CHƯƠNG V
PHẨM LỖ-CÁP-CA
(RUHACA)
Số 191
CHUYỆN LỖ-CÁP-CA
(Tiền thân Ruhaka)
Ngay sợi dây cung đứt…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo luyến ái người vợ cũ.
Những tình huống của câu chuyện sẽ được trình bày trong Tiền thân
Indriya, số 423. Ở đây, đức Thế Tôn nói với thầy Tỳ-kheo này:
– Này Tỳ-kheo, người phụ nữ đó đã từng hại thầy.
Vào đời trước, chính cô ta đã làm cho thầy xấu hổ trước mặt nhà vua và
hết thảy quần thần. Với lý do đó, thầy đuổi cô ta ra khỏi nhà.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể một câu chuyện đời
trước.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì vương
quốc Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con bà chánh phi. Khi
Bồ-tát đến tuổi trưởng thành thì phụ vương băng hà. Sau đó, Ngài kế thừa
vương vị và trị vì bằng sự công chính.
Bồ-tát có một vị quan tư tế tên là Lỗ-cáp-ca
(Ruhaka), và vợ của ông ta là một bà Bà-la-môn già.
Nhà vua cho vị Bà-la-môn này một con ngựa với đầy
đủ đồ trang sức, và ông ta thường cưỡi con ngựa này đi đến chầu vua. Khi
ông cưỡi trên lưng con ngựa được trang sức lộng lẫy này, những người
đứng hai bên đường đều lớn tiếng khen ngợi:
– Hãy xem con ngựa kia kìa! Nó thật là đẹp!
Khi trở về nhà, vừa bước lên lầu ông ta đã nói với
vợ:
– Này bà, con ngựa của chúng ta đẹp tuyệt! Tất cả
những người hai bên đường đều khen nó.
Bấy giờ, vợ của ông là một người lẳng lơ và đầy
gian dối. Khi nghe thế, bà ta đã trả lời chồng mình thế này:
– Ôi, ông có biết vẻ đẹp của con ngựa nằm ở đâu
không? Tất cả là ở bộ trang sức lộng lẫy của nó đấy. Nếu bây giờ ông
muốn làm cho mình đẹp giống như con ngựa, thì ông hãy mang bộ đồ trang
sức của con ngựa vào, rồi đi xuống đường và phi theo kiểu ngựa. Như vậy
ông đến yết kiến vua, nhà vua và tất cả mọi người sẽ khen ông cho coi.
Lão Bà-la-môn ngớ ngẩn này lắng nghe tất cả mà
không biết chủ tâm của vợ mình là gì. Vì thế, ông ta tin lời bà và làm
theo điều bà ta bảo. Mọi người trông thấy ông thì cười lớn, họ nói:
– Ở đây có một vị tiên sinh đẹp tuyệt!
Còn nhà vua thì lớn tiếng khiển trách ông:
– Này quan tư tế, tại sao vậy, mật của ông có vấn
đề hả? Có phải ông bị điên không đấy?
Vị Bà-la-môn này nghĩ rằng chắc ông đã làm điều
sai lầm nên cảm thấy xấu hổ. Vì thế, ông sanh tâm tức giận vợ mình và
vội vàng về nhà, miệng lẩm bẩm:
– Người đàn bà này đã làm cho ta xấu hổ trước mặt
nhà vua và các quần thần, ta sẽ trừng trị thị và đuổi thị ra khỏi nhà
mới đươc!
Nhưng người đàn bà xảo quyệt này khi nhận thấy ông
trở về với vẻ mặt giận dữ, đã nhanh chân rời khỏi nhà bằng cánh cửa hông
và đi đến hoàng cung. Ở đấy, bà ta ở bốn năm ngày. Khi nhà vua nghe việc
đó, ông cho gọi quan tư tế đến và nói với ông:
– Này quan tư tế, đàn bà đều lỗi lầm cả, ông nên
tha thứ cho người đàn bà này.
Với mục đích làm cho ông ta tha thứ vợ mình, nhà
vua đọc lên bài kệ đầu tiên:
Ngay sợi dây cung đứt
Có thể nối lại lành,
Tha thứ cho vợ ông
Thương yêu không hờn giận.
Nghe vậy, Lỗ-cáp-ca đọc lên bài kệ thứ hai:
Khi có được vỏ cây
Có thể làm dây mới
Hết chịu nỗi bà này
Tôi sẽ tìm vợ mới.
Nói vậy rồi, ông đuổi bà ta đi và đưa một phụ nữ
Bà-la-môn khác về làm vợ.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết
các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo luyến ái này
đắc được quả Dự lưu. Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, người vợ chính là bà già Bà-la-môn
bây giờ, Tỳ-kheo luyến ái là Lỗ-cáp-ca, còn ta là vua Ba-la-nại.
Số 192
CHUYỆN THIÊN NỮ RIRI VÀ KAḶAṆṆI.
(Tiền thân Siri-Kaliaṇṇi)
Chuyện này sẽ được trình bày trong Tiền thân
Mahāummagga, số 538.
Số 193
CHUYỆN VUA LIÊN HOA
(Tiền thân Culla-paduma)
Cô ta không ai khác…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo thối thất. Những tình
huống của câu chuyện sẽ được trình bày trong Tiền thân Ummadantī, số
527. Khi đức Thế Tôn hỏi thầy Tỳ-kheo này có phải thầy thật sự thối thất
không, thầy trả lời rằng thật đúng như vậy. Đức Thế Tôn hỏi:
– Ai là người đã khiến cho thầy thối thất?
Thầy trả lời:
– Bạch Thế Tôn, con nhìn thấy một phụ nữ ăn bận
xiêm y lộng lẫy, vì không làm chủ được tình cảm nên con đã thối thất
tâm.
Nghe thế, đức Thế Tôn nói:
– Này Tỳ-kheo, phụ nữ đều vong ân và bội bạc.
Những bậc hiền trí đời trước cuồng mê đến độ đã dâng máu từ gối chân
phải của mình cho phụ nữ uống, suốt đời mang tặng phẩm dâng họ, tuy thế
vẫn không thu phục được con tim của họ.
Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện đời quá khứ.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con trai bà chánh phi. Vào ngày
lễ đặt tên, họ đặt tên cho Ngài là Thái tử Liên Hoa (Paduma). Thái tử có
sáu người em trai. Bảy anh em đến tuổi trưởng thành thì lần lượt kết hôn
và ổn định cuộc sống. Họ sống thân cận như những người bạn của vua.
Một hôm, nhà vua đứng nhìn xuống sân và trông thấy
những người này cùng với một nhóm tùy tùng đông đảo đang đến yết kiến
ông, ông nghi ngờ những người này muốn giết ông để giành lấy vương quốc
nên cho gọi họ đến và nói:
– Này các con trai của ta, các con không thể sống
trong kinh thành này được, vì thế các con hãy đi đến một nơi khác, rồi
khi nào ta băng hà thì các con hãy quay trở về và giữ lấy vương quốc
thuộc quyền sở hữu của hoàng gia chúng ta.
Nghe theo lời phụ vương, họ gạt lệ trở về nhà.
– Chúng ta hãy đi, không cần biết phải đi đâu!
Họ than khóc, rồi mang theo vợ mình rời khỏi kinh
thành ra đi. Khi đi đến một cánh rừng, họ không thể kiếm được thức ăn,
nước uống. Không thể chịu đựng nỗi sự hành hạ của cơn đói, họ quyết định
lấy mạng của những phụ nữ để cứu lấy mạng mình. Họ bắt lấy cô vợ của
người em út và giết cô ta. Họ cắt thân thể cô thành mười ba phần và ăn
thịt ấy. Nhưng Bồ-tát và vợ ăn chung một phần, còn một phần để dành lại.
