CHƯƠNG I
PHẨM CANG CƯỜNG

Số 151
CHUYỆN LỜI GIÁO HUẤN CHO VUA
(Tiền thân Rājovāda)

Cứng rắn đối với người cứng rắn…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về sự kiện giáo huấn cho một vị vua. Chuyện này sẽ được trình bày trong Tiền thân Tesakuna, số 521.

Chuyện kể rằng, một hôm, vua xứ Câu-tát-la (Kosala) vừa xử xong một vụ án rất khó liên quan đến hành vi sai phạm đạo đức. Sau bửa ăn, đôi bàn tay chưa ráo, ông đánh chiếc xe ngựa lộng lẫy của mình đến viếng thăm đức Thế Tôn. Nhà vua đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, đôi bàn chân của Ngài đẹp như hoa sen nở đầy, rồi ngồi xuống một bên.

Thế rồi đức Thế Tôn hỏi ông:

– Thưa đại vương, có việc gì mà đại vương đến đây vào giờ này?

Nhà vua trả lời:

– Bạch Thế Tôn, trẫm bỏ lở thời gian vì phải xử một vụ kiện có liên quan đến hành vi sai phạm đạo đức. Giờ đây vụ án đã hoàn tất, vừa ăn uống xong, đôi bàn tay chưa ráo, trẫm đã đến đây để hầu thăm Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói:

– Thưa đại vương, xét xử một vụ kiện với sự công bằng và vô tư là điều thiện, đó là con đường để sanh thiên. Ngày nay, không có gì kỳ diệu khi đại vương nhận được lời khuyên của một bậc Toàn Trí như ta rồi xét xử vụ kiện một cách công bằng, đúng đắn. Điều kỳ diệu là khi những vị vua chỉ nhận được lời khuyên của các vị hiền triết, những người không phải là bậc Toàn Trí, tuy thế vẫn xét xử công bằng và đúng đắn, tránh xa tứ ác đạo, tuân giữ mười Vương pháp, và sau khi cai trị một cách công chính, đã sanh lên thiên giới làm tăng thêm hội chúng chư thiên.

Rồi theo lời thỉnh cầu của nhà vua, đức Thế Tôn kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ thai làm con của Hoàng hậu. Rồi sau những lễ nghi đúng cách dành cho trường hợp của bà đã được thực hiện một cách thích đáng, bà đã sinh nở an ổn. Vào ngày lễ đặt tên, Bồ-tát được đặt tên là Hoàng tử Phạm Dự (Brahmadatta).

Hoàng tử theo thời gian lớn lên, đến lúc được mười sáu tuổi thì chàng đến Xoa-thi-la (Takkasilā) để theo học, và đã tinh thông các ngành học. Rồi khi phụ hoàng băng hà, chàng kế vị ngôi vua và trị vì vương quốc bằng sự công chính, cai trị đúng pháp chứ không theo ý muốn hay sở thích của riêng mình. Bồ-tát trị vì công chính như vậy nên những quan lại cũng công chính trong phận sự của họ.  Như thế, khi tất cả mọi việc được thực hiện một cách công chính thì không có một ai mang lời thưa kiện vào trong án đường. Chẳng mấy chốc, tiếng ồn ào của những người thưa kiện bên trong khu hoàng cùng chấm dứt. Các đại thần ngồi suốt ngày trong pháp đường đã bỏ đi khi không nhìn thấy một người thưa kiện nào đến. Những án đường trở nên vắng vẻ.

Thế rồi Bồ-tát suy nghĩ, “Bởi ta cai trị công chính nên không có người nào đến thưa kiện ở án đường, sự ồn ào huyên náo trước đây lặng xuống, những án đường trở nên vắng vẻ. Giờ đây ta phải tìm xem ta có khiếm khuyết gì không, nếu ta tìm thấy có khiếm khuyết, ta sẽ từ bỏ, và sống một đời sống tốt hơn trong tương lai.” Từ lúc ấy, Ngài luôn cố tìm kiếm một người nào đó sẽ nói ra khuyết điểm của Ngài. Nhưng tất cả những ai ở trong cung điện, Ngài không thể tìm ra một người như vậy, Ngài không thể nghe được điều gì khác hơn ngoài điều tốt của mình. Ngài nghĩ, “có thể họ quá sợ ta nên không dám nói những việc xấu của ta mà chỉ nói việc tốt.” Vì thế, Ngài đi đây đó để thử tìm những người ở ngoài cung, nhưng những người này cũng giống vậy. Sau đó, Ngài điều tra những người trong nội thành và ngoài thành, hỏi dân chúng tại bốn cổng thành. Vẫn không tìm thấy người nào nói ra khuyết điểm của mình, ngoài lời tán dương mà Ngài có thể nghe. Cuối cùng, với mục đích cố thử  tìm ở miền quê, Ngài giao phó tất cả quyền cai trị cho các đại thần, ngự lên xe, chỉ mang theo người đánh xe, cải trang rời khỏi kình thành. Ngài kinh qua mọi miền quê, thậm chí cả những vùng biên giới, nhưng Ngài không tìm đâu ra một người chế trách mình. Tất cả điều Ngài có thể nghe được chỉ là những lời tán dương Ngài. Vì thế, từ vùng biên giới, vua trở về lại kinh thành bằng con đường cái.

Chính vào thời điểm bấy giờ, vua Thắng Man (Mallika) của xứ Câu-tát-la (Kosala) cũng đang thực hiện điều như vậy. Ông cũng là một vị vua công chính, và cũng đang đi tìm những khuyết điểm của mình. Nhưng trong số những người quanh mình, ông không tìm ra một ai nói lên khuyết điểm ngoài lời tán dương ông. Ông đã đi điều tra khắp cả nước, và sau đó đã đến cùng một địa điểm như vậy.

Hai người này gặp nhau trên một con đường xe bị lún sâu giữa hai bờ đất, và không có chỗ để hai chiếc xe tránh nhau.

Người đánh xe của vua Thắng Man nói với người đánh xe của vua Ba-la-nại.

– Này bạn, xin hãy tránh xe của bạn qua bên đường.

Người đánh xe của vua Ba-la-nại nói:

–  Không, không thể được đâu hởi anh bạn đánh xe kia! Hãy tránh xe của bạn ra bên đường! Nên biết rằng người ngồi trên xe này là đại vương Phạm Dự, vua nước Ba-la-nại đấy!

Người đánh xe của vua Thắng Man nói:

– Này anh bạn đánh xe, không phải vậy. Ngồi trên xe này là đại vương Thắng Man, vua xứ Câu-tát-la! Thế nên bạn hãy tránh đường và nhường lối cho xe vua chúng tôi!

“Sao! đây cũng là một vị vua ư? Phải làm gì đây?” Người đánh xe vua Ba-la-nại nghĩ. Rồi một ý nghĩ khởi lên trong anh ta, rằng anh ta sẽ hỏi tuổi tác của hai vua, nếu người nào nhỏ tuổi hơn người ấy phải nhường đường cho vị lớn tuối. Do vậy, anh ta hỏi người đánh xe kia rằng vua của người kia bao nhiêu tuổi, nhưng rồi anh ta biết rằng cả hai đều cùng tuổi nhau. Liền sau đó, anh ta hỏi diện tích vương quốc, sự giàu sang, danh tiếng và tất cả những điều có liên quan đến đẳng cấp, dòng tộc và gia đình của ông vua này, nhưng anh ta nhận thấy rằng cả hai vua đều có một vương quốc rộng đến ba trăm dặm; và quyền lực, sự giàu sang, danh tiếng, bản chất gia đình, cùng dòng dõi của họ đều như nhau. Sau đó, anh ta nghĩ được điều mà anh ta có thể đưa ra để biết người nào tốt hơn. Vì vậy, anh ta đề nghị người đánh xe kia hãy mô tả những đức hạnh của vua mình. Người này trả lời điều đó bằng bài kệ đầu tiên, mà qua đó anh ta nêu ra những khuyết điểm của vua mình nhưng cứ ngỡ đó là đức hạnh:

Cứng rắn đối với người cứng rắn

Nhu hoà đối với người nhu hoà

Chinh phục người tốt bằng điều tốt

Trị người xấu xa bằng xấu xa.

Thắng Man vua tôi theo cách ấy

Hỡi bạn đánh xe, nhường đường ta.

Nghe vậy, người đánh xe vua Ba-la-nại nói:

– Ồ, có phải đó là tất cả điều bạn muốn nói về đức hạnh của vua bạn?

– Vâng, đúng vậy. Người kia đáp.

– Nếu đây là đức hạnh của ông ấy, vậy thì khuyết điểm của ông ấy là gì?

Người này trả lời:

– Khuyết điểm là như vậy, như vậy. Còn bạn hãy nói cho chúng tôi nghe những đức hạnh của vua bạn như thế nào đi!

– Vậy hãy lắng nghe.

Người đánh xe vua Ba-la-nại nói và đọc lên bài kệ thứ hai:  

Chinh phục kẻ xấu bằng điều tốt

Chế ngự phẩn nộ bằng nhu hoà

Chiến thắng keo kiệt bằng bố thí

Chân thực đáp lại điều dối ngoa

Phương cách vua này là như vậy

Hỡi bạn đánh xe, nhường đường ta! (Pháp cú, bài kệ 223)

Nghe như vậy, cả vua Thắng Man lẫn người đánh xe của mình bước xuống xe, tháo ngựa và đưa xe sang bên đường, nhường đường cho vua Ba-la-nại. Sau đó, vua Ba-la-nại giáo huấn cho vua Thắng Man:

– Ngài phải làm như vậy, như vậy…

Sau đó, vua trở lại Ba-la-nại. Ở đó, vua bố thí và làm việc thiện suốt đời, rồi đến lúc mạng chung đã sanh về thiên giới. Còn vua Thắng Man khắc ghi bài giáo huấn này trong tâm, đi khắp nơi, sáng ngời lên mà không tìm ra một ai chỉ trích khuyết điểm, rồi sau đó quay trở lại kinh thành. Ở đó, ông bố thí và hành thiện trọn đời, đến khi mạng chung đã sanh về thiên giới.

* * *

Khi kết thúc pháp thoại nhằm mục đích giáo giới cho vua Câu-tát-la xong, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

Vào thuở đó, Mục kiền liên (Moggalana) là người đánh xe của vua Thắng Man, A-nan (Ananda) là nhà vua, Xá-lợi-phất (Sariputta) là người đánh xe của vua Ba-la-nại (Benares), còn Ta chính là vua Ba-la-nại.

Số 152
CHUYỆN CON SÓI
(Tiền thân Sigāla)

Ai làm công việc thiếu nghĩ xa…

Trong khi ở tại phòng mình, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một người thợ cắt tóc sống ở Tỳ-xá-li (Vesāli).

Người này đã từng cạo râu, làm, bện tóc cho vua, hoàng hậu, hoàng tử và công chúa. Ông làm tròn tất cả những công việc phải làm. Ông là một người có chánh tín, quy y Tam bảo, thọ trì Ngũ giới, và thỉnh thoảng đến nghe đức Thế Tôn thuyết pháp.

Một hôm, khi đến làm công việc của mình trong hoàng cung, ông đã đem con trai mình đi theo. Chàng trai khi nhìn thấy một vương nữ Licchavi ăn bận chải chuốt đẹp đẽ như một nữ thần, đã yêu say đắm cô ta. Chàng trai nói với cha mình khi họ cùng rời hoàng cung:

– Thưa cha, có một cô gái mà nếu con lấy được cô ta, con sẽ sống, còn nếu không, con sẽ chết.

