CHƯƠNG IX
PHẨM UPAHANA
Số 231
CHUYỆN CHIẾC GIÀY
(Tiền thân Upāhana)
Như khi người ta mang đôi giày…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên
(Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Đề-bà-đạt-đa. Chư Tỳ-kheo
hội họp lại trong Chánh pháp đường và bắt đầu thảo luận về vấn đề.
– Thưa các Pháp hữu, Đề-bà-đạt-đa đã khước từ
bậc Đạo sư của mình, trở thành kẻ chống đối Như Lai, để rồi phải nhận
lấy sự diệt vong hoàn toàn.
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi chư vị đang thảo luận
về điều gì khi họ ngồi lại nơi ấy. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên Đề-bà-đạt-đa cự tuyệt bậc Đạo sư của mình, trở thành kẻ chống đối
ta, để rồi phải nhận lấy sự diệt vong hoàn toàn. Trước đây, điều như thế
này cũng từng đã xảy ra.
Nói vậy xong, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời
trước.
* * * Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua
Ba-la-nại, Bồ tát-thọ thọ sanh làm con trai một người huấn luyện voi.
Khi đến tuổi trưởng thành, Ngài được dạy tất cả các nghệ thuật điều
khiển voi. Có một thanh niên thôn quê ở nước Ca-thi (Kāsi) đến đấy và
được Ngài dạy nghề cho. Bấy giờ, khi dạy bất cứ điều gì, chư Bồ-tát
thường dạy hết tất cả những gì mình biết mà không ích kỷ giấu giếm thứ
gì. Vì thế ở nơi Bồ-tát, chàng thanh niên này học được tất cả các ngọn
ngành trí thức mà không bỏ sót một thứ gì. Khi đã học xong, chàng ta nói
với thầy của mình:
– Thưa thầy, con muốn đến phục vụ vua.
– Hay thay, học trò của ta. Ngài nói.
Rồi Bồ-tát đến gặp vua, tâu với vua rằng người
học trò của mình muốn phục vụ vua. Nhà vua nói:
– Hay thay, hãy để anh ta phục vụ trẫm.
– Vậy hoàng thượng đinh trả lương cho anh ta bao
nhiêu? Bồ-tát hỏi.
– Học trò của khanh thì không thể nhận số lương
bằng khanh được. Nếu khanh nhận được một trăm đồng thì anh ta sẽ nhận
được năm mươi đồng. Nếu khanh nhận được hai trăm thì anh ta sẽ nhận được
một trăm.
Bồ-tát trở về và thuật lại tất cả việc này cho
người học trò của mình.
Nghe vậy, thanh niên nói:
– Thưa thầy, tất cả kiến thức của thầy con đều
đã biết, vậy thì thầy nhận thế nào thì con cũng thế ấy chứ. Nếu con nhận
được số tiền lương giống thầy, con sẽ phục vụ vua. Còn nếu không, con sẽ
không phục vụ cho ông ấy.
Bồ-tát tâu lại điều đó với vua. Vua nói:
– Nếu chàng trai này có thể phục vụ được như
khanh, có thể biểu diễn được tài nghệ như khanh, thì chàng ta sẽ nhận
được số tiền giống như vậy.
Bồ-tát nói lại điều này với học trò của mình. Anh
ta nói:
– Rất tốt, con sẽ làm điều đó.
Nhà vua nói:
– Ngày mai anh hãy biểu diễn những kỹ năng của
mình.
– Thưa vâng, thần sẽ làm. Xin hoàng thượng cho
đánh trống công bố việc này.
Nhà vua công bố điều đó.
– Vào ngày mai, Sư trưởng và học trò sẽ cùng
biểu diễn kỹ năng của họ về việc điều khiển voi. Ngày mai, tất cả những
ai muốn xem hãy tập trung lại sân triều đình để xem.
Sư trưởng suy nghĩ: “Học trò của ta không biết
hết tất cả mọi ngọn ngành.” Vì thế, Ngài chọn một con voi, và chỉ trong
một đêm đã dạy cho nó tất cả những điều trái ngược. Ngài dạy cho nó quay
lại khi được ra lệnh tiến lên, tiếp tục đi khi được bảo quay lại, nằm
xuống khi được lệnh đứng dậy, đứng lên khi được bảo nằm xuống, thả xuống
khi được bảo nhặt lên, và nhặt lên khi được bảo thả xuống.
Ngày hôm sau, Bồ-tát cưỡi con voi ấy đến sân
hoang cung. Người học trò cũng cưỡi trên một con voi đẹp và có mặt ở
đấy. Một đám người rất đông tập trung lại. Cả hai biễu diễn tất cả những
kỹ năng của họ. Nhưng Bồ-tát đã khiến cho con voi của mình làm trái
ngược lại tất cả những mệnh lệnh. Ngài bảo: “Hãy đi!” và nó quay trở
lại. “Hãy quay trở lại!” và nó chạy tới trước. “Hãy đứng lên!” và nó nằm
xuống. “Hãy thả rơi xuống!” và nó nhặt lên. Đám đông thấy vậy la ó:
– Hãy xéo đi kẻ học trò bất lương kia! Đừng có
mà lên tiếng chống lại thầy ngươi! Ngươi không biết lường sức mình,
ngươi nghĩ bản thân ngươi có thể địch lại thầy ngươi ư!