Như vậy, đi đến ngày thứ sáu, họ giết và ăn thịt
hết sáu người phụ nữ, và Bồ-tát đã để dành được sáu phần. Vào ngày thứ
bảy, những người này dự định bắt lấy vợ Bồ-tát để giết. Biết vậy, Bồ-tát
đưa cho họ sáu phần thịt mà Ngài đã để dành và nói:
– Này các em, các em hãy ăn những phần thịt này
đi, ngày mai anh sẽ tính sau.
Bọn họ ăn thịt. Còn Bồ-tát, đợi lúc đêm đến, khi họ
ngủ say, đã cùng với vợ của mình trốn đi.
Đi được không bao lâu, người vợ nói:
– Chàng ơi, thiếp không thể đi xa được nữa.
Vì thế, Bồ-tát cõng vợ trên vai, và đến lúc rạng
đông thì đi ra khỏi khu rừng. Khi mặt trời mọc, cô vợ nói:
– Chàng ơi, thiếp khát nước!
– Nàng ạ, ở đây không có nước! Bồ-tát nói.
Nhưng cô nàng van xin mãi, nên cuối cùng Bồ-tát
dùng gươm đâm vào gối chân phải của mình và nói:
– Không có nước, nhưng nàng hãy ngồi xuống đây và
uống máu nơi gối chân của ta. Và cô nàng đã làm như vậy.
Khi đi đến dòng sông Hằng hùng vĩ, họ uống nước,
tắm rửa, ăn các loại trái cây, và nghĩ ngơi tại một chỗ dễ chịu. Và ở
đấy, họ làm một am thất để ở gần một khúc sông cong.
Một hôm, có một tên cuớp ở vùng thượng lưu sông
Hằng, do phạm trọng tội mưu phản nên chân tay, mũi tai của y bị tùng
xẻo, và y được đặt nằm trên một chiếc xuồng thả trôi dạt theo sông lớn.
Y trôi dạt đến nơi này, rên rỉ inh lên vì đau đớn. Bồ-tát nghe tiếng
than khóc thảm thương này liền nói:
– Trong khi ta sống, ta không để cho một chúng sanh
đáng thương nào chịu chết!
Nói rồi, Bồ-tát đi đến bờ sông và cứu người này.
Ngài mang y về am, dùng thuốc mở làm se da để chữa trị vết thương cho y.
Nhưng vợ của Bồ-tát nói thầm:
– Một gã lười biếng như vậy mà chồng ta lại mang
ngoài sông Hằng về để chăm sóc!
Nói rồi, cô ta đi quanh khạc nhổ vì ghê tởm gã đàn
ông này.
Khi những vết thương của gã này đã bình phục trở
lại, Bồ-tát để cho gã ta trú ở trong am cùng với vợ của mình, còn Ngài
đi vào rừng kiếm các thứ trái cây về cho cô nàng và gã kia ăn. Và khi họ
cùng sống với nhau như vậy, người đàn bà sanh lòng yêu thương gã này,
rồi dẫn đến làm điều bất chính với gã. Sau đó, cô ta khởi tâm muốn giết
Bồ-tát nên nói với Ngài:
– Chàng ạ, khi ngồi trên vai chàng để đi ra khỏi
cánh rừng, thiếp nhìn thấy ngọn núi kia và cầu nguyện rằng, nếu thiếp và
chàng được cứu mạng, không bị tổn hại, thì thiếp sẽ cúng tạ Thần núi.
Bây giờ vị thần này ám ảnh thiếp, nên thiếp mong được lên núi lễ tạ!
– Hay lắm.
Bồ-tát đồng ý mà không biết mưu mô xảo trá của cô
ta. Ngài sửa soạn phẩm vật cúng dường, giao cho cô ta mang chậu đựng đồ
cúng, rồi leo lên đỉnh núi. Sau đó, người vợ nói với chồng:
– Chàng ạ, không có thần núi nào cả, chàng chính là
vị thần tối cao của thiếp! Vậy thì trước hết, thiếp sẽ dâng những bông
hoa rừng cho chàng, cung kính đi nhiễu quanh chàng theo phía bên phải và
đảnh lễ chàng, rồi sau đó thiếp sẽ cúng dường cho thần núi.
Nói vậy rồi, cô ta đặt Bồ-tát hướng mặt về vực núi
đá sâu và giả vờ tỏ lòng tôn kính đảnh lễ Bồ-tát. Như thế, cô ta đi đến
sau lưng Bồ-tát, đánh mạnh vào lưng và làm Ngài ngã nhào xuống vách núi.
Rồi cô ta thích thú kêu lên:
– Ta đã nhìn thấy lưng kẻ thù của ta rồi!
Xong việc, cô ta đi xuống núi và trở về với gã tình
nhân.
Bồ-tát ngã nhào từ vách đá xuống vực thẳm nhưng bị
mắc kẹt ở trong một một lùm lá không có gai ở trên ngọn cây sung và Ngài
không thể xuống núi được. Vì thế ở đấy, Bồ-tát ngồi giữa những nhành cây
và ăn trái sung. Có một con Kỳ đà lớn thường leo từ chân núi lên để ăn
trái cây sung này. Hôm đó, nó nhìn thấy Bồ-tát và bỏ chạy. Ngày hôm sau,
nó đến và ăn trái của cây bên cạnh. Nó đến mãi nhiều lần như vậy cho đến
khi kết thân với Bồ-tát.
– Làm cách nào mà Ngài đến được đây? Nó hỏi.
Bồ-tát kể lại cho nó nghe nguyên cớ. Nó nói:
– Thôi được, Ngài đừng sợ.
Nói rồi, nó cõng Bồ-tát trên lưng và leo xuống núi,
đưa Ngài ra khỏi cánh rừng và đặt ngài trên một con đường cái, chỉ cho
Ngài con đường nên đi, rồi nó quay trở lại rừng.
Bồ-tát đi đến một làng nọ và sống ở đấy cho đến khi
nghe tin phụ vương băng hà. Sau đó, Bồ-tát quay trở về Ba-la-nại, thừa
kế vương quốc thuộc quyền sở hữu của gia đình mình và lấy vương hiệu là
Liên Hoa Vương. Bồ-tát tôn trọng, tuân giữ mười vương pháp và trị vì đất
nước một cách công chánh. Ngài cho xây dựng sáu nhà cứu tế, bốn nhà đặt
ở bốn cổng thành, một nhà đặt giữa kinh thành, còn một nhà đặt trước
cung điện, rồi mỗi ngày phát chẩn phẩm vật sáu trăm ngàn đồng tiền.
Bấy giờ, người vợ xấu xa cõng tình nhân của mình
trên vai và đi ra khỏi khu rừng. Cô ta đi vào dân chúng để xin ăn, gom
góp cơm cháo để nuôi dưỡng gã kia. Nếu có ai hỏi gã kia là gì của cô ta,
cô ta sẽ trả lời:
– Mẹ của người này là chị gái của cha tôi, anh ấy
là anh họ của tôi. Người ta đã giao anh ấy cho tôi. Dù anh ấy bị đoạ đày
đến gần chết, nhưng tôi vẫn cõng anh ấy trên vai, chăm sóc và xin thức
ăn để nuôi anh ấy!
– Một người vợ quá ư tận tâm!
