CHƯƠNG VIII
PHẨM CA SA
(Kāsāva)
SỐ 221
CHUYỆN CHIẾC Y CÀ SA
(Tiền thân Kāsāva)
Nếu ai còn đầy lỗi xấu xa…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về Đề-bà-đạt-đa.
Chuyện xảy ra tại thành Vương Xá (Rājagaha). Một
thời, bậc Tướng Quân Chánh Pháp (Xá-lợi-phất) cùng với năm trăm Tỳ-kheo
sống tại Trúc Lâm. Còn Đề-bà-đạt-đa cùng với một nhóm người xấu xa giống
ông sống ở Tượng Đầu sơn (Gayāsīsa).
Bấy giờ, dân chúng thành Vương Xá thường họp lại
với nhau chung làm việc bố thí. Một thương nhân đến đó buôn bán đã mang
theo một tấm y vàng ướp hương thơm rất đẹp và xin phép được gia nhập vào
hội chúng bố thí, sau đó trao tấm y này như là một sự đống góp. Dân
chúng thị thành tổ chức một cuộc đại thí. Tất cả những phẩm vật tùy
nguyện do hội chúng đống góp đều được cúng dường hết, chỉ còn lại tâm y
này. Dân chúng tập trung lại và nói:
– Chỉ còn lại tấm y ướp hương rất đẹp này, nên
cúng dường cho ai đây, Tôn giả Xá-lợi-phất hay là Đề-bà-đạt-đa?
Một số người ủng hộ Xá-lợi-phất. Nhưng một số
khác nói:
– Tôn giả Xá-lợi-phất chỉ ở đây một vài ngày và
sau đó tùy thời mà đi. Còn Đề-bà-đạt-đa luôn sống gần kinh thành chúng
ta. Tôn giả là nơi nương tựa của chúng ta trong lúc may mắn cũng như rủi
ro. Nên dâng cúng tấm y này cho Đề-bà-đạt-đa!
Họ đưa ra biểu quyết và những người biểu quyết
cho Đề-bà-đạt-đa chiếm đa số, vì thế họ dâng tấm y cho Đề-bà-đạt-đa.
Đề-bà-đạt-đa cắt may và nhuộm vàng, rồi sau đó đắp y ấy.
Lúc bấy giờ, ba mươi thầy Tỳ-kheo từ thành Xá-vệ
đến đảnh lễ đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ xong, họ bạch với Ngài tất cả
sự việc này. Rồi họ nói thêm:
– Bạch Thế Tôn, Đề-bà-đạt-đa khoác lên mình biểu
tượng của một vị A-la-hán trong khi ông ấy không xứng đáng như vậy.
Đức Thế Tôn nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải lần đầu tiên
Đề-bà-đạt-đa khoác lên mình chiếc áo của một bậc thánh, thực hiện một sự
ăn mặc không thích đáng, mà đời trước ông ta cũng từng làm như vậy.
Sau đó, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời quá
khứ.
* * * Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua nước
Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh vào đời làm một chú voi sống ở vùng Tuyết
Sơn, thủ lĩnh của một đàn voi tám mươi ngàn con sống trong một khu rừng.
Một người nghèo khó sống ở Ba-la-nại nhìn thấy
những người thợ làm ngà voi đang làm những chiếc vòng và các loại nữ
trang tại tiệm làm ngà voi, bèn hỏi họ rằng họ có muốn mua những chiếc
ngà voi không nếu ông ta đem đến cho họ. Họ trả lời họ muốn mua.
Vì thế, ông ta mang vũ khí, khoác lên mình một
chiếc cà sa, bao một dãi vải quanh đầu, đội lốt hình thức một vị Bích
Chi Phật, rồi đứng rình nơi con đường mà những con voi thường đi qua,
dùng vũ khí giết chết một con và sau đó bán những chiếc ngà cho cửa hiệu
ở Ba-la-nại. Ông ta kiếm sống bằng cách thức như vậy. Từ đó, y thường
xuyên ra tay giết lấy con voi đi cuối đàn voi do Bồ-tát làm chủ đàn.
Ngày lại ngày, đàn voi càng trở nên ít đi, vì thế chúng đến hỏi Bồ-tát
tại sao số lượng đàn voi ngày càng hao mòn dần đi như vậy. Bồ-tát biết
được nguyên do. Ngài nghĩ: “Có một người đứng nơi đường đàn voi đi, giả
dạng một vị Bích Chi Phật, phải chăng người này đã giết những con voi?
Ta sẽ tìm hiểu manh mối.” Vì thế một hôm, Bồ-tát để cho đàn voi đi trước
còn mình đi theo sau cùng. Người kia nhìn thấy Bồ-tát liền cầm vũ khí
xông vào bắt Ngài. Bồ-tát xoay người đứng trụ, suy nghĩ: “Ta sẽ quật y
xuống đất và giết chết y!” Nghĩ thế, Bồ-tát tung vòi của mình ra. Nhưng
vào khi ấy, Bồ-tát nhìn thấy chiếc cà sa mà gã kia đang mặc, liền nói:
– Ta nên tỏ lòng tôn kính đối với chiếc cà sa
cao quý!
Vì thế, thu vòi lại, Bồ-tát hét lên:
– Hỡi người kia! Chiếc áo cà sa kia là biểu
tượng của một bậc thánh, nó không thích hợp với ngươi, sao ngươi lại mặc
nó?
Rồi Ngài đọc lên những dòng này:
Nếu ai còn đầy lỗi xấu xa
Dám khoác lên mình áo cà sa,
Mà không chế ngự, không tin pháp,
Vị ấy không xứng mặc cà sa.
Người nào từ bỏ lỗi xấu xa
Vững vàng giới hạnh, lòng thiết tha
Chế ngự dục tình, tin chánh pháp,
Vị ấy xứng đáng mặc cà sa.
Khiển trách người này như vậy xong, Bồ-tát bảo y
đừng bao giờ đến đấy nữa, nếu không y sẽ mất mạng vì điều đó. Sau đó
Bồ-tát đuổi y đi.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là người giết voi, con
ta chính là thủ lĩnh của đàn voi.
Số 222
CHUYỆN CON KHỈ TIỂU NAN-ĐỀ-DA
(Tiền thân Cūla-Nandiya)
Ta nhớ lại lời thầy…
Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về Đề-bà-đạt-đa.
Một hôm, chư Tỳ-kheo bàn luận trong Chánh pháp
đường:
– Thưa các Pháp hữu, Đề-bà-đạt-đa thô bạo, lỗ
mãng và bạo ngược, dùng nhiều mưu chước độc ác để chống đối đức Phật
Chánh Đẳng Giác. Ông ta lăn đá, thậm chí còn sử dụng cả voi say Nāḷāgiri.
