PHẨM VII
PHẨM BỤI CỎ THƠM
(BIRANATTHAMBHAKA)

Số 211
CHUYỆN BÀ-LA-MÔN TÔ-MA-ĐẠT-ĐÀ
(Tiền thân Somadatta)

Thảo dân có hai bò cày xới…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này vể Trưởng lão La-lu-đà-di (Lāudāyī), hay U-đà-di Ngu Trí.

Chuyện kể rằng, thầy này không thể nói ra được dầu chỉ một lời trước mặt hai ba người. Thầy quá rụt rè nhút nhát đến độ khi thầy có ý muốn nói điều này thì thầy lại đi nói điều khác. Các Tỳ-kheo biết sự việc và đang ngồi lại với nhau bàn luận trong Chánh pháp đường. Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang bàn luận việc gì khi cùng ngồi lại nơi ấy. Họ trình bày sự việc với Ngài. Ngài nói:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên La-lu-đà-di là người quá ư rụt rè và nhút nhát, mà đời trước thầy này cũng đã từng như vậy.

Và Thế Tôn kể một câu chuyện đời trước.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào trong một gia đình Bà-la-môn ở vương quốc Ca-thi (Kāsi). Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát đến theo học ở Xoa-thi-la (Takkasilā). Khi quay trở về, xét thầy gia đình mình quá nghèo khó, Ngài từ biệt cha mẹ và khởi hành đến Ba-la-nại, lòng tự nhũ, “Ta sẽ vực dậy lại gia đình!”

Ở Ba-la-nại, Bồ-tát trở thành người cận vệ của nhà vua. Rồi theo thời gian, Ngài trở thành người tâm phúc và được vua yêu mến nhất.

Bấy giờ, cha của Ngài mưu sinh bằng nghề cày cấy, nhưng ông chỉ có được một cặp bò mà một con đã bị chết. Ông đến gặp Bồ-tát và nói với Ngài:

– Con trai ạ, một con bò của cha đã bị chết nên việc cày xới bị ngưng trệ. Con hãy xin nhà vua cho cha một con bò nhé!

Bồ-tát trả lời:

– Không được đâu cha ạ, con hầu cận nhà vua chưa được bao lâu nên con không thể xin vua một con bò được. Cha hãy xin vua đi.

Cha của Bồ-tát nói:

– Con trai ạ, con không biết cha là một người nhút nhát hay sao. Nếu đứng trước mặt hai ba người là cha không thể mở miệng được một lời. Nếu cha đến xin vua một con bò thì cuối cùng cha đem con bò còn lại này cho vua luôn đấy!

Bồ-tát nói:

– Cha ạ, đành phải thế thôi, con không thể xin nhà vua được. Nhưng thôi, con sẽ tập luyện cho cha làm điều này.

Thế rồi, Ngài đưa cha mình đến một nghĩa địa, nơi có những bụi cỏ ngọt. Ngài cột chúng lại thành từng bó, rồi để mỗi nơi mỗi bó, đặt tên cho chúng và lần lượt chỉ cho cha:

– Đây là nhà Vua, đây là Phó vương, đây là Tướng quân. Bây giờ, khi cha đến gặp vua, trước tiên cha phải nói: “Hoàng thượng vạn tuế!” Và sau đó cha đọc lên bài kệ để xin một con bò.

Và đây là bài kệ Bồ-tát dạy cho cha mình:

Thảo dân có hai bò cày xới

Công việc nhờ nó được tiến tới,

Nay một con chết! Tâu đại vương,

Xin ban thảo dân một con mới!

Vị nông phu đã học bài kệ này trong thời gian một năm tròn, rồi sau đó ông nói với con trai mình:

– Tô-ma-đạt-đà con, cha đã học thuộc những dòng kệ này rồi! Giờ thì cha có thể nói bài kệ này trước bất kỳ người nào! Hãy đưa cha đến yết kiến nhà vua.

Vì thế, Bồ-tát mang theo quà tặng thích hợp và đưa cha mình đến yết kiến nhà vua.

– Hoàng thượng vạn tuế!

Bà-la-môn hô lớn và sau đó dâng tặng món quà của mình.

– Vị Bà-la-môn này là ai vậy Tô-ma-đạt-đà? Nhà vua hỏi.

– Tâu đại vương, đây là cha của thần. Bồ-tát trả lời.

– Ông cụ đến đây có việc gì không? Nhà vua hỏi.

Thế rồi vị Bà-la-môn đọc lên bài kệ để xin bò:

Thảo dân có hai bò cày xới

Công việc nhờ nó được tiến tới

Nay một con chết, tâu đại vương

Xin nhận con kia, đại vương hỡi!

Nhà vua nhận biết rằng chắc có điều gì đó nhầm lẫn nên mỉm cười và nói:

– Này Tô-ma-đạt-đà, theo trẫm nghĩ thì khanh hẳn có nhiều bỏ ở nhà phải không?

– Tâu đại vương, nếu quả thực vậy thì chúng do đại vương ban cho!

Nghe câu trả lời này, vua lấy làm hoan hỷ. Ông liền ban cho vị Bà-la-môn mười sáu con bò với đồ trang sức đẹp, một ngôi làng để sống, và cho ông ra về cùng với niềm vinh dự lớn lao. Vị Bà-la-môn leo lên một chiếc xe do những con bạch mã kéo, và đến nơi cư trú rất mực tráng lệ.

Khi ngồi cùng với cha trên xe ngựa, Bồ-tát nói:

– Thưa cha, con đã bày cho cha suốt cả một năm trời, vậy mà lúc đến gặp vua, cha lại trao con bò cho vua!

Và Ngài đọc lên bài kệ đầu tiên:

Suốt cả năm trời không ngưng nghỉ

Ngày đêm siêng năng lòng bền bỉ

Nơi cỏ ngọt mọc cột thành bó

Ngày ngày cha tập thật chăm chỉ.

Nhưng khi cha đến giữa triều đình

Lập tức đổi hết ý của mình

Luyện tập thực sự thành vô dụng

Nếu một con người kém thông minh.

Khi nghe vậy, vị Bà-la-môn đọc lên bài kệ thư hai:

Tô-ma-đạt-đa, con nên hay

May rủi ở giữa hai điều này

Có thể có nhiều hoặc không có:

Việc của thế gian nó luôn vầy.

* * *

Khi kể xong câu chuyện về việc U-đà-di Ngu Trí trước đây cũng từng là người nhút nhát như bây giờ, Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Thuở ấy, La-lu-đà-di là cha của Tô-ma-đạt-đa, và ta chính là Tô-ma-đạt-đa.

Số 212
CHUYỆN ĐỒ ĂN THỪA
(Tiền thân Ucchiṭṭha-Bhatta)

Cơm nống ở trên, cơm nguội dưới…

Câu chuyện này trong khi trú tại Kỳ Viên Jetavana), đức Thế Tôn kể về một thầy Tỳ-kheo luyến thương người vợ đã mất của mình. Đức Thế Tôn hỏi thầy có thật thầy luyến ái không. Thầy thưa thật có thế. Ngài hỏi tiếp:

– Thầy tương tư người nào?

Thầy trả lời:

– Bạch Thế Tốn, người vợ trước đây của con.

Đức Thế Tôn nói:

– Này Tỳ-kheo, chính người phụ nữ này đời trước rất xấu xa, đã từng cho thầy ăn đồ thừa của tình nhân bà ta.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ này.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nai, Bồ-tát thọ sanh làm con trai một gia đình nghèo khó làm nghề biểu diễn nhào lộn, sống bằng cách ăn xin. Vì thế khi trưởng thành, Bồ-tát nghèo khốn và phải đi xin ăn nuôi mạng.

Vào thuở đó, tại một ngôi làng nọ ở nước Ca-thi (Kāsi), có một vị Bà-la-môn có vợ là một người đàn bà hư đốn xấu xa. Một hôm, người chồng có việc phải đi vắng. Tình nhân của bà ta canh lúc ông đi vắng đã tìm đến ngôi nhà này. Sau khi bà ta tiếp gã xong, gã nói:

– Tôi muốn ăn một chút gì đó trước khi về.

