CHƯƠNG VI
PHẨM NATAMDAIHA
Số 201
CHUYỆN NHÀ TÙ
(Tiền thân Bandhanagara)
Người trí nói không cùm sắt, thanh gỗ…
Trong khi trú tại Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về một nhà tù.
Chuyển kể rằng, bấy giờ, có một bọn trộm cướp là
những kẻ đột nhập nhà, cướp đường, giết người bị bắt và bị lôi cổ đến
trước vua Câu-tát-la (Kosala). Nhà vua hạ lệnh trói chặt chúng lại bằng
dây xích, dây thừng và gồng cùm.
Ba mươi thầy Tỳ-kheo trú ở miền quê mong muốn
được gặp đức Thế Tôn nên đã đến thăm và đảnh lễ ngài. Ngày hôm sau, khi
đi khất thực, họ đi ngang qua nhà tù và nhìn thấy những kẻ bất lương
này. Vào buổi chiều, trở về sau một ngày khất thực, họ đi đến đức Thế
Tôn và thưa hỏi:
– Bạch Thế Tôn, ngày hôm nay khi chúng con đi
khất thực, chúng con nhìn thấy trong nhà tù có một số những kẻ tội phạm
bị trói chặt bằng dây xích và gông cùm, chịu khổ đau thật khóc liệt. Họ
không thể nào phá được những gông cùm này để trốn thoát. Trên đời này
còn có thứ gông cùm nào cứng hơn thứ gông cùm này?
Đức Thế Tôn trả lời:
– Này các Tỳ kheo, những thứ ấy là gống cùm,
điều đó đúng. Nhưng những thứ gông cùm như tham đắm tài sản của cải, vợ
con thì còn cứng hơn chúng gấp cả trăm lần, thậm chí gấp cả ngàn lần.
Tuy thế, những thứ gông cùm đó dù khó chặt đứt đến đâu thì các bậc Hiền
trí ngày xưa cũng đã chặt đứt được chúng khi họ đi vào Tuyết Sơn xuất
gia làm ẩn sĩ.
Nói vậy xong, Thế Tôn kể cho họ một câu chuyện
đời quá khứ.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại (Benares), Bồ tát thọ sanh vào gia đình một người nghèo khó.
Khi Ngài đến tuổi trưởng thành thì thân phụ qua đời, Ngài làm thuê làm
mướn để nuôi dưỡng mẹ mình. Nhưng mẹ của Ngài, thật trái ngược với ý
muốn của Ngài, đã cưới cho Ngài một người vợ, rồi chẳng bao lâu sau thì
bà qua đời. Bấy giờ, vợ của Bồ-tát mang thai, nhưng Ngài không biết điều
đó nên nói với vợ:
Nàng ạ, nàng hãy tự kiếm sống lấy, tôi sẽ xuất
gia.
Nghe thế, cô nàng nói:
– Không thể chàng ơi, thiếp bây giờ đang mang
thai, chàng hãy chờ nhìn mặt đứa con do thiếp sinh ra rồi sau đó hẳn
xuất gia.
Bồ-tát đồng ý lời đề nghị này. Vì thế khi vợ của
mình sinh nở mẹ tròn con vuông rồi, Ngài nói:
– Nàng ạ, bây giờ nàng đã sinh nở an lành rồi,
chắc tôi phải phải đi xuất gia.
– Chàng hãy chờ thêm cho đến khi nào đứa bé thôi
sữa rồi đi. Cô nàng nói.
Nhưng rồi cô nàng lại mang thai.
Bồ-tát suy nghĩ, “Nếu ta chấp nhận lời yêu cầu
của nàng, ta sẽ không bao giờ ra đi được. Thôi, không nên nói với nàng
nữa, ta sẽ im lặng ra đi làm người xuất gia.” Vì thế không nói một lời
nào, Ngài thức dậy vào lúc nửa đêm và trốn đi.
Những người canh giữ kinh thành bắt Ngài lại.
Ngài nói với họ:
– Thưa các ông, tôi phải nuôi dưỡng mẹ tôi, xin
cho tôi đi!
Nghe thế, họ đã để cho Ngài tự do ra đi. Rồi sau
khi tạm trú một vài nơi, Ngài ra khỏi thành bằng cổng chính và đi đến
Tuyết sơn. Ở đấy, Ngài xuất gia sống đời ẩn sĩ. Sau khi tu tập và chứng
được Thiền định cùng Thần thông, Bồ-tát an trú trong niềm hỷ lạc thiền
định. Khi trú ở đấy, lòng đầy hỷ lạc, Bồ-tát nói:
– Sự trói buộc của vợ con, sự trói buộc của
phiền não rất khó cắt đứt nay đã được cắt đứt!
Rồi Ngài ngâm lên những dòng kệ này:
Người trí nói không cùm sắt, thanh gỗ
Không dây thừng nào trói chặt người ta
Như tình cảm và tình yêu con, vợ
Như khuyên vàng và ngọc quý xa hoa.
Cùm nặng này – có ai giải thoát khỏi?
Chúng là dây thừng trói buộc người ta
Nếu người trí phá tung, thì giải thoát
Rời bỏ thế tình và lạc thú ra xa.
Ngâm lên nguồn cảm hứng này xong, Bồ-tát không
ngừng nghỉ thiền định và sau đó sanh về Phạm thiên giới.
* * *
Khi kết thúc pháp ngữ này, đức Thế Tôn tuyên
thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế này, một số Tỳ-kheo
chứng được quả Dự lưu, một số chứng được Nhất lai, một số chứng được Bất
hoàn, và một số chứng được A-la-hán. Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Thời bấy giờ, Ma-ha-ma-ya (Mahāmāya) là người
mẹ, vua Tịnh Phạn (Suddhodana) là người cha, mẹ của La-hầu-la (Rāhula)
là người vợ, La-hầu-la là người con, còn ta chính là người đã rời bỏ gia
đình sống đời xuất gia.
Số 202
CHUYỆN ĐÙA NGHỊCH
(Tiền thân Keḷi-sīla)
Chim công cùng loài ngỗng…
Trong khi trú tại Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về Tôn giả La-bà-na-bạt-đề (Lakuṇṭaka).
Tôn giả La-bà-na-bạt-đề nỗi tiếng trong Phật giáo
là một người có trí tuệ, nói lời ái ngữ, giảng thuyết thiện mỹ, biện tài
vô ngại, hoàn toàn đoạn tận các lậu hoặc. Tuy thế, so với tám mươi vị
trưởng lão khác, Tôn giả là người có vóc dáng nhỏ nhất, chỉ bằng một chú
sa di nhỏ, giống như một chú lùn làm trò tiêu khiển.
Một hôm, Tôn giả đi vào tinh xá Kỳ Viên để đảnh
lễ đức Phật. Khi ấy, ba mươi thầy Tỳ-kheo từ miền quê lên cũng trên
đường vào tinh xá đảnh lễ đức Thế Tôn. Khi họ nhìn thấy Tôn giả, họ
tưởng Tôn giả là một chú sa di nên bèn lôi chéo y, cầm lấy tay, đè đầu,
véo mũi, vắt tai và lắc người Tôn giả. Họ cư xử với Tôn giả rất thô lỗ.