Chàng ta bỏ ăn, nằm bám lấy khung giường. Cha của chàng tìm chàng và nói:

– Con trai ạ, đừng đặt trái cấm vào tâm mình như vậy. Con là một người vô danh tiểu tốt – con trai của một gã cắt tóc. Còn cô gái Licchavi này là công chúa thuộc dòng dõi quý phái, con không môn đăng hộ đối với cô ta. Cha sẽ tìm cho con một người khác, một cô gái hợp với vị thế và hoàn cảnh của con.

Thế nhưng, chàng trai không nghe lời ông. Sau đó, mẹ, anh trai, chị gái, cô, chú và tất cả họ hàng cùng bằng hữu của chàng đã đến cố an ủi chàng nhưng họ không thể làm cho chàng khuây khoả. Vì thế, chàng trai ngày một héo hon, gầy mòn, nằm mãi ở đấy cho đến chết.

Người cha sau khi lo tang lễ cho con xong, và khi lòng sầu muộn đã lắng dịu, ông nghĩ sẽ đến đảnh lẽ đức Thế Tôn. Vì thế, mang một bó hoa lớn cùng dầu thơm và nước hoa, ông đi đến Đại Lâm (Mahavana), cung kính đảnh lễ đức Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Đức  Thế  Tôn hỏi:

– Này cư sĩ, tại sao độ này không thấy ông đến?

Ông bạch với Ngài những gì đã xảy ra. Đức Thế Tôn nói:

–  Cư sĩ này, đây không phải là lần đầu tiên con trai ông chết vì đã yêu thương người mình không thể yêu, mà trước đây chàng ta cũng đã từng như vậy.

Rồi theo lời thỉnh cầu của nam cư sĩ này, đức Thế Tôn kể một câu chuyện đời trước.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Banares), Bồ-tát thọ sanh vào đời làm một con Sư tử sống ở vùng Tuyết Sơn (Hymalaya). Cùng gia đình ấy, có sáu người anh trai và một cô chị gái, tất cả họ cùng sống trong hang động Vàng.

Cận hang này có một hang Pha lê nằm trên ngọn núi Bạc. Ở đó, có một con Sói đang sống. Rồi khi cha mẹ của anh em sư tử qua đời, những con sư tử đực thường để cô Sư tử cái, chị gái của chúng ở lại trong hang, còn chúng đi khắp nơi kiếm thức ăn. Khi chúng kiếm được thức ăn, chúng mang về cho cô chị ăn.

Một hôm, con Sói nhìn thấy cô Sư tử và sanh lòng yêu say đắm, nhưng trong khi sư tử cha và sư tử mẹ còn sống, nó không thể có được cơ hội. Giờ đây, khi bảy anh em đã đi kiếm thức ăn, nó ra khỏi hang Pha Lê, và vội vàng đi đến hang Vàng. Ở đó, đứng trước cô Sư tử nhỏ, nó nói với cô một cách quỷ quyệt bằng những lời lẽ quyến rủ và cám dỗ:

– Hỡi nàng Sư tử, tôi là một loài vật bốn chân, và nàng cũng vậy. Vậy nên, nàng hãy làm bạn đời của ta đi, ta sẽ là chồng của nàng nhé! Chúng ta sẽ sống với nhau trong tình hoà ái và thương yêu, rồi nàng sẽ mãi yêu ta!

Khi nghe những lời này, cô Sư tử suy nghĩ, “Con Chó rừng này là hàng thấp kém trong loái thú, hèn hạ giống như hạng người cùng đinh, trong khi ta được xem thuộc dòng dõi hoàng gia. Điều nó nói như vậy là không thích đáng và xấu xa đối với ta. Ta làm sao sống đây khi nghe những lời như vậy? Thôi, ta sẽ nín thở cho đến chết vậy.” Nhưng suy nghĩ một lúc, nó lại nói, “Không được, chết như vậy thật không đúng. Các em của ta sắp trở về, trước tiên ta sẽ kể sự việc cho họ, rồi sau đó sẽ tự kết liễu đời mình.”

Chó rừng không nhận được câu trả lời, tin chắc rằng cô ta không để ý gì đến nó, vì thế nó trở lại hang Pha lê và đau khổ nằm xuống.

Bấy giờ, một con Sư tử em giết được một con bò rừng. Nó ăn một ít và mang phần về cho chị, trao thức ăn và mời chị ăn.

– Không em ạ, chị sẽ không ăn gì cả, vì chị phải chết!

– Tại sao phải chết? Sư tử em hỏi.

Cô ta kể cho em mình những gì đã xảy ra. Sư tử em hỏi:

– Con Sói này giờ đang ở đâu?

Cô ta thấy nó nằm trong hang Pha lê, mà ngỡ nó ở trên trời, nên nói:

 – Này em, em không nhìn thấy nó ở ngọn núi Bạc nằm trên trời sao?

Sư tử em không biết rằng con Sói nằm trong hang Pha lê, cứ nghĩ rằng nó thực ở trên trời, nên nhảy lên để giết nó. Đập mạnh ngực vào pha lê, tim nó vỡ ra và sư tử rơi xuống chân núi chết ngay tại chỗ.

Sau đó một con sư tử khác trở về, Sư tử chị lại kể câu chuyện ấy. Con Sư tử này cũng làm như con trước, và đã rơi xuống chết dưới chân núi.

Sáu anh em Sư tử lần lượt chết cùng cách như vậy, cho đến cuối cùng Bồ-tát trở về. Khi nghe cô chị kể câu chuyện, Bồ-tát hỏi:

–  Con Sói bây giờ ở đâu?

– Nó ở đằng kia, tại đỉnh núi Bạc ở trên trời!

Bồ-tát nghĩ, “Loài Sói nằm trên trời sao? Vô lý. Ta biết điều gì rồi, nó đang nằm trong hang Pha lê.” Vì thế, Bồ-tát đi đến chân núi, và trông thấy sáu người anh của mình nằm chết ở đấy. Bồ-tát nghĩ, “Ta biết lý do tại sao rồi. Những người này ngu ngốc, thiếu hẳn trí tuệ, không biết rằng đây là hang Pha lê, nên đập tim vào đấy và bị giết chết. Đấy là việc làm do vội vàng và thiếu suy nghĩ.” Rồi Bồ-tát đọc lên bài kệ đầu tiên:

Ai làm công việc thiếu nghĩ xa

Không tính  hậu quả sẽ xảy ra

Như người khi ăn làm bỏng miệng

Nạn nhân của chính kế hoạch ta.

Sau khi đọc lên những dòng này, Sư tử nói tiếp:

– Những người anh của ta muốn giết con Sói này, nhưng không biết cách bày kế một cách khôn ngoan, đã lao quá nhanh vào con Sói, nên mới dẫn đến cái chết như vậy. Ta sẽ không làm như vậy, ta sẽ làm cho con Sói vỡ tim nó ra khi nằm trong hang Pha lê đó.” Vì thế, Bồ-tát nhìn ra con đường mà con Sói thường lui tới, rồi hướng về phía ấy rống lên ba lần tiếng rống sư tử, khiến cả đất trời vang dộị tiếng gầm lớn! Sói nằm trong hang Pha lê sợ hãi kinh hoàng đến vỡ cả tim và chết ngay tại chỗ.

* * *

Đức Thế Tôn nói tiếp:

– Như vậy, Sói đã chết khi nghe tiếng gầm Sư tử.

Và bậc Chánh Đẳng Giác đọc lên bài kệ thứ hai:

Trên Đạt-đà-la (Daddara) Sư tử rống.

Vang dội khắp núi Đạt-đà-la

Sói ở cận đó quá sợ hãi

Nghe tiếng tim nó vỡ hai ra.

* * *

Sư tử đã làm cho con Sói này chết như vậy. Sau đó Sư tử đặt thi thể các anh của mình lại với nhau trong một cái hang, rồi nói cho cô chị biết là họ đã chết, và an ủi chị. Sư tử sống thanh thản trong hang Vàng, mãi cho đến khi qua đời và tái sanh theo thiện nghiệp của mình.

* * *

Khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết nghĩa lý các Thánh Đế. Kết thúc các Thánh đế, vị cư sĩ đắc được quả Dự Lưu. đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, con trai của người thợ cắt tóc là con Sói, công chúa Licchavi là cô Sư tử, sáu anh em Sư tử là sáu Trưởng lão bây giờ, còn ta chính là Sư tử út.

Số 153
CHUYỆN CON HEO RỪNG
(Tiền thân Sūkara)

Bạn loại bốn chân tôi cũng vậy…

Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một trưởng lão lớn tuổi.

Một lần, vào một thời pháp ban đêm, đức Thế Tôn đứng trên bậc thang bằng châu ngọc ở trước Hương thất của mình để thuyết giảng. Sau khi thuyết giảng xong bài kinh, đức Thế Tôn trở về hương thất của mình. Bậc Tướng Quân Chánh Pháp đảnh lễ đức Thế Tôn, rồi cũng trở về phòng mình. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên (Mohāmoggallāna) cũng trở về phòng nghĩ ngơi, và một lát sau đã trở lại hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) một số câu hỏi. Khi Tôn giả lần lượt hỏi từng câu hỏi, bậc Tướng Quân Chánh Pháp đã giảng giải hết sức rõ ràng, như thể đang làm cho mặt trăng mọc lên giữa trời. Có bốn chúng đệ tử ngồi nghe pháp. Thế rồi, có một Trưởng lão lớn tuổi trong hội chúng suy nghĩ, “Giả sử trước mặt tất cả hội chúng này, ta hỏi Xá-lợi-phất một vài câu hỏi khiến cho ông bối rối thì sao nhỉ? Chắc hội chúng sẽ nghĩ ta là một người thông thái! Và như vậy ta sẽ đạt được sự tín nhiệm và danh tiếng lớn.” Nghĩ thế, ông từ hội chúng đứng dậy, đi đến gần Trưởng lão Xá-lợi-phất, đứng qua một bên và nói:

–  Thưa Hiền hữu Xá-lợi-phất, tôi có một câu hỏi muốn hỏi hiền hữu, hiền hữu trả lời cho tôi chứ? Bằng sáng suốt hoặc không sáng suốt, bằng khước từ hay chấp nhận, bằng nét tính chất hay đặc thù, xin hãy quyết định cho tôi.

Trưởng Lão nhìn ông, và nghĩ, “Người này vẫn còn luẩn quẩn trong tham ái, trống rỗng và không biết thứ gì cả.” Trưởng lão im lặng không trả lời vì quá hổ thẹn. Trưởng lão đặt quạt xuống, đứng dậy và trở về phòng. Trưởng lão Mục-kiền-liên cũng trở về phòng. Những người xung quanh đứng dậy la hét:

– Hãy nắm lấy lão già xấu xa này, ông ta đã không để cho chúng ta nghe những pháp ngữ hoà ái!

Họ nói và tấn công ông. Ông bỏ chạy và rơi vào cái hố ở gốc hầm chứa phân bên ngoài tịnh xá, và khi ông đứng lên thì khắp thân mình dính đầy phân rác. Lúc thấy vậy, đám người cảm thấy hối hận về điều đó, và họ đi đảnh lễ đức Thế Tôn. Ngài hỏi:

– Này các cư sĩ, tại sao các vị lại đến đây vào lúc phi thời thế này?

