CHƯƠNG III
PHẨM THIỆN PHÁP
(Kalyāa-Dhamma)

Số 171
CHUYỆN THIỆN PHÁP
(Tiền thân Kalyāa-Dhamma)

Vua hỡi, khi người gọi chúng ta…

Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một bà mẹ vợ bị điếc.

Ở thành Xá-vệ (Sāvatthi), có một vị điền chủ, là một cư sĩ có chánh tín, quy y Tam bảo và thọ trì Ngũ giới. Một hôm, ông ta mang theo nhiều phẩm vật như bơ, hoa, dầu thơm... đi đến tinh xá Kỳ Viên để nghe đức Thế Tôn thuyết pháp. Cùng lúc đó, mẹ vợ của ông mang một món quà gồm thức ăn đặc và cháo đến thăm con gái bà. Bà ta là một người bị điếc.

Sau buổi ăn tối, bà cảm thấy buồn ngủ. Để xua đi cơn buồn ngủ, bà ta hỏi con gái:

 – Này con, chồng của con có sống vui vẻ với con không?

– Thưa mẹ, mẹ hỏi điều gì vậy! Mẹ khó có thể tìm ra được một người như anh ấy, dù là người xuất gia giới đức cũng không thể bằng được!

 Bà tín nữ không nghe rõ những gì con gái mình nói, mà chỉ nắm lấy từ  “người xuất gia” nên kêu la:

 – Trời đất ơi, tại sao chồng của con lại xuất gia!

 Rồi bà làm om sòm lên. Mọi người sống trong nhà nghe vậy, cũng kêu lên:

 – Điền chủ đã xuất gia rồi!

 Người ta nghe thấy tiếng ồn ào, thế là một đám đông kéo đến tụ tập trước cửa để tìm hiểu xem có điều gì xảy ra, và họ nghe:

 –  Điền chủ sống ở nhà này đã xuất gia rồi!

Vị điền chủ sau khi nghe đức Phật thuyết pháp xong, đã rời tinh xá để quay về kinh thành. Giữa đường, ông gặp một người, và người này hỏi:

– Thưa ông, tại sao người ta nói ông đã xuất gia rồi? Cả gia đình cùng người hầu của ông đang than khóc ở nhà đấy!

Nghe thế, ông suy nghĩ, “Người ta bảo rằng ta đã xuất gia trong khi ta hoàn toàn không có việc đó. Một lời nói thiện lành không nên bỏ qua, vậy hôm nay ta phải xuất gia.” Nghĩ thế, ông liền quay trở lại chỗ đức Thế Tôn. Thấy ông trở lại, đức Thế Tôn hỏi:

– Cư sĩ đã viếng thăm Thế Tôn và trở về. Giờ có việc gì phải trở lại đây?

 Vị điền chủ kể cho Ngài nghe sự việc,  rồi nói thêm:

– Bạch Thế Tôn, một lời nói thiện lành thật không nên bỏ qua. Vì thế con muốn ở lại đây làm một người xuất gia.

 Đức Thế Tôn chấp nhận cho ông xuất gia. Sau đó, ông thọ tiểu giới và đại giới, sống đời phạm hạnh, và chẳng bao lâu thì đắc được thánh quả A-la-hán.

Các Tỳ-kheo biết được sự việc. Một hôm, chư vị cùng bạn luận việc này trong Chánh pháp đường:

– Thưa các Pháp hữu, ông điền chủ có tên như vậy đã xuất gia thọ giới bởi vì ông ấy nói, “một lời nói thiện lành không bao giờ nên bỏ qua.” Và giờ đây ông ấy đã chứng được thánh quả A-la-hán!

Đức Thế Tôn đi vào và muốn biết họ đang bàn luận điều gì. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:

– Này các Tỳ-kheo, những bậc hiền trí đời trước cũng xuất gia vì họ nói rằng một lời nói thiện lành không bao giờ nên bỏ qua.

 Nói vậy xong, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh vào đời làm con trai một vị Trưởng giả giàu có. Khi đến tuổi trưởng thành và lúc thân phụ qua đời, Bồ-tát thừa kế địa vị của thân phụ.

Một hôm, Bồ-tát đến yết kiến nhà vua. Bồ-tát vừa mới đi thì bà mẹ vợ đến viếng thăm con gái bà. Bà ta là một người bị điếc. Rồi tất cả sự việc xảy ra giống đúng như những gì vừa xảy ra bây giờ. Người chồng đến yết kiến nhà vua xong, đang trên đường trở về thì gặp một người đàn ông, vị này nói:

  – Người ta nói Ngài đã xuất gia, và người thân của Ngài đang than khóc ầm lên ở nhà đấy!

 Bồ-tát suy nghĩ, “lời nói thiện lành thật không nên bỏ qua”, nên đã quay trở lại chỗ nhà vua. Nhà vua hỏi:

–  Có việc gì mà ông trở lại đây?

 Ngài nói:

 – Tâu đại vương, cả nhà tôi đang khóc than vì họ nói tôi đã xuất gia trong khi tôi hoàn toàn không như vậy. Một lời nói thiện lành thật không nên bỏ qua. Vì thế, tôi sẽ xuất gia. Xin đại vương cho phép tôi được xuất gia!

Nói rồi, Bồ-tát đã giải thích sự việc bằng hai bài kệ sau:

Đại vương, khi người gọi chúng ta

Bằng danh xuất gia, ta xuất gia

Ta không dao động, không tổn giảm

Chính điều như vậy ta xuất gia.

 

Đại vương, danh này ban thần dân

Họ khóc vì tôi bỏ thế trần

Tôi sẽ sống chết đời tu sĩ

Không hưởng lạc thú của thế nhân.

Bồ-tát xin phép nhà vua như vậy để xuất gia. Sau đó, Ngài đi đến vùng Tuyết Sơn (Himalaya), xuất gia làm một vị ẩn sĩ khổ hạnh, tu tập Thiền định và Thần thông, đến khi mạng chung đã sanh về thế giới Phạm thiên.

* * *

Sau khi kết thúc pháp ngữ này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

 –  Thuở đó, A-nan là nhà vua, còn ta chính là vị Trưởng giả giàu có sống ở Ba-la-nại.