Vì thế, bà ta sửa soạn thức ăn, đun cơm, nấu canh và dọn lên mời gã tình nhân ăn. Còn bà ta thì đứng nơi cửa canh chừng vị Bà-la-môn trở về. Và trong khi gã tình nhân đang ăn uống, Bồ-tát đứng chờ xin một ít thức ăn.

Vào lúc đó, vị Bà-la-môn quay trở về. Bà vợ nhìn thấy chồng mình về đến gần liền chạy nhanh vào kêu lên:

– Đứng dậy nhanh, chồng em đang trở về đấy!

Rồi bà ta đưa tình nhân của mình xuống nhà kho. Người chồng vào nhà. Bà ta mời chồng ngồi và lấy nước cho ông rửa tay. Sau đó lấy cơm nguội mà gã tình nhân kia ăn còn thừa, bà ta xúc thêm một ít cơm nống bỏ lên trên và đặt nó trước mặt ông. Ông đặt tay lên cơm và biết cơm nống ở trên còn cơm nguội ở dưới. Ông nghĩ, “Đây hẳn là thức ăn thừa của một người nào đó.” Vì thế ông hỏi vợ mình qua lời bài kệ đầu tiên:

Cơm nống ở trên, cơm nguội dưới

Dường như nó chẳng được giống nhau,

Tôi hỏi, lý do là gì vậy?

Này bà, hãy trả lời tôi mau!

Ông hỏi đi hỏi lại nhiều lần, nhưng bà ta sợ việc làm của mình bị bại lộ nên ngậm thinh không trả lời. Thấy thế, người biểu diễn nhào lộn suy nghĩ: “Gã đàn ông ở dưới nhà kho hẳn là tình nhân của bà ta, còn người này chính là chủ nhà. Bà vợ ngậm thinh không nói là vì sợ việc làm của mình bị bại lộ. Được rồi! ta sẽ nói rõ toàn bộ sự việc và chỉ cho vị Bà-la-môn này gã đàn ông đang trốn trong kho của ông!”

Thế rồi Bồ-tát nói với ông hết thảy sự việc: Rằng khi ông vắng nhà, gã đàn ông kia đã vào nhà ông và giỡ trò đồi bại như thế nào; rằng thoạt đầu gã đã ăn cơm và người vợ đứng gần cửa để canh chừng ra làm sao, rồi người đàn ông kia sau đó đã trốn vào trong kho như thế nào. Nói vậy rồi, Ngài đọc lên bài kệ thứ hai:

Thưa ông, tôi là người nhào lộn

Vì muốn xin ăn, nên đến đây.

Người mà ông cần đến tìm kiếm

Đang đến trốn trong nhà kho này.

Bồ-tát nắm lấy búi tóc của gã tình nhân và kéo gã ra khỏi kho lúa, khuyên gã đừng bao giờ để tâm làm việc như thế nữa. Sau đó Ngài cáo từ. Vị Bà-la-môn khiển trách và đánh đập cả hai người, dạy cho họ một bài học để họ đừng bao giờ làm việc như thế nữa. Rồi sau khi mạng chung, ông đã tái sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo si tình đắc được quả Dự lưu. Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Thuở ấy, người vợ cũ của thầy là vợ của vị Bà-la-môn, còn ta là người biểu diễn nhào lộn.

Số 213
CHUYỆN VUA BA-LỖ
(Tiền thân Bharu)

Vua nước Ba-lỗ, trong chuyện xưa…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về vua Câu-tát-la (Kosala).

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn và Tăng chúng nhận được những phẩm vật cúng dường cao quý và rất mực được kính trọng. Như kinh chép: “Vào thời điểm đó, đức Thế Tôn được tôn kính, cúng dường, và nhận được những phẩm vật cúng dường dồi dào như y áo, thức ăn, chỗ ở, thuốc men, và thực phẩm dự trữ; và chư Tỳ kheo được tôn kính…(như trước); nhưng những khất sĩ ngoại đạo không được tôn kính…(như trước).”

Thế rồi, những vị ngoại đạo khi nhận thấy rằng sự tôn kính và phẩm vật cúng dường dành cho họ bị suy giảm, đã triệu tập một cuộc họp bàn bí mật. Họ nói:

– Từ khi Sa môn Cù Đàm xuất hiện, sự tôn kính và những phẩm vật cúng dường dành cho chúng ta không còn nữa. Còn ông ta thì có cả hai điều tốt nhất ấy. Lý do gì mà ông ta có được vận may đó?

Thế rồi một người trong họ nói như sau:

– Sa môn Cù Đàm có một trú xứ tốt và tối thượng nhất Ấn Độ, đó là lý do tại sao ông ta thành công.

Sau đó những người khác nói:

– Nếu đây là lý do thì chúng ta sẽ xây dựng nơi cư ngụ của chúng ta đối diện với tinh xá Kỳ Viên, và như vậy chúng ta sẽ nhận được những phẩm vật cúng dường.

Tất cả cùng đi đến kết luận như vậy.

Nhưng rồi họ nói:

– Nếu chúng ta xây dựng trú xứ của mình mà nhà vua không hay không biết thì các Tỳ-kheo sẽ ngăn cản chúng ta. Nếu vua nhận được món quà tặng, ông ấy sẽ không ngần ngại phá bỏ trú xứ của họ. Vì thế, tốt nhất chúng ta hãy hối lộ vua, khiến vua cho chúng ta một nơi làm trú xứ.

Thế rồi bằng sự can thiệp của các cận thần, họ đã tặng cho vua một trăm ngàn đồng tiền, kèm với lời tâu này:

– Tâu Đại Vương, chúng tôi muốn xây dựng một trú xứ đối diện với tinh xá Kỳ Viên. Nếu các Tỳ-kheo nói với ngài họ không cho phép làm điều đó thì xin ngài hoan hỷ đừng trả lời gì cho họ cả.

Nhà vua chấp thuận lời yêu cầu này bởi ông thích của hối lộ.

Sau khi thu phục được nhà vua bằng cách như vậy, những tu sĩ ngoại đạo kiếm một kiến trúc sư và bắt tay vào công việc. Công việc của họ gây ra nhiều tiếng động ồn ào.

Đức Thế Tôn nghe tiếng ồn bèn hỏi A-nan:

– Này A-nan, tiếng ồn ào quá mức kia là tiếng gì vậy?

– Bạch Thế Tôn, tiếng ồn đó là do các tu sĩ ngoại đạo đang xây dựng trú xứ mới gây ra.

Thế Tôn nói:

– Đó không phải nơi thích hợp cho họ cư trú. Những vị ngoại đạo này ưa thích ồn ào, không ai có thể sống được với họ.

Rồi Ngài gọi các Tỳ-kheo tập trung lại, bảo chư vị đến thưa trình với nhà vua và đề nghị chấm dứt việc xây dựng đó.

Các Tỳ-kheo đi đến và đứng ở trước cửa hoàng cung. Khi nghe các Tỳ-kheo đến, nhà vua biết chắc họ đến đề nghị chấm dứt việc xây dựng trú xứ mới của các ngoại đạo, nhưng vì nhà vua đã nhận của hối lộ nên ông ra lệnh cho những người hầu cận của mình ra nói rằng nhà vua đi vắng. Chư Tỳ-kheo trở về và bạch lại sự việc với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đoán biết có sự đút lót hối lộ nên đưa hai vị đệ tử thượng thủ đến gặp vua. Nhưng nhà vua khi nghe hai vị đến, lại sai người ra nói như trước. Hai vị trở về bạch lại với đức Thế Tôn. Ngài nói:

– Này hai thầy, có thể hôm nay nhà vua không ở nhà, chắc ông đi vắng thật.

Sáng hôm sau, Thế Tôn mặc thượng y, ôm bình bát, và cùng với năm trăm Tỳ-kheo đi đến cửa hoàng cung. Nghe chư vị đến, nhà vua từ thượng lầu đi xuống, nhận lấy bình bát của đức Phật, cúng cơm và cháo cho Ngài cùng các Tỳ-kheo, rồi đảnh lễ và ngồi xuống một bên.