Họ thuật lại với Thế Tôn những gì đã xảy ra. Ngài nói:

– Này các đạo hữu, đây không phải là lần duy nhất vị Trưởng lão lớn tuổi này kiêu mạn, không lượng sức lực mình, muốn đọ lại sức mạnh nên bị dính đầy phân rác, mà đời trước đây, ông ta cũng không biết sức lực của mình, muốn đọ lại sức mạnh nên bị dính đầy phân rác.

Thế rồi theo lời thỉnh cầu của họ, đức Thế Tôn kể một câu chuyện đời trước.

* * *

Thuở xưa, Khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con Sư tử trú trong một hang núi ở vùng Tuyết Sơn. Gần đó, có một bầy Heo rừng sống cận bờ hồ. Cũng cận bờ hồ đó, có một nhóm các vị ẩn sĩ sống trong những thảo am.

Một ngày nọ, Sư tử mang lại một con heo rừng, rồi sau khi ăn thoả thích, nó đi xuống hồ uống nước. Vừa khi Sư tử đi lên, một con Heo rừng to khoẻ đến kiếm mồi bên bờ hồ nước ấy.  Sư  tử nghĩ, “Vài ngày nữa, ta sẽ bắt nó làm bửa.” Nhưng sợ rằng nếu con Heo này nhìn thấy mình, nó sẽ không bao giờ đến đây nữa, nên Sư tử đi ra hồ nước và lẩn sang một bên. Heo đực nhìn thấy vậy liền nghĩ, “Chắc hắn sợ hãi khi nhìn thấy ta, nên mới không dám đi đến mà hoảng sợ chạy trốn như vậy! Hôm nay phải cho thiên hạ thấy một trận đấu giữa ta và Sư tử mới được!” Nghĩ thế, nó ngước đầu lên và thách thức Sư tử bằng bài kệ thứ nhất:

Bạn loài bốn chân, tôi cũng vậy

Này bạn, chúng ta giống nhau thôi,

Sư tử, phải chăng bạn sợ hải

Sao bạn lại chạy tránh xa tôi?

Sư tử lắng nghe và trả  lời:

– Này anh bạn Heo rừng, hôm nay tôi không đánh nhau với bạn. Nhưng ngày này tuần sau, chúng ta hãy đấu với nhau chính tại nơi đây.

Nói xong, Sư tử cáo biệt.

Heo đực sung sướng vô cùng và nghĩ cách đấu nhau với sư tử. Nó kể lại với bạn bè và họ hàng của nó về việc này, nhưng câu chuyện đó chỉ làm cho chúng khiếp sợ. Chúng nói:

Ngươi gây tai hoạ cho bọn ta rồi. Người không biết sức mình, lại háo hức đi đánh nhau với con Sư tử. Khi con Sư tử đến, hắn sẽ giết chết ngươi và cả bọn chúng ta. Đừng hung hăng như vậy chứ!

Những lời này đã làm cho Heo rừng phần nào sợ hải. Nó hỏi:

– Vậy tôi phải làm gì đây?

Thế rồi, những con Heo kia khuyên nó nên lăn vào đống phân của các ẩn sĩ liên tiếp trong bảy ngày, để cho phân bám khô trên mình, và đến ngày thứ bảy thì tắm sương cho ẩm rồi đến trước tại chỗ hẹn, phải tìm hiểu gió thổi theo hướng nào, rồi đứng ở trên gió. Sư tử là một loài thú thích sạch sẽ, khi ngửi thấy mùi thối như vậy sẽ tha mạng cho nó.

Heo rừng đã làm theo như vậy. Đến ngày hẹn, nó có mặt ở đó. Sư tử đánh thấy mùi thối của nó, liền nói:

– Này bạn Heo rừng, thủ thuật này thật thú vị đấy! Nếu bạn không bôi phân thì hôm nay ta đã lấy mạng sống của bạn rồi. Do thân bạn như vậy nên ta không thể ngoạm lấy bạn được, cũng không thể đụng chân ta vào bạn được. Do đó ta tha mạng cho bạn.

Và rồi, Sư tử đọc lên bài kệ thứ hai:

Hỡi Heo dơ bẩn, da hôi hám

Mùi thối kinh tởm đối với ta.

Nếu ngươi muốn đánh ta nhường đấy

Để cho chính ngươi chiến thắng ta.

Thế rồi, Sư tử bỏ đi và kiếm được thức ăn, sau đó uống nước ở hồ rồi trở về hang của mình trên núi. Còn con Heo, đã kể cho họ hàng thân thích của nó cách thức nó đã đánh bại Sư tử! Tuy thế, bầy heo lo sợ là Sư tử sẽ quay trở lại vào một ngày khác để giết chúng. Vì thế, chúng trốn đến một nơi khác.

* * *

Khi đức Thế Tôn kết thúc pháp thoại này, Ngài nhận diện Tiền thân:

– Thuở ấy, vị Trưởng lão lớn tuổi là con Heo rừng, còn ta chính là Sư tử.

Số 154
CHUYỆN CON RẮN
(Tiền thân Uraga)

Con rồng đáng ghét biến thành ngọc…

Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế tôn kể câu chuyện này về việc tranh cãi của hai vị tướng quân.

Chuyện kể rằng, hai vị tướng quân này cùng hầu cận vua Câu-tát-la (Kosala), là những người có chức tước cao, là những bậc đại nhân trong triều. Hai người này cứ gặp nhau là cãi vã. Nhà vua, bạn bè, họ hàng không ai có thể hoà giải được họ.

Một hôm, vào lúc sáng sớm, đức Thế Tôn quán sát khắp nơi để xem ai là người đầy đủ nhân duyên giải thoát, và nhận thấy rằng hai người này sẵn đủ nhân duyên nhập vào Dự Lưu đạo. Hôm sau, Ngài một mình vào thành Xá-vệ (Sāvatthi) khất thực, đứng lại trước nhà của một trong hai người ấy. Người này đi ra và nhận lấy bát của đức Thế Tôn, thỉnh Ngài vào và mời ngồi. Đức Thế Tôn an toạ và thuyết giảng về lợi ích của việc tu tập Từ tâm. Khi thấy tâm người này đã thuần thục, Ngài liền tuyên thuyết các Thánh Đế. Kết thúc thời pháp, người này chứng được quả Dự Lưu. Thấy vậy, đức Thế Tôn  bảo ông ta mang Bát, rồi ngài đứng dậy và đi đến nhà của người kia. Người kia đi ra, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi thỉnh Ngài vào nhà và mời ngồi. Người này cũng mang lấy bát, và đi vào cùng với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn tán thán mười một lợi ích của Từ tâm. Nhận thấy tâm người này đã thuần thục, đức Thế Tôn thuyết giảng các Thánh Đế. Thuyết giảng xong, người này cũng chứng được quả Dự Lưu.

Như vậy, cả hai đều chứng quả, đối trược mặt nhau họ thú nhận lỗi lầm của mình và tha thứ cho nhau; vui vẻ và hoà hợp, họ trở thành như một. Cũng chính ngày ấy,  họ cùng ăn với nhau trước mặt đức Thế Tôn.

Xong bữa ăn, đức Thế Tôn trở về tinh xá. Cả hai người mang nhiều hoa, dầu thơm, bơ, mật và đường cùng trở về với đức Thế Tôn. Sau khi giảng dạy những bổn phận của hàng Tỳ-kheo và giáo giới cho họ xong, đức Thế Tôn trở về hương thất của mình.

Sáng hôm sau, các Tỳ-kheo bắt đầu bàn tán vấn đề này trong Chánh pháp đường:

–  Thưa các Hiền hữu, đức Thế Tôn của chúng ta đã nhiếp phục người không thể nhiếp phục. Hai tướng quân này đã tranh cãi với nhau lâu ngày, mà ngay cả vua, bạn bè và dòng họ cũng không thể hoà giải được, thế mà đức Thế Tôn đã nhiếp phục họ chỉ trong một ngày!

Đức Thế Tôn đi vào và hỏi:

– Này các Tỳ-kheo, các thầy đang bàn tán về điều gì khi ngồi lại nơi đây?

Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên ta hoà giải cho hai người này thôi đâu, mà vào thời quá khứ ta cũng từng hoà giải cho họ.

Và rồi, Ngài kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares), có một quần chúng rất đông tụ tập lại ở Ba-la-nại để dự lễ hội. Đám đông người, trời, rồng và kim sí điểu (garua) đang cùng xem hội. Một con Rồng không biết rằng một con Kim sí điểu đứng bên cạnh, nên đặt tay lên vai nó. Khi con Kim sí điểu quay mặt lại để xem ai đặt tay lên vai mình, nó trông thấy con Rồng. Con Rồng cũng nhận thấy rằng đấy là một con Kim sí điểu, nó sợ chết nên bay trốn trên mặt sông. Kim sí điểu rượt đuổi theo bắt nó.

Bấy giờ, Bồ-tát là một ẩn sĩ, sống trong một thảo am bên bờ sông.  Lúc ấy, Ngài đang cố tránh đi cái nống của mặt trời nên cởi chiếc áo bằng vỏ cây ra, mặc áo tắm và xuống sông tắm. Con Rồng nghĩ, “Ta sẽ đến vị ẩn sĩ này, đây là phương cách cứu mạng ta.” Nó cởi bỏ nguyên hình, biến thành một viên ngọc đẹp và gắn lên chiếc áo vỏ cây. Kim sí điểu rượt đuổi và biết nơi con Rồng đến, nhưng vì quá tôn kính chiếc áo nên nó không giám đụng đến. Vì thế, nó đã nói với Bồ-tát thế này:

– Thưa Ngài, tôi đang đói. Hãy nhìn chiếc áo vỏ cây của ngài, trong đó có con rồng tôi muốn ăn.

Và để giải thích rõ vấn đề, nó đã đọc lên bài kệ thứ nhất:

Con rồng đáng ghét biến thành ngọc

Chọn đây trú ẩn, muốn toàn thân.

Vì Ngài phạm hạnh, tôi tôn kính

Dầu đói, tuy vậy tôi không bắt.        

Đứng dưới nước, Bồ-tát đọc lên bài kệ thứ hai để tán thán vua Kim sí điểu:

Mong cho Phạm thiên luôn hộ trì

Sống lâu, thiên thực không thiếu chi.

Tôn kính phạm hạnh, không bắt lấy

Dầu đói, vẫn không ăn Rồng kia.

Đứng trong nước, Bồ tát nói lên lời tán thán của mình như vậy. Sau đó ngài lên bở, khoác chiếc áo vỏ cây vào, và mang cả hai con vật cùng đến nơi ẩn cư. Ở đó, Ngài kể lại những lợi ích của Tâm từ, khiến cho cả hai hoà hợp. Từ đó về sau, chúng sống với nhau một cách vui vẻ trong yên bình và hoà hợp.

* * *

Khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, hai vị đại quan này là con Rồng và con Kim sí điểu, còn ta chính là vị ẩn sĩ.

Số 155
CHUYỆN BÀ-LA-MÔN GIÀ-GIÀ
(Tiền thân Gagga)

Già-già, mong cha sống trăm năm…

Trong khi trú tại tinh xá do Vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) xây cất cận Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về cái hắt hơi của Ngài.

