắt nó rẽ phải hoặc trái, đi lui hay đi tới theo ý muốn
của mình; tương tự như vậy đối với người huấn luyện ngựa và huấn luyện bò cùng
với ngựa và bò của mình. Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Giác cũng như thế, Ngài
huấn luyện và nhiếp phục con người, hướng dẫn con người đến bất cứ nơi đâu mà
Ngài muốn theo tám hướng, khiến cho đệ tử của mình phân biệt được các hình tướng
bên ngoài. Như vậy đức Phật, và chỉ có Ngài mới được gọi là bậc vô thượng trong
các Đạo sư huấn luyện, là bậc tối thượng trong việc điều phục con người. Thưa
các pháp hữu, thật không có bậc huấn luyện nào giống như đức Phật Chánh Giác.
Bấy giờ, đức Thế Tôn bước vào Chánh pháp đường và hỏi các
Tỳ-kheo đang bàn luận điều gì. Khi được thuật lại vấn đề, Ngài nói:
- Này các Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu tiên chỉ với
một lời thuyết giáo ta đã nhiếp phục được thái tử, mà đời trước ta cũng đã từng
làm như vậy.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát
sanh vào đời làm một vị Bà-la-môn sống ở miền Bắc. Đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát
đến Xoa-thi-la để học tập ba bộ Vệ-đà cùng tất cả các ngành học khác, và sau đó
sống một thời gian đời sống thế tục. Rồi khi song thân qua đời, Bồ-tát xuất là
làm ẩn sĩ, sống ở Tuyết sơn, chứng đắc được Thiền chứng và Thắng trí. Trú ở đấy
một thời gian dài, cho đến khi cần muối và những vật phẩm cần thiết khác, ngài
đã bước xuống con đường nhân thế để đi đến Ba-la-nại. Ở đấy, Bồ-tát trú ở ngự
viên của vua. Ngày hôm sau, Bồ-tát ăn mặc cẩn thận, và trong chiếc y tốt đẹp
nhất của một ẩn sĩ, ngài đi vào thành khất thực và đến cửa hoàng cung. Vua đang
ngồi trong hoàng cung, nhìn qua cửa sổ và trông thấy Bồ-tát. Ông biểu lộ sự hoan
hỉ khi thấy vị ẩn sĩ với oai nghi đoan chính, tâm ý thanh tịnh, giữ mắt nhìn
thẳng, đi với giáng đi của sư tử, và tại mỗi bước chân đi như thể đang đặt xuống
bọc tiền một ngàn đồng. Nhà vua nghĩ: “Nếu thiện pháp có mặt ở một nơi nào đó,
thì nó phải ở trong con người này.” Vì thế cho gọi một vị cận thần thần đến, vua
bảo vị cận thận hãy đi đưa ẩn sĩ đến gặp mặt. Vị cận thần đi đến chỗ Bồ-tát,
cúng kính đảnh lễ rồi mang lấy bình bát từ tay ngài. Bồ-tát hỏi:
- Thưa ngài, có việc gì không?
- Thưa Tôn giả, đức vua cho mời ngài đến. Vị cận thần
đáp.
Bồ-tát nói:
- Thưa ngài, tôi sống ở Tuyết sơn và tôi không hề biết
đức vua.
Thế rồi vị cận thần trở lại và thuật với nhà vua điều
này. Nhà vua nghĩ rằng mình không có vị cố vấn tâm phúc nên bảo vị cận thần đền
mời Bồ-tát đến, và Bồ-tát bằng lòng đi đến.
Nhà vua cung kính đón Bồ-tát tại lối vào, thỉnh ngài ngồi
lên ngai vàng được đặt dưới một cái lộng trắng, mời ngài ăn cao lương mỹ vị được
chuẩn bị sẵn cho mình. Rồi nhà vua hỏi:
- Thưa Tôn giả, Tôn giả sống ở đâu?
- Thưa đại vương, tôi sống ở Tuyết sơn.
- Thế bây giờ Tôn giả đi đâu?
- Thưa đại vương, tôi đang đi tìm nơi để an cư mùa mưa.
Nhà vua đề nghị:
- Thưa Tôn giả, vậy Tôn giả hãy trú lại ngự viên của
trẫm.
Bồ-tát chấp thuận lời đề nghị này. Rồi nhà vua ăn uống,
sau đó cùng với vị khách của mình đi đến ngự viên. Ở đó, ông cho dựng một am
thất có phòng dành cho ban ngày và phòng dành cho ban đêm, cung cấp đầy đủ tám
loại đồ dùng cần thiết của một người xuất gia. Rồi sau khi để Bồ-tát ở lại đấy,
nhà vua giao người làm vườn chăm sóc ngài và trở lại hoàng cung. Từ đó, Bồ-tát
sống trong ngự viên của vua, và nhà vua một ngày hai ba lần đến viếng thăm
Bồ-tát.