Ông ta không có từ tâm đối với đức Như Lai.
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi chư vị đang thảo luận
về điều gì khi cùng ngồi lại nơi ấy. Họ bạch sự việc với Ngài. Thế rồi
Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên Đề-bà-đạt-đa thô bạo, lỗ mãng và tàn nhẫn đối với ta thôi đâu.
Trước đây, ông ta cũng đã từng như vậy.
Rồi Ngài kể cho họ một câu chuyện đời trước.
* * * Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh làm một chú Khỉ có tên là Nan-đề-da. Bồ-tát
sống trong vùng Tuyết Sơn cùng với em của mình có tên là Tiểu Nan-đề-da.
Hai người hướng dẫn một đàn khỉ tám mươi ngàn con và chăm sóc người mẹ
mù loà của mình.
Họ để mẹ mình nằm trong một cái ổ ở bụi cây, rồi
đi vào rừng tìm các loại trái cây ngon ngọt gửi về cho mẹ. Nhưng những
con khỉ mang trái cây về đã không giao trái cây lại cho bà. Khỉ mẹ bị
cơn đói dày vò nên cơ thể trở nên tiều tụy, không còn thứ gì ngoài da
bọc xương. Bồ-tát thấy vậy bèn hỏi mẹ:
– Thưa mẹ, con đã gởi rất nhiều trái cây ngon
ngọt về cho mẹ. Vậy điều gì đã làm cho mẹ gầy rạc tiều tụy như thế?
– Con trai ạ, mẹ không hề nhận được thứ gì cả!
Bồ-tát suy nghĩ: “Nếu ta chăm sóc đàn khỉ thì mẹ
của ta sẽ chết mất! Ta sẽ rời đàn khỉ để chăm sóc một mình mẹ ta.” Vì
thế, Bồ-tát gọi em của mình đến và nói:
– Em ạ, em hãy trông nom đàn khỉ, còn anh chăm
sóc mẹ của chúng ta.
Khỉ em trả lời:
– Thưa anh, không được đâu, trông nom, điều
khiển một đàn khỉ thì có nghĩa gì với em chứ? Em sẽ chăm sóc một mình mẹ
chúng ta!
Thế là hai chú khỉ đồng lòng rời đàn khỉ. Họ đưa
mẹ của mình xuống Tuyết sơn, đặt bà trên một cây đa ở vùng biên địa và
chăm sóc bà.
Bấy giờ, có một vị Bà-la-môn sống ở Xoa-thi-la
(Takkasilā), sau khi học xong những ngành nghề với một vị thầy nỗi tiếng
thế gian đã đến chào thầy ra về. Vị thầy này có thần lực nhìn được tướng
người nên nhận biết rằng người học trò của mình là một người thô bạo, lỗ
mãng và hung dữ. Ông nói:
– Này con, con là một người thô bạo, lỗ mãng và
hung dữ. Những người như vậy không bao giờ gặp được điều an lành, họ
phải nhận chịu sự huỷ diệt và chịu thống khổ khóc liệt. Vì thế, con
không nên thô bạo, cũng đừng làm những gì mà mà về sau con cảm thấy ăn
năn.
Khuyên răn như vậy rồi, ông để cho người thanh
niên đi.
Người thanh niên cáo từ thầy mình và trở về
Ba-la-nại. Ở đấy, anh ta kết hôn và ổn định gia thất. Nhưng không thể
kiếm sống bằng những nghề khác, anh ta quyết định kiếm sống bằng nghề
cung tên. Vì thế, anh ta bắt đầu làm việc như một người thợ săn và rời
khỏi Ba-la-nại để kiếm sống. Trú ở một ngôi làng sát biên rừng, anh ta
đeo cung và bao tên đi khắp rừng. Anh ta sống bằng cách bán thịt các
loại thú rừng mà anh ta giết được.
Một hôm, đang trở về sau một ngay không bắt được
thừ gì cả trong rừng, anh ta trông thấy có một cây đa đứng bên biên một
trảng đất trống. Anh ta nghĩ: “Có thể có một thứ gì đó ở đấy” và đi đến
cây đa. Bấy giờ, hai chú khỉ vừa cho mẹ ăn những trái cây ngon ngọt xong
và đang cùng ngồi cạnh mẹ trên cây thì nhìn thấy gã thợ săn đi đến. Họ
núp vào giữa các nhành cây và nói:
– Gã sẽ làm gì khi nhìn thấy mẹ chúng ta nhỉ?
Thế rồi, gã thợ săn tàn nhẫn này đi đến cây, nhìn
thấy khỉ mẹ mù loà, già yếu thì nghĩ: “Sao ta lại quay về tay không chứ?
Trước tiên ta phải bắn con khỉ này đã!” Rồi gã dương cung lên bắn khỉ
mẹ. Bồ-tát thấy vậy liền nói với em:
– Tiểu Nan-đề-da em ơi, gã này muốn bắn mẹ chúng
ta! Anh sẽ cứu mạng mẹ. Khi anh chết rồi, em phải chăm sóc mẹ nhé.
Nói vậy xong, Bồ-tát nhảy xuống cây và kêu lớn:
– Hỡi người kia, đừng bắn mẹ ta! Mẹ ta mù loà,
già yếu. Ta sẽ thế mạng cứu bà. Đừng giết bà, hãy giết ta đi!
Khi thấy gã thợ săn đã nhận lời, Bồ-tát liền ngồi
xuống trước tầm tên. Gã thợ săn nhẫn tâm bắn Bồ-tát. Khi Bồ-tát ngã
xuống rồi, gã thợ săn lại chuẩn bị cung tên để bắn khỉ mẹ. Tiểu
Nan-đề-da nhìn thấy vậy, liền nghĩ: “Gã thợ săn kia muốn bắn mẹ của ta.
Dầu mẹ ta chỉ sống thêm được một ngày thôi thì cũng là một ngày nhận
được lộc đời ban tặng, ta sẽ thế mạng mình để cứu mạng mẹ ta.” Do đó khỉ
đi ra khỏi cây và nói:
– Hỡi người kia, đừng bắn mẹ của ta! Ta sẽ thế
mạng mình để cứu mạng mẹ ta. Hãy bắn ta đi, hãy nhận lấy mạng sống của
hai anh em ta và dung thứ cho mạng sống của mẹ ta!