Một hôm nọ, khi đức Thế Tôn thuyết giảng cho tứ chúng ngồi quanh, Ngài đã hắt hơi. Thấy  thế, các Tỳ-kheo lớn tiếng nói:

–  Mong Thế Tôn được trường thọ, mong Thế Tôn được trường thọ!

Họ nói và gây ôn ào. Tiếng ồn này làm gián đoạn buổi thuyết giảng. Thế rồi, đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

– Này các Tỳ-kheo, khi nghe một cái hắt hơi, các thầy nói to lên “Mong được trường thọ” thì việc đó có làm cho một người sống thêm hay chết đi phần nào không?

Chư vị trả lời:

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

Ngài nói tiếp:

 – Này các Tỳ-kheo, các thầy không nên nói to lên “Mong được trường thọ” khi nghe một cái hắt hơi. Ai làm như vậy là sai trái.

Bấy giờ, mỗi khi các Tỳ-kheo hắt hơi, các cư sĩ thường nói lớn:

– Mong Tôn giả trường thọ!

Nghe vậy, các thầy cảm thấy ái ngại nhưng không trả lời. Các cư sĩ  thấy khó chịu nên hỏi:

– Tại sao các Sa môn Thích tử khi hắt hơi, và được cầu chúc sống lâu đã không trả lời?

Sự việc này được bạch lên đức Thế Tôn. Ngài nói:

– Này các Tỳ-kheo, người đời thường mê tín. Vậy nên khi các thầy hắt hơi, họ nói: chúc Tôn giả trường thọ! Thì ta cho phép các thầy trả lời: mong cư sĩ cũng vậy.

Thế rồi, các Tỳ-kheo hỏi Ngài:

– Bạch Thế Tôn, người đời bắt đầu lời chúc đáp “Trường thọ” này vào khi nào?

Đức Thế Tôn trả lời:

–  Điều này bắt đầu từ xa xưa.

Và rồi, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời xưa.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào một gia đình Bà-la-môn ở vương quốc Ca-thi (Kāsi). Thân phụ của Ngài là một thương nhân. Khi Ngài độ chừng mười sau tuổi, thân phụ trao cho Ngài một viên ngọc quý, và cả hai đi mãi hết thành phố này đến thành phố khác, hết làng này đến làng khác, cho đến khi họ đi đến Ba-la-nại. Ở đấy, họ ăn cơm ở nhà người gác cổng, và khi không thể tìm ra nơi nào để trọ, họ hỏi nơi trọ dành cho người hành cước đến trể ở đâu? Người ta trả lời rằng có một căn nhà ở ngoài thành phố nhưng ở đấy có ma, nhưng nếu họ muốn thì cứ đến đó trọ. Bồ-tát nói với cha:

– Thưa cha, con không sợ con quỷ Dạ-xoa nào cả ! Con sẽ hàng phục và mang nó đến nơi chân cha.

Bồ-tát thuyết phục cha mình như vậy, và họ cùng đi đến nơi ấy. Người cha nằm trên một chiếc ghế dài, còn Bồ-tát nằm bên cạnh bóp chân cho ông.

Bấy giờ, sau khi phục vụ Tỳ-sa-môn thiên vương (Vessavana) mười hai năm, con quỷ Dạ-xoa nhận được ngôi nhà này với điều kiện: Nếu những ai đi vào nhà này, khi bị hắt hơi và được cầu chúc sống lâu, đã trả lời: “chúc ngài trường thọ!” hay “ngài cũng như vậy!” Trừ những người đó ra, còn lại con Dạ-xoa có quyền ăn thịt. Con quỷ Dạ-xoa ở nơi xà giữa căn nhà.

Nó quyết định làm cho cha của Bồ-tát hắt hơi. Vì vậy, bằng thần lực của mình nó tạo ra một đám bụi mỏng, đám bụi bay vào lỗ mũi của người này, và đang lúc nằm trên ghế, ông ta hắt hơi. Bồ-tát không nói “Mong cha trường thọ!” Con quỷ từ chỗ trú của mình đi xuống, sẵn sàng nuốt lấy nạn nhận. Bồ-tát nhìn thấy nó đi xuống liền nghĩ, “Không nghi ngờ gì nữa, nó là kẻ đã làm cha ta hắt hơi. Con quỷ này chắc chắn đã ăn thịt tất cả những người không nói “Mong ngài trường thọ.” Để nói với cha mình, Bồ-tát đọc lên bài kệ thứ nhất như sau:

Già già mong cha sống trăm năm

Thêm hai mươi nữa, con cầu mong!

Mong cha không bị quỷ ăn thịt

Mong cha sống được một trăm năm!

Dạ-xoa nghĩ, “Ta không thể ăn thịt người này, bởi vì hắn nói: cầu cha trường thọ. Nhưng ta sẽ ăn thịt cha hắn.”  Nghĩ rồi, nó đi gần đến người cha. Nhưng người này đoán biết sự thật vấn đề, ông nghĩ, “Đây hẳn là con quỷ Dạ-xoa, kẻ đã ăn thịt tất cả những ai không đáp lại: mong ngài trường thọ. Vì vậy, ông nói với con trai mình bằng bài kệ thứ hai:

Mong con cũng sống một trăm năm

Thêm hai mươi nữa, cha cầu mong

Thức ăn của quỷ là chất độc

Mong con sống được một trăm năm!

Con quỷ nghe vậy liền bỏ đi. Nó nghĩ, “Ta không ăn được hai người này.” Nhưng Bồ-tát hỏi nó:

– Này quỷ, hãy đến đây, tại sao ngươi ăn thịt những ai bước vào nhà này?

– Vì ta đã phục vụ Tỳ-sa-môn thiên vương trong mười hai năm.

– Gì, có phải ngươi được quyền ăn thịt mọi người?

– Trừ những ai nói “Ngài cũng vậy” khi người khác chúc họ trường thọ.

– Này quỷ, vào kiếp trước, ngươi đã làm một vài việc ác, hành nghiệp đó đã khiến cho ngươi bây giờ tái sinh làm kẻ hung dữ, độc ác, ngươi sẽ phải trãi qua cảnh tăm tối này đến cảnh tăm tối khác. Vậy nên từ này trở đi, ngươi nên tránh việc đoạt lấy mạng sống.

Bằng những lời như vậy, Bồ-tát đã hàng phục được con quỷ, khiến nó kinh hãi nỗi khổ địa ngục. Ngài truyền trao Ngũ giới cho nó, và khiến nó trở thành một người giúp việc biết vâng lời.

Hôm sau, khi người ta đến thấy con quỷ, biết Bồ-tát đã hàng phục nó, họ đi đến tâu với vua rằng:

– Bẩm Hoàng thượng, có một người đã hàng phục được con quỷ Dạ-xoa, và khiến nó trở thành một người giúp việc biết vâng lời!

Nhà vua cho gọi Bồ-tát đến và đề xuất Ngài làm Tướng quân, ban tặng cho người cha nhiều danh vọng, xếp đặt cho con quỷ làm người thu thuế. Rồi nhà vua làm theo những lời giáo huấn của Bồ-tát, thực hành bố thí và làm điều thiện, sau đó được sanh lên thiên giới.

* * *

Kết thúc pháp thoại nhằm giải thích tập tục trả lời “Mong được trường thọ” hay “Mong ngài cũng vậy” này, đức Thế Tôn nhận diệnTiền thân:

– Vào thuở đó, A-nan là nhà vua, Ca Diếp (Kassapa) là người cha, còn ta chính là chàng trai đó.

Số 156
CHUYỆN HOÀNG TỬ THẮNG TÂM
(Tiền thân Alīnacitta)  

  Thái tử Thắng Tâm khiến vua xấu...

Đức Thế Tôn kể câu chuyện này tại Kỳ Viên (Jetavana), về một Tỳ-kheo thối thất tâm. Những tình huống câu chuyện sẽ được trình bày ở Tiền thân Samvara, số 462. Khi đức Thế Tôn hỏi Tỳ-kheo này rằng có phải thầy thực sự thối thất tâm không, thầy trả lời:

– Bạch Thế Tôn, thật  như vậy.

Đức Thế Tôn nói với thầy:

–  Này Tỳ-kheo, thuở xưa, thầy đã kiên nhẫn nỗ lực giành lấy vương thành Ba-la-nại rộng mười hai dặm, và trao nó cho một cậu bé, không khác gì trao một miếng thịt! Còn giờ đây thầy xuất gia theo đại đạo giải thoát này, lại thối thất tâm sao?s

Rồi Ngài đã kể một câu chuyện xưa.

* * *

Thuở xưa , khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares), cách kinh thành ấy không xa, có một ngôi làng thợ mộc. Ở đó, có năm trăm người thợ mộc sinh sống. Họ thường dùng thuyền đi ngược sông để vào rừng. Ở đó, họ đẽo xà và ván để làm nhà, đặt sườn những căn nhà một gác hay hai gác lại với nhau, đánh số tất cả những trụ chính, rồi mang xuống bờ sông, chất hết lên và chèo trở về. Họ thường làm nhà khi có người đặt hàng, rồi sau khi nhận tiền công, họ trở lại vào rừng để kiếm thêm vật liệu. Họ đã sinh sống theo cách ấy.

Một lần nọ, tại nơi họ đẽo gỗ, có một con voi giẫm lên một mảnh gỗ keo và bị mảnh gỗ đâm vào chân. Vết thương sưng phồng lên và mưng mủ, khiến con voi đau đớn vô cùng. Trong sự đau đớn tột cùng, nó nghe tiếng xẻ gỗ của những người thợ mộc này, liền nghĩ, “Những người thợ mộc này sẽ cứu ta.” Khập khiểng ba chân, nó đi đến những người thợ mộc và nằm xuống một bên. Những người thợ mộc nhìn thấy cái chân sưng phồng mưng mủ của nó,  xem xét thì thấy có một mảnh gỗ mắc kẹt trong đó. Bằng một dụng cụ sắc, họ rạch quanh mảnh gỗ, buộc nó vào một sợi dây và giật phăng nó ra. Sau đó, họ mổ chỗ mưng mủ, dùng nước nống rửa sạch, chữa trị vết thương đúng cách, và chỉ trong chốc lát vết thương đã được chữa lành.

Tri ân việc cứu chữa này, Voi nghĩ: “Những người thợ mộc này đã cứu mạng ta, giờ đây ta phải trả ơn họ.” Vì thế từ ấy trở đi, nó thường kéo cây, lăn gỗ lại khi họ đốn xuống, mang rìu búa hay những dụng cụ nào họ cần bằng cách giữ chặt nơi vòi. Còn những người thợ mộc đến buổi thì cho nó ăn, mỗi người thường mang cho nó một phần, và như vậy nó có năm trăm phần ăn tất cả.

Bấy giờ, con voi này có một con voi con trắng muốt, là một con thú cao quý. Voi nghĩ rằng bây giờ nó đã già, tốt hơn nó nên đem con nó đến phục vụ những người thợ mộc này rồi ra đi. Vì thế, không nói gì với các thợ mộc, nó đi vào rừng và đưa con mình đến cho họ, nó nói:

– Voi nhỏ này là con tôi. Các ông đã cứu mạng tôi, nay tôi giao nó cho các ông như là tiền công cho việc các ông đã cứu chữa tôi. Từ này về sau, nó sẽ giúp việc cho các ông.