Mọi người đều khen ngợi khi nghe cô ta nói vậy. Từ
lúc đó, họ cho cô ta nhiều thức ăn hơn trước. Cũng có một số người trong
họ khuyên cô ta:
– Đừng sống theo cách này nữa. Vua Liên Hoa nước
Ba-la-nại đã làm cho toàn cõi Ấn Độ xôn xao bởi việc bố thí của mình.
Vua gặp cô sẽ hoan hỷ và sẽ bố thí cho cô nhiều vật phẩm. Hãy đặt chồng
cô vào trong cái giỏ này rồi đến gặp vua.
Nói như vậy rồi, họ thuyết phục cô ta và trao cho
cô ta một cái giỏ bằng liễu gai.
Ngưòi đàn bà xấu xa đặt tình nhân của mình vào
trong giỏ, mang nó lên, rồi đi đến Ba-la-nại, sống nhờ vào những gì kiếm
được ở những nhà cứu tế. Bấy giờ, Bồ-tát thường cưỡi một con voi được
trang sức rất mực lộng lẫy để đi đến nhà cứu tế, và sau khi bố thí cho
tám chính người, Ngài trở lại hoàng cung. Thế rồi người đàn bà xấu xa
đặt tình nhân của mình vào trong giỏ, mang nó lên, và đứng ở chỗ nhà vua
thường đi qua. Nhà vua nhìn thấy cô, Ngài hỏi:
– Đó là ai vậy?
– Là một người vợ tận tâm. Người hai bên đường
thưa.
Ngài cho gọi cô ta lại và nhận ra cô ta là ai. Ngài
ra lệnh mang người đàn ông được đặt trong giỏ kia ra và hỏi cô ta:
– Người đàn ông này có quan hệ thế nào với
cô?
Cô ta trả lời:
– Anh ấy là con trai của chị gái cha thảo
dân, gia đình thảo dân đã trao cho thảo dân, là chồng của thảo dân đấy.
– Ôi, một người vợ thật là tận tâm xiết bao!
Tất cả mọi người thốt lên. Họ khen ngợi người phụ
nữ xấu xa này vì họ không biết mọi ngóc ngách của vấn đề.
Vua hỏi:
– Cái gì, tên vô lại này là anh họ của cô? Gia đình
của cô đã trao anh ta cho cô? Anh ta là chồng của cô?
– Đúng thế, bẩm Hoàng thượng!
Cô ta không nhận ra nhà vua nên đã trả lời trơ tráo
như vậy.
– Và đây có phải là con trai của vua Ba-la-nại
không? Có phải cô là vợ của Thái tử Liên Hoa không? Có phải cô là con
gái của một vị vua có tên như vậy và tên của cô là như vậy không? Có
phải cô đã uống máu từ đầu gối của ta không? Có phải cô yêu mê muội gã
bất lương này và xô ta xuống vực sâu không? Ôi, cô nghĩ rằng ta đã chết,
nhưng ta vẫn còn sống! Nay cô đến đây với chữ tử được viết trên trán
đấy!
Nói xong, vua đi đến các quần thần và nói:
– Này các khanh, các khanh có nhớ những gì trẫm đã
kể cho các khanh khi các khanh hỏi trẫm không? Sáu người em trai của
trẫm đã giết sáu người vợ của họ để ăn thịt, nhưng trẫm đã giữ vợ của
mình không để bị giết hại, và sau đó đưa cô ta đến bờ sông Hằng. Ở đó,
trẫm sống trong am thất của một ẩn sĩ. Trẫm đã kéo một tên tội phạm bị
xử tội ở ngoài sông về và nuôi dưỡng gã. Nhưng sau đó, người đàn bà này
đắm say gã, nên đã xô trẫm xuống vực núi, nhưng trẫm đã cứu sống mạng
mình nhờ thể hiện lòng tốt. Đây không phải ai khác mà chính là người đàn
bà độc ác ấy, người đã ném trẫm xuống vách núi. Còn đây không phải ai
khác mà chính là kẻ xấu xa bị xử tội!
Nói xong, vua thốt lên những vần kệ sau:
Cô ta không ai khác
Kẻ xấu xa này đây
Và đây không ai khác
Gã bất lương cụt tay.
Cô ta nói đây là
Chồng của chính cô ta,
Đàn bà đáng phải chết
Khi họ nói dối ngoa.
Dùng một cây gậy lớn
Đánh vào kẻ bất lương
Người nằm chờ đánh cắp
Vợ của người hàng xóm
Rồi mang người trắc nết
Chung thủy với gã này
xẻo tai và lỗ mũi
Trước khi phải bỏ thây.
Bồ-tát không nén được cơn giận nên ra lệnh trừng
phạt họ như vậy, nhưng sau đó Ngài đã không làm theo. Để dập tắt cơn
giận, Bồ-tát sai cột cái giỏ lên đầu cô ta thật chặt để cô ta không thể
mở nó ra được, rồi ném kẻ bất lương vào đấy và đuổi họ ra khỏi vương
quốc của mình
* * *
Khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên
thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo thối
thất chứng được quả Dự lưu. Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, sáu vị Trưởng lão là sáu anh em,
thiếu nữ Chiên-đồ (Cinñcā) là người vợ, Đề-bà-đạt-đa là kẻ tội phạm,
A-nan là con Kỳ đà, còn ta chính là vua Liên Hoa.
Số 194
CHUYỆN KẺ TRỘM BẢO CHÂU
(Tiền thân Maṇicora)
Thần linh không có ở nơi đây…
Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm (Veḷuvana),
đức Thế Tôn kể câu chuyện này về việc Đề-bà-đạt-đa cố giết hại Ngài. Hay
tin Đề-bà-đạt-đa đã đi khắp nơi tìm cách giết mình, đức Thế Tôn nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần duy nhất
Đề-bà-đạt-đa cố tìm cách giết hại ta đâu. Trước đây, ông ta cũng từng
làm như vậy nhưng đã thất bại.
Sau đó, đức Thế Tôn kể cho các Tỳ-kheo câu chuyện
này.
* * *
Thuở xưa, Khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh vào đời làm con trai một gia chủ sống tại một
ngôi làng không xa kinh thành.
Khi đến tuổi trưởng thành, gia đình Bồ-tát đã cưới
cho Ngài một thiếu nữ ở nước Ba-la-nại. Nàng là một thiếu nữ trong trắng
và dễ thương, đẹp như một thiên nữ, duyên dáng như một đóa hoa dây leo
và yêu kiều như một thiên thần. Tên của nàng là Thiện Sinh (Sujātā).
Nàng chung thuỷ, đức hạnh và thảo hiền. Nàng luôn làm tròn bổn phận của
mình đối với chồng và cha mẹ chồng một cách thích đáng. Nàng rất thương
yêu và kính trọng Bồ-tát nên hai người chung sống với nhau rất hạnh phúc
và tâm đồng ý hợp.
Một hôm, Thiện Sinh nói với chồng mình:
– Chàng ạ, thiếp mong ước được gặp cha mẹ của mình.
– Này nàng, điều đó rất tốt, vậy ta hãy chuẩn bị
đầy đủ lương thực cho chuyến đi.
Ngài sai nấu tất cả các loại thức ăn, và đặt
lương thực dự trữ vào trong xe bò. Bởi vì Ngài đánh xe nên ngồi phía
trước, còn vợ của Ngài ngồi ở phía sau. Họ đi đến xứ Ba-la-nại. Ở đấy,
họ cởi ách cho bò, tắm rửa, rồi ăn uống. Sau đó Bồ-tát lồng ách vào lại
cổ bò và ngồi ở phía trước, còn Thiện Sinh, thay y phục, trang điểm và
ngồi ở phía sau.