Gã thợ săn ưng thuận, và Tiểu Nan-đề-da ngồi
xuống trong tầm tên. Gã thợ săn bắn chết chú khỉ này và nghĩ: “Ta sẽ bắn
con khỉ già kia cho lũ con ta ở nhà mời được.” Rồi gã bắn luôn khỉ mẹ.
Sau đó, gã treo cả ba trên đòn gánh và quay về nhà. Vào lúc ấy, sấm sét
nổi lên đánh xuống nhà gã thợ săn độc ác này, thiêu cháy vợ, hai đứa con
cùng với căn nhà của gã, không để lại thứ gì ngoại bộ sườn và những cột
tre đứng trơ.
Một người nhìn thấy gã trên đường vào làng đã kể
lại với gã sự việc đó. Buồn đau vì vợ con đã mất, ngay tại chỗ ấy, gã
vứt bỏ đòn gánh cùng những con thú, quăng cung tên, cởi bỏ áo quần, trần
truồng trở về nhà và dang tay khóc lóc. Khi ấy, một cây cột bị gãy, rơi
xuống và đập vỡ đầu gã. Rồi mặt đất nứt ra, lửa từ địa ngục bốc lên. Khi
sắp bị nuốt chửng vào lòng đất, gã nhớ lại lời cảnh báo của người thầy:
“Đây là lời dạy mà Bà-la-môn Ba-la-xa-na (Pārāsariya) trước đây đã dạy
cho ta!” Gã khóc than và thốt lên hai bài kệ này:
Ta nhớ lại lời thầy
Đây những gì ngài dạy!
Cẩn trọng đừng làm ác
Điều sẽ hối sau này.
Người ta làm điều gì
Sẽ gặp quả như vậy
Người tốt gặt quả tốt
Ác, quả không sai chạy,
Vậy nên nhân thế nào
Thì trổ quả như vậy.
Than khóc vậy xong, gã rơi xuống lòng đất và bị
đoạ vào trong cõi A-tỳ địa ngục.
* * * Kết thúc pháp thoại mà qua đó đã trình bày sự
kiện vào đời trước cũng như vào lúc câu chuyện được kể, Đề-bà-đạt-đa thô
bạo, lỗ mãng và nhẫn tâm, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là người thợ săn,
Xá-lợi-phất là người thầy danh tiếng, A-nan là Tiểu Nan-đề-da,
Ma-ha-bà-xà-bà-đề là khỉ mẹ, còn ta chính là Nan-đề-da.
Số 223
CHUYỆN THỨC ĂN ĐI ĐƯỜNG
(Tiền thân Puṭa-Bhatta)
Kính trọng vị được kính…
Trong khi ở tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về một người địa chủ.
Tương truyền rằng, một lần nọ, một người địa chủ
sống ở thành Xá-vệ (Sāvatthi) buôn bán với một người địa chủ ở miền quê.
Sau khi đưa vợ của mình đi cùng, ông ta đến gặp người địa chủ ở quê để
đòi nợ, nhưng người mắc nợ cương quyết không trả. Người kia trong cơn
giận đã trở về nhà mà không chịu ăn sáng. Trên đường về, một vài người
gặp ông, biết ông ông đói lã nên cho ông thức ăn và bảo chia sớt bớt cho
vợ.
Khi nhận lấy thức ăn, ông ta không muốn chia phần
cho vợ nên nói:
– Bà ạ, đây là một nơi nỗi tiếng cướp bốc, vì thế
tốt hơn bà nên đi trước.
Khi đẩy vợ đi trước rồi, ông ta ăn hết thức ăn,
sau đó chỉ cho vợ xem cái bát không và nói:
– Này bà, hãy nhìn này! Người ta đã cho tôi một
cái bát không!
Bà vợ đoán biết chính ông ta là người đã ăn hết
thức ăn nên rất lấy làm khó chịu.
Khi đi ngang qua tịnh xá Kỳ Viên, hai người muốn
vào đó xin một ít nước uống. Đức Thế Tôn ngồi dưới bống mát của hương
thất chờ gặp họ, giống như người thợ săn ngồi chờ thú. Ngài ân cần tiếp
đón họ và hỏi:
– Này Tín nữ, chồng của bà có tử tế và yêu
thương bà không?
Bà trả lời:
– Bạch Thế Tôn, con yêu thương ông ấy, nhưng ông
ấy không yêu thương con chút nào cả. Chưa nói đâu xa, chính ngày hôm
nay, trên đường trở về, người ta cho ông ấy một bát thức ăn nhưng ông ấy
chỉ ăn một mình mà không cho con một miếng nào.
– Này tín nữ, điều ấy luôn như vậy. Bà tử tế và
thương yêu ông ấy, nhưng ông ấy thì không thương yêu bà. Tuy thế, khi
được người hiền trí giúp đỡ, ông ấy hiểu được phẩm giá của bà nên hết
mực kính trọng và thương yêu bà.
Rồi theo lời thỉnh cầu của bà, đức Thế Tôn kể một
câu chuyện đời qua khứ.
* * * Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh vào một gia đình đại thần. Khi đến tuổi
trưởng thành, Ngài trở thành người cố vấn cho vua trong các việc về thế
sự cũng như tâm linh. Một hôm, vì sợ con trai mình làm phản nên vua đã
đưa thái tử đi xa. Mang theo vợ của mình, thái tử rởi khỏi kinh thành và
đến một ngôi làng ở nước Ca-thi (Kāsi) rồi sống ở đấy. Khi nghe tin vua
cha băng hà, thái tử trở lại Ba-la-nại với suy nghĩ: “Ta có thể nhận lấy
vương quốc thuộc quyền thừa kế của ta.”. Trên đường về, một người nọ cho
thái tử một món xúp và nói:
– Anh hãy ăn đi và cho vợ anh ăn với.
Nhưng chàng không chia cho vợ mình một chút nào
mà ăn hết một mình. Cô vợ nghĩ chồng mình thật qúa nhẫn tâm nên hết sức
buồn bực.
Khi về đến Ba-la-nại, thái tử thừa kế vương quốc
của mình, lập vợ mình làm hoàng hậu. Rồi thái tử nghĩ: “Chừng đó quá đủ
cho cô ta rồi!” nên không thèm tỏ lòng quan tâm hay tôn trọng, thậm chí
không thèm hỏi nàng lấy một lời là nàng sống như thế nào.
Bồ-tát thấy vậy thì suy nghĩ: “Hoàng hậu hầu hạ
nhà vua tử tế và hết lòng yêu thương vua, nhưng vua lại không thèm để
tâm đến bà. Ta phải tìm cách làm cho vua tỏ lòng kính yêu bà mới được.”
