CHƯƠNG X
PHẨM CHÓ SÓI
(Sigāla)
Số 241
CHUYỆN VUA SÓI NHẤT THIẾT NHA
(Tiền thân Sabbadāṭha)
Giống như sói ngoan cố tự phụ...
Trong khi ở tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về Đề-bà-đạt-đa.
Đề-bà-đạt-đa sau khi được vua A-xà-thế quý mến,
thường nhận được lòng kính trọng và sự cấp dưỡng, tuy thế điều đó không
kéo dài. Từ lúc dân chúng nhìn thấy điều kỳ diệu xảy ra khi voi say
Na-la-ki-lê (Nālāgiri) được xua đến chống lại đức Phất đã trở lại tỏ
lòng cung kính Ngài, thì thanh danh và phẩm vật cúng dường dành cho
Đề-bà-đạt-đa bắt đầu giảm sút.
Thế rồi một hôm, chư Tỳ-kheo bàn luận điều đó
trong Chánh pháp đường:
– Thưa các hiền hữu, Đề-bà-đạt-đa tìm cách giữ
lấy thanh danh và sự cấp dưỡng, tuy thế vẫn không thể giữ được điều đó.
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi các Tỳ-kheo đang thảo
luận điều gì khi cùng ngồi lại ở đấy. Họ bạch sự việc với Ngài, Ngài
nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên Đề-bà-đạt-đa thực hiện điều này, mà trước đây ông ta cũng từng làm
như vậy.
Rồi Ngài kể cho họ một câu chuyện đời trước.
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào đời làm vị quan tư tế của vua.
Bồ-tát tinh thông ba bộ Vệ-đà và mười tám ngành học thuật. Ngài biết câu
thần chú có đầu đề “Hàng phục thế giới”. (Bấy giờ, câu thần chú này là
một câu thần chú liên quan đến thiền định).
Một hôm, Bồ-tát nghĩ sẽ niệm câu thần chú này. Vị
thế, ngồi trên một phiến đá phẳng ở một nơi riêng biệt, Ngài tụng niệm
thần chú ở đấy. Truyền thuyết nói rằng, câu thần chú này không thể dạy
cho bất cứ một ai nếu không sử dụng một nghi thức đặc biệt. Vì lý do này
mà Ngài đã tụng niệm nó ở một nơi như vừa được mô tả. Nhưng việc không
ngờ xảy ra, trong khi Ngài đang tụng niệm thần chú thì có một con Sói
nằm trong hang đã nghe câu thần chú và thuộc lòng nó. Nghe nói vào một
kiếp trước, con Sói này là một vị Bà-la-môn đã thuộc lòng câu thần chú
“Hàng phục thế giới.” này.
Tụng đọc xong, Bồ-tát đứng lên và nói:
– Giờ đây, chắc chắn ta đã thuộc lòng câu thần
chú.
Thế rồi con sói đi ra khỏi hang và nói lớn:
– Này Bà-la-môn! Ta biết câu thần chú đó còn rõ
hơn cả chính ông nữa đấy!
Nói xong, nó bỏ chạy. Bồ-tát đuổi theo nó, chạy
theo được một qoảng, Ngài hô lớn:
– Con sói kia sẽ gây ra mối nguy hại lớn, hãy bắt
lấy nó, bắt lấy nó!
Nhưng con sói đã trốn thoát vào rừng.
Sau đó, con sói tìm được một con sói cái và cấu
nhẹ vào lưng con sói này. Con sói cái hỏi:
– Thưa ông, có việc gì vậy?
Sói đực hỏi:
– Cô biết tôi không?
– Tôi không biết ông.
Sói đọc lên câu thần chú và ra lệnh cho hàng
trăm con sói, ngựa, sư tử, cọp, heo, nai, cùng tất cả những sinh vật bốn
chân khác tập trung lại xung quanh nó. Sói trở thành vua của chúng với
danh hiệu Nhất Thiết Nha (Sabbadāṭha),
còn sói cái làm hoàng hậu của nó. Vua sói Nhất Thiết Nha cùng với hoàng
hậu sói ngồi trên lưng một con sư tử mà con sư tử này đang đứng trên
lưng hai con voi. Cả hai con sói này được kính trọng rất mực.