Vì lợi ích của nhà vua, đức Thế Tôn đã bộc trần vấn đề bằng những lời này:

– Thưa Đại vương, những vị vua đời trước do vì nhận của hối lộ mà đã gây ra sự tranh chấp lẫn nhau giữa những người phạm hạnh, để rồi dẫn đến việc vương quốc của họ bị đoạt mất và bị diệt vong hoàn toàn.

Và rồi theo lời thỉnh cầu của nhà vua, đức Thế Tôn đã kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi vua Ba-lỗ (Bharu) trị vì vương quốc Ba-lỗ. Vào cùng thời điểm đó, Bồ-tát là một vị ẩn sĩ đã đắc được Ngũ Thông và Bát Thiền, là Đạo sư của một hội chúng ẩn sĩ, sống một thời gian dài trong vùng Tuyết Sơn.

Từ Tuyết Sơn, Bồ-tát đi xuống đồng bằng để kiếm muối và gia vị, theo sau Ngài là năm trăm vị ẩn sĩ, thứ đệ đi đến kinh thành Ba-lỗ. Ở đấy, Ngài đi khất thực khắp thành phố, sau đó ra khỏi thành và ngồi xuống gần cổng thành phía bắc, dưới gốc một cây đa có nhiều cành nhánh che phủ, rồi dùng bửa và cư ngụ ở đấy.

Bấy giờ, khi hội chúng những vị ẩn sĩ trú ở đấy được nửa tháng trăng thì một vị Đạo sư khác cùng với năm trăm vị ẩn sĩ đi đến. Họ đi khất thực quanh kinh thành, sau đó ra khỏi thành và ngồi bên dưới cây đa gần cổng thành phía nam, ăn uống và trú lại đấy. Hai hội chúng đã trú ở đấy một thời gian theo ý muốn, rồi sau đó quay trở lại Tuyết Sơn.

Khi họ đi rồi, cây đa gần cổng thành phía nam bị khô héo. Lần kế tiếp, những người cư trú dưới cây đa bị héo đến trước và nhận thấy rằng cây đa của mình đã bị khô héo. Trước tiên, họ đi khắp kinh thành để khất thực, rồi sau đó ra khỏi thành bằng cổng phía bắc, ăn uống và trú dưới gốc cây ở gần cổng thành đó. Hội chúng những ẩn sĩ kia đến sau, khất thực quanh kinh thành xong liền đi đến cây của mình để thọ trai và dự định trú lại đó.

– Đây không phải là cây của các vị, nó là của chúng tôi!

Họ la lên, và bắt đầu tranh chấp gốc cây. Cuộc tranh chấp trở nên nghiêm trọng. Những người này nói:

– Không được chiếm lấy chỗ mà trước đây chúng tôi cư ngụ!

– Lần này chúng tôi đến trước, các vị không được giành lấy nó! Hội chúng kia nói.

Hội chúng nào cũng kêu lên mình là chủ nhân của gốc cây kia, và thế là họ kéo nhau đến hoàng cung.

Nhà vua ban lệnh rằng, những người đến đấy trước tiên được phép giữ gốc cây. Thế rồi hội chúng kia nói với nhau:

– Chúng ta không thể chịu thua những người kia được!

Bằng thiên nhãn, họ quán sát khắp nơi và phát hiện có một chiếc xe ngựa thích hợp cho một vị hoàng đế sử dụng. Họ lấy nó làm món quà tặng cho vua, và thêm vào là cầu xin nhà vua cho họ sở hữu gốc cây. Nhà vua nhận món quà của họ và ban lệnh cho cả hai nhóm được được phép cư trú ở dưới cây đó. Vì thế, cả hai nhóm cùng cư ngụ ở đó. Thế rồi những vị ẩn sĩ kia tìm được những chiếc bánh xe nạm ngọc của chính cỗ xe này, dâng chúng cho vua và cầu xin ông:

– Tâu Đại vương, hãy để một mình nhóm chúng tôi sở hữu cái cây này!

Và nhà vua đã làm như vậy. Sau đó, những vị ẩn sĩ này cảm thấy hối lỗi và nói:

– Chúng ta hãy nghĩ xem, chúng ta là những người đã chế ngự lòng ưa thích tiền tài và ham muốn nhục dục. Chúng ta đã xuất gia học đạo vậy mà lại rơi vào tranh chấp chỉ vì một gốc cây, và chỉ vì nó mà đem biếu của hối lộ! Việc làm này thật không thích đáng chút nào.

Thế rồi họ vội vã ra đi cho đến khi về đến Tuyết sơn. Tất cả chư vị thần linh cư trú ở vương quốc Ba-lỗ rất căm giận nhà vua. Họ dấy sông biển, và trong khoảng ba trăm do tuần, họ làm cho vương quốc Ba-lỗ gần như biến mất. Như vậy, chỉ vì lợi lộc của một mình nhà vua Ba-lỗ mà tất cả thần dân của vương quốc đều phải bỏ mạng.

* * *

Khi kết thúc câu chuyện này, với trí tuệ viên mãn của mình, đức Thế Tôn đọc lên những vần kệ sau:

Vua nước Ba-lỗ, trong chuyện xưa,

Làm người phạm hạnh tranh hơn thua,

Vì gây tội lỗi nên phải chết,

Và cả vương quốc tan nát xương.

Ý dục xan tham sinh ác nghiệp

Người trí do đó không thuận theo,

Tâm tịnh, vị ấy thoát tà ác

Chân thật, xác thực trong ngữ ngôn!

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nói:

– Thưa Đại vương, chúng ta không nên phục tùng theo sức mạnh của dục vọng. Hai người xuất gia không nên tranh chấp với nhau. Rồi sau đó Ngài nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, ta là người lãnh đạo của những vị ẩn sĩ.

Khi tiếp đức Phật xong và Ngài đã ra về, vua đưa một vài người đến dỡ bỏ nơi cư trú đối nghịch đó, thế là những vị ngoại đạo trở thành những người không nhà cửa.

Số 214
CHUYỆN CON SÔNG ĐẦY
(Tiền thân Puṇṇa-nadī)

Thứ có thể uống khi sông ngập…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về trí tuệ viên mãn.

Vào một dịp, chư Tỳ-kheo tập trung lại trong Chánh pháp đường và bàn luận về trí tuệ của đức Phật.

– Này các Pháp hữu, trí tuệ của đức Phật Chánh Đẳng thì quảng đại, sắc bén, nhanh nhạy, thấu suốt và đầy đủ phương tiện thiện xảo.

Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang thảo luận điều gì khi ngồi lại với nhau nơi ấy. Họ bạch lại sự việc với Ngài, Ngài nói:

– Này các Tỳ kheo, không chỉ bây giờ Thế Tôn mới có đầy đủ trí tuệ và phương tiện thiện xảo, mà đời trước Thế Tôn cũng từng như vậy.

Nói rồi, Ngài kể cho họ một câu chuyện.

* * *

Thuở xưa, Khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào đời làm con trai một vị quan tư tế. Khi trưởng thành, Bồ-tát đến Xoa-thi-la (Takkasilā) học đủ mọi ngành nghề. Rồi khi thân phụ qua đời, Ngài tiếp nhận chức vụ tư tế và cố vấn cho nhà vua trong những vấn đề về thế sự cũng như thánh sự.

Về sau nghe lời gièm pha ly gián, trong cơn giận, nhà vua đã lệnh không cho Bồ-tát đến chầu nữa và đuổi Ngài ra khỏi Ba-la-nại. Vì thế, Bồ-tát đưa vợ cùng con cái đi đến sống tại một ngôi làng nọ ở nước Ca-thi (Kāsi). Sau đấy nhớ lại những công đức của Ngài, nhà vua tự nhủ:

– Nếu ta phái một sứ giả đến đón tôn sư của ta về thì thật không thích hợp. Ta sẽ làm một bài thơ và viết nó trên một chiếc lá. Ta sẽ cho nấu thịt quạ rồi sau đó buộc lá thư và thịt ở trong một mảnh vải trắng, ấn dấu của vua lên, và gởi nó đến tôn sư của ta. Nếu tôn sư của có trí tuệ, thì khi đọc lá thư và biết đấy chính là miếng thịt quạ, tôn sư sẽ quay về. Nếu không, tôn sư sẽ không trở về.