Số 172
CHUYỆN NÚI ĐẠT-ĐÀ-LA
(Tiền thân Daddara)

Kẻ nào kêu lớn tiếng…

Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo tên là Câu-ca-lợi (Kokālika). Bấy giờ, ở cao nguyên Hùng Hoàng (Manosilā), nhiều Tỳ-kheo quảng học và nói tiếng lớn như tiếng rống sư tử trẻ. Trong khi tụng kinh ở trước Tăng chúng, họ tụng lớn làm cho sông Hằng thiên giới (Ngân hà) gần như rơi xuống. Khi họ tụng kinh, Câu-ca-lợi (không biết mình là một kẻ ngu dốt trống rỗng về những gì được tụng đọc) suy nghĩ muốn đọc tụng như vậy. Vì thế Câu-ca-lợi đi vào giữa hội chúng Tỳ-kheo, tuy thế không ai hứa khả cho thầy. Thầy nói:

  – Họ không yêu cầu tôi đọc kinh. Nếu họ yêu cầu, tôi sẽ làm việc đó.

Tăng chúng biết việc đó và nghĩ sẽ thử thầy. Họ nói:

 – Thưa Pháp hữu Câu-ca-lợi, hôm nay thỉnh thầy đọc cho Tăng chúng một vài bài kinh.

Vị này đồng ý mà không biết sự ngây ngô của mình. Ngày hôm đó, thầy đã tụng kinh trước Tăng chúng.

Trước tiên, thầy dùng hết số cháo nấu theo ý muốn, ăn một ít thức ăn và dùng một ít súp ưa thích nhất. Vào lúc hoàng hôn, khi tiếng chuông báo hiệu thời tụng kinh được điểm, tất cả Tăng chúng tập họp lại. Câu-ca-lợi mặc “hạ y vàng” có màu xanh như cây hoa chuông, đắp thượng y màu trắng bạch. Trang phục như vậy, thầy đi vào hội chúng, đảnh lễ các Trưởng lão, bước lên trên Pháp toà đặt bên dưới một hội đường được trang sức bằng đá quý rất đẹp, tay cầm một cái quạt được trang trí tao nhã, rồi ngồi xuống bắt đầu tụng kinh. Nhưng ngay khi đó, mồ hôi bắt đầu đỗ ra khắp thân, và thầy cảm thấy ngượng ngùng. Thầy đọc câu đầu tiên của bài kệ thứ nhất, nhưng những câu tiếp theo thầy không thể nhớ được. Thế rồi, đứng dậy rời khỏi pháp toà trong trang thái bấn loạn, thầy đi băng qua hội chúng và trở về phòng mình. Một Tỳ-kheo khác, một người quảng học đã lên đọc Kinh. Từ đó, tất cả các Tỳ-kheo đều biết Câu-ca-lợi là một người trống rỗng.

Một hôm, các Tỳ-kheo bắt đầu bàn luận việc đó trong Chánh pháp đường:

– Thưa các Pháp hữu, trước đây thật khó biết được Câu-ca-lợi là người thế nào. Giờ đây, thầy ấy vì muốn đọc kinh đã tự thể hiện sự trống rỗng của mình.

 Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang cùng bàn luận điều gì. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên Câu-ca-lợi vì việc đọc tụng của mình đã để lộ chân tướng, mà đời trước chính sự việc này cũng đã từng xảy ra.

Rồi Ngài kể cho các Tỳ-kheo một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con Sư tử trẻ, là vua của một đàn sư tử đông đúc. Sư tử chúa sống cùng với bầy sư tử ở trong một cái hang Bạc. Gần đó, có một con chó Sói sống trong một cái hang khác.

Một hôm, sau trận mưa, cả đàn sư tử tập trung lại trước cửa hang của Sư tử chúa , rồi rống lớn và đùa nhảy như sư tử quen làm. Khi chúng rống lên và chơi nhảy như vậy, con Sói cũng cất lên tiếng kêu của mình.

– Đây là tiếng con sói cùng kêu lên với chúng ta!

 Những con sư tử nói. Rồi cảm thấy xấu hổ, chúng lặng im không rống nữa. Khi cả đàn im lặng, sư tử con của Bồ-tát đã hỏi:

  – Thưa cha, cả đàn Sư tử này đang rống lên và chơi đùa, đã vội im lặng vì quá hổ thẹn khi nghe tiếng con vật kia. Con vật gì mà bằng tiếng kêu của mình đã để lộ ra chân tướng như vậy?

Và nó đọc lên bài kệ thứ nhất:

Kẻ nào kêu lớn tiếng

Vang dội Đạt-đà-la?

Sao tất cả sư tử

Không rống lại, thưa cha?

Nghe con hỏi vậy, Sư tử đã đọc lên bài kệ thứ hai:

Sói, kẻ cất tiếng kia

Là loại thú đáng khinh.

Sư tử  ghét hèn hạ,

Nên ngồi giữ lặng thinh .

* * *

Kể xong câu chuyện, đức Thế Tôn nói thêm:

 – Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên Câu-ca-lợi (Kokālika) vì lời nói của mình đã tự làm lộ chân tướng thôi đâu, mà điều đó trước đây thật sự đã xảy ra rồi.

 Kết thúc pháp thoại, Ngài nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, Câu-ca-lợi là chó Sói, La-hầu-la (Rāhula) là sư tử con, con ta chính là Sư tử vương.

Số 173
CHUYỆN CON VƯỢN
(Tiền thân Makkaa)

 Cha xem! một lão già khốn khổ …

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo gian trá. Những tình huống của câu chuyện sẽ được trình bày ở Tiền thân Uddāla, số 487. Ở đây,  đức Thế Tôn nói:

  – Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần duy nhất vị này là một người gian trá đâu, mà vào đời trước, khi vị này làm một con Vượn, vì muốn sưởi ấm cũng đã chơi trò gian trá.

Và Ngài kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào trong một gia đình-Bà la-môn tại một ngôi làng ở nước Ca-thi (Kāsi). Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát thụ học ở Xoa-thi-la (Takkasilā) rồi sau đó ổn định gia thất.

Vợ của Bồ-tát đúng thời đã sinh cho Ngài một cậu con trai. Đến khi cậu bé có thể chạy được quanh nhà thì nàng qua đời. Bồ-tát tổ chức tang lễ cho vợ và sau đó Ngài nói:

  – Giờ đây ta sống ở nhà làm gì nữa? Ta và con trai ta sẽ sống đời xuất gia.