Bấy giờ, vì đam mê vinh quang danh vọng, nên sói
trở nên dương dương tự đắc, và nó quyết định xâm chiếm vương quốc
Ba-la-nại. Vì thế, cùng với tất cả những sinh vật bốn chân nằm dưới sự
huấn luyện của nó, nó kéo đến một nơi gần thành Ba-la-nại. Đạo quân của
nó bao trùm một vùng đất rộng mười hai dặm. Từ chỗ đó, nó gởi cho nhà
vua một lá thư với nội dung: “Hoặc trao vương quốc của ngươi cho ta,
hoặc đánh nhau để giữ nó.” Dân chúng Ba-la-nại quá sợ hãi nên đống chặt
cửa và ở trong nhà.
Rồi Bồ-tát đến gần vua và nói với ông:
–Đại vương, xin ngài chớ sợ! Hãy giao nhiệm vụ
đánh trả vua sói Nhất Thiết Nha cho thần. Ngoài thần ra, không một ai có
thể đánh lại được nó cả.
Trấn an vua và thần dân xong, Bồ-tát nói tiếp:
– Bây giờ thần sẽ hỏi nó là nó sẽ làm gì để
chiếm lấy kinh thành.
Rồi Ngài trèo lên tháp canh ở trên một cổng thành
và gọi lớn:
– Này Nhất Thiết Nha, ngươi sẽ làm gì để chiếm
lấy vương quốc này?
– Ta sẽ cho những con sư tử rống lên. Với
tiếng rống ấy, ta sẽ làm cho dân chúng kinh hoàng, và ta sẽ chiếm lấy
vương quốc như vậy!
“A, thì ra như vậy.” Bồ-tát nghĩ và trèo xuống
tháp canh. Ngài cho đánh trống thông báo rằng tất cả cư dân trong đại
thành Ba-la-nại trải khắp mười hai dặm phải lấy bột mì bịt tai lại. Dân
chúng nghe theo mệnh lệnh, dùng bột mì bịt tai lại cho đến khi không thể
nghe được những gì người khác nói. Không những thế, họ còn làm như vậy
đối với chó mèo và những con vật khác của họ.
Sau đó, Bồ tát trèo lên tháp lần thứ hai và gọi
lớn:
– Này Nhất Thiết Nha!
– Hỡi Bà-la-môn, có điều gì vậy? Sỏi hỏi lại.
– Ngươi sẽ chiếm giữ vương quốc này bằng cách
nào? Bồ-tát hỏi.
– Ta sẽ cho những con sư tử rống lên, làm cho
dân chúng kinh hoàng và giết chết họ. Ta sẽ chiếm lấy vương quốc như vậy
đấy! Nó nói.
– Ngươi không thể làm cho những con sư tử rống
lên được. Những con sư tử cao quý kia, với những cái vuốt màu hung và
cái bờm rậm rạp lông, sẽ không bao giờ thi hành theo mệnh lệnh của một
lão sõi già như ngươi đâu!
Con sói ngoan cố tự đắc trả lời:
– Không những ta làm cho các con sư tử khác vâng
lệnh ta, mà thậm chí ta còn làm cho chỉ một mình con sư tử mà ta đang
cưỡi rống lên!
– Hay thay, ngươi hãy làm đi nếu ngươi có thể.
Bồ-tát nói.
Thế rồi, Sói vỗ nhẹ chân mình vào con sư tử mà nó
đang cưỡi và bảo con sư tử rống lên. Sư tử đặt miệng của nó lên thái
dương của voi, rống lên ba lần mà không có thái độ nghi ngại nào. Hai
con voi hoảng sợ và đánh rơi con Sói xuống dưới chân. Chúng dẫm lên đầu
sói và nghiền nát nó thành từng mảnh, khiến con Sói chết ngay lập tức.