Rồi nó giảng giải với con Voi nhỏ rằng, bổn phận của voi nhỏ là làm những công việc mà nó đã làm. Nói xong, nó đi vào rừng, để con voi nhỏ ở lại với những người thợ mộc. Kể từ hôm đó, con Voi nhỏ làm mọi việc cho họ, trung thành và ngoan ngoãn. Còn những người thợ đã cho nó ăn như cho con voi trước đây, năm trăm phần cho một bữa.

Mỗi khi làm xong việc, Voi thường chơi quanh quẩn ở sông, rồi sau đó lại quay về. Con cái của những người thợ mộc này thường kéo vòi nó, đùa giởn tinh nghịch với nó trên và dưới sông. Thời ấy, những loài thú cao quý như voi, ngựa, hay loài người không bao giờ đại tiểu tiện trong nước. Vì vậy, con Voi này không làm những việc như vậy khi ở trong nước mà đợi cho đến khi nào lên bờ.

Một ngày nọ trời mưa, dòng nước đã mang bãi phân khô của voi vào sông. Bãi phân trôi dạt đến bến thuyền Ba-la-nại, và bị mắc kẹt trong một lùm cây. Trong lúc đó, những người quản tượng của nhà vua đang đem năm trăm con voi xuống sông tắm. Nhưng những con voi đánh hơi thấy bãi phân của con thú cao quý này nên không một con nào dám bước xuống nước, cong đuôi lên, cả bầy bỏ chạy. Những người quản tượng thuật lại điều này cho những người huấn luyện voi. Những người này nói:

–  Như vậy, chắc có một thứ gì đó ở trong nước.

Vì thế, họ ra lệnh phải dọn sạch nước, và rồi họ thấy bãi phân này trong bụi cây. Họ nói:

–  Nguyên nhân chính là đây!

Họ mang đến một cái chum và đổ đầy nước vào, kế đến nghiền nát bãi phân này trong chum và rưới nước lên đàn voi, thân của chúng trở nên có hương thơm. Ngay lập tức chúng lội xuống sông và tắm.

Khi tường thuật lại việc này cho nhà vua, những người huấn luyện voi khuyên vua nên tìm con Voi này vì giá trị và lợi ích của nó.

Do đó, nhà vua ngự lên một chiếc thuyền, và chèo ngược sông mãi cho đến khi đến nơi những người thợ mộc định cư. Con voi nhỏ đang nằm trong nước thì nghe tiếng trống, nó ra khỏi nước và đến gần những người thợ mộc. Những người thợ mộc đi ra cung đón nhà vua giá lâm. Họ bẩm với vua:

– Bẩm Hoàng thượng, nếu ngài cần đồ mộc, cần gì ngài phải đến đây? Tại sao ngài không nhắn để chúng con mang đến?

– Này các khanh, trẫm đến đây không phải vì cần gỗ mà vì muốn có con voi này.

– Bẩm hoàng thượng, xin hoàng thường cứ mang nó đi!

Nhưng khi vua dắt đi, con Voi không nhúc nhíc. Thấy vậy, nhà vua hỏi:

– Này Voi, bạn muốn tôi làm gì?

– Bẩm hoàng thượng, xin trả tiền cho những người thợ mộc này vì họ đã nuôi tôi.

– Này bạn, được thôi.

Nhà vua sai đem một trăm ngàn đồng tiền đặt cận đuôi, vòi và một trong bốn chân của nó. Nhưng như vậy đối với Voi là không đủ, nên nó không đi. Vì thế, mỗi người thợ mộc được cho thêm một đôi áo, và vợ của họ mỗi người được ban một chiếc áo choàng, vua cũng không quên ban phát tiền nuôi dương đầy đủ cho những đứa trẻ cùng chơi với Voi. Sau đó, nhìn những thợ mộc, phụ nữ và lũ trẻ lần cuối, nó ra đi cùng với nhà vua.

Nhà vua đưa nó về kinh thành. Thành phố và chuồng voi được trang hoàng hết sức lộng lẫy. Ông cho con Voi dạo quanh kinh thành trong một đám rước long trọng, rồi đưa nó về chuồng và trang trí chuồng lộng lẫy. Nhà vua làm lễ quán đảnh cho Voi và chọn nó làm vương tượng. Ông cư xử với nó như một người bạn, ban cho nó một nửa vương quốc, và chăm sóc nó như chăm sóc bản thân mình. Từ khi con Voi này đến, khắp cõi Ấn Độ đều thuộc quyền cai trị của vua.

Bấy giờ, hoàng hậu mang thai Bồ-tát. Khi kỳ sinh nở cận kề thì nhà vua băng hà. Lúc này, nếu con Voi biết tin nhà vua băng hà thì chắc nó sẽ vỡ tim, vì thế không ai nói gì với nó mà vẫn chăm sóc nó như trước đây. Nhưng vị vua xứ Câu-tát-la (Kosala) láng giềng, khi nghe nhà vua băng hà liền nghĩ, “Ta phải định đoạt xứ sở này mới được.” Và rồi, ông kéo một đạo quân hùng mạnh đến bao vây kinh thành. Quân bảo vệ cho đống ngay các cổng thành lại, và gởi thư cho vua Câu-tát-la:

– Hoàng hậu chúng tôi gần đến kỳ sinh, và những nhà tiên tri tiên đoán rằng trong bảy ngày tới bà sẽ sinh một hoàng nam. Nếu bà sinh một hoàng nam, chúng tôi sẽ không chịu nhường vương quốc mà vào ngày thứ bảy chúng tôi sẽ tham chiến với ông. Vì thế, chúng tôi xin ông chờ cho!

Vua Câu-tát-la đồng ý.

Đến ngày thứ bảy, hoàng hậu sinh một hoàng nam. Vào ngày đặt tên, họ đặt tên cho hoàng từ là hoàng tử Thắng Tâm, vì họ nói rằng thái tử sinh ra để thâu phục nhân tâm.

Cũng chính vào ngày hạ sanh thái từ, thị dân bắt đầu đánh nhau với vua Câu-tát-la. Nhưng do họ không có người lãnh đạo, nên dầu đạo quân rất mạnh cũng dần dần thất thế. Triều thần tâu sự việc với hoàng hậu:

– Nếu đạo quân cứ thất thế rút lui thế này, chúng tôi sợ sẽ thất bại. Trong khi quốc Tượng người bạn của đức vua chúng ta, chúng ta chưa hề nói với nó là vua đã băng hà và hoàng tử được sanh ra. Giờ đây, vua xứ Câu-tát-la gây chiến với chúng ta, chúng ta có nói cho nó biết không?

– Hãy nói cho nó biết. Hoàng hậu đáp.

Thế rồi, hoàng hậu mặc quần áo cho hoàng tử, đặt cậu vào trong một tấm lụa mịn, rồi cùng với triều thần rời cung để đến chuồng voi. Ở đấy, bà đặt hoàng tử dưới chân Voi, và nói:

–  Này Voi, bạn của Voi đã băng hà, nhưng chúng tôi sợ Voi vỡ tim khi biết tin đó nên không nói. Đây là con trai của bạn Voi. Giờ đây, vua xứ Câu-tát-la đã đến vây lấy  kinh thành một dặm, đang gây chiến với con trai của bạn Voi, và đạo quân đang thua trận, hoặc Voi hãy giết chết đứa bé này, hoặc giành lại vương quốc cho nó!

Voi liền dùng vòi vuốt ve đứa bé, nhắc nó lên trên đầu mình, và than khóc.  Rồi nó nhắc đứa bé xuống, đặt vào tay hoàng hậu và nói:

– Tôi sẽ chinh phục vua xứ Câu-tát-la!

Nói rồi, nó vội ra đi.

Sau đó, các triều thần khoác áo giáp và yên lên lưng nó, mở cổng thành và hộ tống nó đến chiến trận. Voi gầm lên, làm cho tất cả đạo quân của vua Câu-tát-la khiếp sợ đến phải bỏ chạy. Nó đập nát doanh trại, túm lấy búi tóc vua Câu-tát-la và lôi ông đến đặt dưới chân hoàng tử. Một số người đứng dậy định giết ông ta, nhưng Voi ngăn lại và để cho vị vua tù binh ra đi cùng với lời khuyên:

– Sau này hãy thận trong, đừng quá kiêu ngạo vì nghĩ hoàng tử chúng tôi còn nhỏ.

Từ đó, khắp cõi Ấn Đội đều thuộc quyền cai trị của Bồ-tát, và không có một kẻ thù nào dám nỗi dậy chống lại Ngài. Bồ-tát lên ngôi vào lúc mười bảy tuổi với vương hiệu Thắng Tâm vương, trị vì vương quốc một cách công chính, rồi sau khi mạng chung đã sanh về thiên giới.

* * *

Khi kết thúc pháp ngữ này, đức Thế Tôn bằng giác ngộ viên mãn đã đọc lên đôi bài kệ:

Thái tử Thắng Tâm khiến vua xấu

Xứ Câu-tát-la biết tri túc,

Bằng việc bắt lấy vua tham ác

Đã khiến dân chúng vui háo hức.

 

Vậy nên Tỳ-kheo cần tinh tấn

Quy y, tu tập các pháp lành,

Trình tự đoan trừ các kiết sử

Đạt đến Niết bàn giải thoát thân.

Và như thế, sau khi trình bày giáo pháp đưa đến đỉnh điểm Niết bàn vĩnh cữu, đức Thế Tôn tiếp tục tuyên thuyết Tứ Thánh Đế và nhận diện Tiền thân: (Sau khi tuyên thuyết xong các Thánh Đế, thầy Tỳ-kheo thối thất tâm này chứng được quả A-la-hán):

– Bấy giờ, Ma-ha-ma-ya (Mahāmayā) là hoàng hậu, Tỳ-kheo thối thất tâm này là con voi đã giành lấy vương quốc và trao nó cho hoàng tử, Xá-lợi-phất  (Sāriputta) là Voi cha, còn ta chính là Hoàng tử.

Số 157
CHUYỆN CÔNG ĐỨC
(Tiền thân Gua)

Người mạnh luôn có cách của họ…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về việc Tôn giả A-nan (Ānanda) đã nhận được phẩm vật cúng dường gồm một ngàn chiếc y.

Tôn giả đã thuyết giảng cho các cung phi tại hậu cung vua Câu-tát-la (Kosala) như đã được mô tả ở Tiền thân Mahāsāra, số 92.

Khi Tôn giả thuyết giảng ở đó như đã được mô tả, thì người ta đem một ngàn chiếc y mỗi chiếc trị giá một ngàn đồng tiền đến dâng vua. Vua ban năm trăm chiếc y cho các cung phi. Các cung phi để dành những chiếc y này và làm phẩm vật cúng dường Tôn giả. Rồi vào hôm sau, họ mặc những bộ đồ cũ và đi đến hoàng cung, nơi nhà vua đang dùng điểm tâm. Vua phán hỏi:

 – Trẫm đã ban cho các nàng những chiếc y mỗi chiếc trị giá một ngàn đồng tiền, vậy sao các nàng không mặc?

Họ nói:

– Bẩm hoàng thượng, chúng thiếp đã cúng dường cho Tôn giả A-nan.

– Có phải Tôn giả A-nan đã nhận tất cả?

– Bẩm hoàng thượng, đúng như vậy.

– Đức Phật chỉ cho phép nhận ba y. Ta nghĩ là A-nan đang làm việc buôn bán y áo đây!

Vua nói và tỏ thái độ tức giận Tôn giả. Rồi sau buổi điểm tâm, ông đi đến phòng Tôn giả, chào hỏi xong, ông ngồi xuống và nói thế này:

– Thưa Tôn giả, có phải những cung phi của trẫm thường học hỏi và nghe Tôn giả thuyết pháp không?