Vì thế, Ngài đến gặp hoàng hậu, chào bà và đứng qua một bên. Bà hỏi:
– Này khanh, khanh đến đây có việc gì không?
Bồ-tát hỏi:
– Thưa hoàng hậu, làm sao chúng tôi có thể hầu
hạ hoàng hậu được? Hoàng hậu phải cho các lão phụ một mảnh vải hay một
đĩa cơm chứ?
– Này khanh, bản thân ta không hề nhận được một
thứ gì cả thì biết lấy gì để cho các khanh đây? Nếu ta đã nhận được, ta
đâu lại không cho các khanh? Nhà vua thật không cho ta một thứ gì cả.
Đừng nói việc đâu xa, khi đang trên đường về đây, ông ấy nhận được một
bát xúp và ăn hết một mình mà không hề cho ta một miếng.
– Thôi được, thưa hoàng hậu, hoàng hậu có thể
nói điều này trước mặt nhà vua chứ?
– Vâng được. Bà trả lời.
– Thế thì rất tốt. Hôm nay, khi thần đến chầu
vua, nếu thần có hỏi hoàng hậu thì hoàng hậu hãy trả lời giống như vừa
trả lời vậy. Chính ngày hôm nay thần sẽ làm cho lòng tốt của hoàng hậu
được biết đến.
Sau đó, Bồ-tát đi đến trước và có mặt nơi vua
thiết triều. Hoàng hậu cũng đến và đứng gần bên vua. Thế rồi Bồ-tát hỏi:
– Thưa hoàng hậu, bà thật là nhẫn tâm. Một mảnh
vải, một đĩa thức ăn mà bà cũng không thể cho các lão phụ sao?
Hoàng hậu trả lời:
– Này khanh, bản thân ta không nhận được một thứ
gì từ nhà vua cả thì có thể lấy gì để cho các khanh chứ?
– Thế bà không phải là hoàng hậu ư? Ngài hỏi.
Bà nói:
– Này khanh, địa vị của một hoàng hậu có nghĩa
lý gì khi không được kính trọng? Đòi gì nhà vua cho tôi vào lúc này?
Ngay khi nhận được một bát xúp trên đường về đây, ông ta còn không cho
tôi lấy một một miếng mà chỉ biết ăn một mình nữa kìa.
Bồ-tát hỏi nhà vua:
– Tâu đại vương, điều đó có thực sao?
Nhà vua thừa nhận. Khi thấy vua thừa nhận, Bồ-tát
nói:
– Vậy thì thưa hoàng hậu, tại sao hoàng hậu ở
lại nơi đây với vua trong khi vua không tử tế với hoàng hậu? Ở đời này,
sống với nhau mà không có tình yêu thì rất đau khổ. Trong khi hoàng hậu
sống nơi đây, chung sống với người không yêu thương mình, thì điều đó sẽ
mang lại cho hoàng hậu nỗi buồn khổ. Người đời kính trọng khi họ được
kính trọng. Còn khi thấy mình không được kính trọng nữa thì nên đi đến
một nơi khác, vì đời này còn rất nhiều người.
Rồi Ngài đọc lên những dòng kệ sau:
Kính trọng vì được kính
Thương yêu vì được thương
Sống tốt với người nào
Người đối mình hỗ tương.
Kính trọng sinh kính trọng
Điều đó không hề sai
Không nên giúp người nào
Mà họ không giúp lại.
Đáp lại sự hững hờ
Đừng ở là tốt nhất.
Nương gì vào một người
Mà tình yêu đã mất.
Cuộc đời này rộng lớn,
Và khi chim nhận ra
Cây cối không còn quả
Chúng vỗ cánh bay xa.
Khi nghe như vậy, nhà vua tỏ lòng kính trọng
hoàng hậu rất mực. Rồi từ đó trở đi, họ cùng chung sống với nhau trong
tình thương yêu và hoà hợp.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết
các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, hai vợ chồng người này
chứng được quả Dự lưu. Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Hai vợ chồng này trong cả hai trường hợp đều
giống nhau, còn ta chính là người cố vấn hiền trí.
Số 224
CHUYỆN CON CÁ SÂU
(Tiền thân Kumbhīla)
Hầu vương ngươi hãy biết…
Trong khi ở tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về Đề-bà-đạt-đa.
* * *
Hầu vương ngươi hãy biết
Chân thật và Trí tuệ
Kiên nhẫn và hiếu đạo,
Bốn đức vượt tà kiến
Nếu không có bốn đức
Là Chân thật, Trí tuệ
Kiên nhẫn và Hiếu đạo
Không thể vượt tà kiến.
Số 225
CHUYỆN TÁN THÁN LÒNG KHAM NHẪN
(Tiền thân Khanti-Vaṇṇna)
Có người đàn ông trong nhà thần…
Trong khi ở tại tinh xá Kỳ Viên
(Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về vua Câu-tát-la (Kosala).
Một vị đại thần rất hữu ích cho vua đã làm điều
bất chính trong hậu cung. Mặc dù biết thủ phạm là ai, nhưng nhà vua đã
nuốt nhục, bởi vì người này hữu ích cho ông. Vua thuật lại điều đó với
đức Thế Tôn. Thế Tôn nói:
– Thưa đại vương, vào đời trước, những vị vua
khác cũng từng làm theo cách ấy.
Rồi theo lời thỉnh cầu của vua, đức Thế Tôn kể
câu chuyện sau.
* * * Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại, một vị đại thần đã làm điều dan díu bất chính trong hậu cung.
Và ở tại nhà vị đại thần này, một người hầu cũng làm điều dan díu bất
chính như vậy. Không thể chịu đựng nỗi việc bị sỉ nhục như vậy, vị đại
thần này đã dẫn người hầu kia đến trước nhà vua và tâu:
– Tâu hoàng thượng, thần có một người hầu làm
được tất cả mọi công việc, nhưng y đã làm cho thần trở thành người chồng
bị cắm sừng. Thần phải làm gì với y đây?
Nói xong, ông ta đọc lên bài kệ sau:
Có người đàn ông trong nhà thần
Là một người hầu nhiệt tâm cao
Lòng tin của thần y phụ bạc
Tâu vua! Bảo thần phải làm sao?
Khi nghe vậy, vua đọc lên bài kệ thư hai:
Người hầu như vậy trẫm cũng có
Thực sự, y đang đứng nơi đây!
Người tốt, trẫm nghĩ là hiếm có
Vì thế kiên nhẫn, trẫm khuyên vầy.