 Bỏ lại bạn bè và họ hàng khóc lóc, Bồ-tát dẫn con trai đến vùng Tuyết Sơn (Himalaya) và xuất gia làm ẩn sĩ, sống nhờ vào trái cây và củ rừng.

Vào một ngày mùa mưa, một cơn mưa như trút nước đổ xuống nơi ấy. Bồ-tát nhúm một ít củi rồi nằm xuống chiếc giường nhỏ và sưởi ấm. Còn cậu con trai ngồi một bên, xoa bóp chân cho Ngài.

Bấy giờ, có một con Vượn rừng đang khổ sở vì lạnh. Khi nhìn thấy ngọn lửa trong thảo am của ẩn sĩ, nó nghĩ, “Nếu bây giờ ta đi vào đó, họ sẽ la lên: con Vượn! Con Vượn! Rồi đánh ta, và ta sẽ không có cơ hội sưởi ấm. Ta đã có cách! Ta sẽ đắp y của người xuất gia, và bằng mưu kế này ta đi vào đó!” Vì thế, nó khoác chiếc áo vỏ cây của người xuất gia đã chết lên, xách cải giỏ và cây gậy uốn cong của mình, đứng thu mình bên một cây cọ dừa cận cửa thảo am. Cậu bé nhìn thấy nó và nói lớn với cha mình (mà không biết nó là một con Vượn).

– Cha xem kìa, không nghi ngờ gì cả, đó là một vị ẩn sĩ già đang lạnh rét khổ sở và muốn đến sưởi ấm.

Rồi bằng cách đọc lên bài kệ đầu tiên, cậu xin cha cho phép người khốn khổ kia được vào sưởi ấm:

Cha xem! một lão già khốn khổ

Nằm bên cây cọ ở đằng kia!

Ở đây ta có am để ở,

Hãy dành cho lão sự xẽ chia.

Bồ-tát nghe thế liền đứng dậy đi đến cửa, và khi nhận ra kẻ kia chỉ là một con vượn, Ngài nói với con:

– Con trai ạ, loài người thì không có khuôn mặt như vậy. Đó là một con vượn, không thể gọi nó vào đây được.

Và Ngài đọc lên bài kệ thứ hai:

Nó chỉ biết làm uế chỗ ta

Nếu cho nó vào ở trong nhà

Một Bà-la-môn người thiện hạnh

Khuôn mặt không đời lại xấu xa.

Rồi Bồ-tát nắm lấy que củi cháy dỡ, la lên:

– Mày muốn gì ở đây?

 Bồ-tát nói vậy và ném cây củi vào nó, đuổi nó đi. Con vượn già vứt bỏ chiếc áo vỏ cây, nhảy lên cây và giấu mình trong rừng.

Rồi Bồ-tát tu tập Tứ vô lượng tâm, đến khi mạng chung đã sanh vào thế giới Phạm Thiên.

* * *

Khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

 – Thuở đó, thầy Tỳ-kheo gian trá này là con vượn, La-hầu-la là con trai vị ẩn sĩ, còn ta chính là vị ẩn sĩ ấy.

Số 174
CHUYỆN CON KHỈ PHẢN NGHỊCH
(Tiền Thân Dūbhiya-Makkaa)

 Ta đã cho ngươi nhiều nước uống…

Câu chuyện này trong khi trú tại tinh xá Trúc lâm (Veluvana), đức Thế Tôn kể về Đề-bà-đạt-đa (Devadatta). Một ngày nọ, khi các Tỳ-kheo đang bàn luận trong Chánh pháp đường về sự vong ân bội phản của Đề-bà-đạt-đa đối với những pháp hữu của mình thì đức Thế Tôn đi vào. Ngài nói:

 – Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần duy nhất Đề-bà-đạt-đa vong ân bội phản đối với những pháp hữu của mình thôi đâu, mà chính trước đây ông ấy cũng đã như vậy.

 Rồi Ngài kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, Khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vị vua xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào trong một gia đình Bà-la-môn sống tại một ngôi làng ở nước Ca-thi (Kāsi). Đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát kết hôn và ổn định gia thất. Bấy giờ, cận bên con đường cái ở xứ Ca-thi có một cái giếng sâu mà không có cách nào để leo xuống được. Những người qua lại con đường ấy, để làm phước, thường dùng một cái gàu có dây dài để kéo nước và đổ đầy máng cho những con thú uống. Xung quanh ấy, có một khu rừng lớn và có một đàn khỉ sống trong ấy.

Một hôm, số nước do những người đi đường cung cấp đã hết hai ba ngày, và bầy thú không thể tìm được thứ gì để uống. Một con Khỉ bị cơn khát hành hạ, cứ chạy quanh cái giếng để tìm nước.

Bấy giờ, Bồ-tát vì một vài công chuyện nên đi qua con đường đó. Ngài kéo nước lên để uống và rửa tay, và rồi nhìn thấy con khỉ. Thấy nó khát nước, Ngài kéo nước ở giếng lên đổ đầy máng cho nó và ngồi dưới một gốc cây nhìn xem con thú này làm gì.

Khỉ uống nước xong, ngồi xuống gần đó và nhăn mặt khỉ lên để hù dọa Bồ-tát. Bồ-tát thấy vậy  liền  nói:

– A, ngươi là một con khỉ xấu xa! Khi ngươi khát nước và khổ sở,  ta đã kéo nước cho ngươi uống, giờ đây ngươi lại nhăn mặt khỉ để nhát ta. Ôi, ta đã giúp đở cho một kẻ bất lương qua khỏi nỗi khổ của nó.

Rồi Ngài đọc lên bài kệ thứ nhất:

Ta đã cho ngươi nhiều nước uống

khi ngươi nống bức và khát khô.

Giờ ngồi nghiến răng đầy tinh quái,

Kẻ xấu, tốt hơn đừng nên cho.

Nghe thế, con khỉ phản bạn này trả lời:

  – Ngươi nghĩ như thế là ngươi cứu giúp ta ư? Ta đây cũng có thể làm được điều đó. Giờ ta phải vãi phân lên đầu ngươi trước khi đi mới được.

Nói xong, nó đọc tiếp bài kệ thứ hai:

Một con khỉ chính đoan

Ai là người từng thấy ?

Vãi phân lên đầu người,

Cách cư xử ta ấy.