– Thưa Hoàng thượng, đúng vậy. Họ học những gì nên học và nghe những gì nên nghe.

– Ôi, thực vậy ư! Có phải họ chỉ lắng nghe, hay họ đã đem cúng cho Tôn giả cả những thượng y lẫn hạ y?

– Thưa Hoàng thượng, hôm nay họ đã cúng cho tôi năm trăm chiếc y, mỗi chiếc trị giá một ngàn đồng tiền.

– Và có phải Tôn giả đã nhận tất cả?

– Thưa Hoàng thượng, tôi đã nhận tất cả.

– Thưa Tôn giả, không phải đức Thế Tôn đã chế luật tắc ba y sao?

– Đúng thế, thưa Hoàng thượng. Theo luật, mỗi Tỳ-kheo chỉ có ba y. Tuy thế, Tỳ-kheo được phép nhận những gì khi được cúng dường, và do đó tôi đã nhận tất cả để cúng lại cho những Tỳ-kheo mà y đã bị rách.

– Nhưng khi các Tỳ-kheo này nhận y nơi thầy, họ sẽ làm gì với những y cũ của họ?

– Họ làm thành thượng y.

– Với thượng y cũ, họ làm gì?

– Họ chuyển chúng thành nội y.

– Với nội y cũ, họ sẽ làm gì?

– Dùng chúng làm nệm trải đơn.

– Với nệm trải đơn cũ, họ làm gì?

– Dùng làm thảm trải nhà.

– Với thảm trải nhà củ, họ làm gì?

– Làm thành khăn lau chân.

– Và họ làm gì với chiếc khăn lau chân cũ?

– Thưa Hoàng thượng, không được phép hoang phí vật bố thí của các tín chủ, vì vậy họ sẽ băm nhỏ khăn lau chân cũ thành từng mảnh rồi trộn với đất sét, dùng chúng thay vữa trong việc xây dựng am thất.

– Thưa Tôn giả, phẩm vật bố thí không nên huỷ bỏ, thậm chí không nên làm một chiếc khăn lau chân.

– Đúng vậy, thưa Hoàng thượng, chúng tôi không huỷ bỏ những vật thí, mà tất cả được sử dụng theo một cách khác.

Cuộc đối thoại này đã làm cho nhà vua vô cùng hoan hỷ. Ông cho đem hết năm trăm tấm y còn lại dâng cúng Tôn giả. Rồi sau khi nhận lời hồi hướng công đức, ông cung kính đảnh lễ Tôn giả và ra về.

Tôn giả trao năm trăm tấm y đầu tiên cho những Tỳ-kheo y đã bị rách, số thầy Tỳ-kheo này vừa đúng năm trăm. Trong số những thầy này, có một thầy Tỳ-kheo trẻ giúp ích cho Tôn giả rất nhiều. Thầy quét dọn phòng, phục vụ thức ăn và nước uống, đưa kem đánh răng và nước súc miệng, coi sóc nhà vệ sinh, phòng khách, phòng ngủ, và xoa bóp tay chân lẫn đấm lưng cho Tôn giả. Tôn giả đã trao năm trăm tấm y nhận sau cho thầy này vì việc thầy phục vụ Tôn giả tận tình chu đáo. Thầy Tỳ-kheo trẻ tuỳ ý phân phát chúng cho các pháp hữu. Họ cắt y ra, nhuộm vàng như một bông hoa kaikāra. Sau đó, họ đi đến đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, rồi ngồi xuống một bên. Họ hỏi:

– Bạch Thế Tôn, những thánh đệ tử đã nhập vào Dự Lưu đạo có thể đối xử phân biệt trong việc bố thí không?

– Không, này các Tỳ-kheo, những thánh đệ tử đã nhập vào Dự Lưu đạo thì không thể đối xử phân biệt trong việc bố thí của họ được.

– Bạch Thế Tôn, Hoà thượng của chúng con, bậc Pháp Tạng, đã cho một Tỳ-kheo trẻ năm trăm chiếc y, mỗi chiếc trị giá một ngàn đồng, và thầy này đã chia lại cho chúng con.

– Này các Tỳ-kheo, trong việc ban phát này, A-nan không đối xử phân biệt. Thầy Tỳ-kheo trẻ đó là người thị giả đã giúp ích cho A-nan rất nhiều, vì vậy A-nan đã ban số y đó cho vị ấy vì việc phục vụ, vì công đức của vị này. A-nan cho vì nghĩ rằng đó là người đã tận tâm phụng sự người khác, cho vì muốn tri ân. Thuở trước, những bậc Hiền trí cũng từng giúp đở người khác khi người ấy đã giúp mình.

Và rồi theo lời thỉnh cầu của họ, đức Thế Tôn kể câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm Sư tử sống trong hang động trên núi. Một ngày nọ, Sư tử ra khỏi hang và quan sát chân núi. Bấy giờ, quanh chân núi ấy có một hồ nước lớn. Trên gò đất cao nỗi lên giữa hồ nước, sinh trưởng một loại cỏ xanh mềm mọc trên lớp bùn dày. Các loài thỏ, nai và những loài thú nhẹ đi lại ăn có trên đó. Hôm đó như thường lệ, có một con nai đến ăn cỏ trên đó.

“Ta sẽ ăn con nai này!” Sư tử nghĩ và lao từ sườn đồi sang gò đất. Con nai khiếp sợ, kêu lên và chạy thúc mạng. Sư tử không thể kìm hãm được, rơi xuống bùn và lún sâu vào đến độ không thể thoát ra được. Vì thế, Sư tử ở lại đấy bảy ngày, chân bị chôn chặt như bốn cột trụ, và không ăn được một miếng thức ăn nào.

Thế rồi, một con Sói đi săn thức ăn và tình cờ nhìn thấy Sư tử. Sói quá khiếp đảm nên đã bỏ chạy. Nhưng Sư tử gọi lớn:

– Này Sói, xin đừng chạy, tôi đã bị mắc cứng trong bùn, xin vui lòng cứu tôi!

Chó rừng đi đến và nói:

– Tôi có thể kéo anh ra được, nhưng tôi sợ rằng mỗi khi anh ra khỏi, anh lại ăn thịt tôi.

– Xin anh chớ sợ, tôi không những không ăn thịt anh mà ngược lại tôi sẽ hầu hạ anh hết mình, mong anh kéo tôi ra khỏi đây.

Sói chấp nhận lời hứa này, Nó đào lớp bùn xung quanh bốn chân Sư tử, và đào rãnh dẫn nước vào nơi bốn cái hố chân bị chôn chặt đó để làm cho bùn mềm ra. Rồi nó chui xuống dưới bụng Sư tử, nói rằng:

– Này anh, hãy cố gắng lên.

Sói thét một tiếng lớn và húc đầu vào bụng Sư tử. Sư tử gắng sức trườn ra khỏi bùn, và nhảy lên đứng trên đất cứng. Sau khi nghĩ ngơi một lát, Sư tử lặn vào hồ nước, tắm rửa và cọ đi lớp bùn nơi mình. Rồi giết một con heo rừng, dùng răng nanh xé thịt con heo ra, Sư tử trao cho Sói một số và nói rằng:

– Hãy ăn đi anh bạn!

Sau khi Sói ăn rồi, Sư tử liền ăn. Sau khi ăn xong, Sói gặm một miếng thịt trong miệng. Thấy  vậy, Sư  tử  hỏi:

– Anh gặm nó để làm gì vậy?

–  Để cho vợ tôi, người đang chờ tôi ở nhà.

– Tốt lắm.

Sư tử nói và cũng mang cho vợ mình một miếng.

– Chúng ta đi anh bạn.

Rồi nó lại nói:

– Chúng ta hãy dừng lại nghĩ một lát trên đỉnh núi, và sau đó đi đến nhà bà nhà  của anh.

Vì vậy chúng đi đến đó, Sư tử cho Sói cái ăn, và cả hai đều rất thoả mãn. Rồi Sư tử nói:

– Bây giờ tôi muốn chăm sóc anh chị.

Vì thế, Sư tử đưa chúng đến nơi mình sống, cho chúng ở trong một cái hang gần cửa vào hang mình.

Từ đó, Sư tử và Sói thường đi săn mồi với nhau, còn để những người vợ của chúng ở nhà. Tất cả thú giết được, chúng ăn tuỳ thích, rồi sau đó mang một số về cho hai con cái ăn. Một thời gian sau, Sói cái và Sư tử cái mỗi con bấy giờ có hai đứa con, và bọn chúng cùng sống với nhau vui vẻ.

Một hôm, Sư tử cái chợt nghĩ, “Chồng ta dường như rất yêu mến Chó rừng lẫn vợ và những đứa con nhỏ của anh ta. Ta nghĩ là chồng ta làm việc bất chính với con sói cái! Hẳn đây là nguyên nhân tại sao chồng ta yêu mến nó. Được, ta sẽ quấy rối và làm cho cô ta sợ hãi, rồi tống cổ cô ta ra khỏi nơi này mới được.”

Vì thế khi Sư tử và Sói đi săn mồi xa, cô ta quấy rối và làm cho vợ Sói sợ hải. Nó hỏi cô ta tại sao đã ở đây, tại sao không đi đi? Còn hai đứa con của Sư tử cái cũng làm cho những Sói con hoảng sợ y như vậy. Sói cái nói với chồng của mình những gì đã nghe.

–  Rõ ràng Sư tử muốn gợi ý với chúng ta rằng, chúng ta đã ở đây quá lâu, và giờ đây anh ta là tử thần của chúng ta. Thôi, Chúng ta hãy trở lại nơi đã sống trước đây đi!

Nghe vậy, Sói liền đi đến chỗ Sư tử và nói thế này này:

– Anh ạ, chúng tôi sống ở đây đã lâu. Ở quá lâu thì người ta sẽ không muốn tiếp nữa. Trong khi chúng ta đi vắng, cô nhà của anh đã chửi rủa và làm cho vợ tôi kinh hãi. Cô nhà hỏi rằng tại sao vợ tôi đã ở đây, và bảo vợ tôi hãy xéo đi. Những cậu con anh cũng làm như vậy với con tôi. Nếu người nào đó không thích người hàng xóm của mình thì bảo để họ đi nơi khác, chứ quấy rối nhau như vậy để làm gì chứ?

Nói vậy rồi, Sói đọc lên bài kệ thứ nhất:

Người mạnh luôn có cách của họ              

Bản chất của họ là như vầy

Cô vợ của anh rống tiếng lớn

Tôi sợ những gì nương trước đây.

Nay biết sự thực sinh sợ hãi.

Sư tử lắng nghe, sau đó đi đến vợ và nói:

– Này nàng, nàng còn nhớ có một lần ta đi ra ngoài kiếm mồi suốt cả một tuần và sau đó mang anh Sói này và cô vợ của anh ta về không?

– Thiếp còn nhớ, thưa chàng.

– Tuy thế, nàng không biết tại sao tôi đã vắng nhà suốt cả tuần đó phải không?

– Không, thưa chàng.

– Nàng ạ, trong khi cố bắt một con nai, ta đã phạm sai lầm và bị mắc cứng trong bùn. Ta đã ở lại đó vì không thể thoát ra được, suốt cả tuần không có một miếng thức ăn. Anh Sói đây đã cứu mạng ta đấy! Một người bạn trong lúc hoạn nạn là một người bạn chân thực, dù người ấy lớn hay nhỏ. Nàng không được coi thường người bạn của ta, cũng như vợ con gia đình anh ta.