Xe bò đi vào kinh thành đúng lúc vua Ba-la-nại
đang thực hiện một cuộc kinh lý long trọng khắp kinh thành. Ông cưỡi một
con voi được trang sức lộng lẫy và đi ngang qua nơi ấy. Thiện Sinh xuống
xe bò và đi bộ phía sau. Nhà vua nhìn thấy nàng, vẻ đẹp của nàng cuốn
hút mắt ông khiến ông sanh tâm say đắm. Ông gọi một người tùy tùng của
mình đến và nói:
– Hãy đi tìm hiểu xem người thiếu nữ kia đã có
chồng hay chưa.
Người tùy tùng làm theo mệnh lệnh và sau đó quay
trở lại bẩm với nhà vua. Y nói:
– Bẩm Hoàng thượng, thần nghe nói cô ta là người
đã có chồng. Hoàng thượng có nhìn thấy người đàn ông đang ngồi trên xe
bò kia không? Anh ta là chồng của cô ta đấy.
Nhà vua không thể làm chủ được tình cảm nên tội
lỗi đã len lói vào tâm. Ông nghĩ, “Ta sẽ tìm cách trừ khử gã này rồi sau
đó đoạt lấy vợ gã.” Nghĩ vậy, ông gọi một người tuỳ tùng đến và nói:
– Này khanh, khanh hãy mang chòm lông nạm ngọc
này và giả vờ làm người đi đường. Khi khanh đi, hãy thả chòm lông nạm
ngọc này vào trong xe của người kia.
Nói như vậy rồi, ông đưa chòm lông nạm ngọc và
bảo ông ta đi. Người này cầm lấy và đi. Khi y đi ngang chiếc xe bò, y
thả nó vào trong xe và sau đó quay trở về bẩm lại với nhà vua việc y đã
làm.
– Ta đánh mất một chòm lông nạm ngọc. Nhà vua
kêu lên.
Cả khu vực này náo động lên. Nhà vua ra lệnh:
– Đống tất cả các cửa thành lại! Chắn hết tất cả
lối ra, và bắt lấy tên trộm!
Tất cả kinh thành rối loạn! Người cận vệ kia, dẫn
theo một vài người nữa, đi đến Bồ-tát và nói lớn:
– Này! Hãy dừng xe của ông lại! Nhà vua vừa đánh
mất một chòm lông nạm ngọc, chúng tôi phải lục soát xe của ông!
Y lục soát xe cho đến khi tìm ra chùm lông nạm
ngọc mà chính y đã đặt vào đấy. Y kêu lên:
– Cướp!
Rồi túm lấy Bồ-tát, họ đấm đá, trói tay ra sau
và kéo lê Ngài đến trước mặt nhà vua, la lớn lên:
– Xin Hoàng thượng hãy nhìn tên trộm đã đánh
cắp ngọc quý của ngài!
– Hãy chặt đầu hắn đi! Nhà vua ra lệnh.
Họ dùng roi da đánh Ngài, hành hạ Ngài tại ngã tư
đường, rồi tống Ngài ra khỏi kinh thành qua cổng hướng nam.
Bấy giờ, Thiện Sinh rời xe bò, với tay lên trời
chạy theo sau Bồ-tát. Nàng khóc lóc đi đến:
– Ôi chàng ơi, thiếp chính là người đã đưa chàng
vào cảnh ngộ đau thương này!
Quân hầu của nhà vua bắt Bồ-tát nằm sấp xuống với
ý định muốn chặt đầu Ngài. Khi nhìn thấy vậy, Thiện Sinh suy nghĩ về
lòng tốt và đức hạnh của mình và nhủ thầm thế này, “Ta nghĩ ở đây không
có vị thần linh nào có đủ sức mạnh để ngăn chặn bàn tay của những kẻ độc
ác và xấu xa đang gieo tai hoạ cho người đức hạnh.” Nàng khóc than và
đọc lên bài kệ thứ nhất:
Thần linh không có ở nơi đây
Những người hộ trì cõi thế này
Giờ bọn người ác làm theo ý
Vì không có người chặn bàn tay.
Khi người phụ nữ đức hạnh này than khóc như vậy,
Ngai vua trời Đế Thích (Sakka) bổng nhiên nống lên khi Ngài ngồi trên
đó. Vua trời Đế Thích suy nghĩ, “Có người nào khởi niệm làm động chỗ
ngồi của Đế Thích ta vậy?” Rồi ngài biết những gì đang xảy ra. Ngài
nghĩ, “Vua nước Ba-la-nại đang làm một việc làm quá tàn bạo. Ông ta đang
làm cho nàng Thiện Sinh đức hạnh kia chịu khổ đau, ta phải đến đó ngay
mới được!” Vì thế, Ngài rời thiên giới và giáng trần. Bằng thần lực của
mình, Ngài hất ngã vị vua xấu xa ra khỏi lưng con voi mà ông ta đang
cưỡi, và đặt sấp ông ta vào nơi hành hình. Đế Thích nâng Bồ-tát lên,
trang điểm cho Ngài mọi thứ trang sức, lấy áo của nhà vua mặc vào cho
Ngài và đặt Ngài ngồi lên lưng voi của vua. Quân hầu giơ rìu và chặt bay
đầu – nhưng đó là đầu của nhà vua. Khi đầu lìa khỏi cổ rồi, họ mới biết
rằng đó là đầu của vua.
Vua trời Đế Thích hiện thân và đi đến trước mặt
Bồ-tát, Đế Thích phong cho Bồ-tát làm vua, và vị trí chánh phi được trao
cho Thiện Sinh. Và khi các triều thần, Bà-la-môn, những gia chủ, và tất
cả dân chúng nhìn thấy vua trời Đế Thích, họ hoan hỷ nói rằng:
– Vị vua bất chính đã bị giết chết! Giờ đây vua
trời Đế Thích trao cho chúng ta một vị vua chánh trực!
Vua trời Đế Thích đứng lơ lững trên không trung
truyền dạy:
– Từ này trở đi, vị vua chánh trực này sẽ cai
trị bằng chính nghĩa. Nếu vua làm điều bất chính, chư thiên sẽ đem mưa
đến không đúng mùa; còn khi đúng mùa lại không đem mưa đến. Rồi nạn đói
kém, dịch bệnh và gươm dao – ba thứ nạn này sẽ ập lên dân chúng vì vua
ác.
Dạy bảo vậy xong, Đế Thích đọc lên bài kệ thứ
hai:
Vì vua trời mưa không đung mùa
Trái mùa trời lại đổ mưa to.
Thiên chủ từ trời giáng trần thế.
Nhìn kẻ bị giết, hiểu nguyên do.
Khuyên nhủ cho dân chúng như vậy xong, vua trời
Đế Thích trở về lại thiên giới. Còn Bồ-tát đã trị vị vương quốc bằng sự
chính trực, sau đó sanh về thiên giới.
* * *
Sau khi kết thúc pháp ngữ này, đức Thế Tôn nhận
diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là vị vua xấu xa,
A-na-luật (Anuruddha) là vua trời Đế Thích, Thiện Sinh là mẹ của
La-hầu-la, còn ta chính là vị vua được vua trời Đế Thích phong.
Số 195
CHUYỆN NGỌN NÚI ĐẸP
(Tiền thân Tūpatthara)
Dưới chân núi tuyệt đẹp…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về vua nước Câu-tát-la (Kosala).