Sau đó, đặt y bát của mình sang một bên, họ đi đến đảnh lễ đức Thế Tôn
và hỏi Ngài:
– Bạch Thế Tôn, chúng con nghe nói Thế Tôn có
một vị Trưởng lão tên là La-bà-na-bạt-đề, một người giảng thuyết thiện
mỹ. Thầy ấy bây giờ ở đâu?
– Các thầy có muốn gặp thầy ấy không? Đức Thế
Tôn hỏi.
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
– Thầy ấy là người mà các thầy nhìn thấy gần nơi
cổng tinh xá, người bị các thầy kéo y và cư xữ rất thô lỗ trước khi các
thầy vào đây.
– Bạch Thế Tôn, tại sao một người nhiệt tâm tu
tập, ý chí hướng thượng, một vị đệ tử chận thực lại có một thể chất kém
như vậy?
– Tại những lỗi lầm của thầy ấy ở đời trước.
Đức Thế Tôn trả lời. Rồi sau đó theo lời thỉnh
cầu của họ, Ngài kể một câu chuyện đời quá khứ.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm vua trời Đế Thích (Sakka). Phạm
Dự không thể chịu được khi nhìn thấy những gì cũ kỷ và già yếu, dù đó là
voi, ngựa, bò hay bất cứ thứ gì khác. Ông ta có đầy những trò tinh quái,
và mỗi khi nhìn thấy những thứ như vậy, ông xua đuổi đi. Ông đập nát
những chiếc xe ngựa cũ. Ông cho gọi đến bất cứ bà lão nào mà ông nhìn
thấy rồi đánh vào bụng họ, sau đó dựng họ đứng dậy và dọa nạt. Ông bắt
những ông lão lăn tròn và đùa giỡn trên đất giống như những người làm
xiếc nhào lộn. Nếu ông không nhìn thấy một ai mà chỉ nghe nói có một cụ
già ở tại một thành phố nào đó, ông liền cho gọi cụ già nơi đó đến và
lấy cụ già làm trò giải trí.
Bấy giờ, dân chúng vì hổ thẹn nên đã đuổi cha mẹ
mình ra khỏi vương quốc, không còn ai quan tâm hay chăm sóc cha mẹ mình
nữa. Những người thân cận của vua cũng vô đạo giống như ông ta, nên khi
mạng chung đã bị đoạ vào tứ ác đạo. Dân chúng chư thiên do vậy bị giảm
thiểu đi.
Vua trời Đế Thích nhận thấy trong số chư thiên
không có người nào mới đến cả, bèn nghĩ cách nên phải làm gì. Cuối cùng
ông tìm ra được một kế. Vua trời Đế Thích nghĩ, “Ta sẽ nhiếp phục vị vua
này!” Rồi ông biến hoá thành một ông lão, đặt hai bình sữa trong một
chiếc xe bò cọc cạch, thắng nó vào một cặp bò già, và đi dự lễ hội. Phạm
Dự cưỡi trên một con voi được trang sức lộng lẫy và đang diễu hành long
trọng quanh kinh thành được trang hoàng hết sức rực rỡ. Mặc quần áo rách
rưới, đánh chiếc xe cọc cạch này, vua trời Đế Thích đi đến yết kiến nhà
vua. Khi nhìn thấy chiếc xe bò cũ này, vua quát lên:
– Này, hãy ném chiếc xe đó ra xa cho ta!
Nhưng cận vệ của ông trả lời:
– Bẩm Hoàng thượng, chiếc xe bò ở đâu? Chúng
thần không nhìn thấy một chiếc xe bò nào cả! (Vì vua Đế Thích, bằng thần
lực của mình đã làm cho mọi người không nhìn thấy được ngoại trừ nhà
vua).
Đánh xe qua lại nhiều lần trên đầu vua, cuối cùng
vua trời Đế Thích đánh xe đến, đập vỡ một bình sữa vào đầu vua, và khiến
cho ông ta quay tròn. Sau đó, Đế Thích đập bình sữa còn lại theo cùng
cách như vậy. Và trên đầu vua, sữa chảy tràn xuống. Bằng những việc làm
như vậy, vua trời Đế Thích đã quấy nhiễu và làm cho vua phải chịu đau
đớn.
Khi nhìn thấy vua chịu đau đớn như vậy, vua trời
Đế Thích làm cho cỗ xe biến mất và hiện nguyên hình trở lại. Rồi đứng lơ
lững giữa không trung, với chùy kim cương ở trong tay, Ngài trách mắng
nhà vua:
– Hỡi vị vua độc ác và bất chính kia! Có phải
bản thân ngươi sẽ không bao giờ trở thành già yếu? Sẽ không bao giờ bị
tuổi tác tấn công? Thế mà ngươi trêu đùa, coi thường, cư xử ngạo ngược,
bất chấp đó là người già cả! Chính vì những việc làm này của ngươi mà
dân chúng chết đọa đầy bốn ác thú. Do việc làm của ngươi mà người ta
không màng quan tâm đến hạnh phúc của cha mẹ! Nếu ngươi không chấm dứt
việc làm này, ta sẽ chặt đầu ngươi bằng chùy kim cương của ta. Hay đi đi
và đừng bao giờ làm điều như thế nữa.
Khiển trách vậy xong, vua trời Đế Thích thuyết
giảng những giá trị của cha mẹ, và cho biết những công đức của việc kính
trọng người già. Giảng thuyết xong, Ngài trở lại trú xứ của mình. Từ lúc
đó, nhà vua không bao giờ dám khởi tâm làm những điều giống như trước
đây nữa.
* * *
Kết thúc câu chuyện, với giác ngộ viên mãn, đức
Thế Tôn đọc lên hai bài kệ:
Chim công cùng loài ngỗng
Voi và những hươu sao
Mặc dù giống loài khác
Sợ sư tử giống nhau.
Cũng thế một đứa bé
To lớn nếu có trí.
Còn kẻ ngu dầu lớn
Nhưng có hề lớn chi.
Khúc Pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các
Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, một số Tỳ-kheo chứng được qủa
Dự lưu, một số chứng được Nhất lai, và một số chứng được A-la-hán. Rồi
Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
Vào thuở đó, La-bà-na-bạt-đề tài trí là vị vua
trong câu chuyện, người đã dùng người khác để làm trò đùa tinh quái, rồi
sau đó chính mình lại trở thành trò cười cho người khác; còn ta chính là
vua trời Đế Thích.
Số 203
CHUYỆN TU TẬP TỪ TÂM
(Tiền thân Khandha-vatta)
Nay đối xà vương tôi tu từ…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo.
Chuyện kể rằng, khi thầy này ngồi ở cửa phòng để
bổ củi thì một con rắn từ một thanh gỗ mục đã bò ra và cắn vào ngón chân
của thầy, khiến thầy chết ngay tại chỗ. Cả tinh xá đều biết nguyên do
khiến thầy này chết đột ngột như vậy. Trong Chánh pháp đường, họ bàn
luận về việc đó.