Thế rồi nhà vua viết bài kệ này lên chiếc lá:

Thứ có thể uống khi sông ngập

Thứ mà ngũ cốc che lấp đi

Thứ đoán biết được người lữ hành

Hiền trí, hãy ăn! Đố thứ gì?

Vua viết bài kệ này lên một chiếc lá và gửi nó đến Bồ-tát. Bồ-tát đọc lá thư và nghĩ, “Nhà vua muốn gặp ta.” Rồi Ngài đọc lên bài kệ thứ hai:

Vua nay nhớ tôi, gởi con quạ

Ngỗng, cò, và công đều dồi dào

Nếu gởi một con, sẽ gởi hết

Thật tệ, nếu không gởi con nào.

Sau đó, Bồ-tát thắng xe vào bò và trở về yết kiến nhà vua. Nhà vua vui mừng và phục hồi lại chức vị tư tế cho Ngài.

* * *

Kết thúc câu chuyện này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, A-nan là nhà vua, còn ta chính là quan tư tế.

Số 215
CHUYỆN CON RÙA
(Tiền thân Kacchapa)

Rùa hẳn muốn nói lớn…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Câu-ca-lợi (Kokālika). Những tình huống của câu chuyện sẽ được trình bày trong Tiền thân Mahātakkāri, số 481. Ở đây đức Thế Tôn lại nói:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần duy nhất Câu-ca-lợi do vì ăn nói mà bị hại thôi đâu. Đời trước, việc đó cũng đã từng xảy ra rồi.

Và rồi Ngài kể câu chuyện sau.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con trai một vị đại thần. Khi trưởng thành, Ngài trở thành người cố vấn cho vua trong mọi việc từ thế gian cho đến thần linh. Nhưng vị vua này rất lắm lời. Mỗi khi ông đã nói thì không một người nào có cơ may mở miệng. Bồ-tát vì muốn ngăn chặn căn bệnh nói nhiều của vua nên luôn canh chừng một cơ hội.

Bấy giờ, có một con Rùa sống tại một hồ nước nọ ở vùng Tuyết Sơn. Hai chàng ngỗng hoang trong khi tìm kiếm thức ăn đã làm quen với nó, và rồi trở thành những người bạn thân thiết với nhau. Một ngày nọ, hai chàng ngỗng ấy nói với nó:

– Này bạn Rùa, chúng tôi có một ngôi nhà xinh xắn trong một cái hang Vàng trên cao nguyên núi Tâm Phong (Cittakūta) ở vùng Tuyết sơn! Bạn sẽ đến đó với chúng tôi chứ?

– Trời đất, làm sao tôi có thể đến đó được chứ? Rùa nói.

– Không sao, chúng tôi sẽ đưa bạn đi, chỉ cần bạn ngậm miệng của bạn lại và đừng nói gì với ai cả.

– Vâng, tôi có thể làm được điều đó, xin hãy đưa tôi đi. Nó nói.

Vì thế, chúng cho Rùa ngậm lấy cây gậy giữa răng. Còn chính chúng dùng miệng giữ hai đầu gậy và bay vào không trung.

Bọn trẻ trong làng nhìn thấy cảnh tượng này thì kêu lên:

– Có hai con ngỗng trời dùng một cây gậy để mang một con rùa!

(Nhưng lúc này, hai con ngỗng vì bay nhanh nên đã đến địa phận phía trên hoàng cung trong thành Ba-la-nại). Rùa muốn la lớn lên: “Thế đấy, nếu bạn của ta có mang ta đi thì điều đó có đá động gì đến tụi bây không hả lũ nhóc con hèn hạ?” Con rùa vừa nhả cây gậy ra định nói, liền rơi xuống sân trống và vỡ thành hai mảnh. Thế là mọi người ồn ào lên!

– Hãy xem kìa, một con rùa rơi xuống sân và vỡ ra làm hai!

Nhà vua cùng với Bồ-tát và tất cả các triều thần đi đến nơi ấy. Và khi nhìn thấy con rùa, vua hỏi Bồ-tát:

– Này bậc hiền trí, vì sao con rùa này lại rơi vậy?

Bồ-tát nghĩ: “Bấy lâu nay ta muốn tìm cách khuyên nhủ nhà vua và ta đã đi khắp tìm kiếm cơ hội, nay cơ hội đã đến. Không hồ nghi gì nữa, con rùa này và hai con ngỗng kết bạn thân với nhau. Ngỗng chắc muốn mang rùa đến Tuyết Sơn nên cho rùa cắn chặt cây gậy giữa răng và mang nó bay vào không trung. Sau đó, chắc Rùa nghe một vài lời bàn tán gì đó, không thể giữ im miệng được, nó muốn nói nên tự thả cây gậy ra, vì thế đã rơi từ trên không trung xuống và chịu chết như vậy.” Suy nghĩ vậy xong, Bồ-tát nói với nhà vua:

– Tâu đại vương, những ai lắm lời đến không giới hạn được việc nói năng của mình thì luôn dẫn đến tại hoạ như vậy.

Rồi Ngài đọc lên những vần kệ sau:

Rùa hẳn muốn nói lớn

Dù cắn gậy giữa răng,

Bất chấp, nó vẫn nói

Rơi chết không trối trăn.

Và thế, tâu Đại vương

Chứng cớ quá rõ ràng

Xin hãy nói khôn ngoan

Xin hãy nói hợp thời.

Rùa kia rơi mất mạng

Lý do bởi lắm lời.

“Ông ta đang ám chỉ mình đấy!” Nhà vua nghĩ thầm rồi hỏi:

– Thưa bậc hiền trí, có phải Ngài nói điều đó để ám chỉ trẫm không?

– Tâu Đại vương, Dù đại vương hay là ai khác, nếu nói quá hạn lượng đều phải chịu khổ đau như thế.

Bồ-tát đã trình bày vấn đề rõ ràng như vậy. Từ đó về sau, nhà vua kiềm chế việc nói năng của mình và trở thành một người ít lời.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Thuở đó, Câu-ca-lợi là con rùa, hai vị Tôn giả thượng thủ là hai chàng ngỗng rừng, A-nan là nhà vua, còn ta là người cố vấn của vua.

Số 216
CHUYỆN CON CÁ
(Tiền thân Maccha)

Không phải lửa này gây tai ương…

Trong khi trú tai tinh xá Kỳ Viên (Jeatavena), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo tương tư người vợ cũ của mình. Đức Thế Tôn hỏi thầy Tỳ-kheo này:

– Này Tỳ-kheo, ta nghe thầy mang bệnh tương tư, không biết điều đó có thật không?

– Bạch Thế Tôn, đúng như vậy.

– Thầy tương tư ai vậy?

– Bạch, người vợ cũ của con.

Nghe thế, đức Thế Tôn nói:

– Này Tỳ-kheo, người vợ này là mối nguy hại của thầy đấy. Đời trước, chính vì bà ta mà chút nữa thầy bị xiên và bị nướng làm thức ăn, nhưng may sao những bậc hiền trí đã cứu mạng thầy.

Rồi Thế Tôn kể một câu chuyện quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát là vị quan tư tế của vua. Một hôm, các ngư dân kéo lưới và bắt lên được một con cá. Họ ném con cá lên trên cát nống và nói:

– Chúng ta sẽ nướng nó trên than hồng và ăn nó.

Vì thế, họ mài một cái xiên thật sắc để xiên cá. Cá nghĩ đến người vợ của mình nên khóc than và đọc lên hai bài kệ này:

Không phải lửa này gây tai ương

Cũng không phải xiên gây vết thương

Mà nghĩ vợ tôi có thể nói:

Tôi gã nhân tình sống bất lương.

Đấy lửa tình yêu thiêu đốt tôi

Lấp đầy tim tôi, khổ ngất trời

Không chết, tình yêu tôi được hưởng;

Ngư dân người hỡi, xin thả tôi!