Chuyện kể rằng, có một vị đại thần nọ thông dâm
trong hậu cung. Nhà vua điều tra vấn đề, và khi khám phá ra sự việc là
có thực, ông quyết định thuật lại với đức Thế Tôn. Vì thế ông đi đến Kỳ
Viên, đảnh lễ đức Thế Tôn và thuật lại với Ngài việc vì đại thần này đã
làm điều bất chính như thế nào, rồi hỏi mình nên phải làm gì. Đức Thế
Tôn hỏi ông rằng, ông có nhận thấy vị quan kia là hữu ích cho ông không,
và ông có yêu thương vợ của mình không. Ông trả lời:
– Bạch Thế Tôn, ông ta rất hữu ích, ông ta là
rường cột chính của triều đình, và con rất yêu thương vợ mình.
– Đức Thế Tôn nói:
Thưa Hoàng thượng, khi những người tôi có ích,
và khi những phụ nữ đang có được yêu thương thì không nên hại họ. Vào
đời trước, các vua cũng nghe theo lời bậc Hiền trí và không để tâm đến
những điều như vậy.
Nói xong, Ngài kể một câu chuyện xưa.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xư
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào trong gia đình một vị đại thần.
Khi đến tuổi trưởng thành, Ngài trở thành vị cố vấn cho nhà vua trong
những việc về thế tục cũng như tâm linh.
Bấy giờ, có một vị đại thần trong triều đình làm
chuyện dan díu trong hậu cung. Nhà vua biết được điều đó và nghĩ, “Ông
ta là một người tôi hữu ích nhất, còn người đàn bà kia thì ta yêu
thương. Ta không thể làm hại hai người này được. Ta sẽ hỏi bậc Hiền trí
của triều đình. Nếu Ngài bảo ta nên nhẫn chịu điều đó, ta sẽ nhẫn chịu;
còn nếu không ta sẽ không nhẫn chịu.
Ông cho gọi Bồ-tát đến, mời Ngài ngồi và nói:
– Thưa bậc Hiền trí, trẫm có điều này muốn hỏi
khanh.
– Tâu Hoàng thượng, xin ngài cứ hỏi, thần sẽ trả
lời.
Nhà vua liền hỏi qua bài kệ đầu tiên:
Dưới chân núi tuyệt đẹp
Có hồ nước tốt lành,
Nhưng chó sói dùng nó
Dẫu biết sư tử canh.
Bồ-tát suy nghĩ, “Chắc chắn có một vị đại thần
nào đó đã làm chuyện dan díu trong hậu cung” nên Ngài đọc lên bài kệ thứ
hai:
Tất cả các loài thú
Muốn uống nước sông sâu
Nếu bà ta đáng mến
Nhẫn lòng tha thứ nhau.
Bậc Đại sĩ đã khuyên nhà vua như vậy.
Nhà vua tuân theo lời khuyên này và tha thứ cho
cả hai, bảo họ đi và đừng có tái phạm nữa. Từ lúc đó, họ chấm dứt việc
làm xấu xa ấy. Còn nhà vua bố thí, làm điều thiện, và đến khi mạng chung
đã sanh về thiên giới.
Nhà vua xứ Câu-tát-la cũng thế, sau khi nghe pháp
thoại này đã tha thứ cho cả hai người này và không còn để tâm đến điều
ấy nữa.
* * *
Khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận
diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, A-nan là nhà vua, còn ta chính là
vị đại quan hiền trí.
Số 196
CHUYỆN CON NGỰA BAY
(Tiền thân Valahassa)
Những ai thờ ơ với đức Phật…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyên này về một Tỳ-kheo thối thất tâm.
Khi đức Thế Tôn hỏi thầy có phải thầy thật sự
thối thất tâm không, thầy trả lời thật có như vậy. Được hỏi lý do vì
sao, thầy trả lời rằng vì nhìn thấy một phụ nữ ăn bận xiêm y lộng lẫy
nên khởi tâm tham đắm. Thế rồi đức Thế Tôn đã nói với thầy thế này:
– Này Tỳ-kheo, những phụ nữ này đã quyến rũ đàn
ông bằng sắc, thanh, hương, vị và xúc của họ; bằng mưu chước và sự cợt
nhã của họ. Như vậy, họ làm cho nam giới rơi vào tay mình. Rồi khi biết
rằng nam giới mê đắm họ, bằng những cách thức xấu xa, họ làm cho những
người này tan nát thanh danh, tài sản... Do vậy, họ được gọi là Dạ-xoa.
Vào thuở xưa, một đám nữ dạ xoa đã cám dỗ một đoàn thương nhân và dùng
thế lực lừa gạt họ. Về sau, khi đám nữ Dạ-xoa này gặp được những người
đàn ông khác, chúng đã giết hết những người đàn ông trước để ăn thịt,
dùng răng nhai ngấu nghiến trong khi máu chảy xuống hai bên má.
Nói rồi, đức Thế Tôn kể một câu chuyện xưa.
* * *
Thuở xưa, tại đảo Tích Lan (Ceylon), có một thành
phố Dạ-xoa được gọi tên là Tích-lý-tát-ngõa-đà (Sarīsavatthu), và có
những nữ Dạ-xoa cư trú ở đấy. Khi có một chiếc tàu bị chìm, đám Dạ-xoa
này thường tô điểm, trang sức, mang cơm cháo, rồi cùng với những nữ tỳ,
chúng bồng con cái chúng bên hông và đi đến những vị thương nhân. Để cho
các thương nhân này tưởng rằng nơi chúng ở là thành phố của loài người
thật, chúng làm cho họ thấy đây đó người ta đang cày ruộng, chăn bò,
những đàn gia súc, lũ chó …Sau đó tiến đến gần những thương nhân, chúng
mời họ ăn cháo, cơm và những thức ăn khác mà chúng mang đến. Những
thương nhân hoàn toàn không biết nên ăn mọi thứ được biếu tặng. Khi ăn
uống xong và đang nghĩ ngơi, những con Dạ-xoa nói với họ thế này:
– Các vị sống ở đâu? Các vị từ đâu đến đây? Các
vị đang đi đến đâu? Và công việc gì đã đưa các vị đến đây?
Những thương nhân trả lời:
– Chúng tôi bị đắm tàu ở đây.
– Rất tốt, thưa các vị. Từ khi chồng
chúng tôi lên tàu ra khơi đến này cũng đã ba năm, vậy mà không thấy họ
trở về, chắc họ đã chết rồi. Các vị cũng là thương nhân, chúng tôi sẽ
làm vợ các vị.
Như thế, chúng dùng mưu chước, thủ thuật và sự ve
vãn để làm lạc lối những thương nhân, cho đến khi chúng đưa được họ vào
kinh đô Dạ-xoa. Sau đó, nếu bắt được những người khác, chúng sẽ trói
những người này lại bằng những sợi xích ma thuật và ném họ vào trong nhà
hành hình. Còn nếu chúng không tìm ra người đàn ông nào bị đắm tàu tại
nơi chúng ở, chúng lùng sục ven biển, xa đến tận sông Kalyāṇi
phía bên này và đảo Nāga ở phía bên kia. Đây là cách làm của chúng.