Còn tất cả những con voi khác, khi nghe tiếng rống của sư tử, vì sợ
chết, đã dẫm đạp và gây thương tích lẫn nhau, rồi tất cả đều bỏ mạng ở
đấy. Những sinh vật còn lại từ hươu, heo cho đến đến thỏ, mèo, cũng chết
ngay tại chỗ. Ngoại trừ những con sư tử là không chết, nhưng chúng trốn
chạy vào rừng. Thế là, có một đống xác súc vật bao phủ mặt đất rộng mười
hai do tuần.
Sau đó, Bồ-tát trèo xuống tháp và cho mở cổng
thành ra. Ngài cho đánh trống thông báo khắp tất cả kinh thành:
– Tất cả dân chúng được phép lấy bột ra khỏi tai,
và nếu ai muốn lấy thịt thì hãy lấy thịt những con thú bị giết chết đó
đem về!
Dân chúng ăn thứ thịt mà chúng còn tươi, số còn
lại họ phơi khô để dành.
Theo truyền thuyết, dân chúng bắt đầu biết phơi
khô thịt từ lúc đó.
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn với trí tuệ
đẳng giác đã đọc lên những vần kệ sau:
Giống như Sói ngoan cố tự phụ
Muốn đạo quân hùng mạnh mọi nơi
Tất cả thú tập trung quanh nó
Để đạt lấy danh tiếng vang trời.
Cũng như vậy người nào có được
Một đại quân ở khắp mọi nơi
Danh tiếng lớn mà người ấy có
Như quyền lực Sói có vang
trời.
Đọc kệ xong, Ngài nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là con Soi, A-nan là
nhà vua, còn ta chính là quan tư tế.
Số 242
CHUYỆN CON CHÓ
(Tiền thân Sunakha)
Chó khờ sao không cắn…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về một con chó thường được cho ăn ở trong
phòng nghỉ gần tháp An-ba-lạp (Ambala).
Chuyện kể rằng, con chó này được một vài người
ghánh nước nuôi ở đấy từ khi còn là một con cún nhỏ. Sau một thời gian,
nó phát triển thành một chú chó lớn. Một lần nọ, một người dân trong
làng tình cờ nhìn thấy nó và đã bỏ ra một chiếc thượng y và một đồng
tiền để mua lại nó từ những người ghánh nước. Sau đó buộc chặt nó bằng
một sợi xích, ông ta dẫn nó đi. Con chó được dắt đi, không cưỡng lại,
không sủa, ngoan ngoãn đi theo người chủ mới và ăn bất cứ thứ gì được
cho. “Chắc nó thích ta,” người đàn ông nghĩ và tháo sợi dây xích ra.
Ngay khi nhận thấy mình được tự do, con chó bỏ trốn và chạy miết cho đến
khi trở về lại nơi nó ở trước đây.
Nhìn thấy nó, các Tỳ-kheo đoán biết chuyện gì đã
xảy ra. Vào buổi tối, họ tập trung lại trong Chánh pháp đường và bắt đầu
đàm luận việc đó.
Thưa các Pháp hữu, con chó này đã trở lại phòng
nghĩ của chúng ta! Nó thật quá khôn ngoan khi phá bỏ đi đi sợi dây xích!
Vừa khi được tự do, nó đã quay trở lại ngay!
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang đàm luận điều
gì khi cùng ngồi lại với nhau. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên con chó này khôn ngoan phá bỏ đi sợi dây xích của nó, mà trước đây
nó cũng đã từng làm như vậy.
Rồi Ngài kể cho họ một câu chuyện đời trước.
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào trong một gia đình giàu có ở
vương quốc Ba-la-nại. Khi đến tuổi trưởng thành, Ngài làm cho mình một
ngôi nhà. Một người nọ ở nước Ba-la-nại có một con chó và thường cho nó
ăn cơm cho đến khi nó trở thành một con chó to béo. Rồi một người dân
làng nọ đi đến Ba-la-nại và nhìn thấy con chó này. Ông ta trả một chiếc
áo đẹp và một đồng tiền để đổi lấy con chó, rồi sau đó ông tháo sợi xích
cho con chó. Đi đến bìa rừng, ông ta bước vào một túp lều, cột con chó
lại và nằm xuống ngủ. Bấy giờ, Bồ-tát vì một vài công chuyện nên phải đi
vào rừng. Khi trông thấy con chó bị buộc chặt bằng một sợi dây da, Ngài
đọc lên bài kệ đầu tiên:
Chó khờ sao không cắn
Đứt sợi dây trói ngươi?