Nghe thế, Bồ-tát liền đứng dậy đi. Nhưng chính ngay lúc ấy, con Khỉ này nhảy lên ngồi trên cành cây và vãi phân lên đầu Bồ-tát giống như thả một tràng hoa, rồi nó chuồn nhanh vào rừng và kêu thét lên. Bồ-tát sau đó tắm rửa và ra đi.

* * *

Khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nói:

 – Đây không phải là lần duy nhất Đề-bà-đạt-đa hành xử như vậy, mà đời trước ông ta cũng không biết tri ân đối với điều ta đã làm cho ông ta.

Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

 – Thuở ấy, Đề-bà-đạt-đa là con Khỉ, còn ta chính là vị Bà-la-môn.

Số 175
CHUYỆN LỄ BÁI MẶT TRỜI
(Tiền thân Ādiccupatthāna)

Không có con thú nào…

Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo dối trá.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào trong một gia đình Bà-la-môn ở nước Ca-thi (Kāsi). Đến tuổi trưởng thành, Ngài đi đến kinh thành Xoa-thi-la (Takkasilā) để học các ngành nghề. Sau đó, Ngài xuất gia, tu tập Thiền định và Thần thông, rồi trở thành Đạo sư của một hội chúng, sống trong rặng Tuyết sơn (Himalaya).

Ngài sống ở đó một thời gian dài. Cho đến một lần, để kiếm muối và thực phẩm, Ngài cùng với các ẩn sĩ đi xuống núi để đến một ngôi làng cận biên và họ sống ở đấy trong một thảo am. Khi họ đi khất thực vắng, một con khỉ tinh nghịch thường vào nơi thảo am của họ và làm xáo trộn mọi thứ. Nó đổ nước ra khỏi chậu, đập vở bình lọ, và sau cùng vãi phân vào căn nhà thờ lửa.

Sau an cư mùa mưa, những ẩn sĩ nghĩ rằng bây giờ hoa quả trên núi đã chính nên đến từ giã dân làng để quay về Tuyết sơn. Dân làng nói:

 –  Thưa các Tôn giả, ngày mai chúng con sẽ mang đồ ăn đến chỗ các Tôn giả để các Tôn giả ăn trước khi đi.

Vì thế ngày hôm sau, họ mang đến nhiều thức ăn đặc và lỏng. Con Khỉ thấy thế tự nhủ, “Ta sẽ đánh lừa những người này và phỉnh phờ để họ bố thí cho ta một ít thức ăn.” Thế rồi giả dạng một người xuất gia khất thực, nó đứng cạnh những người ẩn sĩ và lễ bái mặt trời. Khi dân làng nhìn thấy nó, họ nghĩ, “những người sống chung với người Phạm hạnh đều là người phạm hạnh,” và đọc lên bài kệ thứ nhất:

Không có con thú nào

Chỉ có người đức hạnh

Thấy con khỉ khốn khổ

Lễ bái thái dương thần!

Nghe dân làng tán thán đức hạnh của con khỉ như thế, Bồ-tát nói:

 – Quý vị thật không biết phương kế của một con khỉ tinh quái. Quý vị không nên tán thán một kẻ không đáng tán thán.

Rồi Ngài đọc thêm bài kệ thứ hai:

Khen đức tính thú kia

Vì các người không rõ

Nó làm uế lửa thánh

Đập vỡ bình, chai lọ.

Khi dân làng nghe điều con khỉ bất lương làm, họ chụp lấy gậy gộc và đất ném vào nó, rồi sau đó cúng dường cho hội chúng ẩn sĩ. Những vị ẩn sĩ quay trở lại Tuyết sơn, tu tập thiền định không ngừng nghỉ, và sau khi mang chung đã sanh về thế giới Phạm thiên.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

 – Thuở đó, Tỳ-kheo dối trá này là con Khỉ, Tăng chúng của Phật là hội chúng những ẩn sĩ, còn người lãnh đạo của họ chính là ta.

Số 176
CHUYỆN MỘT NẮM ĐẬU
(Tiền thân Kalāya- Muṭṭhi)

Con khỉ ngu ngốc, sống trên cây…

Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về vị vua nước Câu-tát-la (Kosala).

Vào một mùa mưa nọ, sự phản loạn đã xảy ra ở những vùng biên giới. Quân đội được đưa đến đống ở đấy, nhưng sau hai ba ngày chiến đấu vẫn  không thể chiến thắng được đối phương, vì thế họ gởi thư về cho nhà vua. Bất chấp trái mùa và mưa gió, nhà vua vẫn chinh hành đến chiến trường và cắm trại nghỉ trước Kỳ Viên. Rồi vua bắt đầu suy nghĩ, “Hành quân vào thời điểm này là không tốt. Tất cả hẻm núi và thung lũng đều ngập nước, còn đường sá thì lầy lội. Ta sẽ viếng thăm đức Thế Tôn. Nếu Ngài hỏi ta: “Đại vương đang đi đâu?” thì ta sẽ nói cho Ngài biết sự việc. Đức Thế Tôn không chỉ che chở cho ta những điều trong đời sống tương lai, mà Ngài còn che chở cho ta những điều ở hiện tại. Nếu cuộc hành quân của ta không đưa đến thành công, Ngài sẽ nói: “Thưa Đại vương, thời điểm lúc này xấu, không thể đi được.” Còn nếu cuộc hành quân đem lại thành công, Ngài sẽ không nói gì.” Vì thế ông đi vào Kỳ Viên, đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

Đức Thế Tôn hỏi:

– Thưa Đại vương, Đại vương đi đâu vào lúc trái tiết thế  này?

 Nhà vua trả lời

 – Bạch Thế Tôn, trẫm trên đường đi đánh dẹp một cuộc nỗi loạn ở vùng biên giới. Trước khi đi, trẫm đến đảnh lễ Thế Tôn.

 Nghe thế, đức Thế Tôn nói:

  – Thuở xưa cũng như vậy, trước khi khởi binh, nghe theo lời những bậc Hiền trí, các đại vương đã quay trở lại chứ không hành quân phi thời.