– Thưa các pháp hữu, thầy Tỳ-kheo kia
đang ngồi nơi cửa phòng để bổ củi thì một con rắn đã bò ra cắn thầy và
khiến thầy chết ngay tại chỗ.
Đức Thế Tôn đi vào và muốn biết họ đang bàn luận
điều gì khi cùng ngồi lại nơi ấy. Họ trình bày sự việc với ngài. Ngài
nói:
– Này các Tỳ-kheo, nếu thầy Tỳ-kheo này có thực
tập từ tâm đối với bốn loài xà vương thì con rắn kia đã không cắn thầy
ấy. Những bậc xuất gia Hiền trí đời trước, trước khi đức Phật ra đời,
bằng cách tu tập từ tâm đối với bốn loài xà vương này mà đã thoát khỏi
những nỗi sợ hãi phát sinh từ chúng.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể một câu chuyện đời
quá khứ.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào đời làm một chàng trai
Bà-la-môn ở nước Ca-thi (Kāsi). Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát từ bỏ
mọi dục lạc cuộc đời và xuất gia làm ẩn sĩ khổ hạnh, tu tập Thần thông
và Thiền định. Ngài dựng thảo của mình bên bờ sông Hằng (Ganges), gần
chân rặng Tuyết Sơn (Himalaya), và trú ở đó cùng với hội chúng những ẩn
sĩ vây quanh, hưởng thọ hỷ lạc thiền định.
Bấy giờ, trên bờ sông Hằng có rất nhiều rắn,
chúng đã gây ra lắm điều tai hại cho những ẩn sĩ, và nhiều người trong
họ đã bị rắn cắn chết. Những ẩn sĩ trình bày vấn đề này với Bồ-tát.
Bồ-tát cho gọi những ẩn sĩ đến và nói với họ thế này:
– Nếu các ông thể hiện từ tâm đối với
bốn loại xà vương, thì không có con rắn nào đến cắn các ông. Do vậy từ
này trở đi, các ông phải thể hiện từ tâm đối với bốn loại xà vương này.
Sau đó, Ngài đọc lên bài kệ này:
Nay đối xà vương tôi tu từ
Tỳ-tê-bác-xoa, Y-la-bát
Thi-bà-phất-đa chư long vương
Tứ loại long vương Hắc-cù-đàm.
Sau khi đọc tên dòng dõi bốn loại xà vương này
xong, Bồ-tát nói thêm:
– Nếu các ông tu tập từ tâm đối với những loài
này thì không có một con rắn nào đến cắn hay làm hại các ông cả.
Rồi Ngài đọc lên bài kệ thứ hai:
Sinh vật dưới mặt trời
Hai chân hay bốn chân
Không chân và nhiều chân
Nguyện thương yêu tất cả!
Sau khi thuyết giảng sự tu tập lòng từ của mình
xong, Bồ-tát đọc lên một bài kệ khác để cầu nguyện:
Tất cả các sinh vật
Hai chân và bốn chân
Không chân và nhiều chân,
Đừng hại tôi, tôi nguyện!
Rồi thêm nữa, bằng những lời tổng quát, Bồ-tát
đọc thêm một bài kệ:
Tất cả mọi chúng sanh
Thở, di chuyển trên đất
Cầu hạnh phúc tất cả
Nguy hiểm không vào thân.
Bằng cách thức như vậy, Bồ-tát khuyên mọi người
cần phải thể hiện lòng từ bi đối với tất cả sinh vật với tâm không phân
biệt. Ngài nhắc nhở thính chúng về công đức của Tam bảo. Ngài nói:
– Phật là vô lượng, Pháp là vô lượng, Tăng
là vô lượng; hãy ghi nhớ công đức của Tam Bảo.
Sau khi trình bày cho họ về sự vô lượng của Tam
bảo, và để chỉ cho họ thấy rằng tất cả chúng sanh là hữu hạn, Bồ-tát nói
thêm:
– Những loài bò sát như rắn, bò cạp, rết, nhện,
thằn lằn, chuột…là hữu hạn và có thể đo lường được.
Rồi lại nói:
– Khi tham dục trong những sinh vật này là đặc
tính làm cho chúng hữu hạn, thì ngày cũng như đêm, chúng ta hãy nương
tựa vào năng lực của Tam bảo để bảo vệ mình thoát khỏi những sinh vật
hữu hạn này. Do đó cần phải ghi nhớ công đức của Tam bảo.
Nói xong, Bồ-tát đọc lên bài kệ này:
Con được bảo vệ, được rào quanh
Mong các sinh vật tránh xa nhanh,
Con này quy y Thế Tôn Phật
Bảy Phật quá khứ, con quy thân.
Rồi Bồ-tát khuyên bảo họ, trong khi kính lễ cần
phải ghi nhớ bảy đức Phật. Sau đó, Bồ-tát sáng tác bài thần chú hộ mệnh
này và trao nó cho hội chúng các ẩn sĩ. Từ ấy, những ẩn sĩ khắc ghi lời
khuyên của Bồ-tát, tu tập từ tâm và ghi nhớ công hạnh của đức Phật. Khi
họ làm như vậy, tất cả các loài rắn đều tránh xa họ. Còn Bồ-tát tu tập
Tứ vô lượng tâm, sau đó tái sanh về thế giới Phạm thiên.
* * *
Sau khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận
diện Tiền thân:
Thuở đó, Tăng chúng của đức Phật là hội chúng các
ẩn sĩ, còn ta chính là Đạo sư của họ.
Số 204
CHUYỆN CON QUẠ DUY-LẠP-CA
(Tiền thân Vīraka)
Hỡi Duy-lạp-ca ông có thấy…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana) đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về sự việc bắt chước đức Phật.
Khi hai Tôn giả cùng với những pháp hữu của mình
đi đến Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) trở về, đức Thế Tôn hỏi Tôn giả Xá Lợi
Phất là Đề-bà-đạt-đa đã làm gì khi vị ấy thấy họ đến. Tôn giả trả lời là
ông ta đã bắt chước đức Phật. Đức Thế Tôn nói:
– Này Xá-lợi-phất, không phải chỉ bây giờ
Đề-bà-đạt-đa mới bắt chước ta và gặp thất bại, mà chính điều như vậy
trước đây ông ta đã từng làm.
Sau đó theo lời thỉnh cầu của Tôn giả, Thế Tôn
kể một câu chuyện đời quá khứ.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) là vua
trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một một chú quạ nước,
sống gần một hồ nước nọ. Tên của chim là Duy-lạp-ca (Vīraka).
Bấy giờ, ở nước Ca-thi xảy ra nạn đói. Người ta
không thể chia sẽ thức ăn cho những con quạ, càng không thể bố thí cho
quỷ Dạ-xoa và loài rắn. Lần lượt từng con quạ một đã rời bỏ mảnh đất đói
kém nghèo khốn để dấn thân vào những cánh rừng sâu.
Một con quạ nọ sống ở Ba-la-nại tên là
Tát-duy-đà-ca (Saviṭṭhaka), đã
đem theo vợ của mình đi đến chỗ Duy-lạp-ca sống và cư trú bên cạnh hồ
nước ấy.