Rồi họ nhặt lấy đất đá, gậy gộc tấn công anh ta,
và giết chết anh ta ngay tại chỗ.
Bồ-tát tụt xuống voi và đi đến nhà vua, nói với
ông thế này:
– Tâu đại vương! Người ta học nghề là để tìm
kiếm điều lợi ích. Nhưng có người do học nghề mà ghánh chịu khổ đau,
giống như một chiếc giày vụng làm đem lại khổ đau cho người mang nó vậy.
Rồi Ngài đọc lên hai bài kệ:
Như khi người ta mang đôi giày
Mong được an lạc, lại gây đau
Chà xát bàn chân đến bỏng cháy
Và làm cho chân thối rữa mau.
Thế nên một kẻ quá kém hèn,
Học hết mọi điều nơi chúng ta
Lời dạy chúng ta thành ương lụy
Liệt nhân, như giày vụng làm ra.
Nghe vậy, nhà vua lấy làm hoan hỷ nên ban tặng
cho Bồ-tát nhiều danh vọng.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân như sau:
– Thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là người học trò, còn ta
chính là người thầy.
Số 232
CHUYỆN CÂY ĐÀN CẦM
(Tiền thân Vikaṇṇaka)
Việc này là ý của con sao…
Khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế
Tôn kể câu chuyện này về một thiếu nữ.
Thiếu nữ này là cô con gái duy nhất của một
trưởng giả giàu có ở thành Xá-vệ. Thấy trong nhà mình mọi người đều rất
kính trọng một con bò đẹp, cô liền hỏi bảo mẫu:
– Thưa bảo mẫu, con vật đó là gì mà được kính
trọng vậy?
Bảo mẫu trả lời:
– Đó là con ngưu vương đấy.
Một ngày khác, khi đang đứng trên lầu thượng nhìn
xuống đường phố, cô thấy một người gù lưng. Cô nghĩ: “Trong một bầy bò,
con đầu đàn là con có bướu. Ta nghĩ con người cũng vậy. Đó hẳn là một
bậc nhân vương, ta nên đi theo làm người hầu của vị này mới được.”
Vì thế, cô bảo người hầu của mình đến nói với ông
ta rằng con gái của trưởng giả muốn kết giao với ông ta và ông ta hãy
chờ cô ở tại một điểm nọ. Rồi gom góp tất cả nữ trang quý giá của mình,
cô cải trang rời khỏi lâu đài và trốn đi với gã lưng gù.
Rồi cả kinh thành và chư Tỳ-kheo biết rõ điều
này. Trong Chánh pháp đường, chư Tỳ-kheo bàn tán về vấn đề đó:
– Thưa các Pháp hữu, cô gái con vị trưởng giả
kia đã chạy trốn theo một gã gù lưng!
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang thảo luận với
nhau về điều gì. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:
– Này các Tỳ kheo, đây không phải là lần đầu
tiên cô ta đi yêu một gã gù lưng thôi đâu, mà đời trước cô ta cũng đã
từng như vậy.
Sau đó, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời trước.
* * * Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua nước
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát sanh vào một gia đình giàu có ở tại một thị
thành nọ. Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát sống như một vị gia chủ và
may mắn có đầy đủ con trai cùng con gái. Để cưới vợ cho con trai, ông
chọn con gái của một thị dân giàu có ở Ba-la-nại, rồi định ngày kết hôn.
Bấy giờ, cô gái nhìn thấy trong nhà mình mọi
người đều tỏ lòng tôn kính một con bò, nên hỏi bảo mẩu của mình:
– Thưa bảo mẫu, đó là con gì vậy?
– Là một con ngưu vương đấy. Bảo mẫu trả lời.
Về sau, khi nhìn thấy một người gù lưng đi qua
đường phố, cô nghĩ: “Đó chắc là một bậc vương nhân!” Thế rồi, mang theo
bọc đồ nữ trang quý giá nhất, cô gái trốn theo gã.
Còn Bồ-tát, để đưa cô gái kia về nhà, đã cùng với
một đoàn tuỳ tùng đông đảo lên đường đến Ba-la-nại, và cũng đi trên con
đường mà cô gái và gã gù đi.
Hai người này đi suốt cả đêm, và gã lưng gù bị
kiệt sức vì khát nước. Vào lúc rạng đông, gã lại bị cơn đau bụng tấn
công, và cơn đau đã hành hạ gã. Vì thế, gã đi ra khỏi đường, choáng váng
đau đớn và ngã vạch xuống, giống như một cây đàn cầm bị gãy chất chứa
lộn xộn. Còn cô gái ngồi xuống nơi chân gã. Bồ-tát nhận ra cô, liền đến
gần và nói với cô bằng cách đọc lên bài kệ thứ nhất:
Việc này là ý của con sao!
Theo gã ngu này không thể đâu
Đây gã gù ngóc, đâu vương giả
Ở bên gã này, không thể nào.
Nghe vậy, cô gái trả lời bằng bài kệ thứ hai:
Con nghĩ gã gù là vương nhân,
Bậc có giá trị, con nương thân,
Giờ như đàn vỡ giây đứt hết
Nằm chất đống lại ở trên đất.
Khi nhận ra cô gái cải trang theo gã lưng gù là
ai, Bồ-tát liền sai người tắm rữa và trang điểm cho cô, sau đó đặt cô
vào xe và trở về nhà.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Cô gái trong cả hai trường hợp đều giống nhau,
còn ta chính là vị trưởng giả xứ Ba-la-nại.