Vào lúc đó, Bồ-tát đến gần bờ sông và nghe lời than khóc của con Cá. Ngài bèn đi đến chỗ những ngư phủ và can thiệp để họ thả con Cá ra.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo mắc bệnh tương tư chứng được quả Dự lưu. Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Thuở đó, cô vợ là vợ của con cá, thầy Tỳ-kheo bị tương tư là con cá, còn ta chính là quan tư tế.

Số 217
CHUYỆN CÔ GÁI BỊ DỤ BẮT
(Tiền thân Seggu)

Tất cả cõi đời thích dục lạc…

Câu chuyện này trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể về một cư sĩ bán rau quả.

Những tình huống của câu chuyện đã được trình bày trong Tiền thân Paṇṇka, số 102. Ở đây, đức Thế Tôn lại hỏi ông:

– Này cư sĩ, tại sao lâu nay không thấy ông đến đây?

Vị cư sĩ trả lời:

– Bạch Thế Tôn, con gái của con thường hớn hở vui cười. Sau khi thử thách cháu, con đã gã cháu cho một thanh niên tử tế. Vì phải lo việc này nên con không có dịp đến viếng thăm Thế Tôn được.

Nghe thế, đức Thế Tôn nói:

– Này cư sĩ, không phải chỉ bây giờ con gái của cư sĩ mới có tiết hạnh đâu, mà đời trước cháu ấy cũng đã có tiết hạnh rồi. Và không chỉ bây giờ cư sĩ mới thử thách cháu ấy, mà đời trước cư sĩ cũng đã từng làm như vậy.

Rồi theo lời thỉnh cầu của vị cư sĩ, Thế Tôn kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua nước Ba-la-nại, Bồ-tát làm một vị Thần cây.

Bầy giờ, chính người bán rau mộ đạo này, vì muốn thử thách con gái mình nên đã dẫn cô vào rừng, dùng tay nắm lấy cô và làm như thể mê đắm cô vậy. Và khi cô la lên trong nỗi đớn đau, ông đã nói với con gái qua lời bài kệ đầu tiên:

Tất cả cõi đời thích dục lạc,

Con gái ngây thơ của cha ơi!

Giờ bắt được con, xin chớ khóc

Cha làm giống như thế nhân thôi.

Khi nghe vậy, cô gái trả lời:

– Thưa cha, con là một thiếu nữ chưa chồng và con không biết những việc làm tội lỗi ấy.

Khóc lóc, cô thốt lên bài kệ thứ hai:

Cha nên giúp con thoát khổ đau

Giữa rừng hiu quạnh lừa dối sao

Cha hỡi, cha nơi con nương tựa,

Nỡ nào cưỡng bức giữa rừng sâu.

Sau khi thử thách con gái như vậy, người bán rau quả đã mang cô về nhà và gả cô cho một thanh niên. Sau đó, ông qua đời và tái sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, vị cư sĩ bán rau quả chứng được quả Dự lưu. Rồi Thế Tôn nhận diên Tiền thân:

– Vào thuở đó, người cha và con gái cũng chính là họ bây giờ, còn ta chính là Thần cây đã nhìn thấy sự việc đó.

Số 218
CHUYỆN VỊ LÁI BUÔN LỪA ĐẢO
(Tiền thân Kūa- Vāija)

Bợm già mắc bẫy, kế khéo thay…

Trong khi ở tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thương nhân bất lương.

Có hai thương nhân ở Xá-vệ (Sāvatthi), một người lương thiện và một người lừa dối. Hai người này hợp tác làm ăn với nhau. Chất đầy hàng hóa trên năm trăm cỗ xe, họ rong ruỗi từ đông sang tây để buôn bán, sau đó trở về Xá-vệ với một khoản tiền lời lớn.

Người thương nhân lương thiện đề nghị với vị cộng sự của mình rằng nên phân chia vốn liếng ra. Gã lừa đảo nghĩ: “Ông này bấy lâu nay sống qua loa với thức ăn tồi và nơi ở sơ sài. Bây giờ về lại nhà, ông ta sẽ ăn đủ các thứ thức ăn ngon và rồi sẽ chết vì bội thực, lúc đó ta sẽ là người sở hữu tất cả số vốn đó”. Nghĩ thế, gã nói:

– Hôm nay sao trời chuyển vận không tốt, ngày cũng không lành. Ngày mai hoặc ngày tới chúng ta sẽ tính việc này.

Gã tìm cớ trì hoản như vậy, nhưng người thương nhân lương thiện thúc bách gã mãi nên nên cuối cùng gã đành phải phân chia. Sau đó, người thương nhân lương thiện mang dầu thơm và vòng hoa đến viếng thăm đức Thế Tôn, cung kính đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn hỏi ông trở về khi nào. Ông nói:

– Bạch Thế Tôn, con trở về đã hai tuần nay.

– Vậy sao cư sĩ lại viếng thăm Thế Tôn chậm trể vậy?

Vị thương nhân giải thích vấn đề. Nghe thế, đức Thế Tôn nói:

– Này cư sĩ, không phải chỉ bây giờ người cộng sự của cư sĩ mới xảo trá đâu, mà đời trước, chính người này cũng đã từng như vậy.

Rồi theo lời thỉnh cầu của vị cư sĩ này, Thế Tôn kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con trai một vị đại thần. Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát được cử làm một vị quan Tư pháp.

Bấy giờ, có hai thương nhân, một người ở làng quê còn một người ở thành thị, là hai người bạn của nhau. Người ở làng quê gởi cho người thành thị năm trăm lưỡi cày. Người kia bán những những lưỡi cày và giữ lấy số tiền, sau đó rải phân chuột lên khắp chỗ để lưỡi cày. Và khi người ở làng đến đòi lại số lưỡi cày của mình, gã lừa đảo chỉ đống phân chuột và nói

– Lũ chuột đã gặm hết cả rồi!

– Ôi, thật vậy ư! Lũ chuột đã ăn thì biết làm gì bây giờ?

Bấy giờ vào giờ tắm, người này đưa con trai của gã thương nhân lừa đảo kia đi, gửi nó ở nhà một người bạn và bảo họ để đưa bé ngồi trong một phòng kín, đừng cho nó đi đâu cả. Rồi sau khi tắm xong, anh nay đi đến nhà người bạn lừa đảo. Gã lừa đảo hỏi:

– Con trai của tôi đâu rồi?

Người này trả lời:

– Bạn ạ, tôi mang cháu đi và để cháu trên bờ sông. Nhưng trong khi tôi xuống sông tắm, một con chim ưng đã bay đến, dùng vuốt bắt lấy cháu và bay vào không trung. Tôi đã tát nước, la hét, đánh đập nhưng không thể làm cho nó thả cháu ra được.

Nghe thế, gã lừa đảo hét lên:

– Láo khoét! Không có con chim ưng nào có thể mang nỗi một đưa bé!

– Anh bạn ạ, đấy là sự thật. Việc không nên xảy ra đã xảy ra, tôi đành chịu chứ biết phải làm sao đây? Một con chim ưng đã mang con trai anh đi, tôi chỉ biết nói vậy.

Người kia mắng nhiếc:

– A, ngươi là một tên côn đồ! Ngươi là một tên sát nhân! Ta sẽ đi đến quan tòa và kéo ngươi đến đấy!

Người ở làng nói:

– Tôi sẽ chiều theo ý anh.

Nói rồi, người này cùng với gã lừa đảo đi đến án đường. Gã lừa đảo nói với Bồ-tát thế này:

– Bẩm quan, người này mang con trai của tôi đi tắm với anh ta. Nhưng khi tôi hỏi cháu đâu rồi, anh ta trả lời rằng một con chim ưng đã mang cháu đi mất. Xin quan xét xử việc thưa kiện này!

Bồ-tát nói với người kìa:

– Này anh kia, hãy khai đúng ra mau.

Anh này trả lời:

– Bẩm quan, sự thực đúng như vậy. Tôi đã đưa cháu đi cùng và một con chim ưng đã bắt lấy cháu ấy mang đi.

– Nhưng ở đâu trên cõi đời này có thứ chim ưng mang nỗi một đứa bé?