Rồi theo lời thỉnh cầu của nhà vua, đức Thế Tôn kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi trị vì vương quốc Ba-la-nại (Benares), vua Phạm Dự (Brahmadatta) có một vị đại quan rất tâm phúc, người đã cố vấn cho ông những vấn đề về tâm linh cũng như thế sự. Một cuộc phản loạn xảy ra ở vùng biên giới, và quân lính đống quân ở đấy đã gởi thư về cho nhà vua. Mặc dù đang mùa mưa, nhưng vua vẫn xuất quân và đống doanh trại ở ngự viên. Bồ-tát đứng bên cạnh nhà vua. Vào lúc đó, người ta hấp một ít đậu cho ngựa và đổ đậu vào trong một cái máng. Một con khỉ sống trong vườn từ trên cây nhảy xuống, vốc đậu đầy miệng và tay rồi nhảy lên lại ngồi trên cây và bắt đầu ăn. Khi nó ăn, một hạt đậu nơi tay nó rơi xuống đất. Thế là nó liền thả hết tất cả những hạt đậu nơi tay và miệng, rồi từ cây nhảy xuống để tìm kiếm hạt đậu bị mất. Nhưng nó không thể tìm được hạt đậu đó. Vì thế, nó nhảy lên cây trở lại và ngồi mãi ở đấy, trông rất buồn rầu, giống như một người bị đánh mất cả một ngàn đồng trong một vụ kiện.

Nhà vua thấy cách thức con khỉ làm, liền chỉ cho Bồ-tát. Ông hỏi:

 – Này khanh, khanh nghĩ gì về điều đó?

Bồ-tát trả lời:

 –  Tâu đại vương, đó là điều những kẻ ngu ngốc kém trí quen làm. Họ bỏ ra một đồng để thu lại một xu.

Nói xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ thứ nhất:

Con khỉ ngu ngốc, sống trên cây

Đại vương, miệng tay nó vốc đầy

Thả rơi hết đậu, tìm một hạt

Không có trí tuệ, chính kẻ này.

Sau đó, Bồ-tát đi đến gần nhà vua và đọc thêm bài kệ thứ hai:

Đại vương, chúng ta cũng như thế

Tất cả điều đó do tham cầu.

Đánh mất rất nhiều nhưng được ít

Giống như khỉ kia và hạt đậu.

Khi nghe như vậy, nhà vua đổi ý và quay trở lại Ba-la-nai. Còn những người phản loạn nghe rằng nhà vua từ kinh đô chinh hành đến để dẹp loạn đã vội vàng chạy trốn khỏi biên giới.

* * *

Vào thời điểm đức Thế Tôn kể câu chuyện này, những kẻ phản loạn cũng đã chạy trốn khi nghe vua Câu-tát-la xuất quân. Sau khi lắng nghe đức Thế Tôn thuyết giảng xong, nhà vua đứng dậy đảnh lễ và trở lại Xá-vệ.

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

      –  Thuở đó, A-nan là nhà vua, còn ta chính là vị đại quan hiền trí.

Số 177
CHUYỆN TRẤN-ĐẦU-CA
(Tiền thân Tiṇḍuka)

Họ vây quanh chúng tôi…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về trí tuệ Ba-la-mật. Như ở trong Tiền thân Mahābodhi, số 528; và Tiền thân Ummagga, số 538. Khi nghe các Tỳ-kheo tán thán trí tuệ của mình, đức Thế Tôn nhận xét:

 –  Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần duy nhất Như lai đầy đủ trí tuệ thôi đâu, mà trước đây Như lai cũng đã đầy đủ trí tuệ rồi.

 Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua nước Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con Khỉ, sống trong rặng Tuyết Sơn (Himalaya) cùng với đàn khỉ tám ngàn con. Cách đó không xa có một ngôi làng, và ở đó đôi khi có người ở nhưng đôi khi lại không có ai cả. Ở giữa ngôi làng này, có một cây tiṇḍuka có trái ngọt và cành lá sum sê. Khi nơi này không có người ở, cả đàn khỉ thường kéo đến đó ăn trái.

Một lần, đúng vào mùa trái, ngôi làng đầy người. Một hàng rào bằng tre được dựng lên bao quanh và các cổng ra vào đều được canh gác. Tất cả cành nhánh của cây trĩu đầy quả. Đàn khỉ bắt đầu suy nghĩ: “Ngôi làng ấy trước đây chúng ta thường kiếm được trái cây, không biết cây ấy nay có trái hay không, và không biết có người ở đó hay không?” Cuối cùng chúng đưa một con khỉ trinh thám đi xem xét. Con khỉ này đi, nhận thấy cây có trái và làng thì đầy người. Khi đàn khỉ nghe rằng cây có trái, chúng quyết định đến kiếm trái cây ngon ngọt đó ăn. Vì thế, cả đàn kéo đến thưa với Khỉ vương. Khỉ Vương hỏi rằng ngôi làng có người hay không. Chúng trả lời có đầy người. Khỉ vương nói:

  – Vậy thì các ngươi không nên đi, bởi vì loài người rất xảo quyệt.

 – Thưa vương chủ, chúng ta sẽ đến đó ăn vào lúc nữa đêm, khi mọi người đã ngủ say!

Vì thế, Khỉ vương cho phép đàn khỉ đông đúc này đi. Kéo xuống núi, chúng tụ tập cận bên một tảng đá lớn chờ cho đến khi mọi người về nghĩ. Vào lúc nửa đêm, khi mọi người ngủ say, chúng leo lên cây và bắt đầu ăn trái.

Một người nọ vì công việc phải thức dậy vào ban đêm. Ông ta đi đến giữa làng và nhìn thấy đàn khỉ ở đó. Ông ta lập tức báo động cho mọi người biết. Người ta nắm lấy cung tên, gậy gộc, đất cục, hay bất cứ thứ vũ khí gì mà họ gặp phải, rồi bao lấy cây. Họ nói, “đợi khi chúng leo xuống, chúng ta sẽ tóm lầy chúng!”

Tám ngàn con khỉ nhìn thấy những người này thì sợ chết vô cùng. Chúng nghĩ, “không ai giúp được chúng ta lúc này ngoại trừ Khỉ vương.” Vì thế, chúng đi đến Khỉ vương và đọc lên bài kệ thứ nhất:

Họ vây quanh chúng tôi

Cầm lấy cung và tên

Gươm dao cùng đất đá.

Ai người cứu chúng tôi?