Số 233
CHUYỆN MŨI TÊN
(Tiền thân Vikaṇṇaka)
Ngạnh lao trong lưng ngươi chạy đâu…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo thối thất.
Thầy được đưa đến Chánh pháp đường, và đức Thế
Tôn hỏi thầy răng có phải thầy thật sự thối thất hay không. Thầy trả lời
rằng thật có như vậy. Khi đức Thế Tôn hỏi lý do vì sao, thầy trả lời:
– Bạch Thế Tôn, bởi do dục lạc.
Đức Thế Tôn nói:
– Này Tỳ-kheo, dục lạc thì giống như mũi tên có
hai ngạnh đâm mắc trong tim. Mỗi khi chúng đâm mắc vào đấy, chúng sẽ
giết chết ngươi ta giống như mũi tên có ngạnh đã giết chết con cá sấu
vậy.
Thế rồi, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời trước.
* * * Thuở xưa, Bồ-tát làm vị vua hiền xứ Ba-la-nại.
Một hôm, Ngài đi vào ngự viên và đến bên bờ hồ nước. Ở đấy, những người
giỏi nhảy múa và ca hát đã bắt đầu biểu diễn. Những đàn cá và đàn rùa
thích nghe thanh âm lời ca nên vây quanh lại và bơi bên cạnh nhà vua.
Khi nhìn thấy đàn cá dài như thân cây cọ dừa bơi theo, vua hỏi các cận
thần:
– Tại sao những con cá này bơi theo ta?
Các đại thần trả lời:
– Chúng bơi theo để hầu hạ hoàng thượng đấy.
Nhà vua hoan hỷ khi nghe nói rằng chúng bơi theo
để hầu hạ mình, nên ra lệnh phải thường xuyên cho chúng cơm. Vào giờ cho
ăn, một số cá đến ăn nhưng một số lại không đến, và do vậy cơm bị bỏ
thừa lãng phí. Họ tâu lại sự việc với vua. Vua nói:
– Từ nay trở đi, lúc cho cá cơm hãy đánh trống
lên. Rồi khi nghe tiếng trống, những con cá cùng tập trung lại thì hãy
cho chúng thức ăn.
Từ đó về sau, người cho cá ăn thường đánh trống
mỗi khi cho chúng ăn, và khi những con cá tập trung lại thì lấy cơm cho
chúng. Nhưng khi chúng tập trung lại như thế để ăn cơm, có một con cá
sấu thường bơi đến và ăn một số cá. Người cho cá ăn tâu lại điều này với
nhà vua. Nhà vua lắng nghe và nói:
– Khi con cá sấu ăn những con cá, hãy dùng một
cây lao có mốc đâm vào và bắt lấy nó.
– Thưa vâng. Người cho cá ăn đáp.
Rồi ông bước lên một chiếc thuyền, và vừa khi con
cá sấu bơi đến để ăn cá, ông dùng một cây lao có mốc đâm vào nó. Cây lao
đâm xuyên vào lưng khiến cho nó điên cuồng lên vì đau đớn, và nó đã bỏ
chạy cùng với cây lao. Nhận biết nó đã bị thương, người cho cá ăn nói
với nó qua bài kệ này:
Ngạnh lao trong lưng ngươi chạy đâu.
Gọi cá đến ăn, đánh trống chầu
Dục tham, ngươi đến truy bắt cá
Điều đó mang đến cảnh thảm sầu.
Cá sấu về đến chỗ của mình và bỏ mạng ở đấy.
* * * Để giảng giải vấn đề này, đức Thế Tôn sau khi
hiển thị giác ngộ viên mãn đã đọc lên bài kệ thứ hai như sau:
Thế nên, dục lạc của thế gian
Ai không từ bỏ, lại đắm tham
Ở giữa thân bằng y mất mạng,
Như điều cá sấu đã từng làm.
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết
các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo thối thất này
chứng được quả Dự lưu. Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, ta chính là vua nước Ba-la-nại.
Số 234
CHUYỆN NÀNG A-TÂY-ĐẠT-BỐ
(Tiền thân Asitābhū)
Tôi nay ái dục đoạn tận rồi…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về một thiếu nữ.
Chuyện kể rằng, một người nọ ở thành Xá-vệ, là vị
tín nam của hai Thượng thủ đệ tử đức Thế Tôn, có một cô con gái xinh đẹp
và vui vẻ. Khi đến tuổi trưởng thành, cô gái này kết hôn cùng với một
chàng trai thuộc gia đình danh giá giống như gia đình cô. Nhưng người
chồng không hề quan tâm đến ai, thường vui chơi bất cứ nơi đâu mình
thích. Cô không để tâm đến sự bất kính của chồng, mà thường thỉnh hại vị
Thượng thủ đệ tử về nhà, cúng dường phẩm vật và lắng nghe hai vị thuyết
pháp, mãi cho đến khi cô chứng được quả Dự Lưu. Sau sự kiện này, cô sống
an vui trong niềm hỷ lạc Đạo quả. Cuối cùng, nghĩ rằng chồng cô không
còn cần đến cô nữa, thấy rằng không còn sự cần thiết nào để cô ở lại
ngôi nhà này, cô quyết định xuất gia học đạo. Cô báo cho cha mẹ mình
biết ý định này, rồi thực hiện ý định đó và trở thành một vị A-la-hán.