Anh này trả lời:

– Bẩm quan, tôi có một câu hỏi muốn hỏi ngài. Nếu loài chim ưng không thể mang nỗi đứa trẻ bay vào không trung thì lũ chuột có thể ăn được những lưỡi cày bằng sắt không?

– Ý ngươi muốn nói gì về điều đó?

– Bẩm quan, tôi gởi năm trăm lưỡi cày trong nhà người này. Nhưng khi tôi hỏi đến, người này chỉ cho tôi đống phân chuột và nói rằng lũ chuột đã gặm sạch chúng. Bẩm quan, nếu lũ chuột ăn được những lưỡi cày thì loài chim ưng cũng có thể mang được những đứa trẻ. Còn nếu lũ chuột không thể làm được việc này thì loài chim ưng cũng không thể mang được những đứa bé. Người này nói những con chuột đã ăn lưỡi cày của tôi. Xin phán xét là chúng có bị ăn hay không. Xin xét xử vụ thưa kiên này.

“Anh ta chắc muốn chống lại kẻ lừa đảo bằng thứ vũ khí của mình.” Bồ-tát nghĩ thế và nói:

– Bày ra mưu kế thật hay!

Rồi Ngài đọc lên hai bài kệ:

Bợm già mắc bẫy, kế khéo thay!

Lừa đảo bị lừa – đòn đánh hay!

Nếu chuột ăn cày, ưng có thể

Mang trẻ tung trời vỗ cánh bay!

Kẻ lừa bị lừa, trả miếng nhau

Lưỡi cày, ngươi hãy trả lại mau,

Thì người mất cày mới có thể

Trả lại con người ngay liền sau!

Như vậy, người mất con nhận lại con, người mất cày nhận lại cày. Và về sau, cả hai mạng chung và tái sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Người lừa đảo trong cả hai trường hợp đều giống nhau, và người người lương thiện kia cũng vậy; còn ta chính là quan Tư pháp.

Số 219
CHUYỆN PHỈ BÁNG
(Tiền thân Garahita)

Vàng này là của ta…

Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo nản lòng và thối thất.

Thầy này không thể tập trung tâm trí chuyên nhất vào một vấn đề gì được, đời sống của thầy luôn đầy sự bất mãn. Chuyện này được bạch lên đức Thế Tôn. Khi đức Thế Tôn hỏi thầy có phải thầy thật sự nản lòng không, thầy trả lời thật có như vậy. Ngài hỏi tại sao. Thầy trả lời rằng do phiền não. Đức Thế Tôn nói:

– Này Tỳ kheo, phiền não này ngay cả những loài thú bậc thấp cũng khinh miệt, thì có thể nào thầy, một Tỳ-kheo xuất gia theo Giáo pháp này lại chịu đầu hàng để cho bất mãn sanh khởi từ thứ phiền não mà thậm chí thú vật cũng khinh miệt hay sao?

Sau đó, Thế Tôn kể cho thầy một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì vương quốc Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào đời làm một chú Khỉ sống trong vùng Tuyết Sơn. Một người quản rừng bắt được chú, mang chú về nhà và dâng cho nhà vua. Chú ở với vua một thời gian dài, trung thành hầu hạ vua và học được rất nhiều những lề lối sống của thế giới loài người. Nhà vua hài lòng về lòng trung thành của chú nên cho gọi người quản rừng đến và bảo ông ta thả khỉ tại chính nơi bị bắt trước đây. Người này đã làm như vậy.

Cả đàn khỉ tập trung lại trên một tảng đá lớn để gặp mặt Bồ-tát giờ đây đã trở về lại với chúng. Chúng trò chuyện với Khỉ vui vẻ.

– Thưa Khỉ vương, bấy lâu nay Ngài sống ở đâu?

– Trong cung điện nhà vua ở Ba-la-nại.

– Thế thì làm cách nào ngài lại được tự do?

– Nhà vua để tôi đi vì nghĩ tôi là con vật cưng của ông, và hài lòng với cung cách đối xử của tôi.

Đàn khỉ tiếp tục hỏi,

– Ngài chắc biết lối sống của thế giời loại người. Hãy nói cho chúng tôi về điều đó – chúng tôi muốn nghe!

– Đừng hỏi tôi lối sống của loài người làm gì. Bồ-tát nói.

– Xin Ngài hãy nói, chúng tôi muốn nghe!

Bồ-tát nói:

– Loài người, dù là Sát-đế-lợi hay Bà-la-môn đều kêu lớn: – “Của ta! Của ta!” Họ không biết các pháp là vô thường, vô ngã. Giờ hãy nghe ta nói lối sống của những kẻ mù loà này.

Rồi Khỉ vương đọc lên những dòng kệ này:

Vàng này là của ta

Ngày đêm họ kêu la

Người ngóc không hề thấy

Thánh pháp tối cao xa.

Trong nhà hai gia trưởng

Một người không có râu

Vú dài tai xâu lỗ

Và tóc bện trên đầu.

Vàng nhiều không đếm xuể

Hành người khác khổ đau.

Khi nghe vậy, cả đàn khỉ đồng thanh kêu lên:

– Thôi, thôi, hãy ngưng lại, đừng nói nữa! Chúng tôi không muốn nghe những điều như vậy!

Rồi bằng hai tay, chúng bịt tai mình lại. Và chúng không còn thích ở nơi ấy nữa, bởi vì chúng nói:

– Ở nơi này chúng tôi đã nghe điều không đáng nghe.

Thế rồi chúng đi đến ở một nơi khác. Và tảng đá này có tên là Phỉ Báng Thạch Nham (Garahitapiṭṭhi).

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế và nhận diện Tiền Thân:

– Thuở ấy, Tăng chúng của đức Phật là đàn khỉ, còn ta chính là Khỉ vương.

Số 220
CHUYỆN QUAN TƯ TẾ PHÁP TRÀNG
(Tiền thân Dhammaddhaja)

Trông bạn như từng chưa khổ đau…

Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về những nỗ lực của Đề-bà-đạt-đa nhằm giết hại Ngài. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu Đề-bà-đạt-đa cố mưu hại ta thôi đâu, mà đời trước ông ta cũng đã từng làm như vậy. Tuy thế, điều đó vẫn không làm cho ta sợ hãi.

Rồi Thế Tôn kể câu chuyện này.

* * *

Thuở xưa, Nhã-tát-mạt-ni (Yasapāi) là vị vua trị vì Ba-la-nại (Benares). Bấy giờ, vị tướng quân của ông có tên là Già-lạp-ca (Kāaka). Và Bồ-tát là quan tư tế của vua, tên Ngài là Pháp Tràng (Dhammaddhaja). Vua có một người thợ làm đồ trang sức tên là Hiệp-đạt-mạt-ni (Chattapāi). Nhà vua là một vị vua hiền lương. Nhưng vị tướng quân của vua trong việc xét kiện lại thường nhận của hối lộ. Y là một người thích nói xấu người khác, nhận của hối lộ, và lừa gạt những chủ nhân lương thiện.

Một ngày nọ, có một người đánh mất bộ quần áo đang rời khỏi pháp đường, dang tay khóc lóc. Khi ấy, ông tình cờ gặp Bồ-tát lúc Ngài đang đi đến chầu vua. Sụp xuống nơi chân Ngài, người ấy kêu khóc và kể lại cách ông đã thua kiện như thế nào:

– Bẩm quan, trong khi Ngài chỉ dẫn cho vua những việc trong đời này và đời sau, thì vị Tướng quân lại đi nhận của hối lộ và lừa gạt những chủ nhân lương thiện!

Bồ-tát cảm thương bèn nói:

– Này anh bạn lương thiện, anh hãy đi theo ta, ta sẽ xét xử vụ kiện này lại cho anh!

Ngài đi đến pháp đường. Một nhóm đông tập trung lại. Bồ-tát lật ngược lời tuyên án và xét xử cho người này thắng kiện. Những người đứng xem vỗ tay hoan nghênh và gây ra một âm thanh rất lớn. Nhà vua nghe âm thanh này liền hỏi:

– Âm thanh ồn ào gì vậy?