Nghe hỏi vậy, Khỉ vương trả lời:

  – Đừng sợ! Con người còn nhiều việc phải. Bây giờ là lúc nửa đêm, họ đứng đó nghĩ cách giết chúng ta. Nhưng chúng ta sẽ tìm cách khác để ngăn cản công việc của họ.

 Rồi để an ủi  đàn khỉ, Khỉ vương đọc lên bài kệ thứ hai:

Con người có nhiều việc

Sẽ có kế giải vây

Xem gì vẫn còn lại

Hãy ăn trái trên cây.

Bồ-tát đại sĩ an ủi bầy khỉ như vậy. Nếu không được an ủi vậy, chắc chúng sẽ vỡ tim mà chết. Khi an ủi đàn khỉ xong, bậc Đại sĩ nói:

  – Hãy tập họp đàn khỉ lại!

 Nhưng trong khi tập họp lại, chúng không tìm thấy con khỉ nhỏ tên là Senaka, cháu của Khỉ vương. Vì thế chúng thưa với Khỉ vương là Senaka không có mặt ở trong đàn. Nghe vậy, Khỉ vương nói:

– Nếu Senaka không có mặt ở đây thì không có gì sợ hãi cả. Nó sẽ tìm ra cách để giúp các ngươi.

Bấy giờ, lúc đàn khỉ xông ra phá vây thì Senaka đang ngủ. Sau đó nó thức dậy và không còn thấy một ai xung quanh. Vì thế nó lần theo dấu vết và nhìn thấy mọi người đang tất bật công việc. Nó suy nghĩ, “có sự nguy hiểm cho đàn khí chúng ta rồi.” Liền khi ấy,  nó phát hiện tại một căn lều ở ngoài biên làng có một bà lão đang ngủ say trước một bếp lửa cháy đỏ. Giả làm một đứa bé ở làng đi ra đồng, Senaka đến đó nắm lấy cây củi đang cháy dỡ rồi đứng ngay trên hướng gió và đốt làng. Khi ấy, mọi người rời bỏ đàn khỉ và vội vàng chạy đến dập tắt ngọn lửa. Đàn khỉ nhân cơ hội này đã tẩu thoát, và mỗi con khỉ trước khi chạy đã mang cho Senaka một trái cây.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

 Thuở ấy, Thích-ca-ma-nam (Mahānāma Sakka) là khỉ cháu Senaka, chúng đệ tử Phật là đàn khỉ, còn ta chính là Khỉ vương.

Số 178
CHUYỆN CON RÙA
(Tiền thân Kacchapa)

Nơi đây tôi sinh ra…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một người đã thoát khỏi bệnh Phong xà.

Một thuở nọ, bệnh Phong xà bổng nhiên khởi phát trong một gia đình ở thành Xá-vệ (Sāvatthi). Hai vợ chồng nói với con trai của họ:

– Con ạ, con đừng sống trong nhà này nữa, hãy khoét một cái lỗ ở vách và trốn đến một nơi nào đó để cứu lấy mạng con. Sau khi trở về lại, tại chỗ này có một kho báu lớn được chôn cất, con hãy đào lên và phục hồi lại gia sản, rồi con sẽ có một đời sống hạnh phúc!

Chàng trai làm theo như những gì được khuyên bảo. Chàng đục xuyên bức vách và trốn khỏi nhà. Khi căn bệnh của mình được chữa khỏi, chàng quay trở về, đào kho báu lên và gây dựng lại gia nghiệp của mình.

Một ngày nọ, chất đầy dầu, bơ, vải vóc, áo quần, cùng nhiều phẩm vật cúng dường khác, chàng đến viếng tinh xá Kỳ Viên, đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống. Đức Thế Tôn hỏi chuyện chàng:

 –  Ta nghe nhà của con có dịch bệnh, làm cách nào mà con tránh khỏi bệnh vậy?

 Chàng kể lại tất cả sự tình cho đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói:

  – Này cư sĩ, đời trước, khi tai ương dịch bệnh phát khởi, có người vì quá tham đắm nhà cửa đến độ không thể rời bỏ được và do đó họ đã bị chết. Trong khi những người không quá tham đắm nhà cửa, đã rời bỏ để đến một nơi khác, họ đã cứu được mạng sống của mình.

Rồi theo lời thỉnh cầu của chàng cư sĩ này, đức Thế Tôn kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, Khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con trai của một gia đình thợ gốm. Ngài chăm chỉ làm nghề gốm để có tiền nuôi dưỡng gia đình.

Bấy giờ, nơi ấy có một cái hồ tự nhiên lớn nằm gần một con sông ở Ba-la-nại. Khi nước lớn, sông và hồ hợp lại làm một, nhưng khi nước cạn, chúng tách ra làm hai. Bấy giờ theo bản năng, những con cá và những con rùa biết khi nào trong năm sẽ là mùa mưa và khi nào sẽ có một đợt hạn hán. Vì thế vào thời điểm câu chuyện, những con cá và những con rùa sống trong hồ đó biết sẽ có một đợt hạn hán, nên khi sông và hồ là một chúng đã bơi ra khỏi hồ để vào sông. Nhưng có một con Rùa không muốn bơi vào sông, bởi vì, nó nói:

  – Nơi đây ta đã sinh ra và lớn lên, nơi đây là nhà của cha mẹ ta, ta không thể rời bỏ nó được!

Rồi khi mùa nắng đến, nước khô cạn hết. Nó đào một cái lỗ đúng vào nơi Bồ-tát thường đến lấy đất sét rồi vùi mình vào trong ấy. Bấy giờ, Bồ-tát đến đấy để lấy một ít đất sét. Dùng một cái thuổng lớn, Ngài đào xuống cho đến khi làm vỡ mai con rùa, đưa nó lên mặt đất mà ngỡ đó là cục đất sét lớn. Trong sự đớn đau cùng tột, con vật nghĩ: “Ta sắp chết rồi, tất cả bởi vì ta quá tham đắm nhà cửa của mình không chịu rời bỏ!” Rồi nó than khóc qua những vần kệ sau:

Nơi đây tôi sinh ra

Và nơi đây tôi sống.

Đất sét nơi nương náu

Bây giờ lại hại tôi

Hỡi ơi, bác thợ gốm

Xin nghe điều tôi nói!

 

Hãy đến nơi có thể

Tìm được nguồn hạnh phúc

Bất cứ ở nơi nào

Rừng hay làng đông đúc.