Chư Tỳ-kheo biết chuyện của cô. Một ngày nọ, họ
cùng thảo luận trong Chánh pháp đường.
– Thưa các Pháp hữu, con gái của gia đình kia đã
nỗ lực đạt lấy thiện pháp tối thượng. Nhận thấy rằng chồng cô không quan
tâm đến cô, cô đã cúng giường những phẩm vật quý giá cho hai Thượng thủ
đệ tử, nghe họ thuyết pháp và chứng được quả Dự Lưu. Sau đó, cô từ biệt
cha mẹ của mình, sống đời xuất gia, và giờ đây trở thành một vị
A-la-hán. Thưa các Pháp hữu, như vậy cô gái ấy đã tìm được thiện pháp
tối thượng.
Trong khi họ đang thảo luận thì đức Thế Tôn đi
vào. Ngài hỏi họ đang thảo luận về điều gì. Họ bạch sự việc với Ngài và
Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên cô gái này tìm được thiện pháp tối thượng thôi đâu, mà đời trước cô
ấy cũng đã từng như vậy.
Vói vậy xong, Thế Tôn kể một câu chuyện đời
trước.
* * * Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát là một vị ẩn sĩ sống trong vùng Tuyết Sơn,
tu tập và chứng đắc được Thần thông cùng Thiền định. Bấy giờ, vua nước
Ba-la-nại thấy con trai của mình là Vương tử Phạm Dự quá mực siêu xuất
nên sinh lòng nghi ngờ, và vì thế đã trục xuất Vương tử ra khỏi vương
quốc.
Vương tử cùng với vợ mình là nàng A-tây-đạt-bố
(Asītābhū) đi đến Tuyết Sơn. Họ dựng một thảo am để ở, ăn cá và tất cả
các loại trái rừng để nuôi thân. Thế rồi, Vương tử nhìn thấy một nữ thần
chim và sinh tâm say đắm nữ thần. Chàng nói:
– Ta sẽ lấy cô ta làm vợ mới được!
Rồi không cần để ý gì đến A-tây-đạt-bố nữa,
chàng ta theo chân vị nữ thần. Vợ chàng nhìn thấy chàng theo gót nữ thần
thì rất buồn giận. Cô nghĩ: “Chồng ta không còn quan tâm đến ta nữa, vậy
ta cần đến anh ta làm gì?” Vì thế, cô tìm đến Bồ-tát, cung kính đảnh lễ
Ngài, học những gì mà một người nhập đạo cần phải học, thực hành quán
niệm, và cuối cùng chứng được Thần thông và Thiền định. Bái biệt Bồ-tát,
cô quay về đứng trước cửa thảo am của mình.
Bấy giờ, Phạm Dự đi theo nữ thần, nhưng không
nhìn thấy hành tung của nữ thần. Tuyệt vọng, Vương tử quay trở lại thảo
am. Khi nhìn thấy vương tử đi đến, A-tây-đạt-bố liền bay lên đứng lơ
lững trên trên không trung, hiện sắc ngọc ma ni và nói với vương tử:
– Vương tử! Chính nhờ ân huệ của chàng mà ta đã
đạt được niềm hỷ lạc Thiền định!
Rồi cô đọc lên bài kệ đầu tiên:
Tôi nay ái dục đoạn tận rồi
Thấy ái chấm dứt, cám ơn người.
Như chiếc ngà voi khi cưa xẻ,
Không có một ai chữa phục hồi .
Nói vậy xong, khi thấy thái tử nhìn mình, cô liền
bay lên không trung và đến một nơi khác. Và khi cô đi rồi, vương tử than
khóc và đọc lên bài kệ thứ hai:
Dục tham nếu biết, không chặn ngăn
Sẽ làm rối mờ trí khôn ngoan
Lấy mất điều tốt chúng ta có
Như ta mất vợ giờ khóc than.
Sau khi khóc than bằng bài kệ như vậy, vương tử ở
một mình trong rừng. Rồi lúc phụ vương băng hà, vương tử trở về thừa kế
vương quyền.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Thuở đó, hai vợ chồng người này chính là vương
tử và công chúa, còn ta chính là vị ẩn sĩ.
Số 235
CHUYỆN ẨN SĨ VIỆT-XÀ-NA-CA
(Tiền thân Vaccha-Nakha)
Nhà cửa ở đời thật ái êm…
Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về cư sĩ Roja, người thuộc bộ tộc Malla.
Vị này là đạo hữu của Tôn giả A-nan. Ông gữi cho
Tôn giả một bức thư mời Tôn giả đến chỗ ông ta. Tôn giả xin phép Thế Tôn
và đi đến nơi ấy. Ông ta dọn cho Tôn giả tất cả các thứ thức ăn, ngồi
xuống một bên và cùng trò chuyện với Tôn giả một cách vui vẻ. Sau đó,
ông ta cúng dường cho Tôn giả một phần căn nhà của mình, cám dỗ thầy
bằng năm thứ dục:
– Thưa Tôn giả A-nan, tôi có rất nhiều động sản
và bất động sản ở nhà. Tôi sẽ chia chúng và cúng dường cho Tôn giả một
nửa. Chúng ta hãy sống cùng với nhau trong một nhà nhé!