Một ngày nọ, khi đi kiếm mồi quanh hồ nước, con
quạ này nhìn thấy Duy-lạp-ca đi xuống hồ, bắt cá ăn, và sau đó lại đi ra
khỏi nước đứng phơi lông cho khô. Nó nghĩ, “Dưới cánh con quạ đó có rất
nhiều cá bắt được. Ta sẽ làm người hầu của nó mới được.” Vì thế, nó đi
đến gần. Thấy vậy, Duy-lạp-ca hỏi:
Này anh bạn, có việc gì vậy?
Thưa ông, Tôi muốn làm người hầu của ông! Nó trả
lời.
Duy-lạp-ca đồng ý, và từ lúc đó con qua kia bắt
đầu hầu hạ Duy-lạp-ca. Và cũng từ hôm đó, Duy-lạp-ca thường ăn đủ lượng
cá nuôi sống bản thân, phần còn lại chú trao cho Tát-duy-đà-ca ngay khi
chú vừa mới bắt được. Rồi khi Tát-duy-đà-ca ăn đủ thức ăn để nuôi mạng
sống, nó trao những gì còn lại cho vợ của mình.
Một thời gian sau, tính kiêu căng bắt đầu len lói
trong tâm con quạ này. Nó nói:
– Con quạ này màu đen, và ta cũng vậy. Mắt, mỏ
và chân nó có khác chi ta đâu, không có sự khác nhau nào giữa nó và ta
cả. Ta không muốn ăn cá của nó nữa. Ta sẽ tự bắt lấy!
Vì thế nó nói với Duy-lạp-ca rằng, từ này về sau
nó sẽ tự xuống nước bắt cá. Nghe thế, Duy-lạp-ca nói:
– Này anh bạn, bạn không thuộc loại quạ sinh ra
để lội nước bắt cá. Đừng tự hủy diệt bản thân như vậy!
Nhưng dù Duy-lạp-ca cố sức khuyên can thế nào đi
nữa, thì Tát-duy-đà-ca vẫn không thèm để tâm đến lời cảnh báo ấy. Nó đi
xuống hồ nước, lặn vào trong nước, nhưng nó không thể đi qua được lớp
rêu nên đành quay lên lại. Nhưng rồi nó bị vướng vào trong những đám
rêu, chỉ có cái chóp mỏ ngoi lên được mặt nước, và vì không thể thở được
nên nó đã chết dưới nước.
Vợ của nọ thấy nó không quay trở về bèn đi đến
chỗ Duy-lạp-ca để hỏi tin tức. Cô quạ hỏi:
Thưa ông, tôi không nhìn thấy Tát-duy-đà-ca đâu
cả, anh ấy đi đâu rồi?
Hỏi vậy xong, cô quạ đọc lên bài kệ đầu tiên:
Hỡi Duy-lạp-ca ông có thấy
Tát-duy-đà-la ở đâu không?
Tôi loài chim xinh giọng êm dịu
Cổ tôi óng ánh giống chim công.
Nghe vậy, Duy-lạp-ca trả lời:
Này cô, tôi biết anh ta đi đâu.
Và Duy-lạp-ca đọc lên bài kệ thứ hai:
Anh ta không sinh để lội nước
Những gì không thể muốn cố làm,
Do thế chim khốn tìm mồ nước
Vướng ở trong rong, bỏ thân tàn.
Khi nghe trả lời vậy, cô quạ khóc lóc rồi quay
trở lại Ba-la-nại.
* * *
Sau khi kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận
diện Tiền thân:
Thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là Tát-duy-đà-ca, còn ta
chính là Duy-lạp-ca.
Số 205
CHUYỆN CON CÁ SÔNG HẰNG
(Tiền thân Gangeyya)
Cá sông Da-bồ đẹp…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về hai thầy Tỳ-kheo trẻ.
Chuyện kể rằng, có hai thanh niên trẻ thuộc một
gia đình hào phú ở thành Xá-vệ (Sāvatthi) đã xuất gia theo giáo pháp đức
Phật. Nhưng không nhận thức được sự bất tịnh của thân thể, nên họ cứ ca
ngợi vẻ đẹp của mình và đi khắp nơi khoe khoang khoác lác về vẻ đẹp đó.
Một hôm, họ sa đà bàn cãi về điều này. Một người
trong họ nói:
Pháp hữu, thầy trông thật đẹp trai, nhưng mà tôi
cũng thế.
Sau đó, nhìn thấy một vị Thượng tọa lớn tuổi
ngồi cách đó không xa, họ nghĩ là vị này có thể biết được họ thật sự đẹp
hay không, vì thế họ đi đến gần và hỏi:
Bạch Thượng toạ, thầy thấy trong hai chúng tôi
người nào đẹp trai hơn?
Này hai hiền hữu, tôi đẹp trai hơn hai thầy. Vị
Thượng tọa trả lời.
Hai thầy Tỳ-kheo trẻ mắng nhiếc vị Thượng toạ và
bỏ đi. Họ cằn nhằn là vị này đã nói với họ điều họ không hỏi, trong khi
điều họ hỏi lại không trả lời.
Các Tỳ-kheo đều biết sự kiện này. Một ngày nọ,
khi cùng ngồi với nhau trong Chánh pháp đường, họ bắt đầu bàn luận về
việc đó.
– Thưa các Pháp hữu, nghe nói vị Thượng
toạ lớn tuổi kia đã làm hổ thẹn hai Tỳ-kheo trẻ, những người mà đầu óc
luôn chấp chứa về vẻ đẹp của thân thể mình!
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang bàn luận điều
gì khi cùng ngồi lại với nhau. Họ bạch lại sự việc với Ngài. Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên những người này ưa thích tán dương vẻ đẹp của mình thôi đâu. Vào
đời trước, họ cũng từng đi khắp nơi để khoe khoang về điều đó giống như
bây giờ họ làm vậy.
Nói rồi, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời trước.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta)
trị vì vương quốc Ba-la-nại (Benares), Bồ tát thọ sanh làm một vị Thần
cây ở bên bờ sông Hằng. Tại chỗ sông Hằng và sông Da-bồ-na (Jumna) giao
nhau, có hai con cá gặp nhau, một con từ sông Hằng đến và một con từ
sông Da-bồ-na. Khi gặp nhau, một con cá nói:
Tôi đẹp! Và anh cũng vậy!
Thế rồi chúng sa vào tranh cải về vẻ đẹp của
mình. Cách sông Hằng không xa, chúng nhìn thấy một con Rùa đang nằm trên
bờ.
Anh chàng kia sẽ quyết định giúp chúng ta, rằng
ai đẹp hơn!
Nói rồi, chúng đi đến con Rùa và hỏi:
– Anh bạn Rùa ơi, anh nói xem trong hai chúng tôi
ai bảnh trai hơn, con cá sông Hằng hay con cá sông Da-bồ-na?
Rùa trả lời:
– Cá sông Hằng bảnh trai, và cá sông Da-bồ-na
cũng vậy. Nhưng ta đây bảnh trai hơn cả hai vị. Rùa trả lời.