Một lần nọ, có năm trăm thương nhân bị đắm tàu và
trôi dạt vào bờ biển gần kinh đô của các nữ Dạ-xoa này. Đám Dạ-xoa đi
đến cám dỗ họ, cho đến khi chúng đưa được họ về kinh đô của mình. Những
người mà chúng bắt được trước đây, chúng trói lại bằng những sợi xích ma
thuật và ném họ vào nhà hành hình. Sau đó, nữ chúa Dạ-xoa lấy người
trưởng đoàn, còn những Dạ-xoa khác lấy những người còn lại. Như thế, năm
trăm dạ xoa lấy năm trăm thương nhân này làm chồng. Rồi đêm đến, khi
người chồng ngủ say, nữ chúa Dạ-xoa trở dậy và đi đến nhà hành hình,
giết chết một vài người và ăn thịt. Những con Da-xoa khác cũng làm như
thế. Khi nữ chúa Dạ-xoa ăn thịt người xong và quay trở về, thân thể của
nó rất lạnh. Người thương nhân trưởng đoàn ôm lấy nó và nhận biết rằng
đó là một con quỷ Dạ-xoa. Ông nghĩ thầm, “Tất cả năm trăm người này chắc
chắn là Dạ-xoa! Chúng ta phải trốn thoát thôi!”
Vì thế vào sáng sớm, khi đi rữa mặt, ông nói với
những thương nhân khác rằng:
– Đây là những con Dạ-xoa, chúng không phải là
loài người! Khi chúng tìm được những người đàn ông bị đắm tàu khác,
chúng sẽ lấy họ làm chồng và giết chúng ta ăn thịt. Chúng ta hãy trốn
thoát khỏi nơi này thôi!
Nhưng hai trăm năm mươi người trong họ thưa:
– Chúng ta không thể rời họ được. Các ông cứ đi
nếu các ông muốn, còn chúng tôi sẽ không trốn đi đâu hết.
Sau đó, người thương nhân trưởng đoàn cùng với
hai trăm năm mươi người nghe lời ông đã trốn đi trong tâm trạng sợ hãi
đám Dạ-xoa.
Lúc bấy giờ, Bồ-tát thọ sanh vào đời làm một con
ngựa bay, toàn thân trắng bạch, có đầu giống như đầu qụa, lông giống như
cỏ muñja, có thần thông lực và có thể bay qua không trung. Từ Tuyết sơn,
Ngựa bay mãi qua không trung cho đến khi đến đảo Tích Lan. Ở đấy, Ngựa
đi trên các ao hồ ở đảo Tích Lan và ăn lúa mọc hoang ở đó. Khi bay đi
như vậy, Ngựa ba lần thốt lên giọng người đầy từ bi:
– Ai muốn về nhà không? Có ai muốn trở về nhà
không?
Nghe lời Ngựa nói, những thương nhân đi đến chắp
tay thưa:
– Thưa ngài, chúng tôi muốn về nhà!
Bồ-tát nói:
– Vậy thì hãy leo lên lưng ta.
Thế rồi, một số người leo lên lưng, một số nắm
chặt đuôi Ngựa, còn một số vẫn đứng yên tại chỗ, cung kính đảnh lễ Ngựa.
Sau đó Bồ-tát mang hết những người vẫn đang còn đứng đảnh lễ lên, và chở
tất cả họ, gồm hai trăm năm mươi người chẵn về đất nước của họ. Ngựa đặt
từng người xuống tại nhà họ rồi trở lại nơi cư trú của mình.
Còn đám nữ Dạ-xoa đã giết hết hai trăm năm mươi
người còn ở lại và ăn thịt họ khi có những người đàn ông khác đi đến nơi
ấy.
* * *
Bấy giờ, đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
– Này các Tỳ-kheo, giống như những thương nhân
rơi vào tay của đám nữ Dạ-xoa và bị giết chết, còn những người khác nhờ
nghe theo lời của con ngựa thần nên quay về nhà an toàn. Cũng vậy, những
ai không để tâm đến lời khuyên của đức Phật, thì dù là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo
ni, Cư sĩ nam, hay Cư sĩ nữ, cũng phải thọ nhận khổ đau khốn cùng trong
bốn địa ngục và chịu trừng phạt trong năm thứ gông cùm…Còn những ai tuân
theo lời khuyên của đức Phật, sẽ đạt được ba loại sanh phước đức, sáu
cõi trời dục giới, hai mươi Phạm thiên giới, và đạt đến trạng thái
Niết-bàn bất tử, đạt được hỷ lạc rất lớn.
Sau đó, hiển bày chánh đẳng giác, Thế Tôn đọc
lên những vần kệ sau:
Những ai thờ ơ với đức Phật
Khi Ngài bảo họ việc nên làm
Thì như Dạ-xoa ăn thương nhân
Cũng thế, họ sẽ bị vong mạng.
Những ai lắng nghe lời đức Phật
Khi Ngài bảo họ việc nên hành
Thì như ngựa bay cứu thương nhân
Cũng thế, họ sẽ được độ thân.
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết
các Thánh Đế. Vào lúc kết thúc các Thánh Đế, thầy Tỳ-kheo thối thất
chứng được quả Dự lưu, một số thầy khác cũng chứng được quả Dự lưu, Nhất
lai, Bất loàn, và A-la-hán. Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, Tỳ-kheo đệ tử Phật là hai trăm
năm mươi người nghe theo lời khuyên của Ngựa thần, còn ta chính là con
Ngựa ấy.
Số 197
CHUYỆN BẠN-THÙ
(Tiền thân Mittāmitta)
Gặp mặt không mỉm cười…
Trong khi trú tại thành Xá-vệ (Sāvatthi), đức Thế
Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo.
Thầy Tỳ-kheo này lấy một tấm vải mà hoà thượng
của thầy gửi giữ, và tin rằng dẫu có lấy thì hoà thượng cũng không giận.
Sau đó thầy may một cái túi đựng dép rồi ra đi. Khi hòa thượng hỏi tại
sao thầy lấy vải, thầy trả lời:
– Bạch thầy, vì con tin tưởng rằng dẫu con có
lấy tấm vải ấy thì thầy cũng không giận con.
Vị thầy nổi giận, đứng dậy đánh thầy này và nói:
– Có sự tin tưởng gì giữa thầy và tôi chứ?
Các Tỳ-kheo biết được sự việc này. Một hôm, họ
cùng bàn tán việc ấy trong Chánh pháp đường.
– Thưa các Hiền hữu, thầy Tỳ-kheo trẻ nọ vì quá
tin vào tình giao hảo của hoà thượng thầy ấy nên đã lấy một tấm vải và
may thành một cái túi đựng dép. Sau đó, hoà thượng thầy ấy hỏi giữa họ
có sự tin tưởng gì. Rồi nổi giận, ông đứng lên đánh thầy này.
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi các Tỳ-kheo đang bàn
thảo điều gì khi cùng ngồi lại nơi đấy. Chư vị thuật lại sự việc với
Ngài. Nghe vậy, Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên thầy này làm mất lòng tin người đồng môn của mình thôi đâu. Trước
đây, thầy ấy cũng từng làm như vậy.
Sau đó, Ngài kể một câu chuyện đời quá khứ.
* * *
Thuở xưa, Khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ
Ba-la-nai (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào đời làm con trai của một vị
Bà-la-môn ở nước Ca-thi (Kāsi). Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát xuất
gia, tu tập Thần thông và Thiền định, cư trú trong vùng Tuyết Sơn cùng
với hội chúng đệ tử. Không vâng theo lời khuyên của Bồ-tát, một người
trong hội chúng những nhà tu khổ hạnh này đã nuôi một con voi nhỏ mất
mẹ. Con vật này khi lớn lên đã giết chết chủ của nó và trốn khỏi khu
rừng. Những ẩn sĩ tổ chức đám tang cho vị này và sau đó đi đến Bồ-tát để
hỏi Ngài:
– Thưa đạo sư, làm sao chúng ta có thể biết được
người nào là bạn hay là kẻ thù của mình?