Bấy giờ, nhà vua có một vị thái tử hung dữ và sân hận,
được mệnh danh là Thái tử Độc Ác, mà nhà vua cùng thân tộc không ai có thể
chuyển đổi được. Tất cả các đại thần, Bà-la-môn và dân chúng chỉ cho thái tử
thấy cách hành xử sai lầm của chàng nhưng đều vô hiệu. Chàng ta không thèm để ý
đến những lời khuyên bảo của họ. Nhà vua nghĩ rằng chỉ có vị ẩn sĩ giới đức của
mình may ra mới có thể chuyển hoá được thái tử nên đã đem thái tử đến giao cho
Bồ-tát nhờ xin dạy bảo.
Rồi Bồ-tát cùng với thái tử đi dạo ở ngự viên, và họ nhìn
thấy một cây Nimba vừa mới nảy mầm mà trên đó chỉ mới mọc ra hai lá, một lá bên
này và một lá bên kia. Bồ-tát bảo.
- Này thái tử, hãy nếm thử chiếc lá của cây con này và
xem mùi vị của nó thế nào.
Thái tử làm theo như vậy. Nhưng khi chiếc lá vừa mới bỏ
vào miệng, thái tử đã vội khạc nhổ nó ra cùng với lời nguyền rủa. Bồ-tát hỏi:
- Này thái tử, lá cây ấy thế nào?
- Thưa Tôn giả, bây giờ cây này còn nhỏ mà đã như thuốc
độc giết người, vậy nếu sau này lớn lên nó sẽ làm chết nhiều người.
Thái tử nói và lập tức dùng tay nhổ cây non ấy lên và vò
nát, đoạn đọc lên những dòng này:
Cây này dẫu còn nhỏ
Chất độc đã chứa đầy
Thì khi nó to lớn
Nó sẽ là gì đây?
Nghe thế, Bồ-tát nói với thái tử:
- Này thái tử, vì sợ điều mà mầm cây độc này khi lớn lên
sẽ gây ra nên thái tử đã nhổ nó lên và vò nát. Giống như thái tử đã làm đối với
cây này, dân chúng của vương quốc này cũng thế, vì sợ điều mà một vị thái tử độc
ác và sân hận khi lên làm vua sẽ làm, nên họ sẽ không để cho thái tử trị vì
vương quốc mà nhổ bật thái tử lên như nhổ cây Nimba này và đuổi thái tử ra khỏi
xứ sở. Do đó hãy lấy cây Nimba này để răn mình, từ này về sau phải sống khoan
dung và thể hiện đầy đủ lòng từ bi.
Từ hôm đó, tâm tính của thái tử thay đổi. Chàng trở nên
biết nhún nhường và ngoan hiền, đầy lòng khoan dung và bi mẫn. Rồi khi phụ vương
băng hà, thái tử đã lên làm vua. Vâng theo lời khuyên dạy của Bồ-tát, chàng
chuyên làm việc bố thí và các việc lành khác, rồi đến khi mạng chung đã đi theo
hành nghiệp của mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nói:
- Này các Tỳ-kheo, không phải chỉ nay ta mới nhiếp phục
Thái tử Độc Ác, mà vào đời trước ta cũng đã làm như vậy.
Rồi đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, Thái tử Licchavi Độc ác là Thái tử Độc ác,
A-nan là nhà vua, còn ta chính là vị ẩn sĩ đã thuyết giáo cho thái tử.
Số 150
CHUYỆN THANH NIÊN SAÑJĪVA
(Tiền thân Sañjīva)
Ai ủng hộ kẻ ác...
Trong khi trú tại Trúc Lâm, đức Thế tôn kể câu chuyện này
về mối kết giao của vua A-xà-thế (Ajātasattu) với kẻ xấu ác. Vua tin vào
Đề-bà-đạt-đa, kẻ xấu xa và độc ác luôn chống đối chư Phật. Và với niềm tin mê
cuồng ấy, vua tỏ lòng kính trọng Đề-bà-đạt-đa và bỏ ra một khoản tiền lớn trong
việc xây cất một tinh xá tại Gayāsisa. Vâng theo lời khuyên bảo xấu ác của
Đề-bà-đạt-đa, vua đã giết chết phụ vương, là một người giới đức đã chứng được
quả Dự lưu, dó đó đã đoạn tân cơ may chứng quả Dự lưu và tự mang đại họa cho
mình.