Cận vệ trả lời:

– Tâu Đại vương, có một vụ kiện bị xử sai trái nay được Pháp Tràng hiền trí xử lại đúng. Dân chúng vỗ tay reo hò nên tạo ra tiếng ồn này.

Nhà vua hài lòng và cho gọi Bồ-tát đến. Ông hỏi:

– Có phải khanh vừa mới xét xử một vụ thưa kiện không?

– Tâu Đại vương, đúng như vậy. Thần vừa xét xử lại vụ kiện mà Già-lạp-ca xét xử sai.

Vua nói:

– Từ ngày hôm nay, khanh hãy xử kiện. Đó sẽ là niềm vui cho trẫm, là sự phồn vinh cho thế gian!

Bồ-tát không muốn điều đó, nhưng nhà vua bảo:

– Vì lòng thương yêu hết thảy mọi người, khanh hãy nắm lấy quyền xét xử.

Và như thế, nhà vua buộc Ngài phải chấp nhận.

Từ lúc đó, Già-lạp-ca không còn nhận được quà biếu và mất hết những lợi lộc. Y tức tối nên đã vu khống Bồ-tát với vua. Y nói:

– Tâu Đại vương, Pháp Tràng hiền trí muốn chiếm đoạt vương quốc của Đai vương!

Nhưng nhà vua không tin, ông cấm Già-lạp-ca không được nói như vậy.

Già-lạp-ca nói:

– Nếu Đại vương không tin thần thì khi nào ông ấy đến, Đại vương hãy nhìn ra cửa sổ. Rồi Đại vương sẽ thấy rằng, ông ta đã thâu tóm toàn bộ kinh thành vào trong tay mình.

Nhà vua nhìn thấy đám đông vây quanh Bồ-tát ở trong pháp đường thì nghĩ: “Đó là đoàn tuỳ tùng của ông ta.” Vì thế ông hỏi vị tướng quân:

– Này tướng quân, chúng ta nên phải làm gì?

– Tâu Đại vương, chúng ta phải giết chết ông ta.

– Làm sao chúng ta có thể giết được ông ta khi chúng ta không tìm ra được nơi ông ta một trọng tội nào cả?

– Thần có một cách. Vị tướng quân nói.

– Cách gì?

– Hãy bảo ông ta làm điều mà ông ta không thể làm được. Và khi ông ta không làm được, hãy lấy lý do đó để giết ông ta.

– Nhưng đối với ông ta có điều gì là không thể làm được chứ?

Tướng quân nói:

– Tâu đại vương, một khu vườn có đất đai tốt phải mất ít nhất hai năm hoặc bốn năm trồng trọt và chăm sóc thì cây mới trổ quả. Đại vương hãy gọi ông ta đến và nói: “Ta muốn có một khu vườn để tiêu khiển vào ngày mai. Khanh hãy làm cho ta một khu vườn!” Ông ta sẽ không thể làm được điều này và chúng ta sẽ giết chết ông ta vì tội đó.

Nhà vua nói với Bồ-tát.

– Này bậc hiền trí, trẫm đã giải trí quá đủ trong khu vườn cũ của trẫm. Bây giờ trẫm muốn giải trí trong một khu vườn mới. Khanh hãy làm cho trẫm một khu vườn mới! Nếu khanh không làm được, khanh phải chết.

Bồ-tát nghĩ: “Điều này chắc chắn do Già-lạp-ca bày ra để nhà vua chống lại ta, vì y không nhận được quà biếu.” Rồi Ngài nói với vua:

– Tâu đại vương, thần sẽ lo liệu việc đó.

Rồi Ngài đi về nhà. Sau bửa ăn, Ngài nằm trên giường suy nghĩ. Lúc ấy, ngai của vua trời Đế thích (Sakka) trở nên nống. Đế Thích quán sát và nhận thấy nỗi khó khăn của Bồ-tát, liền đi nhanh đến, vào trong phòng ngủ của Ngài, bay lơ lững giữa khoảng không và hỏi:

– Thưangười hiền trí, ngài đang suy nghĩ điều gì vậy?

– Ngài là ai? Bồ-tát hỏi.

– Ta là vua trời Đế Thích.

– Nhà vua ra lệnh cho ta làm một khu vườn và ta đang đang suy nghĩ về điều đó. Bồ-tát nói.

– Thưa người hiền trí, đừng lo lắng quá lắm. Ta sẽ làm cho Ngài một khu vườn giống như khu rừng Nan-đà (Nandana) và Tâm-la (Cittalatā)! Ta sẽ làm khu vườn đó ở đâu?

Bồ-tát nói:

– Hãy làm tại chỗ ấy.

Vua trời Đế Thích làm một khu vườn và sau đó quay trở về thiên giới.

Ngày hôm sau, Bồ-tát trông thấy khu vuờn thật sự ở đấy và đến chầu vua.

– Tâu Đại vương, khu vườn đã làm sẵn. Mời Đại vương đến đó giải trí!

Nhà vua đi đến nơi ấy và trông thấy một khu vườn được bao quanh bằng một hàng rào mười tám khuỷu tay, phủ màu đỏ son, có nhiều cổng và ao hồ, cùng với nhiều loại cây đẹp đầy hoa trĩu quả! Nhà vua nói với Già-lạp-ca:

– Vị hiền trí ấy đã thi hành mệnh lệnh của ta. Bây giờ chúng ta phải làm gì?

Già-lạp-ca trả lời:

– Tâu đại vương! Nếu trong một đêm mà ông ta có thể làm được một khu vườn thì chẳng lẽ nào ông ta lại không thể cướp được vương quốc của đại vương?

– Đúng vậy, chúng ta phải làm gì?

– Chúng ta sẽ bắt ông ta thi hành một việc làm không thể làm được khác.

– Việc đó là gì? Nhà vua hỏi.

– Chúng ta sẽ ra lệnh cho ông ta làm một cái hồ có bảy loại châu báu!

Nhà vua đồng ý và bảo Bồ-tát làm như vậy:

– Thưa tôn sư, tôn sư vừa làm xong một khu vườn, bây giờ xin hãy làm một cái hồ bằng bảy loại báu để cho tương xứng với khu vườn đó. Nếu tôn sư không làm được cái hồ đó thì tôn sư phải chết!

Bồ-tát trả lời:

– Tuân chỉ, tâu đại vương, thần sẽ cố gắng làm một cái hồ như vậy.

Sau đó Đế thích làm một cái hồ rất tráng lệ, có một trăm bến nước, có một ngàn vật báu khảm, được các hoa sen năm sắc khác nhau bao phủ, giống như hồ nước ở vườn Nan-đà.

Ngày kế, Bồ-tát trông thấy cái hồ này và tâu với nhà vua:

– Đại vương hãy xem, cái hồ đã được làm xong!

Nhà vua nhìn thấy hồ và hỏi Già-lạp-ca nên phải làm gì. Y nói:

– Tâu đại vương, lệnh cho ông ta làm một căn nhà tương xứng với cái hồ này.

Vua nói với Bồ-tát:

– Thưa tôn sư, tôn sư hãy làm một ngôi nhà mà tất cả đều bằng ngà để cho tương xứng với khu vườn và cái hồ. Nếu không làm được, tôn sư phải chết!

Sau đó Đế Thích làm cho Ngài một căn nhà giống như vậy. Ngày hôm sau, Bồ-tát trông thấy nó và tâu với vua. Khi vua nhìn thấy nó, ông lại hỏi Già-lạp-ca nên phải làm gì. Già-lạp-ca bảo ông lệnh cho Bồ-tát làm một viên ngọc ma ni tương xứng với căn nhà. Vua nói với Ngài:

– Thưa bậc hiền trí, xin hãy làm một viện ngọc ma ni tương xứng với căn nhà bằng ngà này. Bằng ánh sáng của ngọc châu, trẫm sẽ dạo chơi và ngắm nhà. Nếu tôn sư không thể làm được một viện ngọc như thế, tôn sư phải chết!