Nói rồi, Sư tử đọc lên bài kệ thứ hai:

Anh ta yêu dầu yêú nhưng bạn tốt

Thân bằng máu thịt của ta đây

Này nàng nanh sắc, đừng khinh miệt!

Kẻ cứu mạng ta, chính Sói này.

Sư tử cái khi nghe chuyện này, đã đến giải hoà với cô vợ của Sói, và mãi về sau đã sống thân thiện với cô sói và các con nhỏ của cô. Những con nhỏ của hai đôi vợ chồng này đã chơi với nhau trong suốt thời thơ ấu của chúng, và khi cha mẹ chúng qua đời, chúng không phá vỡ mối quan hệ thân hữu này, mà cùng sống hạnh phúc như cha mẹ của chúng đã từng sống trước đây. Sự thực, tình bạn này được duy trì không bị phá vỡ suốt bảy đời.

* * *

Khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh Đế: Khi Phật thuyết xong các Thánh Đế, có Tỳ-kheo nhập vào Dự Lưu, có người đắc được Nhất Lai, có người chứng được Bất Lai, và có người chứng được A-la-hán.

Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thủa đó, A-nan là con Sói, còn ta chính là Sư tử.

Số 158
CHUYỆN CON NGỰA THIỆN GIÁP
(Tiền thân Suhana)

Tát-noa cùng Thiện Giáp…

Trong khi trú tại tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về hai Tỳ-kheo có tính khí nóng nảy.

Có hai thầy Tỳ-kheo, một người sống ở Kỳ Viên và một người sống ở miền quê. Hai thầy này tính tình nóng giận, thô lỗ và hung dữ. Một hôm nọ, thầy Tỳ kheo ở quê vì có công chuyện nên đến Kỳ Viên. Các Sa-di và những Tỳ-kheo trẻ biết tính khí hay nóng giận của vị này, vì vậy họ dẫn thầy đến phòng của thầy kia, tất cả nóng lòng chờ xem họ tranh cãi. Ngay khi vừa thấy mặt nhau, hai người có tính khí nóng nảy này đã ôm chầm lấy nhau, xoa bóp chân, tay và đấm lưng nhau!

Các Tỳ -kheo bàn luận điều này trong Chánh pháp đường:

– Thưa các Hiền hữu, hai Tỳ-kheo này cáu giận, thô lổ và hung dữ đối với người khác, nhưng giữa họ với nhau thì luôn là bạn bè thân mật và đầy cảm thông!

Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang bàn luận điều gì khi ngôi lại nơi đó? Họ Thuật lại sự việc với Ngài. Ngài nói:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần duy nhất hai người này cáu giận, thô lổ và hung dữ đối với những người khác, còn chính họ lại bày tỏ thân mật, thương yêu và cảm thông với nhau thôi đâu. Điều này xưa kia cũng đã vậy rồi.

Nói như vậy xong, Thế Tôn liền kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua nước Ba-la-nại (Banares), Bồ-tát là một vị đại thần trông coi mọi việc cho ông, cố vấn cho vua các việc thế sự cũng như tâm linh. Bấy giờ, vị vua này có bản tính tham lam. Ông có một con ngựa hung dữ được đặt tên là Ma-ha-tác-noa (Mahāsoa, Hạt dẽ lớn).

Một số người lái ngựa từ miền Bắc mang xuống năm trăm con ngựa, và báo tin cho nhà vua rằng những con ngựa đã đến. Trước đây, Bồ-tát thường để những lái buôn ấn định giá cả rồi sau đó trả tiền đầy đủ. Nhưng giờ đây nhà vua phật lòng, nên cho gọi một triều thần khác đến và nói:

– Này khanh, bọn người này tự định giá cả của họ, vậy thì hãy thả con Ma-ha-tác-noa vào trong đàn ngựa để cho nó cắn đàn ngựa, rồi khi đàn ngựa yếu đuối và bị thương tích thì bọn người này sẽ giảm giá tiền.

– Thưa vâng.

Vị triều thần tuân lệnh và làm theo như vậy.

Những vị lái buôn hết sức phẫn nộ, và nói với Bồ-tát điều con ngựa này đã làm. Bồ-tát hỏi:

– Các ông không có một con ngựa như vậy ở kinh đô của mình à?

Họ nói:

– Thưa có, chúng tôi có một con ngựa được đặt tên là Thiện Giáp (Suhanu), nó là một con ngựa hung dữ và hoang dã.

– Lần sau đến, các ông hãy mang nó theo. Bồ tát nói.

– Thưa vâng.

Vì thế lần kế khi họ đến, họ đã mang con ngựa này theo cùng. Khi nghe những nhà buôn ngựa đã đến, nhà vua mở cửa sổ nhìn bầy ngựa, rồi cho thả con Ma-ha-tát-noa ra. Khi nhìn thấy con Ma-ha-tát-noã đến, những vị lái buôn thả con Thiện Giáp ra. Khi hai con ngựa gặp nhau, nó đứng lại và liếm mình nhau!

Vua thấy vậy bèn hỏi Bồ-tát:

– Này khanh, khi những con ngựa độc đi ngang qua những con ngựa khác, chúng luôn hung dữ, điên cuồng và bạo tiết, cắn và gây thương tích cho những con khác. Nhưng giữa chúng với nhau, chúng đứng lại, liếm khắp mình nhau! Lý do gì vậy?

Bồ-tát nói:

–Tâu đại vương, vì chùng giống nhau, giồng nhau cả trong bản chất lẫn đặc tính.

Và Bồ-tát đọc lên đôi bài kệ này:

Tát-noa cùng Thiện giáp

Tính khí không khác nhau

Tát noa sống thế nào

Thiện giáp như thế ấy.

 

Cả hai đều hung hãn

Luôn cắn đồng loại mình

Tà ác theo tà ác

Bất thiện cùng bất thiện.

Sau đó, Bồ-tát khuyên nhà vua bỏ đi lòng tham lam vô độ, đừng làm hại tài sản người khác, rồi ấn định giá tiền và bắt vua phải trả đúng giá. Những lái buôn nhận được giá cả thích đáng, thoả mãn ra đi. Còn nhà vua, tuân theo lời khuyên của Bồ-tát, sau khi mạng chung đã tái sinh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Sau khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Thuở đó, hai Tỳ-kheo xấu nết này là hai con ngựa, A-nan là nhà vua, còn  ta chính là vị cận thần hiền trí.

Số 159
CHUYỆN CON CÔNG
(Tiền thân Mora)

Vị Vua thấy khắp, xin mọc lên…

 Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo thối thất tâm. Các Tỳ-kheo đưa vị này đến trước đức Thế Tôn, Ngài hỏi:

– Này Tỳ-kheo, ta nghe thầy thối thất tâm, có thật vậy chăng?

– Đúng vậy, bạch Thế Tôn.

– Thầy đã nhìn thấy gì để rồi phải như vậy?

– Bạch Thế Tôn con đã nhìn thấy một phụ nữ trang phục xiêm y lộng lẫy.

Nghe thế, đức Thế Tôn nói:

– Không có gì ngạc nhiên khi nữ giới làm rối loạn tâm trí một người như thầy! Ngay cả những bậc hiền trí, những người suốt bảy trăm năm không phạm giới, nhưng khi nghe giọng nói của nữ giới, trong thoáng chốc đã bị phạm giới ngay. Ngay cả hiền thánh cũng bị uế nhiễm. Thâm chí những người được tôn kính rất mực, khi đam mê thanh sắc cũng gánh lấy sự ô nhục, huống gì những người phàm phu như thầy.

Và rồi, Ngài kể một câu chuyện đời trước.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua nước Ba-la-nại (banares), Bồ-tát thọ sanh làm một con chim công. Từ trong quả trứng có lớp vỏ màu vàng như nụ hoa ka-thi-ca (kaikāra), Công phá bỏ lớp vỏ và trở thành một con Công sắc vàng óng và đáng yêu, với những đường sọc đỏ đẹp nằm dưới đôi cánh. Để bảo vệ sự sống, Công đã vượt qua ba ngọn đồi, và đến ngọn đồi thứ tư thì trú lại trên bình nguyên của ngon núi sắc vàng ở Đàn-đặc (Daṇḍaka). Khi ngày mới bắt đầu, Công đứng trên đỉnh núi, xem mặt trời mọc và đọc một câu Phạm chú để bảo hộ bản thân ở nơi kiếm thức ăn. Thần chú bắt đầu với câu:

Chiếu khắp thế gian với ánh vàng.

Nay ta lễ bái bậc chiếu sáng,

Bảo hộ cho ta suốt một ngày.

Sau khi niệm bài chú này để lễ bái mặt trời, Bồ-tát đọc lên một bài khác để lễ bái chư Phật đã nhập diệt trong quá khứ, và tất cả công đức của chư Phật:

Xin hộ trì con, nguyện quy thân

Con lễ chư Phật bậc giác ngộ,

Lễ bậc giải thoát, giải thoát thân.

Đọc bài chú này để bảo hộ thân mạng rồi, Công bay đi kiếm ăn.

Vì thế sau khi bay khắp nơi suốt ngày để kiếm mồi, Bồ-tát trở về vào lúc hoàng hôn và đứng trên đỉnh núi để ngắm nhìn mặt trời chìm bống. Sau đó, Công chú tâm đọc lên một bài chú khác để bảo hộ bản thân và để tránh xa những điều xấu ác. Bài chú bắt đầu câu: 

Vị vua thấy khắp, xin lặn xuống

Bậc chiếu thế gian với ánh vàng.

Con xin lễ bái bậc chiếu sáng,

Hộ trì cho con suốt đêm trường.

 

Bậc thông các pháp, cùng thánh nhân

Xin hộ trì con, nguyện quy thân

Con lễ chư Phật bậc giác ngộ

Lễ bậc giải thoát, giải thoát thân.

Đọc xong bài chú bảo hộ thân mạng này, chim Công đi ngủ.

Bấy giờ gần Ba-la-nại, có một gã thợ săn hung ác sống trong ngôi làng những người thợ săn thú. Khi rảo khắp những ngọn đồi ở vùng Tuyết sơn, gã ta trông thấy Bồ-tát đậu trên ngon núi sắc vàng ở Đàn-đặc (Daṇḍaka), và kể lại việc đó cho con trai mình.

Một hôm, hoàng hậu của vua Ba-la-nại tên là Thái Hòa (Khemā) trong giấc mơ đã thấy một con chim Công sắc vàng đang thuyết pháp. Bà kể lại điều đó với vua và bẩm rằng bà mong được nghe chim Công sắc vàng thuyết pháp. Nhà vua hỏi các cận thần về điều đó, các quan đáp:

– Tâu đại vương, những nhà Bà-la-môn chắc biết con Công đó.

Những nhà Bà-la-môn nói:

– Tâu đại vương, có loài chim Công sắc vàng ấy.

–  Chúng ở đâu?

–  Tâu đại vương, những thợ săn chắc chắn sẽ biết chúng.

Nhà vua cho gọi những người thợ săn đến và hỏi họ. Những thợ săn này trả lời:

– Tâu đại vương, có một con Công sắc vàng đang sống trên ngọn núi vàng ở Đàn-đặc.