Tôn giả A-nan thuyết giảng cho ông sự khổ đau
liên hệ đến tham dục, sau đó rời chỗ ngồi và quay trở về tinh xá.
Khi Đức Thế Tôn hỏi thầy có phải thầy đã gặp Roja
không, thầy trả lời rằng thầy đã gặp. Đức Thế Tôn hỏi:
– Ông ta đã nói gì với thầy?
– Bạch Thế Tôn, Roja cám dỗ, bảo con quay trở
lại đời sống thế tục. Thế rồi con đã thuyết giảng cho ông ta những khổ
đau liên quan đến tham dục và đời sống thế tục.
– Này A-nan, đây không phải lần đầu tiên Roja
cám dỗ những người xuất gia để họ quay trở lại đời sống thế gian, mà vào
đời sống trước ông ta cũng đã từng làm như vậy.
Sau đó, theo lời thỉnh cầu của Tôn giả, đức Thế
Tôn kể một câu chuyện đời trước.
* * * Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào một gia đình Bà-la-môn sống tại
một thị thành nọ. Khi đến tuổi trưởng thành, Ngài xuất gia học đạo, và
sống một thời gian dài giữa vùng Tuyết sơn.
Một lần, để kiếm muối cùng gia vị, Ngài đi xuống
Ba-la-nại và ở trong một ngự viên. Rồi ngày hôm sau, Ngài đi vào thành
Ba-la-nại để khất thực.
Bấy giờ, có một vị trưởng giả ở nơi ấy, hoan hỷ
khi thấy oai nghi của Bồ-tát, đã thỉnh Ngài về nhà của ông để cúng dường
thực phẩm. Rồi khi được Ngài nhận lời ở lại với mình, ông cho Ngài ở
trong ngự viên và phục vụ những gì Ngài cần. Và như thế, họ kết giao
tình thân hữu với nhau.
Một ngày nọ, vị trưởng giả, bởi vì lòng thương
mến và tình thân hữu với Bồ-tát, đã nghĩ thế này: “Đời sống của người
xuất gia thật khốn khổ. Ta sẽ thuyết phục người bạn Việt-xà-na-ca
(Vacchanakha) của ta cỡi áo Sa môn. Ta sẽ phân tài sản của ta thành hai
phần và cho bạn ta một nữa. Sau đó, cả hai chúng ta cùng sống chung với
nhau.” Vì thế một hôm, sau khi ăn uống xong, ông ta nói với bạn của mình
một cách thân mật:
– Thưa Tôn giả Việt-xà-na-ca, đời sống Sa môn
thật là khốn khổ, trong khi đời sống thế tục thì đầy lạc thú. Bây giờ
thế này, cả hai chúng ta hãy cùng thọ hưởng lạc thú mỗi khi chúng ta
muốn nhé.
Nói vậy rồi, ông ta đọc lên bài kệ thứ nhất:
Nhà cửa ở đời thật êm ái,
Thức ăn đầy đủ, châu báu nhiều,
Ở đấy thầy có đủ loài thịt
Ăn uống tùy theo sở thích mình.
Khi nghe ông ta nói vậy, Bồ-tát đã trả lời thế
này:
– Này bạn, do vô minh mà bạn tham đắm lục dục,
thế rồi gọi đời sống gia đình là tốt, còn đời sống xuất gia là xấu. Bây
giờ bạn hãy lắng nghe, tôi sẽ nói cho bạn biết đời sống gia đình thì tai
hại như thế nào nhé.
Rồi Ngài đọc lên bài kệ thứ hai:
Người nhiều nhà cửa không thể an
Y đánh người khác, nói giối gian,
Lỗi lầm như thế không thể cứu
Vậy đi vào nhà, ai lại tham?
Bằng những lời vậy, Bồ-tát đã nói lên những khiếm
khuyết của đời đống gia đình, và sau đó đi ra vườn trở lại.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
Roja thuộc bộ tộc Malla vào thuở đó là vị trưởng
giả nước Ba-la-nại, còn ta chính là vị khất sĩ Việt-xà-na-ca.
Số 236
CHUYỆN CON SẾU
(Tiền thân Baka)
Chim hai lần sinh trắng làm sao...
Trong khi ở tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về một người giối trá. Khi vị này được đưa đến
trước đức Thế Tôn, Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, không phải bây giờ anh ta mới
là một người giối trá, mà đời trước đây anh ta cũng đã từng như vậy.
Rồi Ngài kể câu chuyện sau.
* * * Một thời, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua nước
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con Cá sống tại một hồ nước
ở vùng Tuyết sơn, cùng với một đàn cá lớn vây quanh. Bấy giờ, có một con
Sếu muốn ăn cá. Vì thế, đậu một nơi gần hồ nước, nó cúi đầu xuống, dang
rộng cánh ra, trông nhìn đàn cá một cách lơ đãng, và chờ khi nào chúng
mất cảnh giác thì sà xuống bắt. Vào lúc ấy, Bồ-tát cùng với đàn cá của
mình bơi đến nơi ấy để tìm kiếm thức ăn. Đàn cá trông thấy con Sếu liền
thốt lên bài kệ thứ nhất:
Chim hai lần sinh, trắng làm sao
Giống như hoa súng biết dường nào
Đôi cánh dang rộng sang trái, phải
Ôi, cao quý quá! Thật ước ao!