Và để giải thích điều đó, Rùa đọc lên bài kệ đầu
tiên:
Cá sông Da-bồ đẹp
Cá sông Hằng lại xinh.
Nhưng sinh vật bốn chân
Cổ thon như tôi đây
Tròn như cây cọ dừa
Hẳn lộng lẫy hơn cả .
Khi hai con cá nghe vậy, chúng kêu lên:
– A, người là con Rùa đểu giả! Ngươi không những
không trả lời câu hỏi của bọn ta, mà còn trả lời khác đi!
Rồi chúng đọc lên bài kệ thứ hai:
Chúng tôi hỏi điều này
Ngươi trả lời điều nọ.
Trả lời thật kỳ lạ
Bằng cách tán dương mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, hai thầy Tỳ-kheo trẻ này là hai
con cá, Trưởng lão kia là con Rùa, còn ta chính là Thần cây, người đã
nhìn thấy hết thảy những gì xảy ra ở bờ sông Hằng.
Số 206
CHUYỆN CON LINH DƯƠNG
(Tiền thân Kurunga-miga)
Rùa hỡi, hãy xé cái bẫy da….
Tại tinh xá Trúc Lâm (Veḷuvana),
đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Đề-bà-đạt-đa. Nghe Đề-bà-đạt-đa đang
mưu tính giết hại mình, đức Thế Tôn nói:
– Này các Tỳ-kheo, chính điều này đời trước đã
từng xảy ra. Thuở đó, Đề-bà-đạt-đa đã cố giết ta giống như đang cố làm
bây giờ vậy.
Nói vậy xong, Ngài kể cho họ câu chuyện này.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một chú Linh dương sống trong
một bụi cây gần bên hồ nước ở trong cánh rừng. Cách hồ ấy không xa, có
một con chim Gõ kiến xây tổ trên chóp ngọn cây. Còn trong hồ, có một con
Rùa sinh sống. Ba sinh vậy này kết bạn và sống với nhau trong tình thân
hữu.
Một gã thợ săn đang dạo khắp trong rừng và nhìn
thấy dấu chân của Bồ-tát đi xuống hồ nước. Gã ta bèn đặt một cái bẫy
giây da, cứng chắc giống như một sợi dây xích sắt rồi ra về. Vào canh
một, Bồ-tát đi xuống uống nước và bị mắc bẫy, liền kêu lên cầu cứu. Ngay
sau đó, chim Gõ kiến ở trên ngọn cây bay xuống, Rùa từ dưới nước bò lên,
và họ cùng bàn bạc phải nên làm gì.
Chim Gõ Kiến nói với Rùa:
– Bạn ạ, bạn có răng, bạn hãy cắn đứt cái bẫy
này ra. Còn tôi sẽ đi đến chỗ ở của gã thợ săn và tìm cách ngăn cản
không để gã đến đây. Nếu cả hai chúng ta nỗ lực, người bạn của chúng ta
sẽ không mất mạng.
Để làm rõ nghĩa này, Gõ Kiến thốt lên bài kệ thứ
nhất:
Rùa hỡi, hãy xé cái bẫy da
Và cắn cho nó đứt rời ra,
Còn tôi canh chừng gã săn thú
Giữ gã cách rời bạn thật xa.
Rùa bắt đầu gặm sợi dây da. Còn Gõ Kiến bay đến
chỗ ở của gã thợ săn. Vào lúc rạng đông, gã thợ săn cầm lấy con dao và
ra đi. Khi nhìn thấy gã rời cửa trước ra đi, chim đập cánh kêu lên và đá
vào mặt gã. “Một con chim điềm xấu đá ta!” Gã thợ săn nghĩ và quay trở
lại, nằm xuống một lát. Sau đó, gã lại đứng dậy và cầm lấy con dao. Chim
suy luận: “lần đầu tiên gã đi ra cửa trước, vì thế lần này gã sẽ rời
bằng cửa sau,” và chim nhìn thấy gã ngồi phía sau nhà. Gã thợ săn cũng
suy luận như thế: “Khi ta đi ra bằng cửa trước, ta nhìn thấy một điềm
xấu, bây giờ ta sẽ đi ra bằng cửa sau!” Và gã đã làm như vậy. Nhưng chim
lại kêu lên và đá vào mặt gã. Thấy một con chim điềm xấu lại đá mình, gã
thợ săn nghĩ, “Chắc con vật này không cho ta đi!” nên quay trở lại nằm
xuống cho đến khi mặt trời mọc. Rồi khi mặt trời đã lên cao, gã cầm lấy
cây dao và bắt đầu lên đường.
Gõ kiến bay nhanh trở lại những người bạn của
mình, kêu lên:
Gã thợ săn đang đến đây!
Vào lúc đó, Rùa đã cắn đứt hết tất cả những sợi
dây da, chỉ trừ một sợi dây chắc: Răng của chú dường như muốn rụng ra
ngoài, còn miệng thì bê bết máu. Bồ-tát nhìn thấy gã thợ săn tay cầm dao
đang lao đến như chớp, liền giật phăng sợi dây và biến mất vào rừng. Gõ
kiến thì bay lên đậu trên đầu ngọn cây. Còn Rùa vì quá yếu nên đành phải
nằm lại đó. Gã thợ săn ném Rùa vào một cái túi và buộc nó vào một gốc
cây.
Bồ-tát thấy Rùa đã bị bắt, liền quyết định cứu
mạng người bạn của mình. Vì thế, giả vờ như yếu lắm, Linh dương để cho
gã thợ săn nhìn thấy mình. Gã thợ săn nhìn thấy và nghĩ rằng Linh dương
yếu thật, nên cầm lấy dao đuổi bắt. Bồ-tát giữ gã cách xa đúng tầm tay,
dụ đưa gã vào rừng. Và khi thấy đi đã xa, Linh dương vội tẩu thoát khỏi
gã, và như một cơn gió, quay nhanh trở lại bằng một con đường khác. Linh
dương dùng sừng nhắc cái túi lên, ném nó xuống đất, xé toạc ra và cứu
lấy Rùa. Chim Gõ kiến từ trên cây bay xuống.
Thế rồi Bồ-tát nói với hai bạn thế này:
– Hai bạn đã cứu mạng tôi. Hai bạn đã thực hiện
trách nhiệm của một người bạn đối với tôi. Bây giờ gã thợ săn sắp quay
trở lại để bắt các bạn. Các bạn hãy làm thế này: bạn Gõ kiến, bạn hãy
dời tổ của mình đến một chỗ khác. Còn bạn Rùa, bạn hãy lặn vào trong
nước đi.
Và chúng đã làm theo như vậy.
* * *
Đức Thế Tôn hiển thị chánh đẳng giác và đọc lên
bài kệ thứ hai:
Rùa lặn vào hồ nước
Linh dương vào rừng già,
Từ trên cây Gõ Kiến
Dời tổ mình đi xa.