Khi nghe rằng Đề-bà-đạt-đa đã bị đất nuốt sống, A-xà-thế
sợ rằng mình sẽ chịu chung số phận đó. Và vì quá hoảng hốt sợ hãi nên ông không
còn nghĩ đến lợi ích của vương quốc, không ngủ trên giường, mà đi lang thang với
tay chân run rẩy, như một con voi con bị đớn đau cùng tột. Rồi tưởng tượng, vua
thấy mặt đất nứt ra đón mình, thấy những ngọn lửa từ dưới địa ngục phun lên. Ông
thấy mình bị trói chặt trên một cái giường bằng kim loại đang bóc cháy với những
cây giáo bằng sắt đâm thọc vào thân thể. Như một con gà bị thương, không giây
phút nào vua thấy yên ổn. Rồi vua mong được gặp đức Phật Toàn Giác để giải hòa
với Ngài, để cầu xin Ngài dìu dắt, nhưng bởi vì tỗi lỗi quá lớn nên ông không
thể đến yết kiến đức Phật được.
Rồi đêm lễ hội Kattikā được tổ chức. Thành Vương xá được
treo đèn và trang hoàng như kinh thành của chư thiên. Khi ngồi trên ngai vàng,
nhà vua nhìn thấy Jīvaka Komārabhacca ngồi gần đó. Ông khởi lên ý tưởng là sẽ
cùng với Jīvaka đi đến gặp đức Phật nhưng ông nghĩ rằng ông không thể nói thẳng
là mình không thể đi một mình mà muốn Jīvaka đưa đi. Ông nghĩ cách tốt nhất là
sau khi tán thán cảnh đẹp đêm lễ hội xong, ông sẽ ngồi nơi chân các Sa-môn và
Bà-la-môn và hỏi các triều thần rằng vị đạo sư nào có thể làm cho tâm của ông
được an lạc. Tất nhiên những người này sẽ ca tụng bậc đạo sư của riêng họ. Còn
Jīvaka chắc chắn sẽ tán dương đức Phật Toàn Giác, và nhà vua sẽ cùng với Jīvaka
đi đến đức Phật. Vì thế vua cất lên năm lời ca ngợi về đêm lễ hội như sau:
- Này các khanh, đêm sáng trăng này thật mỹ lệ thay! Đêm
sáng trăng này thật tươi đẹp thay! Đêm sáng trăng này thật quyến rũ thay! Đêm
sáng trăng này thật thú vị thay! Đêm sáng trăng này thật khả ái thay! Vậy sao
trong đêm nay chúng ta không tìm đến một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó có thể
giúp chúng ta có được an lạc?
Nghe thế, một vị đại thần giới thiệu Phú-lan-na Ca-diếp
(Pūraṇa Kassapa), một đại thần giới thiệu Mạc-già-lê Cù-xá-lợi (Makkhali
Gosāla), một đại thần giới thiệu A-kỳ-đa Kỳ-xá-khâm-bà-la (Ajita Kesakambala),
một đại thần giới thiệu Bà-phù-đà Ca-chiên-diên (Kakudha Kaccāyana), một đại
thần giới thiệu Tán-nhã-di Tỳ-ba-lê-phất (Sañjaya Belaṭṭhiputta), và một đại
thần giới thiệu Ni-kiền-đà Nhã-đề-tử (Nigaṇṭha Nāthaputta). Vua nghe danh xưng
các vị đạo sư ấy nhưng vẫn giữ im lặng. Ông chờ vị đại thần Jīvaka nói.
Nhưng Jīvaka nghĩ không biết nhà vua có thật muốn mình nói hay không nên giữ im
lặng. Cuối cùng nhà vua nói:
- Này Jīvaka, tại sao khanh không nói gì cả vậy?
Nghe hỏi vậy, Jīvaka bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính
chắp tay hướng về nơi đức Thế Tôn đang trú và thưa:
- Thưa đại vương, đức Phật Toàn Giác cùng với một ngàn ba
trăm năm mươi vị Tỳ-kheo đang trú tại vườn xoài của thần ở hướng kia. Đó là bậc
đạo sự danh tiếng vang lừng.
Rồi Jīvaka tiếp đến nói lên chín đức tánh mô tả về đức
Thế Tôn, bắt đầu bằng từ “Bậc A-la-hán”. Và sau khi trình bày rộng thêm rằng từ
lúc sinh ra cho đến về sau này, năng lực của đức Phật vượt qua tất cả những lời
tiên đoán và sự mong đợi trước đó, Jīvaka nói:
- Đại vương nên đi đến đức Thế Tôn để nghe pháp và hỏi
đạo.