Bồ-tát nhìn con Sếu và đọc lên bài kệ thứ hai:
Các ngươi không biết rõ gã này
Nên mới ca tán gã đẹp thay
Gã là kẻ thù xảo trá nhất
Đấy là tại sao gã không bay.
Ngay lúc đó, đàn cá vẫy nước đuổi con Sếu đi.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Thuở đó, người giối trá này là con Sếu, còn ta
chính là thủ lĩnh của đàn cá.
Số 237
CHUYỆN BÀ-LA-MÔN BÀ-CHI-ĐA
(Tiền thân Sāketa)
Sao đối với người này…
Trong khi trú tại thành Bà-chi-đa (Sāketa), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về một vị Bà-la-môn có tên là Bà-chi-đa. Những
tình huống của câu chuyện hiện tại và câu chuyện quá khứ đã được trình
bày trong Tiền thân số 68.
…Và khi Thế Tôn đi đến tinh xá, thầy Tỳ-kheo hỏi:
– Bạch Thế Tôn, ái tình đã bắt đầu như thế nào?
Rồi đọc lên bài kệ đầu tiên:
Sao đối với người này
Tim ta lại nguội lạnh
Nhưng đối với kẻ khác
Lòng thương yêu vô tận.
Bạch Thế Tôn, do gì?
Đức Thế Tôn giảng giải bản chất của tình ái bằng
bài kệ thứ hai:
Người ta yêu người nào
Vào đời trước đã yêu
Điều đó chắc thật như
Hoa sen mọc trong ao.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Thuở đó, hai người này là hai vợ chồng
Bà-la-môn, còn ta chính là người con trai của họ.
Số 238
CHUYỆN MỘT CHỮ
(Tiền thân Ekapada)
Nói cho con một từ…
Khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana) đức Thế
Tôn kể câu chuyện này về một người điền chủ.
Có một người điền chủ sống ở thành Xá-vệ. Một
hôm, khi bồng con trai của mình bên hông, cậu bé đã hỏi ông:
– Thưa cha, vấn đề được gọi là “Cánh Cửa” là gì?
Ông trả lời:
– Con ạ, ngoài đức Phật ra, câu hỏi đó không một
người nào khác có thể trả lời được.
Vì thế, ông đưa con trai mình đến tinh xá Kỳ
Viên. Sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, ông nói:
– Bạch Thế Tôn, khi con bồng con trai của con
bên hông, cháu hỏi con vấn đề được gọi là “Cánh Cửa” là gì. Con không
trả lời được nên đến đây xin Thế Tôn trả lời giúp con.
Đức Thế Tôn nói:
– Này cư sĩ, đây không phải là lần đầu tiên cậu
bé này đi tìm kiếm con đường nhằm thực hiện mục đích của mình và hỏi các
bậc hiền trí câu hỏi này. Đời trước, cậu bé này cũng đã từng như vậy, và
bậc Hiền trí vào thuở ấy cũng đã trả lời cho cậu, nhưng do vì tái sanh
gây ra sự mờ mịt nên cậu bé này không còn nhớ được câu trả lời.
Rồi theo lời thỉnh cầu của ông, đức Thế Tôn kể
một câu chuyện đời trước.
* * * Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào đời làm con trai một vị trưởng
giả giàu có. Khi đến tuổi trưởng thành và vào lúc thân phụ qua đời, Ngài
thừa kế địa vị của cha mình và trở thành một vị trưởng giả.
Con trai Ngài, một cậu bé còn nhỏ, khi ngồi bên
hông Ngài đã hỏi:
– Thưa cha, xin cha hãy nói cho con biết một
điều, điều nằm ở trong một chữ mà bao hàm một phạm vi ý nghĩa rộng lớn.
Và cậu bé đọc lên bài kệ đầu tiên:
Nói cho con một từ
Bao hàm tất cả nghĩa
Tóm lại, bằng điều đó
Con đạt được mục đích.
Người cha trả lời bằng bài kệ thứ hai:
Một điều chứa tất cả
Là tinh tấn đấy con
Thêm giới hạnh, nhẫn nhục
Điều con phải làm tròn,
Nên giúp ích bạn bè
Tránh xa kẻ thù con.
Bồ-tát trả lời câu hỏi của con mình như vậy. Còn
cậu bé áp dụng cách thức mà cha mình đã chỉ ra để thực hiện mục đích của
mình. Rồi đến khi mạng chung, cậu bé đã tái sanh theo hành nghiệp của
mình.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết
các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, hai cha con người này đắc
được quả Dự lưu. Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Thuở ấy, người này là cậu con trai, còn ta
chính là vị trưởng giả nước Ba-la-nại.
Số 239
CHUYỆN CON ẾCH XANH
(Tiền thân Harita-Māta)
Khi tôi ở trong lồng…
Trong khi trú tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về vua A-xà-thế (Ajātasattu).