Nơi ấy người trí thấy

Là nhà cửa, quê hương

Đến đó có đời sống

Ở nhà chịu tai ương.

Nó cứ than khóc mãi với Bồ-tát như vậy cho đến khi tắt thở. Bồ-tát nhặt nó lên, rồi tập trung tất cả dân làng lại và nói với họ:

– Hãy nhìn con rùa này. Khi những con cá và những con rùa khác bơi vào sông lớn, nó vì quá tham đắm nhà cửa nên không đi với họ, tự chôn mình ở chỗ tôi lấy đất sét. Rồi khi tôi đào đất sét, tôi đã đập vỡ cái mai của nó bằng cái thuổng lớn và đưa nó lên mặt đất mà cứ ngỡ rằng đó là cục đất sét lớn. Sau đó nhớ lại những gì nó đã làm, nó than khóc cho số phận của mình qua hai bài kệ rồi chết. Các vị biết đấy, nó chết bởi vì nó quá tham đắm vào nhà cửa của mình. Xin hãy cẩn trọng chứ đừng để như con rùa này. Đừng tự nhủ, “Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân này là của tôi; tôi có con trai; tôi có con gái; tôi có nhiều nam nữ hầu; tôi có vàng bạc. Đừng chấp chặt những thứ này với lòng tham ái. Mỗi chúng sanh đều luân chuyển trong tam giới.”

 Ngài đã giáo huấn cho hội chúng như vậy bằng sự thiện xão của một vị Bồ-tát. Bài pháp này đã lan truyền rộng ra khắp cõi Ấn Độ, và nó được ghi nhớ trong suốt bảy trăm năm. Hội chúng thọ nhận lời giáo huấn của Bồ-tát, bố thí và hành thiện, rồi đến khi mạng chung đã sanh về thiên giới.

* * *

Kết thúc pháp ngữ thoại, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các các Thánh đế, chàng trai chứng được quả Dự Lưu.

Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

 – Vào thuở đó, A-nan (Ananda) là con Rùa, còn người thợ gốm chính là ta.

Số 179
CHUYỆN BÀ-LA-MÔN CHÁNH PHÁP
(Tiền thân Satadhamma)

Một chút thức ăn còn thừa lại…

Trong khi đang trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về hai mươi mốt cách thức kiếm sống phi pháp.

Một thời, có nhiều Tỳ-kheo kiếm sống bằng nghề thầy thuốc, lính tráng, làm những việc vặt về bộ binh, trao đổi thực phẩm khất thức .v.v.. Tất cả những pháp này sẽ được trình bày ở Tiền Thân Sāketa, số 237. Khi đức Thế Tôn nhận biết họ đã kiếm sống như vậy. Ngài nói:

 – Giờ đây có nhiều Tỳ-kheo đã kiếm sống theo những phước cách phi pháp. Những người kiếm sống như vậy sẽ không thoát khỏi việc tái sanh làm Dạ xoa hay ngạ quỷ. Họ sẽ tái sanh làm loài súc sanh chở nặng, hay sẽ đoạ vào địa ngục. Vì lợi ích và hạnh phúc của họ, ta cần phải nói cho họ một bài pháp mang lại phẩm hạnh trong sáng và chánh trực.

 Thế rồi, đức Thế Tôn cho tập trung Đại chúng lại và nói:

  – Này các Tỳ-kheo, các thầy không nên sinh sống  bằng hai mươi mốt cách thức phi pháp này. Thực phẩm kiếm được một cách phi pháp thì giống như một hòn sắt nống đỏ, như một thứ chất đọc gây chết người. Những cách thức kiếm sống phi pháp này bị những đệ tử của tất cả chư Phật và các Bích Chi Phật khiển trách. Vì những người ăn thức ăn kiếm được bằng những phương tiện phi pháp sẽ không có hân hoan và hỷ lạc. Trong đạo của ta, thức ăn có được theo cách này thì giống như vật thừa của một kẻ hạ liệt. Đối với một vị đệ tử phụng hành Chánh Pháp, thì ăn nó giống như ăn đồ thừa của hàng tiện dân.

Nói vậy rồi, đức Thế Tôn kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con trai của một người thuộc hàng tiện dân. Khi đến tuổi trưởng thành, vì một vài công việc, Bồ-tát lên đường ra đi và mang theo một tay nãi cơm làm lương thực.

Vào lúc đó, có một chàng trai ở Ba-la-nại tên là Chánh Pháp (Satadhamma), là con trai của một Bà-la-môn ở phương Bắc, cũng lên đường vì một vài công việc của mình, nhưng chàng ta không có cơm cũng không có tay nãi. Hai người gặp nhau trên đường cái. Chàng trai bà-là-môn hỏi Bồ-tát:

– Bạn thuộc đẳng cấp gì?

 Bồ-tát trả lời:

–  Tôi thuộc hàng tiện dân. Còn đẳng cấp của bạn là gì?

– À, tôi là một người Bà-la-môn ở phương Bắc.

– Vâng, chúng ta hãy cùng đi.

Nói rồi họ cùng lên đường. Đến giờ ăn sáng, Bồ-tát ngồi xuống một chỗ có nước sạch, rửa tay và mở tay nãi của mình ra, rồi mời người kia:

  – Bạn sẽ dùng một ít chứ?

  –  Được rồi, tôi không muốn ăn, anh bạn tiện dân ạ.

  – Thôi được. Bồ-tát nói.

 Cẩn thận, tránh việc lảng phí, Bồ-tát đặt lượng cơm vừa đủ ăn ra nơi một chiếc là, cột tay nãi lại và ăn. Ăn xong, Bồ-tát uống nước, rửa tay chân, nhặt lấy phần cơm và thức ăn còn lại rồi nói:

  – Này anh bạn trẻ, chúng ta hãy đi tiếp.

Họ lại tiếp tục hành trình.