Sau đó Đế Thích cũng làm cho Bồ-tát một viên ngọc ma ni. Ngày hôm sau, Bồ-tát nhìn thấy viên ngọc. Khi vua trông thấy viên ngọc, ông lại hỏi Già-lạp-ca nên phải làm gì. Y trả lời:

– Tâu đại vương! Thần nghĩ có một vị thần linh nào đó đã làm mọi thứ mà Bà-la-môn Phạm Tràng mong muốn. Bây giờ ra lệnh cho ông ta làm một thứ nào đó mà ngay cả một vị thần linh cũng không thể làm được. Dù là một thiên thần cũng không thể làm một người có đủ bốn đức. Do đó ra lệnh cho ông ta hãy tìm một người giữ bốn đức này.

Vì thế vua nói Bồ-tát:

– Thưa tôn sư, tôn sư đã làm một khu vườn, một cái hồ, một cung điện và một viên ngọc châu toả ánh sáng. Bây giờ trẫm muốn tôn sư tìm một người giữ đủ bốn đức để bảo vệ khu vườn. Nếu không làm được, tôn sư phải chết!

Bô-tát trả lời:

– Xin vâng lệnh, nếu có thể thần sẽ tính việc này.

Bồ-tát trở về nhà, dùng một bửa cơm ngon và nằm nghỉ. Buổi sáng, Ngài thức dậy, ngồi trên dường và nghĩ thế này: “Những gì vua trời Đế Thích có thể làm được bằng thần lực của mình thì ngài đã làm, nhưng ngài không thể làm ra một người giữ vườn có đủ bốn đức được. Điều này không thể khác. Thôi, ta sẽ vào rừng và chết cô độc ở đấy còn tốt hơn chết trong tay của những kẻ khác.”

Vì thế, không nói với ai lời nào, Bồ-tát đi xuống lầu, rời kinh thành bằng cổng chính và đi vào rừng. Ở đấy, Ngài ngồi dưới một gốc cây và quán tưởng thiện pháp. Nhận biết điều đó, Đế Thích hóa làm một người thợ rừng, đi đến chỗ Bồ-tát và nói:

– Thưa Bà-la-môn, ngài trẻ trung và gầy yếu, tại sao lại ngồi trong chốn rừng sâu này, trông ngài dường như trước đây chưa bao giờ thấy khổ đau?

Khi hỏi vậy xong, Đế Thích đọc lên bài kệ thứ nhất:

Trông ngài như từng chưa khổ đau,

Giờ không nhà cửa, chốn rừng sâu

Như người nghèo khó, đời thống khổ

Ngồi dưới cây đây trong cô sầu.

Bồ-tát nghe vậy đã trả lời qua bài kệ thứ hai:

Trông tôi như từng chưa khổ đau

Giờ không nhà cửa, chốn rừng sâu,

Như người nghéo khó, đời thống khổ,

Dưới cây quán chiếu Thánh pháp mầu.

Đế thích nói:

– Thưa Bà-la-môn, nếu vậy, tại sao ngài lại ngồi nơi đây?

Bồ-tát trả lời:

– Thưa ngài, nhà vua đòi một người giữ vườn có đủ bốn đức, tôi không thể tìm ra được một người như vậy nên nghĩ: Tại sao phải chịu chết trong tay của kẻ ấy? Ta sẽ vào rừng sâu và chết cô độc ở đó. Vì thế tôi đến ngồi ở đây.

Nghe thế, Đế Thích nói:

– Thưa Bà-la-môn, ta là vua trời Đế Thích. Ta đã làm vườn và những thứ khác cho ngài. Một người giữ vườn có đủ bốn đức thì ta không thể làm được, nhưng ở trong nước của ngài có một người tên là Hiệp-đạt-mạt-ni, người làm đồ trang sức đầu, ông ấy là người có đủ bốn đức. Nếu ngài muốn một người giữ vườn như vậy thì hãy đi tìm người thợ này làm công việc đó.

Sau khi khuyên bảo và an ủi Bồ-tát, vua trời Đế Thích trở về kinh đô thiên giới của mình .

Bồ-tát trở về nhà, sau khi ăn điểm tâm xong, đã đi đến cổng hoàng cung và nhìn thấy Hiệp-đạt-mạt-ni ở đó. Ngài cầm lấy tay anh ta và hỏi:

– Này anh bạn Hiệp-đạt-mạt-ni, tôi nghe rằng bạn là người có đủ bốn đức, điều đó có thật chăng?

– Ai nó với ngài như vây? Người kia hỏi.

– Vua trời Đế Thích.

– Tại sao ông ta nói với ngài?

Bồ-tát thuật lại mọi chuyện và nói lý do. Người kia nói:

– Thưa vâng, tôi có đủ bốn đức.

Bồ tát cầm lấy tay anh ta và dẫn đến yết kiến nhà vua.

– Tâu Đại vương, đây là Hiệp-đạt-mạt-ni, một người có đủ bồn đức. Nếu cần một người giữ vườn thì Đại vương hãy để anh ta làm việc đó.

Vua hỏi Hiệp-đạt-mạt-ni:

– Nghe nói khanh có đủ bốn đức, thật thế không?

– Tâu Đại vương, đúng như vậy.

– Bốn đức ấy là gì? Vua hỏi.

Anh ta nói:

Tôi người không đố kỵ

Tôi người không uống rượu

Tôi người không ái nhiễm

Không sân hận là tôi.

Nhà vua hỏi:

– Này Hiệp-đạt-mạt-ni, có phải khanh nói khanh không có đố kỵ?

– Đúng vậy, tâu Đại vương.

– Duyên do gì mà khanh không đố kỵ?

– Tâu đại vương, xin hãy lắng nghe!

Rồi qua những dòng kệ sau, anh ta kể lại duyên do nào khiến anh ta cảm thấy không đố kỵ:

Xưa tôi bỏ ngục Tư tế quan

Điều mà nữ nhân khiến tôi làm.

Tư tế dạy tôi nguồn thánh trí

Đố kỵ từ đó tôi không mang.

Rồi nhà vua hỏi:

– Này Hiệp-đạt-ma-ni, tại sao khanh từ bỏ việc uống rượu?

Người này trả lời qua bài kệ sau:

Tôi xưa do vì uống rượu say

Nên ăn thịt con ở trên khay

Tỉnh ra lòng vô cùng đau khổ

Thề không uống rượu mãi đến nay.

Rồi nhà vua hỏi:

– Này khanh, nhưng điều gì khiến cho khanh không còn ái nhiễm?

Anh ta giải thích bằng những lời kệ này:

Kỳ-đạt-ngoã-tát là tên tôi.

Thuở ấy tôi là một đại vương

Con tôi đập vỡ bát đức Phật

Vì thế phải chết, tôi đau thương.

Rồi nhà vua hỏi:

– Này khanh, còn điều gì khiến cho khanh không sân hận?

Người thợ giảng rõ vấn đề bằng những dòng kệ này:

Tôi A-la-ca, bảy năm trời

Tu tập từ bi mãi không thôi.

Sau đó bảy đời tôi sống ở

Cảnh giới Phạm thiên cõi cao vời.

Khi Hiệp-đạt-ma-ni giảng giải về bốn đức của mình xong, nhà vua ra hiệu cho những người xung quanh. Và ngay lập tức, tất cả triều thần, Bà-la-môn, gia chủ… đứng dậy mắng nhiếc Già-lạp-ca:

– Ôi, thật xấu hổ, ngươi là một tên côn đồ, một tên cướp nhận của hối lộ! Nguơi không nhận được của hối lộ nên tìm cách giết bậc Hiền trí bằng cách vu khống cho Ngài!

Họ nắm lấy tay chân y, tống cổ y ra khỏi hoàng cung. Rồi chụp lấy bất cứ thứ gì có được, đất đá, gậy gộc… họ đánh vào đầu y và kết liểu đời y. Sau đó nắm lấy chân y, họ kéo lê và ném y vào một đống phân.

Từ đó về sau, nhà vua cai trị vương quốc bằng sự công chính, và đến khi mang chúng đã tái sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là Già-lạp-ca, Xá-lợi-phất là người thợ Hiệp-đạt-ma-ni, còn ta chính là Phạm Tràng.

 


Ban Tu Thư Phật Học

Cập nhật: 03/22/2006