Đại Câu-tát-la (Māha-Kosala) là cha của vua
Câu-tát-la. Khi gả con gái của mình cho vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra),
ông đã cho công chúa một ngôi làng ở nước Ca-thi làm của hồi môn. Sau
đó, vua A-xà-thế giết chết cha mình là vua Tần-bà-sa-la. Hoàng hậu vì
thương chồng cũng vội qua đời ngay sau đó. Sau cái chết của mẹ, vua
A-xà-thế vẫn thừa hưởng những lợi tức ở ngôi làng này. Nhưng vua
Câu-tát-la cương quyết rằng, không có kẻ giết cha nào được quyền thừa
hưởng một ngôi làng mà nó thuộc quyền thừa kế của ông, và vì thế đã gây
chiến với vua A-xà-thế. Trong cuộc chiến, có khi người cậu là vua
Câu-tát-la giành chiến thắng, nhưng có khi người cháu là vua A-xà-thế
chiến thắng. Khi A-xà-thế là người chiến thắng, ông ta thường dương cờ
lên và tuần hành trở lại kinh đô của mình trong niềm khải hoàn chiến
thắng. Nhưng khi ông ta thua, vô cùng chán nãn, ông ta cúi đầu quay trở
về và không để cho một ai biết đến.
Một ngày nọ, chư Tỳ-kheo cùng thảo luận trong
Chánh pháp đường, một thầy nói thế này:
– Thưa các Pháp hữu, vua A-xà-thế vui sướng khi
ông ta đánh bại cậu mình, nhưng khi ông ta thua, ông ta lại cúi mặt chán
nãn.
Đức Thế Tôn đi vào Chánh pháp đường và hỏi họ
đang thảo luận điều gì vào lúc ấy. Họ bạch sự việc với Ngài và Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên con người này sung sướng hạnh phúc khi chiến thắng, và thất vọng
khổ đau khi bại trận, mà đời trước ông ta cũng đã từng như vậy.
Rồi Ngài kể cho họ một câu chuyện đời trước.
* * * Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con Ếch xanh. Bấy giờ, dân
chúng thường đặt những chiếc lồng tre ở tất cả những chỗ sâu trũng của
sông để bắt cá ở đấy. Trong một chiếc lồng tre nọ, có một lượng cá lớn.
Một con rắn nước vì muốn ăn cá, đã tự chui vào cái bẫy. Một số cá xúm
lại cắn nó, cho đến khi mình nó bết đầy máu. Nhìn thấy không có ai cứu
giúp, sợ mất mạng, nó bèn lẻn nhanh ra miệng lồng và đau đớn nằm vật
xuống mép nước. Vào chính lúc đó, Ếch xanh nhảy đến và rơi xuống miệng
lồng. Con Rắn không biết phân trần cùng ai nên khi nhìn thấy Ếch nắm đấy
bèn hỏi:
– Này bạn Ếch, bạn có bằng lòng với cách cư xử
của bầy cá kia không?
Rồi nó đọc lên bài kệ đầu tiên:
Khi tôi ở trong lồng
Tôi bị đàn cá cắn
Mặc dù tôi là rắn
Ếch xanh, có đúng chăng?
Nghe thế, Ếch trả lời:
– Vâng, này bạn Rắn, điều đó đúng đấy. Tại sao
lại không chứ? Nếu bạn ăn những con cá khi chúng bơi vào trong lãnh địa
của bạn thì những con cá có quyền ăn lại bạn khi bạn đi vào vùng đất của
chúng chứ. Khi người ta kiếm ăn ở trong phạm vi địa hạt của mình thì
không có ai là người yếu cả.
Nói vậy rồi, Ếch đọc lên bài kệ thứ hai:
Người ta cướp khi nào
Họ có thể hiểu rõ
Khi họ không hiểu rõ
Bẫy sẽ giết chết họ!
Bồ-tát bày tỏ quan điểm của mình như vậy. Còn đàn
cá khi nhận ra sự yếu ớt của con Rắn, đã hô to:
– Chúng ta hãy bắt lấy kẻ thù của chúng ta!
Rồi đàn cá bơi ra khỏi lồng, giết chết con rắn
ngay tại chỗ, và sau đó bơi đi.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Thuở đó, vua A-xà-thế là con Rắn nước, còn ta
chính là Ếch xanh.
Số 240
CHUYỆN VUA ĐẠI HOÀNG
(Tiền thân Mahāpingala)
Đại Hoàng tàn nhẫn với quần dân...
Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về Đề-ba-đạt-đa, một người phản đạo.
Trong chín tháng, Đề-bà-đạt-đa đã cố tìm cách mưu
hại đức Phật, rồi sau đó đất gần tinh xá Kỳ Viên đã nứt ra và chôn ông
vào trong. Những người sống tại Kỳ Viên và ở những vùng xung quanh thấy
vậy thì lấy làm vui sướng, họ nói:
– Đề-bà-đạt-đa, kẻ đối nghịch của đức Thế Tôn đã
bị nuốt chửng vào lòng đất. Kẻ đối nghịch bị giết chết, và đức Thế Tôn
đã thành tựu giác ngộ viên mãn!
Khi nghe những lời này được nói đi nói lại nhiều
lần, thần dân khắp cõi Ấn Độ, tất cả Dạ-xoa, quỷ thần và chư thiên cũng
đều vui sướng giống như vậy. Một ngày nọ, chư Tỳ-kheo đang cùng thảo
luận trong Chánh pháp đường, họ nói như thế này:
– Thưa các huynh đệ, khi Đề-bà-đạt-đa bị chìm
vào trong đất, nhiều người lấy làm hoan hỷ và nói rằng: Đề-bà-đạt-đa đã
bị đất nuốt chững!
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi:
– Này ác Tỳ-kheo, các thầy đang thảo luận điều
gì ở đây vậy?
Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên dân chúng lấy làm sung sướng và hân hoan về cái chết của
Đề-bà-đạt-đa thôi đâu, mà vào đời trước họ cũng từng sung sướng và hân
hoan như bây giờ vậy.
Và rồi, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời trước.
* * * Thuở xưa, có một vị vua độc ác và bất chính tên
là Đại Hoàng (Mahā-pilinga) trị vì xứ Ba-la-nại, do vì dục vọng bản thân
mà ông đã làm mọi việc một cách tàn ác. Với thuế má, tiền phạt, bức
hiếp, cuớp bóc, ông đã nghiền ép người ta như cây mía bị nghiền ở trong
máy xay vậy. Ông ta thô lỗ, hung dữ và bạo tàn. Đối với người khác, ông
không có một chút mảy may từ tâm nào. Ở nhà, ông ta cư xử lỗ mãng và cay
nghiệt đối với những vương phi, thái tử, công chúa, triều thần,
Bà-la-môn, gia chủ của vương quốc. Ông ta giống như một hạt bụi rơi vào
trong mắt, giống như hạt sỏi trong canh, giống như một cây gai đâm vào
gót chân.
Bấy giờ, Bồ-tát thọ sanh làm con trai vua Đại
Hoàng. Vua này qua đời sau khi trị vì một thời gian dài. Khi ông chết,
tất cả thần dân nước Ba-la-nại đều vui mừng khốn xiết. Họ hỏa táng thi
thể ông bằng một ngàn xe củi, dùng một ngàn chậu nước dập tắt nơi hỏa
táng, rồi sau đó tôn Bồ-tát lên làm vua. Họ đánh trống hân hoan khắp
đường phố, vui mừng vì có được một vị vua chính nghĩa. Họ dương cờ
phướng và trang hoàng kinh thành. Tại mỗi cổng thành, họ dựng lều, rải
ngô rang và hoa, rồi ngồi trên những cái bệ được trang hoàng đặt dưới
những mái che đẹp và ăn uống. Bồ-tát ngồi trên một chiếc ngai vàng đẹp
được đặt trên một cái bệ cao lớn rất mực lộng lẫy nguy nga với cái lộng
trắng căng che ở trên. Các đại thần, gia chủ, dân chúng và những người
canh cửa đứng quanh đức vua của họ.
Nhưng có một người canh cửa, đứng không xa nhà
vua, thở dài và khóc nức nở. Bồ-tát thấy vậy bèn hỏi ông:
– Này anh bạn canh cổng, tất cả mọi người đều
vui mừng vì phụ hoàng của ta băng hà, nhưng khanh lại đứng đây khóc
than, phải chăng phụ hoàng của ta đối xử tử tế với khanh?
Hỏi rồi, vua đọc lên bài kệ đầu tiên:
Đại Hoàng tàn nhẫn với quần dân;
Giờ ông ấy chết, họ an thân.
Còn khanh sao lại đứng đây khóc?
Có phải Hoàng vương tốt với khanh?
Người này nghe thế thì trả lời:
Tôi không khóc vì buồn thương Hoàng vương chết.
Tâm trí của tôi hân hoan vô cùng. Trước đây, Hoàng vương mỗi lần lên lầu
hay xuống lầu đều dùng tay đấm vào đầu tôi tám quả, những quả đấm giống
như quả búa tạ của bác thợ rèn. Vì thế, khi ông ấy từ giả cõi đời này để
sang một thế giới khác, ông ấy cũng sẽ nện tám quả đấm vào đầu của Diêm
ma vương, người canh cổng của địa ngục, giống như ông ấy đã đánh tôi
vậy. Như thế dân chúng ở đấy sẽ kêu la: Ông ta quá tàn nhẫn với chúng
tôi! Và rồi sẽ trả ông ấy trở lại nơi đây. Tôi sợ ông ấy sẽ trở về và
nện những quả đấm vào đầu tôi trở lại nên mới khóc như vậy.
Để giải thích vấn đề này, ông ta đọc lên bài kệ
thứ hai:
Hoàng vương có gì để thương mến.
Chỉ vì sợ ông quay lại đây.
Nếu ông đánh đầu vua cõi chết
Diêm vương có trả lại nơi này?
Nghe thế, Bồ-tát nói:
– Vị vua này đã bị hỏa táng bằng một ngàn xe
củi. Nơi hỏa táng ông được dập tắt bằng một ngàn chậu nước, và khu đất
đã được đào quanh hết. Những người đã sanh qua một thế giới khác, do vì
sức mạnh của nghiệp tái sanh nên không một ai có thể quay trở lại hình
hài giống như họ có trước đây. Khanh đừng sợ điều đó!
Để an ủi ông ta, vua đọc lên bài kệ sau:
Ngàn xe củi hoả thiêu ông ấy,
Ngàn chậu nước dập tắt chỗ thiêu
Đất đã được đào quanh nơi ấy
Vua không trở lại, đừng lo nhiều.
Sau khi nghe lời này, người canh cổng cảm thấy
được an ủi. Còn Bồ-tát cai trị vương quốc bằng sự chính nghĩa, rồi sau
khi bố thí và làm các thiện nghiệp, Ngài qua đời và tái sanh theo hành
nghiệp của mình.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là Hoàng vương, còn ta
chính là người con của ông. |