– Vậy thì hãy đến đó mang nó về đây, nhớ bắt sống chứ không được giết nó.

Gã thợ săn đặt bẫy tại nơi kiếm ăn của chim Công.  Tuy thế, khi Công giẫm lên bẫy thì bẫy lại không sập. Gã thợ săn này đã cố sức trong bảy năm, nhưng vẫn không tài nào bắt được chim Công, và rồi ông ta đã chết tại đấy. Hoàng hậu Thái Hòa không đạt được mong ước của mình nên cũng qua đời.

Nhà vua giận dữ vì hoàng hậu đã chết bởi một con chim Công. Ông cho khắc dòng chữ trên một kim bản về hậu quả này: “Có một con chim Công sắc vàng sống tại ngọn núi vàng ở Đàn-đặc, trong vùng Tuyết Sơn. Những ai ăn được thịt nó sẽ trẻ mãi không già.” Vua bỏ kim bản này trong một cái tráp nhỏ.

Sau khi ông băng hà, vị vua kế vì đã đọc được dòng chữ này, và nghĩ, “Ta sẽ trẻ mãi không già.” Vì vậy, ông cho gọi người thợ săn khác đến. Giống như người trước đây, vị thợ săn này không bắt được chim Công, và cũng phải bỏ mạng trong việc săn bắt của mình. Cùng cách như vây, sáu vị vua liên tiếp trị vì vương quốc.

Sau đó, đến vị vua thứ bảy trị vì, ông cũng cho gọi đến một người thợ săn. Người thợ săn này quán sát thấy, khi chim Công sắc vàng giẫm lên bẫy, bẫy không sập, và cũng thấy rằng chim Công đã niệm một câu thần chú truớc khi bắt đầu lên đường kiếm mồi. Người thợ săn đi đến ngọn núi lân cận và bắt lấy một con công mái. Ông ta huấn luyện cho nó nhảy múa khi ông ta vỗ tay, và kêu lên khi ông ta gãy ngón tay. Sau đó vào sáng sớm, trước khi Công đọc niệm thần chú, người thợ săn mang công mái theo, đặt bẫy, đống những cộc bẫy vào đất, rồi làm cho công mái kêu lên. Âm thanh khác thường của con công mái đã khơi dậy nhục dục trong tâm Công trống. Quên hết việc đọc chú, Công trống tìm đến công mái, và bị mắc lưới. Sau đó người thợ săn bắt lấy Công và mang đến cho vua Ba-la-nại.

Nhà vua rất yêu thích vẻ đẹp của Công, và ra lệnh làm cho Công một chỗ ở. Khi ngồi nơi chỗ ấy, Bồ-tát hỏi:

– Tâu đại vương, tại sao ngài lại bắt tôi?

– Bởi vì ta nghe nói rằng, tất cả những ai ăn được thịt ngươi đều trở thành trường sinh bất tử. Vì ta muốn được trường sinh bất tử nên ta cho bắt người ăn thịt.

– Quả là như vậy, thừa nhận rằng tất cả những ai ăn thịt tôi đều trở nên trường sinh bất tử, nhưng như thế thì tôi phải chết sao!

– Tất nhiên là vậy rồi. Vua nói.

– Vậy thì, nếu tôi chết, thì thịt của tôi làm sao có thể đem lại sự bất tử cho người ăn nó?

– Màu sắc của ngươi là màu vàng. Do đó, (người ta nói như vậy) những ai ăn được thịt ngươi đều trở thành trường sinh bất tử.

Chim trả lời:

– Thưa ngài, tôi có màu lông sắc vàng là có nguyên nhân của nó. Cách đây lâu xa, tôi nắm quyền cai trị khắp thế gian, và ngự trị tại chính kinh thành này. Tôi đã thọ trì Ngũ giới, và khiến cho mọi người trong đời đều giữ giới như vậy. Vì lý do đó mà sau khi mạng chung, tôi tái sanh vào cõi Tam Thập Tam Thiên. Ở đó, tôi đã sống được một đời, nhưng trong đời kế tiếp tôi phải tái sanh làm chim Công vì kết quả của một vài ác nghiệp. Tuy thế, tôi có được sắc vàng bởi vì kiếp trước tôi đã thọ trì Ngũ giới.

– Ngươi nói gì? Không thể tin được! Ngươi là một người thống trị quyền uy, người thọ trì Ngũ Giới! Sinh ra có sắc vàng là kết quả của những điều đó! Một chứng cứ, xin làm ơn cho xem một chứng cứ!

– Tâu đại vương, tôi có một chứng cứ.

– Chứng cứ gì?

– Tâu đại vương, khi tôi là một vị Chuyển luân thánh vương, tôi thường ngự trong một chiếc xe được nạm ngọc để qua lại giữa không trung, mà chiếc xe đó giờ đây bị chôn vùi dưới ao sen hoàng gia. Xin đại vương cho đào dưới hồ lên, và chiếc xe đó sẽ là chứng cứ của tôi.

Nhà vua chấp nhận. Ông cho tháo cạn hồ nước và đào lên được một cỗ xe, vậy là ông tin lời Bồ-tát.  Sau đó, Bồ-tát nói với vua:

 – Tâu đại vương, trừ Niết Bàn là vĩnh cữu ra, còn hết thảy các pháp trên đời này bản chất của chúng là do các duyên hợp thành, là không thực, là vô thường và bị hoại diệt. Thuyết giảng vậy xong, Bồ-tát khuyên vua thọ trì Ngũ giới. Tâm được an bình, vua ban tặng vương quốc cho Bồ-tát và tỏ lòng tôn kính rất mực. Bồ-tát không nhận món quà đó. Rồi sau một vài ngày lưu trú, Bồ-tát bay vào không trung, trở lại ngọn núi vàng ở Đàn-đặc sau khi khuyên vua:

–  Đại vương,  xin chớ buông lung phóng dật!

Vua tuân theo lời khuyên của Bồ-tát, bố thí và thực hành thiện nghiệp, đến khi mạng chung đã tái sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế xong, thầy Tỳ-kheo thối thất chứng được quả A-la-hán. Rồi Thế Tôn nhận diên Tiền thân:

– Vào thuở ấy, A-nan là nhà vua, còn chính ta là chim Công Sắc Vàng.

Số 160
CHUYỆN CON NGỖNG CAM THANH
(Tiền thân Vinīlaka)

Vua kia phi nước đại…

Trong khi trú tại tịnh xá Trúc Lâm (Veuvana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về việc Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) bắt chước mình.

Hai vị đại đệ tử đi đến Tượng Đầu sơn (Gayāsīsa), ở đó Đề-bà-đạt-đa bắt chước đức Phật và gặp nạn. Rồi sau khi thuyết một thời pháp, hai Trưởng lão cùng với các pháp hữu của mình quay trở về. Khi về đến Trúc Lâm, đức Thế Tôn hỏi họ là Đề-bà-đạt-đa đã làm gì khi ông ta nhìn thấy họ. Hai thầy thưa:

 – Bạch Thế Tôn, ông ta bắt chước Thế Tôn và hoàn toàn thất bại.

 Đức Thế Tôn nói:

 – Này Xá Lợi Phất, không phải chỉ bây giờ Đề-bà-đạt-đa vì bắt chước ta mà bị thất bại thảm thương thôi đâu, mà đời trước việc đó cũng đã từng xảy ra.

 Rồi theo lời thỉnh cầu của Trưởng Lão, Thế Tôn kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Tỳ-đề-ha (Videha) trì vì kinh thành Di-hi-la (Mithilā) thuộc lãnh địa nước Tỳ-đề-ha, Bồ-tát thọ sanh làm con trai Hoàng hậu. Sau khi thành niên, Ngài được đưa đến Xoa-thi-la (Takkasila) học tập, rồi khi phu vương băng hà, Ngài thừa kế vương vị.

Thời ấy, có một con Ngỗng vương sắc vàng kết đôi với một con Quạ tại bãi kiếm mồi, và chúng sinh ra được một đứa con. Đứa con này không giống mẹ cũng không giống cha. Cả bộ lông của nó có màu xanh đen, và theo đó họ đặt tên cho nó là Cam Thanh. Vua Ngỗng thường viếng thăm con mình. Ngoài ra, vua Ngỗng còn có hai đứa con khác mà chúng giống ông như đúc. Những ngỗng con thấy ông hay đến khu vực loài người thường làm việc thì hỏi ông đến đó làm gì. Ông nói:

  – Này các con, cha có một cô vợ Quạ ở đó, và cô ấy đã cho cha một đứa con, tên nó là Cam Thanh, vì thế cha đến để thăm nó.

 – Họ sống ở đâu? Chúng hỏi.

 – Trên ngon cây ta-la ở nước Tỳ-đề-ha gần thành Di-hi-la. Ngỗng cha miêu tả nơi chốn.

Chúng nói:

 – Thưa cha, ở đâu có con người là có sự bất ổn và nguy hiểm. Cha không nên đến đó, để chúng con đến đưa em về cho cha.

Vì vậy, chúng mang một cây gậy và cho Cam Thanh đậu trên đó, sau đó dùng mỏ cắp hai đầu gậy và bay qua kinh thành Di-hi-la.

Vào lúc đó, vua Tỳ-đề-ha tình cờ đang ngồi trong một chiếc xe ngựa lộng lẫy được bốn con ngựa bạch thuần chủng kéo. Cam Thanh nhìn thấy ông và nghĩ, “Có gì khác nhau giữa vua Tỳ-đề-ha và ta đâu? Ông ta long trọng ngự trên cỗ xe được kéo bởi bốn con bạch mã để dạo quanh thành, trong khi ta ngồi trên cỗ xe được đôi ngỗng kéo.” Thế rồi, khi bay ngang qua không trung, nó đọc lên bài kệ đầu tiên:

Vua kia phi nước đại

Tứ mã kéo xe đi

Trên không ngỗng cũng vậy

Cam thanh vua khác chi.        

Hai con ngỗng nghe vậy thì tức giận lắm. Lúc đầu chúng nghĩ, “chúng ta hãy thả nó xuống, và bỏ mặc nó lại đấy!” Nhưng sau lại nghĩ, “Làm vậy thì biết phải nói sao với cha chúng ta đây!” Vì sợ khiển trách, chúng đã mang con chim về cho cha chúng và thuật lại những gì mà con chim kia đã nói. Ngỗng cha tức giận khi nghe như vậy. Ông nói:

 – Mày có cao cả hơn những anh của mày không mà lại đi điều khiển chúng, rồi xem chúng như là những con ngựa kéo xe? Mày không biết vị thế của mình. Đây không phải là nơi dành cho mày, hãy về lại với mẹ của mày đi!

Nói xong lời khiển trách này, Ngỗng cha đọc lên bài kệ thứ hai:

Cam Thanh theo đường ác

Đây không chỗ cho ngươi

Làng quê mẹ ngươi đợi

Hãy trở về đi thôi.

Cùng với lời khiển trách đó, Ngỗng cha sai hai con mình mang con chim này đến vứt ở đống phân ngoài thành Di-hi-la (Mithilā). Và chúng đã làm theo như vậy.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Thuở ấy, Đề-bà-đạt-đa là Cam Thanh, hai Trưởng Lão là đôi ngỗng trẻ, A-nan là Ngỗng cha, còn ta chính là vua Tỳ-đề-ha (Videha).

 


Ban Tu Thư Phật Học

Cập nhật: 03/22/2006