Bồ-tát trình bày vấn đề qua lời bài kệ sau:
Gặp mặt không mỉm cười
Không tỏ lòng nghênh tiếp
Mắt không cần nhìn đến
Sự việc đều cự tuyệt.
Chứng cớ và biểu hiện
Qua đó thấy kẻ thù
Nghe và thấy điều này
Người trí biết địch thủ.
Bằng những lời như vậy, Bồ-tát trình bày những
biểu hiện của người bạn và kẻ thù. Sau đó Ngài tu tập Phạm hạnh, rồi đến
khi mạng chung đã sanh về cõi Phạm thiên.
* * *
Kết thúc Pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, Tỳ-kheo tự tiện lấy vải là
Tỳ-kheo nuôi con voi, thầy của thầy này là con voi, thị chúng của đức
Phật là hội chúng những ẩn sĩ khổ hạnh, còn ta chính là Đạo sư của họ.
Số 198
CHUYỆN CON VẸT LA-ĐÀ
(Tiền thân Rādha)
Ta đi, cuộc hành trình đã kết…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyên này về một thầy Tỳ-kheo thối thất.
Chuyện kể rằng, đức Thế Tôn hỏi thầy này có phải
thật sự thầy thối thất tâm không. Thầy trả lời rằng thầy thật có như
vậy. Khi được hỏi lý do vì sao, thầy trả lời:
– Bởi vì lúc nhìn thấy một phụ nữ ăn bận xiêm y
lộng lẫy, con đã khởi tâm tham đắm.
– Này Tỳ-kheo, nữ giới họ không chung thủy. Vào
đời trước, người ta đã bố trí người theo dõi và canh giữ các cửa, tuy
thế vẫn không thể giữ chặt được phụ nữ. Do đó, dù khi thầy có được phụ
nữ, thầy cũng không thể giữ được họ.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể một câu chuyện đời
quá khứ.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào đời làm một chú vẹt nhỏ tên là
La-đà (Rādha), và người em của chú tên là Bố-mao-ba-đà (Poṭṭhapāda).
Trong khi hãy còn rất nhỏ, cả hai bị một người tiện dân bắt đem cho một
vị Bà-la-môn ở Ba-la-nại. Vị Bà-la-môn chăm sóc họ như là con của mình.
Bấy giờ, vợ của vị Bà la môn này là một phụ nữ xấu xa, không chung thủy.
Người chồng phải đi buôn bán xa nên nói với hai
chú vẹt nhỏ thế này:
– Các con thương, ta sắp phải đi buôn bán xa.
Các con phải luôn canh chừng mẹ của các con nhé, hãy theo dõi xem có gã
đàn ông nào đến với bà không.
Sau khi căn dặn những con vẹt trông chừng vợ mình
như vậy xong, ông ra đi.
Khi ông đi rồi, người phụ nữ bắt đầu làm việc bất
chính. Đêm cũng như ngày, khách khứa tạt vào rồi ra đi không ngừng nghỉ.
Bố-mao-ba-đà theo dõi việc này và nói với La-đà:
– Chủ chúng ta giao người đàn bà này cho chúng
ta coi ngó, và giờ đây bà ta đang làm điều xấu xa. Em sẽ nói với bà ta
mới được.
– Đừng em ạ.
La-đà bảo em như vậy nhưng chú chim em không nghe
lời. Chú nói với bà ta.
– Thưa mẹ, tại sao mẹ lại làm điều tội lỗi ấy.
Bà ta muốn giết chết chú mới dữ chứ! Tuy
thế, giả vờ muốn vuốt ve chú, bà ta gọi chú đến.
– Này chú chim bé nhỏ, chú là con trai của mẹ!
Mẹ sẽ không bao giờ làm việc đó nữa! Này chú chim đáng quý, hãy đến đây
nào!
Chú chim nghe thế vội nhảy đến. Thế là bà ta túm
lấy chú và hét lên:
– Cái gì! Mày nói cái gì với tao! Mày thật không
biết sức lực của mày!
Nói xong, bà ta vặn cổ con chim và ném nó vào
lò.
Vị Bà-la-môn quay trở về. Sau khi nghỉ ngơi xong,
ông hỏi Bồ-tát:
– Thế nào con trai của ta, mẹ của con thế
nào, bà ấy có làm điều bất chính không?
Khi hỏi vậy xong, ông đọc lên bài kệ đầu tiên:
Ta đi, cuộc hành trình đã kết
Nay lại về, hãy nói cho ta:
Mẹ con có phải người chân thực?
Có hẹn hò làm chuyện xấu xa?
– Thưa cha, người có trí sẽ không nói điều gì mà
nó không đem lại cho bản thân sự an toàn, cho dù điều đó có xảy ra hay
không.
La-đa trả lời và giải thích điều này bằng cách
đọc lên bài kệ thứ hai:
Vì điều nói ra phải chịu chết
Thiêu sống ở trên một đống than
Nói ra sự thật thật không tốt,
Sợ cùng số phận với Bố-mao.
Nói với Bà-la-môn như vậy xong, Bồ-tát tiếp tục:
– Đây không phải là nơi dành cho con sống.
Rồi tạm biệt Bà-la-môn, chim bay nhanh vào rừng.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết
các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo thối thất tâm
chứng được quả Dự lưu. Rồi đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Thời ấy, A-nan là Bố-mao-ba-đà, còn ta chính
là La-đà.
Số 199
CHUYỆN VỊ GIA TRƯỞNG
(Tiền thân Gahapati)
Ông này, bà kia tôi không thích…
Trong một lần lưu trú tại tinh xá Kỳ Viên
(Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo thối thất.
Bấy giờ, Thế Tôn nói:
– Nữ giới không bao giờ giữ được sự đứng đắn.
Bằng cách này hoặc cách kia, họ tìm cách làm điều bất chính và lừa gạt
chồng mình.
Nói rồi, Ngài kể câu chuyện sau.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh làm con trai một vị gia trưởng ở nước Ca-thi
(Kāsi). Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát kết hôn và ổn định gia thất.
Bấy giờ, vợ của Bồ-tát là một người đàn bà hư đốn, đã làm chuyện trăng
hoa với một người trưởng làng. Bồ-tát biết việc đó và nghĩ cách bắt quả
tang bà ta.
Lúc bấy giờ, do tất cả thóc gạo đều bị cuốn trôi
hết trong suốt mùa mưa nên có nạn đói xảy ra, nhưng đó cũng là thời điểm
lúa ngô bắt đầu mọc. Toàn dân trong làng cùng đi đến cầu xin vị trưởng
làng giúp đở. Họ nói:
– Còn hai tháng nữa chúng tôi mới thu hoạch lúa
ngô, cầu xin ông cho chúng tôi mượn một ít thực phẩm.
Vị trưởng làng cho họ một con bò già, và họ đã
giết thịt nó.
Một hôm, nhân cơ hội Bồ-tát đi vắng, vị trưởng
làng đi đến nhà Bồ-tát. Đúng khi hai người đang cùng trăng hoa vui vẻ
với nhau thì Bồ-tát từ cổng làng đi về nhà. Người đàn bà nhìn ra cổng
làng và thấy chồng mình về. Bà kinh ngạc khi thấy Bồ-tát:
– Sao lại là ông ta? Thật ông ta rồi!