Vị triều thần nhận biết rằng vua nói như vậy là
muốn ám chỉ ông nên từ đó về sau không dám làm điều dan díu bất chính
trong hậu cung nữa. Còn người hầu kia cũng như vậy, sau khi đến triều và
biết vị đại thần đã kể hết sự việc cho nhà vua nên về sau không dám làm
điều đó nữa.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Thuở đó, ta là vua nước Ba-la-nại.
Còn vị đại thần của vua Ba-la-nại, biết nhà vua
đã kể hết chuyện của mình với đức Thế Tôn nên về sau cũng không bao giờ
dám làm điều như thế trở lại.
Số 226
CHUYỆN CON CÚ
(Tiền thân Kosiya)
Rời nhà phải đúng lúc…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về vua nước Câu-tát-la (Kosala). Vị vua này
khởi binh đánh dẹp một cuộc phản loạn ở vùng biên giới vào một mùa thời
tiết xấu trong năm. Những tình huống của câu chuyện đã được mô tả ở
chuyện số 176. Như trước đây, đức Thế Tôn kể cho nhà vua một câu chuyện.
* * * Một thuở, vua nước Ba-la-nại khởi binh vào một
thời điểm không thích hợp, và đống doanh trại trong khu ngự viên. Vào
lúc đó, một con Cú bay vào một bụi tre để trốn. Một bầy quạ bay đến đấy,
chúng nói:
– Chúng ta sẽ bắt nó khi nó bay ra.
Rồi chúng bao vây quanh bụi tre. Cú không chờ đến
khi hoàng hôn buông xuống, mà bay ra trước thời điểm thích hợp của mình
và cố gắng trốn thoát. Những con quạ vây lấy nó, dùng mỏ mổ nó cho đến
khi nó rơi xuống đất. Nhà vua thấy vậy liền hỏi Bồ-tát:
– Thưa bậc Hiền trí, xin nói cho trẫm biết tại
sao những con quạ tấn công con cú này?
Bồ-tát trả lời:
– Thưa đại vương, vì nó đã rời nơi ở của mình
trước một thời điểm thích hợp, cho nên mới rơi vào cảnh khốn đốn như
thế. Do đó, trước một thời điểm thích hợp,chúng ta không nên rời chỗ ở
của mình.
Để làm sáng tỏ vấn đề này, Bồ-tát đọc lên đôi bài
kệ:
Rời nhà phải đúng lúc
Không đúng lúc rời nhà
Dù nhiều người hay ít
Chắc chắn sẽ gặp hoạ.
Như con cú bất hạnh!
Bị chết bởi lũ quạ.
Người hoàn toàn tinh thông
Luật tắc và cách thức
Biết sở đoản người khác
Như chim cú thông minh
Người ấy sẽ vui sướng,
Chinh phục kẻ thù mình
Khi nghe vậy, nhà vua liền quay lại nhà.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, A-nan là nhà vua, còn ta chính là
vị đại thần hiền trí.
Số 227
CHUYỆN CON BỌ ĂN PHÂN
(Tiền thân Gūtha-Pāṇa)
Chúng ta là anh hùng…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên
(Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo.
Bấy giờ, tại một nơi cách tinh xá Kỳ Viên khoảng
ba phần tư dặm, có một thị trấn. Ở đó, người ta cúng dường rất nhiều cơm
bằng phiếu và bố thí những món ăn đặc biệt. Có một người thô lỗ sống ở
đây, gã ưa quấy rầy những Tỳ-kheo trẻ và các sa di đến đấy nhận thực
phẩm cúng dường.
– Ai là người ăn cơm? Ai là người uống nước? Ai
là người ăn cháo?
Gã nói và làm cho những người không thể trả lời
được cảm thấy xấu hổ. Họ qúa kinh hãi gã đến độ không còn ai muốn đến
làng.
Một hôm, một Tỳ-kheo đi đến phòng phát phiếu và
hỏi:
– Thưa hiền hữu, tại ngôi làng kia có cúng dường
thức ăn phải không?
– Đúng vậy, thưa hiền hữu. Nhưng ở đấy có một
người thô lỗ ưa chất vấn. Nếu thầy không trả lời những câu hỏi của anh
ta thì anh ta sẽ lăng mạ và chửi rủa thầy. Vì anh ta thường quấy rầy như
vậy nên không còn người nào muốn đến gần ngôi làng đó nữa.
Thầy kia nói:
– Thưa thầy, xin hãy chỉ dẫn cho tôi về nơi ấy,
tôi sẽ nhiếp phục anh ta, làm cho anh ta biết nhún nhường, khiến từ này
về sau mỗi khi nhìn thấy các thầy, anh ta phải chạy xa.
Các Tỳ-kheo chấp thuận và chỉ dẫn những điều cần
thiết. Thầy Tỳ-kheo này đi đến ngôi làng, và tại cổng làng, thầy đắp y
vào. Trông thấy thầy, gã thô lỗ giống như một con cừu đực điên, đi đến
và nói:
– Này Sa môn, hãy trả lời câu hỏi của ta!
– Này cư sĩ, hãy để tôi đi vào làng kiếm thức ăn
trước đã, sau khi được thực phẩm rồi tôi sẽ trở lại phòng đợi và trả
lời.
Rồi khi thầy mang thức ăn quay trở lại, gã kia
lập lại câu hỏi. Thầy Tỳ-kheo nói:
– Để tôi ăn cháo, quét phòng và đi nhận số cơm
cúng dường theo phiếu xong đã.
Thế rồi sau khi đi nhận cơm về, thầy đặt bình bát
của mình vào tay gã thanh niên này và nói:
– Bây giờ hãy đi theo tôi, tôi sẽ trả lời câu
hỏi của anh.
Sau đó thầy đưa gã ra ngoài làng, xếp ngoại y lại
vắt lên vai và nhận lấy bình bát từ tay gã, đứng chờ gã bắt đầu. Gã kia
nói:
– Thưa sa môn, xin trả lời câu hỏi của tôi.
– Lành thay, tôi sẽ trả lời. Thầy Tỳ-kheo nói.
Rồi bằng một cú đánh, thầy hất gã ngã xuống đất,
đánh gã, làm cho mắt gã thâm tím, ném phân vào mặt gã và ra về, kèm theo
những lời cáo từ này để đe doạ gã:
– Nếu từ nay về sau, anh còn chất vấn bất cứ
Tỳ-kheo nào đến ngôi làng này thì anh sẽ biết mặt tôi về điều đó!
Sau sự kiện này, mỗi lần nhìn thấy bóng dáng các
Tỳ-kheo là gã bỏ chạy thúc mạng.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo biết rõ sự việc này. Một
ngày nọ, họ bàn luận điều đó trong Chánh pháp đường:
– Này các Pháp hữu, tôi nghe Tỳ-kheo nọ đã ném
phân vào mặt gã thô lỗ kia và bỏ mặc gã ta lại đấy!