Đạt được sở nguyện, nhà vua bảo Jīvaka chuẩn bị voi, rồi
với nghi thức long trọng đã đi đến vườn xoài của Jīvaka. Ở đó, ông nhìn thấy
trong một cái rạp lớn ngập hương thơm, các Tỳ-kheo đang ngồi quanh đức Phật,
tĩnh lặng như đại dương hoàn toàn lặng sóng. Nhìn nơi đâu, nhà vua cũng thấy
hàng hàng lớp lớp các Tỳ-kheo, số lượng vượt qua bất cứ hội chúng nào mà ông đã
từng nhìn thấy. Hoan hỉ khi trông thấy oai nghi của các Tỳ-kheo, nhà vua xá chào
và nói lên lời tán thán. Sau đó, ông đảnh lễ đức Phật, ngồi xuống và hỏi
về kết quả của đời sống xuất gia. Đức Thế Tôn chia kinh Sa-môn Quả
(Sāmaññaphala) thành hai phần và thuyết giảng. Cuối bài kinh, tâm tư hoan hỉ,
nhà vua cầu xin đức Phật tha thứ cho lỗi lầm của mình, rồi đứng dậy cung kính
đảnh lễ và ra về. Khi nhà vua vừa đi khỏi đó, đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, vị vua này đã bị đánh bật ngã. Vị vua
này nếu không vì tham vào quyền lực đến độ giết chết phụ vương chánh trực của
mình thì ông ta đã chứng được pháp nhãn của một vị A-la-hán trước khi đứng dậy
ra về. Nhưng do ủng hộ Đề-bà-đạt-đa một cách sai trái nên ông không chứng được
quả Dự lưu.
Ngày hôm sau, các Tỳ-kheo tập họp lại trong Chánh pháp
đường và bàn về sự kiện này, nói rằng tội ác giết cha của vua A-xà-thế do cấu
kết với Đề-bà-đạt-đa xấu ác đã làm cho ông không chứng được qủa Dự lưu, và như
vậy chính Đề-bà-đạt-đa đã làm hại nhà vua. Khi ấy, đức Thế Tôn bước vào Chánh
pháp đường và hỏi họ đang ban luận việc gì. Nghe thuật lại sự việc, đức Thế Tôn
nói:
- Này các Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu A-xà-thế bị đau
khổ do cấu kết, ủng hộ kẻ xấu ác, mà vào đời quá khứ vua cũng từng như vậy.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh
vào một gia đình Bà-la-môn giàu có. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài đến
Xoa-thi-la để theo học và nhận được sự giáo dục hoàn thiện ở đó. Trở về
Ba-la-nại, ngài trở thành một vị sư trưởng nỗi tiếng thế gian với năm trăm thanh
niên Bà-la-môn theo làm đệ tử. Trong số những người này, có một vị tên là
Sañjīva, người được Bồ-tát dạy cho bùa chú làm vật chết sống lại. Bồ-tát dạy cho
thanh niên bài chú này nhưng không dạy bài chú ngược lại. Vì kiêu ngạo với sức
mạnh mới của mình, nên một hôm khi cùng với các đệ tử đồng học khác đi vào rừng
lượm củi, vị này gặp một con cọp chết và nói:
- Hãy xem tôi làm cho con cọp này sống lại.
- Bạn không thể làm được. Những người khác nói.
- Vậy hãy xem, rồi các bạn sẽ thấy điều tôi làm.
- Thôi được, nếu bạn làm được thì hãy cứ làm.
Những người này nói và lập tức leo lên cây. Thế là
Sañjīva đọc lên bài chú của mình và lấy mảnh gốm đập vào con cọp chết. Con cọp
thình lình đứng dậy, và nhanh như chớp vồ lấy Sañjīva, cắn vào cổ họng của anh
ta và giết chết anh ta ngay tại chỗ. Rồi sau đó con cọp rơi xuống chết ngay chỗ
ấy và Sañjīva cũng rơi xuống tại chỗ ấy. Như vậy cả hai cùng nằm chết cận bên
nhau.
Các thanh niên Bà-la-môn mang củi trở về, đến gặp sư
trưởng của mình và thuật lại câu chuyện. Sư trưởng nói:
- Này các con, hãy xem sự việc này, bởi muốn tỏ lòng giúp
đở kẻ xấu ác và do kính trọng kẻ không đáng kính trọng mà người này đã gặp tai
họa như vậy.
Nói vậy xong, ngài đọc lên bài kệ này:
Ai ủng hộ kẻ ác
Giúp đở thứ nó cần
Thì như San-ji-va
Làm cho cọp sống lại
Lập tức bị cọp giết.
Bồ-tát thuyết giảng cho các thanh niên Bà-la-môn bằng bài
kệ như vậy, rồi sau một đời bố thì và làm các thiện sự khác, ngài qua đời và đi
theo hành nghiệp của mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, A-xà-thế là thành niên Bà-la-môn đã làm
cho con cọp sống lại, còn ta chính là vị sư trưởng danh tiếng.
|