* * *
Gã thợ săn quay trở lại và không nhìn thấy một ai
cả. Nhìn thấy cái túi của mình đã bị xé toạc, gã nhặt nó lên và buồn bã
trở về nhà. Từ đó, ba người bạn sống trọn đời mình trong tình thân hữu
không gì phá vỡ, rồi đến khi mạng chung đã tái sanh tuỳ theo hành nghiệp
của mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
- Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là gã thợ săn,
Xá-lợi-phất là chim Gõ kiến, Mục-kiền-liên là con Rùa, còn ta là Linh
dương.
Số 207
CHUYỆN VUA A-TÁT-CA
Tiền thân Assaka)
Đại vương A-tát-ca…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo bị động tâm do vì nhớ lại
một người vợ cũ. Ngài hỏi thầy này rằng có thật thầy tương tư không.
Thầy trả lời thật có như vậy. Ngài hỏi tiếp:
Thầy tương tư ai vậy?
Thầy trả lời:
Bạch Thế tôn, đó là người vợ cũ của con. Thầy trả
lời.
Thế rồi đức Thế Tôn nói:
– Này Tỳ-kheo, đây không phải là lần duy nhất
thầy luyến ái người phụ nữ này đâu. Đời trước, chính tình ái của bà ta
cũng đã từng mang lại cho thầy nỗi đau khổ tái tê.
Và Thế Tôn kể một câu chuyện.
* * *
Thuở xưa, tại kinh thành Bổ-đa-lặc-ca (Potila)
thuộc vương quốc Ca-thi (Kāsi) có một vị vua tên là A-tát-ca (Assaka)
trị vì. Hoàng hậu của ông có tên là Điểu-bà-lợi (Ubbarī), là một người
rất được ông yêu thương. Bà ta là một phụ nữ duyên dáng, quyến rũ, sắc
đẹp vượt qua tất cả mọi phụ nữ, dù không bằng một thiên nữ.
Rồi bà ta qua đời. Lúc bà ta mạng chung, nhà vua
chìm ngập trong nỗi thương tiếc đớn đau, và trở nên man dại. Ông sai đặt
thi thể bà vào trong một quan tài, ướp dầu và thuốc mỡ rồi đặt bên dưới
giường. Ông nằm ở đấy bỏ cả ăn uống, chỉ biết khóc than. Cha mẹ, họ
hàng, bằng hữu, triều thần, Bà-la-môn, cư sĩ khuyên ông thôi đừng đau
buồn quá nữa, vì lẽ rằng tất cả mọi thứ đều vô thường. Nhưng vô ích, họ
không thể nào chuyển đổi được ông. Ông nằm trong nỗi buồn khổ như vậy
suốt bảy ngày.
Bấy giờ, Bồ-tát là một vị ẩn sĩ đã chứng được Ngũ
thông và Bát thiền, sống dưới chân rặng Tuyết Sơn. Bồ-tát có thiên nhãn
thông, và khi dùng thiên nhãn quán sát khắp cõi Ấn Độ, Ngài thấy vị vua
này đang than khóc khổ đau, vì thế quyết định đến giúp ông ta. Bằng thần
lực của mình, Ngài bay trên không trung và hạ xuống ngự uyển, ngồi trên
phiến đá tế lễ, trông giống như một bức tượng bằng vàng. Một thanh niên
Bà-la-môn ở thành Bổ-đa-lặc-ca đi vào ngự uyển và trông thấy Bồ-tát.
Thanh niên chào Ngài và ngồi xuống. Bồ-tát bắt đầu ân cần trò chuyện với
chàng trai.
Có phải nhà vua là một người cai trị công chính
không? Ngài hỏi.
Thanh niên trả lời:
– Đúng vậy, thưa Tôn giả, nhà vua là một người
công chính. Nhưng hoàng hậu vừa mới qua đời, ông cho đặt thi thể của bà
trong quan tài và nằm bên cạnh than khóc thương tiếc, từ hôm bà ấy qua
đời đến nay đã bảy ngày rồi. Tại sao Tôn giả không giúp nhà vua thoát ra
khỏi nỗi thương tiếc bi ai này? Bậc đức hạnh như Ngài nên tìm cách giúp
vua vượt qua nỗi ưu bi mới phải.
Bồ-tát nói:
– Chàng trai ạ, ta không biết nhà vua ra làm sao
cả. Nhưng nếu vua đến đây hỏi ta, ta sẽ nói cho ông nơi vợ của ông bây
giờ tái sanh, và khiến cho bà ta cất lên tiếng nói.
– Thế thì thưa Tôn giả, xin Ngài hãy ở lại đây
đợi tôi đưa vua đến gặp Ngài.
Bồ-tát đồng ý điều chàng trai nói. Thế là chàng
trai vội vàng vào yết kiến vua, bẩm lại với ông điều đó.
– Bẩm Hoàng thượng, Hoàng thượng nên viếng vị đại
sĩ có thiên nhãn này!
Nhà vua vui mừng khốn xiết với suy nghĩ sẽ được
gặp mặt Điểu-bà-lợi. Vua bước lên xe ngựa và đánh nó đến ngự uyển. Sau
khi chào Bồ-tát xong, ông ngồi xuống một bên và hỏi:
– Như trẫm nghe kể lại, có phải Tôn giả thật
biết nơi hoàng hậu của trẫm tái sanh không?
– Thực đúng vậy, thưa Hoàng thượng.
Rồi vua hỏi nơi ấy ở đâu. Bồ-tát trả lời:
– Thưa Hoàng thượng, bà ta vì quá say đắm sắc
đẹp của mình nên lơ đễnh và không tích chứa phước đức, vì thế bây giờ bị
đọa làm một con bọ nhỏ sống trong phân tại chính ngự uyển này.
– Trẫm không tin điều đó! Nhà vua nói.
– Vậy thì tôi sẽ chỉ bà ta cho Hoàng thượng
thấy, và làm cho bà ta cất lên tiếng nói.
– Vậy xin làm cho bà ta nói đi!
Bồ-tát ra lệnh:
– Này hai con bọ đang bận rộn lăn cục phân bò
kia, hãy đến trước mặt nhà vua đi!
Bằng thần lực của mình, Bồ-tát khiến cho chúng đi
đến. Rồi Bồ-tát chỉ cho vua thấy một con và nói:
– Thưa Hoàng thượng! Đây là hoàng hậu
Điểu-bà-lợi, con bọ vừa ra khỏi cục phân này. Còn con bọ phân theo sau
là chồng bà ta đấy. Hoàng thượng nhìn xem.
– Tôn giả nói gì! Hoàng hậu Điểu-bà-lợi của trẫm
là một con bọ phân ư? Trẫm không tin điều đó!
– Thưa Hoàng thượng! Tôi sẽ làm cho bà ta nói.
– Thưa Tôn giả! Xin ngài hãy làm cho bà ta nói
đi.
Bằng thần lực của mình, Bồ-tát đã làm cho bà ta
nói. Bồ-tát nói:
– Này Điểu-bà-lợi.
Bằng giọng người, con bọ đáp lại:
– Thưa tôn giả, có điều gì không?
Bồ-tát hỏi:
– Vào kiếp trước đây, tên của ngươi là
gì?