Bà ta nhận ra Bồ-tát và nói với vị trưởng làng.
Vị trưởng làng khiếp run lên. Bà ta nói
– Đừng sợ, tôi đã có cách. Ông có nhớ là chúng
tôi có vay của ông một ít thịt để ăn không? Bây giờ ông hãy giả vờ là
đang tìm đến đây đòi tiền thịt. Tôi sẽ leo lên kho thóc và đứng nơi cửa
kho, kêu lên: “không còn lúa ở đây!” Còn ông đứng ở giữa nhà và gọi
khăng khằng nhiều lần thế này: “Tôi còn con cái ở nhà, hãy đưa tiền thịt
cho tôi!”
Nói vậy xong, bà ta leo lên kho thóc và ngồi nơi
cửa kho. Vị trưởng làng đứng giữa nhà kêu lên:
– Trả tiền thịt cho tôi!
Trong khi bà ta ngồi nơi cửa kho trả lời:
– Trong kho không còn lúa, khi nào thu hoạch về
tôi sẽ trả cho ông, giờ xin ông hãy về đã!
Người chồng đi vào nhà và nhìn thấy những gì đang
xảy ra. Ngài nghĩ, “Đây hẳn là mưu kế của người đàn bà xấu xa này.” Rồi
Ngài nói với vị trưởng làng:
– Thưa ngài trưởng làng, khi chúng tôi vay ngài
một ít thịt bò già để ăn, chúng tôi hứa hai tháng sau sẽ trả lúa cho
ngài. Bây giờ mới có nửa tháng, thế thì tại sao ngài cứ cố buộc chúng
tôi phải trả bây giờ chứ? Đây không phải lý do để ngài có mặt ở đây.
Ngài đến đây chắc vì một lý do nào đó khác. Tôi không thích cách thức
của ngài đâu. Người đàn bà xấu xa trắc nết đằng kia biết chắc không có
lúa trong kho, vậy mà leo lên ngồi trên đó kêu lên, “trong kho không còn
lúa!” Còn ngài thì khăng khăng, “trả tiền thịt cho tôi!” Tôi không thích
hành vi của các người lẫn bản thân các người!
Để làm rõ nghĩa này, Bồ-tát đọc lên hai bài kệ
này:
Ông này, bà kia tôi không thích.
Tôi nói, tôi không thích bà ta
Người đang đứng ở bên kho lúa
Kêu lên, “nợ tôi chưa thể trả!”
Tôi không thích ông, hởi trưởng làng
Tôi nghèo của ít, nợ đa mang
Thịt bò vay mượn, hạn hai tháng
Nay đến đòi nợ, chẳng hân hoan.
Nói vậy xong, Bồ-tát túm lấy búi tóc của vị
trưởng làng, kéo ông ta ra sân và quật ông ta ngã xuống đất. Rồi khi ông
ta kêu lên, “Ta là trưởng làng!” Bồ-tát đã chế nhạo ông thế này:
– Vậy xin vui lòng bồi thường thiệt hại vì đã
làm tổn thương vật báu được canh giữ của người khác!
Vừa nói Bồ-tát vừa đánh, mãi cho đến khi vị
trưởng làng ngất đi. Rồi Bồ-tát túm lấy cổ ông ta và ném ông ta ra khỏi
nhà. Sau đó, Ngài nắm tóc người đàn bà hư đốn kia lôi ra khỏi kho thóc,
đánh ngã bà ta xuống và cảnh cáo bà ta:
– Nếu từ này bà còn làm điều như vậy nữa, tôi sẽ
cho bà biết tay!
Từ đó trở đi, vị trưởng làng không dám, dù chỉ
nhìn vào căn nhà đó. Còn người đàn bà kia không dám vi phạm nữa, dù chỉ
trong suy nghĩ.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết
các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo thối thất này
chứng được quả Dự lưu. Rồi đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Người chồng đã trừng trị vị trưởng làng đó
chính là ta.
Số 200
CHUYỆN THIỆN GIỚI
(Tiền thân Sadhusīla)
Người tốt hay cao quý…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về một vị Bà-la-môn.
Chuyện kể rằng, ông này có bốn người con gái, và
có bốn người đến cầu hôn. Một người đẹp trai, một người lớn tuổi, người
thứ ba thuộc hàng dòng dõi, và người thứ tư thì có đạo đức. Vị Bà-la-môn
suy nghĩ, “Người ta khi chọn chồng cho con gái mình phải nên chọn thế
nào nhỉ? Một người đẹp trai hay một người lớn tuổi, một người có dòng
dõi cao sang hay người có đạo đức?” Ông suy nghĩ như vậy nhưng không thể
quyết định được. Vì thế, ông quyết định kể điều quan trọng này với đức
Phật và hỏi Ngài nên phải chọn ai, rồi theo đó sẽ gả các con gái cho
người cầu hôn thích đáng nhất. Thế rồi, ông chuẩn bị một số dầu thơm,
vòng hoa, và đi đến tịnh xá. Sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, ông ngồi xuống
một bên và kể hết mọi việc với Ngài, sau đó hỏi:
– Bạch Thế Tôn, đối với bốn người này, con nên gả
con gái của con cho ai?
Đức Thế Tôn trả lời:
– Này cư sĩ, vào đời trước những bậc Hiền trí đã
trả lời vấn đề này cho ông, nhưng giờ đây sự tái sanh đã làm rối mờ trí
nhớ của ông nên ông không thể nhớ được sự kiện này.
Rồi theo lời thỉnh cầu của ông, đức Thế Tôn kể
một câu chuyện đời trước.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahamatta) trị vì
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sinh làm con trai một vị Bà-la-môn. Khi
đến tuổi trưởng thành, Ngài theo học tại Xoa-thi-la (Takkasilā), sau đó
quay trở về Ba-la-nai và trở thành một vị Đạo sư nổi tiếng.
Bấy giờ, có một người Bà-la-môn có bốn người con
gái. Bốn người này được bốn người như trên cầu hôn. Vị Bà-la-môn không
quyết định được nên gả con gái cho ai. Ông nghĩ, “Ta sẽ hỏi Đạo sư của
ta, nếu Ngài bảo nên gả chúng cho ai thì ta sẽ gả chúng cho người đó.”
Vì thế, ông đi đến gặp Đạo sư của mình và đọc lên bài kệ đầu tiên:
Người tốt hay cao quý
Người đẹp hay tuổi cao.
Con nay hỏi Đạo sư
Trong bốn, chọn người nào?
Khi nghe vậy, Đạo sư trả lời:
– Dù một người có vẻ đẹp và những đặc tính tương
tự, vẫn sẽ bị khinh thường nếu anh ta không có đức hạnh. Do đó, nhan sắc
không phải là thước đo giá trị một con người. Hạng người mà ta muốn là
hạng người có đức hạnh.
Và để giải thích vấn đề, Đạo sư đọc lên bài kệ
thứ hai:
Người xinh đẹp thật tốt
Tuổi cao ta kính trọng,
Dòng dõi cao cũng tốt
Nhưng đức hạnh, ta mong.
Khi Bà-la-môn nghe vậy, ông bèn gả các con gái
của mình cho người cầu hôn có đức hạnh.
* * *
Khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên
thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, vị Bà-la-môn chứng
được quả Dự lưu. Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Thuở ấy, vị Bà-la-môn cũng là vị Bà-la-môn
bây giờ, còn bậc Đạo sư danh tiếng đó chính là ta vậy. |