Đức Thế Tôn đi vào và muốn biết họ đang thảo luận
về điều gì khi cùng ngồi lại nơi đấy. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài
nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên thầy Tỳ-kheo này tấn công người kia bằng phân thôi đâu, mà đời
trước đây thầy này cũng đã từng làm như vậy.
Nói rồi, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời quá
khứ.
* * * Thuở xưa, cư dân của vương quốc Anga và
Ma-kiệt-đà (Magadha) hay đi qua lại với nhau. Họ thường ở tại một ngôi
nhà nơi vùng biên giới của hai vương quốc để uống rượu, ăn thịt cá. Rồi
vào buổi sáng, họ thắng xe vào bò và ra đi. Một con bọ phân đánh hơi
thấy mùi phân bèn đi đến nơi mà những người này đã uống rượu. Nhìn thấy
một ít ruợu còn sót lại trên đất, nó liền uống cho đở khát. Sau đó, nó
quay trở lại cục phân và bị say.
Khi nó leo lên cục phân, cục phân ướt lún xuống
một chút. Nó bèn nói oang oang:
– Thế giới này không thể mang nỗi ta!
Vào lúc đó, một con voi điên đi đến nơi ấy, ngữi
thấy mùi phân nên ghê tởm quay lui. Con bọ nhìn thấy voi bỏ đi thì nghĩ:
“Con vật kia chắc sợ ta nên mới chạy trốn như thế! Ta phải đánh nhau với
nó mới được!” Vì thế nó thất thức con voi bằng bài kệ đầu tiên:
Chúng ta là anh hùng
Ở đây hãy đánh nhau
Bạn voi! Xin trở lại
Sợ sao, chạy đi đâu?
Hãy để dân hai nước
Biết chúng ta thế nào!
Nghe tiếng nói, voi liền quay trở lại chỗ con bọ
và đọc lên bài kệ thứ hai để quở trách:
Giết ngươi không dùng chân
Cũng không dùng đến vòi
Chỉ cần lấy uế vật
Là ngươi sẽ chết toi.
Đọc xong, voi thải một bãi phân lớn và tiểu tiện
lên mình con bọ, giết chết nó ngay lập tức. Sau đó, voi chạy vào rừng và
rống lên.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
Vào thuở đó, người thô lỗ này là con bọ phân,
thầy Tỳ-kheo bị chất vấn là con voi, còn ta là vị Thần cây ở trong rừng
đã nhìn thấy mọi việc.
Số 228
CHUYỆN BÀ-LA-MÔN CA-MÃ-NI-THA
(Tiền thân Kāmanīta)
Trên núi ba thành được dựng xây…
Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế
Tôn kể câu chuyện này về một Bà-la-môn có tên là Ca-mã-ni-tha
(Kāmanīta). Những tình huống của câu chuyện sẽ được trình bày ở Tiền
thân Kāma, số 468.
* * * Thuở xưa, vua nước Ba-la-nại có hai người con
trai. Người con trai cả đi đến Ba-la-nại và làm vua ở đấy, còn người em
làm phó vương. Nhà vua là một người ham muốn tiền tài, đam mê nhục dục
và tham lam lợi lộc.
Bấy giờ, Bồ-tát là vua trời Đế Thích (Sakka). Khi
quan sát khắp cõi Ấn Độ, Ngài nhận thấy rằng vua nước đó là kẻ đam mê
những thứ dục lạc này nên tự nhũ: “Ta sẽ trừng trị tên vua đó và làm cho
ông ta hổ thẹn.” Vì thế, hoá hiện thành một thân niên Bà-la-môn, Ngài đi
đến chỗ nhà vua và nhìn ông.
– Này thanh niên, ngươi đến đây có việc gì? Nhà
vua hỏi.
Bồ-tát trả lời:
– Tâu đại vương, thảo dân nhìn thấy ba kinh
thành thịnh vượng, đất đai phì nhiêu, có rất nhiều voi, ngựa, cỗ xe,
binh lính, và đầy những đồ trang sức bằng vàng ròng. Những thứ này chỉ
cần một đội quận rất nhỏ là có thể lấy được. Thảo dân đến đây muốn giúp
ngài chiếm lấy chúng!
– Này thanh niên, khi nào chúng ta sẽ đi? Nhà
vua hỏi?
– Vào ngày mai, tâu đại vương.
– Vậy bây giờ ta xin cáo từ. Còn ngươi ngày mai
hãy đến sớm.
– Vâng, thưa đại vương. Xin ngài hãy đi nhanh
chuẩn bị đạo quân!
Nói vậy rồi, vua trời Đế Thích quay trở về nơi ở
của mình.
Ngày hôm sau, nhà vua cho đánh trống và sắp xếp
sẵn một đạo quân. Rồi sau khi cho gọi những vị triều thần đến, vua nói
với họ thế này:
– Này các khanh, ngày hôm qua có một thanh niên
Bà-la-môn đến đây nói rằng, anh ta sẽ đoạt lấy cho trẫm ba kinh thành.
Đó là Bắc-chu-đồ-la (Uttarapañcāla), Nhân-đà-la-ba-la-tát-đa
(Indapapatta), Khắc-dà-dà (Kekaka). Vì thế bây giờ, trẫm sẽ cùng với
người thanh niên kia đi đến đoạt lấy những kinh thành này. Hãy gọi anh
ta đến đây gấp!
– Tâu đại vương, xin đại vương cho chúng thần
biết anh ta ở đâu?
– Trẫm không cho anh ta chỗ ở. Nhà vua nói.
– Nhưng đại vương có cho anh ta tiền thuê phòng
chứ?
– Không, ngay cả điều đó cũng không.
– Thế thì làm sao chúng thần tìm được anh ta?
– Hãy tìm kiếm anh ta khắp các đường phố kinh
thành. Nhà vua nói.
Họ vâng lệnh và đi tìm kiếm, nhưng không thể tìm
thấy Bồ-tát. Vì thế, họ quay trở về và tâu lại với vua:
– Tâu đại vương, chúng thần không thể tìm thấy
anh ta.
Nhà vua vô cùng sầu khổ. Ông rên rỉ: “Vinh hiển
tuột khỏi tay ta rồi!” Rồi tim vua trở nên rối loạn, máu nóng lên và
bệnh lỵ tấn công. Các lương y không thể điều trị cho vua lành được.