– Tên của tôi là Điểu-bà-lợi, hoàng hậu của vua
A-tát-ca. Con bọ đáp.
Bồ-tát hỏi tiếp:
– Hãy nói cho ta biết bây giờ ngươi yêu ai nhất:
vua A-tát-ca hay con bọ phân này?
Con bọ đáp:
– Thưa Tôn giả, vào đời trước của tôi, tôi đã
sống với vua ở trong ngự viên này, cùng hưởng sắc, thanh, hương, vị,
xúc. Nhưng giờ đây, trí nhớ của tôi đã bị rối mờ bởi sự tái sanh nên
không biết vua là ai. Bây giờ tôi muốn giết vua A-tát-ca, lấy máu chảy
ra từ cổ vua để bôi lên chân con bọ phân chồng tôi!
Và giữa các triều thần của vua, bằng giọng người,
con bọ đọc lên những dòng kệ này:
Đại vương A-tát-ca,
Xưa kia là chồng yêu
Mến thương lòng say đắm
Tôi dạo nơi ngự viên.
Giờ đây vui buồn mới
Làm tan nỗi niềm xưa,
Giờ yêu trùng hơn hẳn
A-tát-ca sao vừa.
Khi nghe vậy, A-tát-ca cảm thấy hối tiếc về điều
mình đã làm. Ngay lập tức, ông cho di dời thi thể của hoàng hậu đi và
rửa ráy đầu mặt. Vua đảnh lễ Bồ-tát rồi quay trở về kinh thành, sau đó
cưới một người khác làm vợ và cai trị vương quốc bằng sự công chính. Còn
Bồ-tát, sau khi chỉ dạy và giúp cho vua thoát khỏi nỗi khổ ưu, đã quay
trở lại Tuyết Sơn.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết
các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo si tình chứng
được quả Dự lưu. Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Thuở đó, người vợ cũ của thầy là Điểu-bà-lợi;
và thầy, vị Tỳ-kheo tình si là vua A-tát-ca; Xá-lợi-phất là chàng thanh
niên Bà-la-môn; còn ta chính là vị ẩn sĩ.
Số 208
CHUYỆN CON CÁ SẤU
(Tiền thân Sumsumāra)
Hồng táo, xoài và mít…
Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về những nỗ lực của Đề-bà-đạt-đa muốn giết hại Ngài. Khi
nghe những nỗ lực mưu hại này, đức Thế Tôn nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên Đề-bà-đạt-đa cố giết hại ta, mà trước đây ông ta cũng đã từng làm
như vậy. Tuy thế, điều đó không làm cho ta sợ hãi chút nào.
Sau đó, Ngài kể câu chuyện này.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào đời làm một chú khỉ sống dưới
chân rặng Tuyết Sơn. Chú phát triển thành một chú khỉ khoẻ mạnh và cường
tráng, thân hình to lớn, sung mãn. Khỉ sống bên một khúc sông Hằng uốn
quanh, trong một cánh rừng mà người ta thường lui tới.
Bấy giờ, có một con cá Sấu sống ở trong sông
Hằng. Vợ của Sấu nhìn thấy thân thể cường tráng của Khỉ thì liền khởi
lên mong muốn được ăn trái tim của khỉ. Vì thế, cô sấu nói với chồng
mình:
Chàng ơi, thiếp mong ước được ăn trái tim của gã
hầu vương to lớn kia!
Sấu chồng nói:
– Nàng ạ, tôi sống trong nước còn gã kia
thì sống trên đất khô. Làm sao chúng ta có thể bắt được gã chứ?
– Bằng mọi cách phải bắt cho được gã. Nếu thiếp
không ăn được tim gã, thiếp sẽ chết mất.
Sấu nghe thế, liền an ủi vợ:
Thôi được rồi, tôi đã có kế. Tôi sẽ dâng tim gã
cho nàng dùng.
Vì thế, khi thấy Bồ-tát uống nước xong và đang
ngồi trên bờ sông Hằng, Sấu bơi đến gần và nói:
– Này bạn Khỉ, tại sao bạn cứ sống nhờ vào những
thứ trái cây hư thối ở một nơi quen thuộc thế này? Ở bờ sông Hằng bên
kia có vô số xoài, hồng táo, mít … trái ngọt như mật ong! Qua bên kia và
dùng mọi thứ trái rừng thì không tốt hơn sao?
Khỉ trả lời:
- Bạn Sấu ạ, sông Hằng sâu và rộng, làm cách nào
tôi băng qua đó được?
- Nếu bạn đi, tôi sẽ cõng bạn sang.
Khỉ tin lời nó nên đồng ý. Sấu nói:
- Thế thì bạn hãy xuống đây và trèo lên lưng tôi!
Khỉ trèo lên lưng Sấu. Nhưng khi bơi ra được một
quãng, Sấu bắt đầu dìm Khỉ xuống nước. Thấy vậy khỉ kêu lên:
– Này anh bạn, anh bạn đang dìm tôi xuống nước
đấy ư! Sao lại làm vậy chứ?
Sấu đáp:
– Ngươi nghĩ là ta đang mang ngươi vì bản tính
thuần lương của ta ư? Không có điều đó đâu! Vợ của ta mong được ăn quả
tim ngươi, và ta muốn trao nó cho cô ấy đấy!
Khỉ nói:
– Này bạn ơi, thật là tử tế khi bạn nói cho tôi
biết điều đó. Tại vì sao? Vì nếu tim của chúng tôi nằm ở trong ngực thì
khi chúng tôi chạy nhảy giữa những ngọn cây, tất cả sẽ vỡ ra từng mảnh
mất rồi còn gì!
– Thế thì ngươi cất nó ở đâu? Sấu hỏi.
Bồ-tát chỉ một cây sung mọc gần đó, có những chùm
trái chín và nói:
– Hãy xem, những quả tim của chúng tôi đang treo
trên cây sung kia đấy.
Sấu nói:
– Nếu ngươi chỉ cho ta trái tim của ngươi, ta sẽ
không giết ngươi.
– Hãy mang tôi đến cây ấy, rồi tôi sẽ chỉ cho
bạn qủa tim của tôi đang treo trên đó.
Sấu mang Khỉ đến nơi ấy. Khỉ nhảy ra khỏi lưng
hắn ta và leo lên cây sung, ngồi ở trên ấy và nói:
– Hỡi con Sấu xuẩn ngóc! Ngươi nghĩ rằng có loài
thú cất giữ trái tim của mình ở trên ngọn cây ư! Ngươi là một gã ngu
ngóc hết biết nên đã bị ta đánh lừa! Ngươi có thể giữ lấy trái cây của
ngươi cho riêng mình đi. Thân ngươi thì to lớn nhưng ngươi không có trí
khôn.
Và rồi để giải thích ý nghĩa này, Khỉ đọc lên
những vần kệ sau:
Hồng táo, xoài và mít
Tôi thấy, lúc qua sông
Đủ cả, tôi không muốn,
Sung thứ trái tôi mong!
Thân ngươi quả thực lớn,
Nhưng trí quả nhỏ nhoi!