Họ đi suốt ngày. Đến buổi chiều, cả hai cùng tắm ở một con sông có nước trong. Khi họ lên bờ, Bồ-tát ngồi xuống ở một nơi vừa ý, mở tay nãi của mình ra và bắt đầu ăn. Lần này, Ngài không mời người kia nữa. Vì đi bộ suốt ngày, chàng trai kia cảm thấy mệt mỏi và đói lã. Chàng đứng đấy nhìn và suy nghĩ, “Nếu anh ta cho ta một ít cơm, ta sẽ ăn.” Tuy thế, Bồ-tát tiếp tục ăn mà không nói một lời nào. Thấy vậy, chàng trai kia nghĩ, “Thôi được, ta sẽ xin một miếng vậy. Ta có thể vứt đi phần cơm dơ bẩn bên ngoài và ăn thứ còn lại.” Chàng ta đã làm như vậy và ăn phần cơm còn lại. Khi vừa ăn xong, chàng ta nghĩ, “Ta đã làm ô nhục dòng dõi, họ hàng và gia đình của ta! Sao ta lại ăn đồ thừa của một kẻ tiện dân thấp kém chứ!” Lòng ăn năn đã làm cho chàng ta vô cùng đau khổ. Chàng ta nôn ói thức ăn ra, và máu theo đó ra cùng với thức ăn.

– Ôi, ta đã làm một việc xấu xa, tất cả chỉ vì một chút lợi ích vặt vãnh!

Chàng ta khóc than và đọc lên bài kệ thứ nhất:

Một chút thức ăn còn thừa lại

Được cho trái với ý anh ta

Ta Bà-la-môn dòng quý phái

Và thức ăn này làm xấu xa.

Than khóc xong, chàng ta nói thêm:

  – Sao ta lại làm một việc xấu xa như vậy chỉ vì để duy trì thân mạng chứ?

Rồi chàng ta lao vào rừng, không bao giờ để cho một ai nhìn thấy mình nữa, và ở đó, chàng ta đã chết trong nỗi đau khổ tuyệt vọng.

* * *

Sau khi kết thúc câu chuyện này, đức Thế Tôn nói:

  – Này các Tỳ-kheo, giống như chàng trai Bà-la-môn sau khi ăn thức ăn thừa của một người tiện dân, nhận thấy rằng mình không có hân hoan cũng không có hỷ lạc, bởi vì anh ta đã dùng thức ăn không thích hợp. Cũng thế, những ai xuất gia theo đạo giải thoát này lại kiếm kế sinh nhai phi pháp, khi thọ hưởng thức ăn và sống một đời sống bị đức Phật khiển trách và chê bai, người ầy sẽ nhận thấy rằng không có hân hoan và không có hỷ lạc.

 Sau đó, hiển bày giác ngộ viên mãn, Ngài đọc lên bài kệ thứ hai:

Người từ bỏ chánh pháp

sống nương vào phi pháp.

Sẽ như Bà-la-môn

Được ăn lại không vui.

Sau khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, nhiều Tỳ-kheo đắc được quả Dự lưu.

Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, ta là người tiện dân hạ đẳng.

Số 180
CHUYỆN KHÓ BỐ THÍ
(Tiền thân Duddada)

Khó làm như người thiện…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về sự cúng dường chung. Ở thành Xá-vệ (Sāvatthi), có hai chàng trai có vị thế đã quyên góp và chuẩn bị tất cả những phẩm vật cần thiết để cúng dường cho đức Phật và Tăng chúng. Họ thỉnh mời tất cả chư vị, rộng rãi cúng dường trong bảy ngày, và vào ngày thứ bảy thì cúng dường tất cả những vật phẩm cần thiết cho chư vị. Người lớn tuổi nhất trong hội chúng đến đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên và thưa:

  – Bạch Thế Tôn, trong số những người cúng dường, có người cúng dường nhiều, có người cúng dường ít, nhưng mong rằng việc cúng dường này đều mang lại chọ họ nhiều phước báo như nhau.

Thưa xong, ông cúng dường phẩm vật. Đức Thế Tôn nói:

 – Này các tín chủ, các vị cúng dường những phẩm vật này cho đức Phật và Tăng chúng, cúng dường như vậy là tạo một thiện nghiệp lớn. Đời trước, những bậc Hiền trí cũng đã cúng dường và thưa bạch cúng dường như vậỵ

Rồi theo lời thỉnh cầu của vị này, đức Thế Tôn kể một câu chuyện quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào một gia đình Bà-la-môn ở nước Ca-thi (Kāsi). Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát được giáo dục và rèn luyện thấu đáo ở Xoa-thi-la (Takkasilā). Sau đó, Bồ-tát xuất gia sống đời ẩn sĩ, rồi cùng với hội chúng các đệ tử đi đến Tuyết sơn (Himalaya) và sống ở đấy một thời gian dài.

Một lần, cần kiếm muối và già vị, Bồ-tát xuống núi, đi qua miền quê và cuối cùng đến thành Ba-la-nại. Ở đó, Ngài sống trong vườn ngự uyển. Vào sáng hôm sau, Ngài cùng với hội chúng đệ tử đi đến một ngôi làng ngoài thành để khất thực. Dân làng đã cúng dường cho Ngài. Ngày kế tiếp, Ngài khất thực ở trong thành phố. Tất cả thị dân hoan hỷ cúng dường phẩm vật cho Ngài. Họ cùng chung sức quyên góp và cúng dường rất nhiều cho hội chúng các ẩn sĩ. Sau khi cúng dường xong, người đại diện của họ thưa:

– Thưa Tôn giả, trong số những người cúng dường, có người cúng dường nhiều, có người cúng dường ít, nhưng mong rằng việc cúng dường này đều mang lại chọ họ nhiều phước báo như nhau.

Bồ-tát đáp lời:

 – Này các Tín hữu, ở đâu có tín tâm, thì ở đấy không có phẩm vật nhỏ.

Nói xong, Ngài hồi hướng công đức bằng hai bài kệ sau:

Khó làm như người thiện

Bồ thí như họ làm.

Người ác khó bắt chước

Đời sống người thiện sống.

 

Người thiện và kẻ ác

Khi lìa xa cõi trần.

Kẻ ác đoạ địa ngục

Người thiện cõi thiên sanh.

Hồi hướng công đức như vậy xong, Bồ-tát lưu lại ở đấy trong bốn tháng mùa mưa. Sau mùa mưa, Ngài quay trở lại Tuyết Sơn, tinh tấn tu tập thiền định không gián đoạn mãi đến khi sanh về thiên giới.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuỏ đó, Tăng chúng của Phật là nhóm những nhà ẩn sĩ, còn ta chính là bậc Đạo sư của họ.

 


Ban Tu Thư Phật Học

Cập nhật: 03/22/2006