Sau khoảng ba bốn ngày, vua trời Đế Thích thiền
định và nhận biết bệnh tình của vua. Ngài nói:
– Ta sẽ chữa trị cho ông ta.
Rồi hoá hiện làm một vị Bà-la-môn, Đế thích đi
đến và đứng nơi cửa nhà vua. Giả tiếng người hầu, Ngài nói:
– Có một lương y Bà-la-môn đến muốn chữa bệnh
cho đại vương.
Nghe vậy, vua đáp lời:
– Tất cả lương y của triều đình đều không thể
cứu chữa được cho ta. Hãy cho ông ta tiền lộ phí và bảo ông ta đi.
Đế Thích lắng nghe và trả lời:
– Tôi thật sự không cần tiền thuê phòng, cũng
không lấy tiền phí chữa bệnh. Tôi sẽ chữa trị cho vua, hãy cho tôi gặp
vua!
Khi nghe vậy, nhà vua nói:
– Thế thì để ông ta vào.
Vua trời Đế Thích đi vào, chúc tụng nhà vua rồi
ngồi xuống một bên. Nhà vua hỏi:
– Có phải khanh muốn chữa trị cho trẫm?
– Đúng vậy, tâu đại vương. Ngài đáp.
– Thế thì hãy chữa cho trẫm đi! Nhà vua nói.
– Vâng, tâu đại vương. Nhưng xin đại vương cho
biết những triệu chứng bệnh tình của đại vương, nó đã phát khởi thế nào,
đại vương đã ăn uống hay nghe thấy những gì để rồi dẫn đến bệnh tình như
vậy?
– Này khanh, trẫm bị bệnh do đã nghe một điều.
– Điều gì vậy? Đế Thích hỏi.
– Này khanh, có một thanh niên Bà-la-môn đến đây
tỏ ý muốn đoạt lấy và dâng cho ta ba kinh thành, nhưng trẫm không cho
anh ta phòng ở cũng không cho anh ta một cắc bạc nào. Anh ta chắc đã
giận trẫm nên đi đến một vị vua khác. Vì thế, khi nghĩ sự vinh hiển và
hạnh phúc lớn lao đã tuột khỏi tay như thế, căn bệnh này đã tấn công
trẫm. Nếu khanh có thể thì xin hãy chữa trị cho trẫm, điều tấn công trẫm
chính là lòng tham muốn của trẫm.
Rồi để làm rõ vấn đề, vua đọc lên bài kệ đầu
tiên:
Trên núi ba thành được dựng xây
Trẫm muốn lấy chúng, thuật tên đây:
(Ba thành được nêu tên ở trên)
Có một trẫm còn muốn thêm nữa
Hãy cứu chữa trẫm, kẻ tham này.
Nghe thế, vua trời Đế thích nói:
– Tâu đại vương, không thể chữa trị cho đại
vương với thứ thuốc làm bằng rễ cây, mà phải cứu chữa cho đại vương bằng
phương thuốc trí tuệ.
Và Ngài đọc lên bài kệ thứ hai như sau:
Lương y cứu chữa hắc xà cắn;
Người trí chữa thương quỷ gây ra.
Kẻ tham lương y không thể chữa
Chữa trị nào cho kẻ tâm tà?
Nói vậy xong, bậc Đại sĩ giảng giải ý nghĩa và
nói thêm điều này:
– Tâu đại vương, điều gì sẽ xảy ra nếu đại vương
đến đoạt lấy ba kinh thành đó. Đại vương muốn trị vì cả bốn kinh thành
cùng một lúc ư? Đại vương có thể mặc bốn đôi áo, ăn bằng bốn cái đĩa
vàng, nằm trên bốn long sàng cùng một lúc được không? Hỡi đại vương,
chúng ta không nên để tham dục sai khiến. Tham dục là nguồn gốc của tất
cả các điều xấu ác. Những ai để cho dục tham tăng trưởng, sẽ bị ném vào
trong tám đại ngục, mười sáu địa ngục thấp nhất, và tất cả những hình
thức khổ đau khác.
Như thế, sau khi làm cho nhà vua kinh hãi bằng
cách chỉ ra các cảnh giới địa ngục và khổ đau, bậc Đại sĩ thuyết giảng
cho vua. Và nhà vua, khi nghe lời thuyết giảng của Bồ-tát, đã giũ sạch
hết đau buồn, và trong thoáng chóc liền lành bệnh. Còn vua trời Đế Thích
sau khi giáo huấn cho nhà vua và đưa ông vào đời sống đức hạnh, đã trở
lại thiên giới. Từ đó về sau, vua làm việc bố thí và thực hành thiện
nghiệp, sau khi mạng chung đã tái sanh theo hành nghiệp của mình.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, thầy Tỳ-kheo này là nhà vua, kẻ đã
nô lệ lòng tham của mình; còn ta chính là vua trời Đế Thích.
Số 229
CHUYỆN VỊ DU SĨ BỎ CHẠY
(Tiền thân Palāyi)
Trong kìa voi ngựa của chúng ta…
Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về một vị du sĩ có sở thích đi lang thang.
Vì mục đích tranh luận, vị này đi khắp cõi Ấn Độ,
nhưng không tìm ra ai có thể địch nỗi mình. Cuối cùng, ông ta đi đến
tận thành Xá-vệ và hỏi ở đấy có ai có thể tranh luận với ông ta hay
không. Dân chúng nói:
– Có một người có thể tranh luận với một ngàn
người như ông. Đó là bậc Nhất thiết trí, Đạo sư của nhân thiên, Đại Cù
Đàm, bậc Pháp Vương, bậc nhiếp phục mọi đối thủ, không có đối thủ nào
khắp cõi Ấn Độ có thể tranh luân lại với Ngài. Như sống to đánh vào bờ,
cũng thế, tất cả những cuộc tranh luận đều bị đập vỡ tan tác dưới chân
Ngài.
Họ mô tả những phẩm chất của đức Phật như vậy.
Nghe thế, vị du sĩ hỏi:
– Ông ta bây giờ ở đâu?
– Ngài đang ở tại tinh xá Kỳ Viên. Họ trả lời.
– Bây giờ ta sẽ đến tranh luận với ông ta! Vị du
sĩ nói.
Rồi được đám đông ấy vây quanh như vậy, ông ta đi
đến tinh xá Kỳ Viên. Khi nhìn thấy cổng tháp Kỳ Viên mà Thái tử Kỳ-đà
(Jeta) đã bỏ ra chín mươi triệu đồng tiền vàng để xây dựng, ông ta liền
hỏi đó có phải là lâu đài mà Sa môn Cù Đàm ở hay không. Dân chúng nói:
– Đó là cổng vào đấy.