Sấu hỡi, giờ hãy xéo,
Ta lừa ngươi đấy thôi.
Rầu rĩ khổ đau như thể vừa đánh mất một ngàn đồng
tiền, Sấu buồn bã quay trở lại nơi nó sống.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là cá Sấu, vợ của nó
là thiếu nữ Chiên-xà (Ciñcā), còn ta chính là Hầu vương.
Số 209
CHUYỆN CON CHIM MỒI
(Tiền thân Kakkara)
Ta nhìn thấy nhiều cây…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo đồng trú với Tôn giả
Xá-lợi-phất, bậc Tướng quân Chánh pháp.
Chuyện kể rằng, thầy này rất khéo chăm sóc bản
thân mình. Thầy không bao giờ ăn thức ăn quá nống hay quá nguội vì sợ
gây hại cho thân thể. Thầy không bao giờ dám đi ra ngoài vì sợ lạnh rét
và nắng nống gây tổn thương. Và thầy sẽ không ăn cơm quá nhão hoặc quá
khô.
Tăng chúng biết rõ cách thức thấy này đã chăm sóc
bản thân như thế nào. Trong Chánh pháp đường, chư vị đang bàn luận
chuyện đó:
Này các Pháp hữu, thầy Tỳ-kheo ấy thật khéo chăm
sóc bản thân!
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi chư vị đang bàn luận
điều gì khi cùng ngồi lại nơi ấy. Họ trình bày sự việc với Ngài. Thế rồi
Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, không phải chỉ bây giờ thầy
Tỳ-kheo trẻ này mới chu đáo săn sóc bản thân đâu, mà vào đời trước chính
thầy này cũng đã từng làm như vậy.
Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể cho họ một câu
chuyện đời trước.
* * *
Thuở xưa, dưới thời trị vì của vua Phạm Dự xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh làm Thần cây ở trong một cánh rừng trảng. Một
người đánh bẫy chim nọ, mang một con chim mồi, sợi thòng lọng bằng tóc
và một cây gậy, rồi đi vào rừng để săn lùng chim. Gã bắt đầu đuổi theo
một con chim già vừa bay vào rừng và đang cố trốn thoát. Con chim không
cho gã cơ may dùng bẫy bắt nó nên cứ bay lên đáp xuống, bay lên đáp
xuống. Vì thế, gã thợ săn dùng nhành cây che phủ lấy người, và đặt sợi
thòng lòng cùng cây gậy lập đi lập lại nhiều lần. Nhưng con chim muốn
làm cho gã thợ săn xấu hổ nên đã dùng tiếng người đọc lên bài kệ thứ
nhất:
Ta nhìn thấy nhiều cây
Mọc lên giữa rừng sâu
Nhưng cây cối không thể
Làm lạ như ông đâu.
Nói vậy xong, con chim bay đến một nơi khác. Khi
nó bay đi rồi, gã thợ săn đọc lên bài kệ thứ hai:
Chim già này biết bẫy,
Bay mất vào không gian.
Lồng nó đã phá vỡ
Tiếng người nó nói vang!
Nói vậy xong, gã thợ săn lùng sục khắp rừng, rồi
bắt những gì có thể bắt được và trở về nhà.
* * *
Khi kết thúc pháp ngữ này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là gã thợ săn, thầy Tỳ
kheo ưa diện mã là con chim, còn ta chính là Thần cây đã nhìn thấy hết
thảy mọi việc.
Số 210
CHUYỆN CHIM GÕ KIẾN
(Tiền thân Kakkara)
Nhiều gai, lá mát mẻ…
Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm (Veḷuvana),
đức Thế Tôn kể câu chuyện này về những nỗ lực của Đề-bà-đạt-đa cố bắt
chước Ngài. Khi nghe những nỗ lực cố bắt chước này, đức Thế Tôn nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần duy
nhất vì bắt chước ta mà Đề-bà-đạt-đa tự huỷ hoại bản thân mình thôi đâu,
vào đời trước, điều như thế cũng đã từng xảy ra.
Rồi Thế Tôn kể câu chuyện này.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh vào đời làm một chú chim Gõ Kiến.
Chim sống ở trong một cánh rừng keo; và tên của
Chim là Ca-đệ-lạp-ngõa-ni-á (Khadiravaniya), Chim Rừng Keo. Chim có một
người bạn tên là Khan-đạt-già-la-ka (Kandagalaka) thường kiếm thức ăn
trong một cánh rừng đầy quả ngọt.
Một ngày nọ, người bạn đến viếng
Ca-đệ-lạp-già-ni-á. “Bạn của ta đến!” Ca-đệ-lạp-già-ni-á nghĩ và dẫn bạn
mình vào khu rừng keo, mổ vào thân cây cho đến khi sâu kiến bò ra rồi
bắt chúng trao cho bạn mình. Khi mỗi con kiến được trao, người bạn mổ ăn
như ăn một cái bánh ngọt. Trong khi ăn, nó sanh lòng tự ái. Nó nghĩ,
“Con chim này là một con gõ kiến, ta cũng vậy. Có cần để ăn những gì nó
cho không? Ta sẽ tự kiếm thức ăn ở trong cánh rừng keo này!”
Vì thế nó nói với Ca-đệ-lạp-ngõa-ni-á:
– Bạn ạ, tôi không muốn làm phiền bạn nữa, tôi
sẽ tự kiếm thức ăn được ở cánh rừng keo nay.
Ca-đệ-lạp-ngoã-ni-á nói:
– Bạn ạ, bạn thuộc loại chim kiếm mồi ở cánh
rừng gòn không lõi và rừng cây có nhiều trái ngọt. Còn cây keo có lõi
cứng nên không thích hợp cho bạn. Xin bạn đừng làm như vậy!
Kham-đạt-già-la-ca nói:
Gì! Tôi không phải là một con chim gõ kiến ư?
Không thèm nghe lời, Kham-đạt-già-la-ca mổ vào
một thân cây keo. Ngay lập tức, mỏ của nó bị gãy, mắt của nó có chiều
muốn rơi ra khỏi đầu, còn đầu của nó vỡ ra. Vì thế không thể bám chặt
vào thân cây, nó rơi xuống đất và đọc lên bài kệ đầu tiên:
Nhiều gai, lá mát mẻ
Bạn hởi, loại cây gì?
Mà chỉ một lần gõ
Mỏ tôi đã vỡ đi.
Nghe vậy, Ca-đệ-lạp-ngõa-ni-á đọc lên bài kệ thứ
hai:
Chim này chỉ thích hợp
Những loại gỗ mục, mềm
Chỉ một lần cố gắng,
Đã gặp điều không hên.
Vì gõ trúng cây cứng
Đầu vỡ, chết ngay liền.
Đọc xong, Ca-đệ-lạp-ngõa-ni-á nói thêm:
– Hỡi Kham-đạt-già-la-ca, cây làm bạn vỡ đầu là
loại rất cứng!
Nhưng con chim kia đã chết ngay lúc ấy.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là Kham-đạt-già-la-ka,
còn ta chính là Ca-đệ-lạp-ngõa-ni-á.
|