Nghe vậy, ông ta kêu lên:
– Nếu đây là cổng vào thì chỗ ở của ông ta sẽ
như thế nào!
– Có vô tận những hương thất! Họ nói.
– Ai có thể tranh luận nỗi với một vị Sa môn như
thế này? Ông ta nói và vội vàng bỏ đi.
Thấy thế, đám đông reo hò thích thú và kéo nhau
vào tinh xá. Đức Thế Tôn hỏi họ:
– Có điều gì mà các cư sĩ đến đây phi thời như
vậy?
Họ bạch với Ngài những gì vừa xảy ra. Ngài nói:
– Này các cư sĩ, đây không phải lần đầu tiền ông
ta vội vàng bỏ đi khi mới nhìn thấy cổng vào trú xứ của ta, mà trước đây
ông ta cũng đã từng như vậy.
Rồi theo lời thỉnh cầu của họ, Ngài kể một câu
chuyện đời quá khứ.
* * * Thuở xưa, khi Bồ-tát là vua trị vì xứ Xoa-thi-la
(Takkasilā), thuộc nước Kiền-đà-la (Gandhāra), thì Phạm Dự (Brahmadatta)
trị vì ở Ba-la-nại (Benares). Phạm Dự quyết định đánh chiếm Xoa-thi-la
nên đã khởi binh với một đạo quân lớn. Rồi chọn một địa điểm không xa
kinh thành, ông dàn binh bố trận:
– Đây là những con voi, đây là những con ngựa,
đây là những cỗ xe, và đây là bộ binh. Các ngươi phải tấn công và ném vũ
khí của mình như vậy. Như những đám mây tuôn đổ những cơn mưa, các ngươi
hãy tuôn một trận mưa tên như thế!
Rồi ông ta đọc lên đôi vần bài kệ này:
Trông kìa, voi ngựa của chúng ta,
Giống như mây bão trên trời xa!
Nhìn kìa, biển xe cuồn cuộn sống
Tận ở trên cao tên bắn ra!
Trông kìa, đội xe của chúng ta
Gươm ở trong tay chém, đâm ra
Hãy tiến tới gần kinh thành ấy,
Đến khi quân thù chịu thua ta!
Hãy lao đến họ và tấn công!
Hò hét vang trời – hô xung phong!
Trong khi voi ngựa cùng phối hợp
Dấy tiếng la hò trời đất long!
Như sấm sét kia đánh ngang trời
Ấm ầm tiếng động nỗi khắp nơi,
Vì thế các ngươi giờ cất giọng
Trong tiếng xung trận mãi không thôi!
Hô vang lên như vậy xong, vua hạ lệnh xuất quân.
Khi đến trước cổng thành, ông ta nhìn thấy những tháp canh trên cổng
kinh thành và hỏi đó có phải là nơi ở của nhà vua kia không. Họ trả lời:
– Đó là cổng thành.
– Nếu cổng thành mà như thế, thì cung điện của
nhà vua sẽ như thế nào? ông hỏi.
– Giống như Tối Thắng Điện (Vejayanta), cung
điện của vua trời Đế Thích! Họ trả lời.
Nghe vậy, vua này nói:
– Với một vị vua vinh quang như vậy, chúng ta sẽ
không bao giờ có thể đánh bại được!
Rồi không dám nhìn cổng thành nữa, ông quay lưng
tháo chạy và trở lại Ba-la-nại.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, vị du sĩ này là vua nước
Ba-la-nại, còn ta chính là vua nước Xoa-thi-la.
Số 230
CHUYỆN VỊ DU SĨ BỎ CHẠY THỨ HAI
(Tiền thân Dutiya-Palāyi)
Cờ ta vô số người nào có...
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về cùng một vị du sĩ như trên.
Bấy giờ, với một hội chúng đông đảo vây quanh,
đức Thế Tôn ngồi trên một pháp tòa được trang trí đẹp, đặt trên một cái
bệ màu đỏ, và đang thuyết pháp với âm thanh giống như tiếng rống sư tử.
Nhìn thấy sắc thân của đức Phật giống như sắc thân của Phạm vương, khuôn
mặt của Ngài sáng rực giống như mặt trăng tròn và trán của Ngài giống
như một cái đĩa bằng vàng, vị du sĩ liền quay lưng bỏ chạy và nói:
– Ai có thể địch nỗi con người như thế này?
Đám đông đuổi theo, rồi sau đó trở lại bạch với
đức Thế Tôn. Ngài nói:
– Không phải chỉ này vị du sĩ này bỏ chạy khi
mới nhìn thấy kim diện của ta đâu, mà đời trước, vị ấy cũng từng như
vậy.
Rồi Ngài kể một câu chuyện đời quá khứ.
* * * Một thuở, Bồ-tát là vua xứ Ba-la-nại (Benares).
Còn một vị vua ở xứ Kiền-đà-la (Gandhāra) cai trị Xoa-thi-la
(Takkasilā). Muốn đánh chiếm Ba-la-nại, vị vua này kéo đến và bao vây
kinh thành với một đạo quân chia thành bốn binh chủng. Đứng nơi cổng
thành, ông ta nhìn đạo quân của mình và nói:
– Ai có thể đánh bại được một đạo quân hùng
mạnh như thế này?
Để mô tả đạo quân của mình, ông đọc lên bài kệ
đầu tiên:
Cờ ta vô số, người nào có
Đàn qụa không thể chặn sống to
Gió bảo không thể đánh đổ núi.
Vì thế không ai địch nỗi ta!
Sau đó, Bồ-tát hiển thị vẻ mặt rực rỡ giống như
mặt trăng tròn và đe dọa ông ta thế này:
– Này gã ngu ngốc kia, đừng có bép xép một cách
đầy tự phụ như vậy! Giờ đây ta sẽ tiêu diệt đạo quân của ngươi, giống
như con voi điên dẫm nát một bụi lau sây!
Rồi Ngài đọc lên bài kệ thứ hai:
Gã ngu! Chưa thấy địch thủ sao?
Bị thiêu, nếu ngươi gây thương đau
Ta như voi dữ sống cô đọc
Dẫm nát ngươi như voi dẫm lau!
Khi nghe đe doạ như vậy, vua nước Kiền-đà-la
ngước nhìn Bồ-tát và trong thấy vầng trán rộng của Ngài giống như một
cái đĩa vàng, ông ta vì sợ bị bắt nên đã quay lưng tháo chạy và quay trở
lại kinh thành của mình.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Thuở đó, vị du sĩ này là vua Kiền-đà-la, còn
vua Ba-la-nại chính là ta. |