Nháy mắt được tự tại,
Chạy trốn thật sướng đời!
Khi nghe bài kệ này, con Chó đọc lên bài kệ thứ
hai:
Cương quyết, tôi cương quyết
Chờ cơ hội đầy đủ.
Cẩn thận tôi trông chừng
Đến khi người này ngủ.
Nói vậy rồi, chờ khi người đi cùng với nó ngủ, nó
gặm đứt sợi dây và quay trở lại nhà chủ nó trong sự vui mừng khốn xiết.
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Này các Tỳ-kheo, con chó trong cả hai trường
hợp đều giống nhau, còn ta chính là người Hiền trí.
Số 243
CHUYỆN NHẠC SĨ CỔ-ĐỀ-LẠP
(Tiền thân Guttila)
Hỡi thiên nữ sáng như sao mai…
Đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Đề-bà-đạt-đa khi
Ngài trú tại tinh xá Trúc Lâm.
Bấy giờ, các Tỳ kheo nói với Đề-bà-đạt-đa:
– Thưa hiền hữu Đề-bà-đạt-đa, đức Phật Chánh
đẳng là Đạo sư của chúng ta. Nhờ Ngài mà hiền hữu học được Tam tạng Kinh
điển và chứng đạt Tứ thiền. Hiền hữu thật không nên làm một người thù
địch với bậc Đạo sư của chúng ta!
Đề-bà-đạt-đa trả lời:
– Thưa các hiền hữu, các thầy nói sao, Sa môn
Gô-ta-ma là Đạo sư của tôi ư? Không đời nào. Thế không phải nhờ năng lực
của mình mà tôi học được Tam Tạng và làm phát sinh Tứ thiền sao?
Ông ta khước từ, không chấp nhận Đạo sư của mình.
Các Tỳ-kheo bàn luận điều này trong Chánh pháp
đường.
– Thưa các Pháp hữu, Đề-bà-đạt-đa khước từ bậc
Đạo sư của mình! Ông ấy trở thành kẻ chống đối đức Phật Chánh đẳng giác,
và rồi đã thọ nhận nghiệp quả vô cùng đau khổ!
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang cùng bàn luận
điều gì. Họ bạch lại sự việc với Ngài. Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, bây giờ không phải là lần đầu
tiên Đề-bà-đạt-đa khước từ bậc Đạo sư của mình, trở thành kẻ chống đối
ta, và rồi phải nhận lấy nghiệp quả khổ đau, mà đời trước, chính điều
như vậy cũng từng đã xảy ra.
Rồi Ngài kể một câu chuyện như sau
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào trong gia đình một người nhạc
sư. Tên của Ngài là Cổ-đề-lạp Đồng Tử (Guttila). Khi đến tuổi trưởng
thành, Ngài tinh thông các ngọn ngành âm nhạc. Và với danh xưng nhạc sĩ
Cổ-đề-lạp, Ngài trở thành người nhạc sĩ danh tiếng hàng đầu khắp cõi Ấn
Độ. Ngài không kết hôn mà ở vậy phụng dưỡng cha mẹ mù lòa.
Bấy giờ, một số thương gia ở Ba-la-nại đi đến
Uất-thiền-ni (Ujjeni) để buôn bán. Rồi một lễ hội được công bố. Vào ngày
ấy, những thương nhân tập trung lại và đem đến nước hoa, dầu thơm, thịt
cùng tất cả các thứ thức ăn. Họ nói:
– Chúng ta hãy tìm một nhạc sĩ và lấy những thứ
này trả tiền thuê!
Thuở đó, tại Uất-thiền-ni, có một nhạc sĩ hàng
đầu tên là Mỗ-thi-la (Mūsila). Những thương nhân này mời anh ta đến và
chọn anh ta làm nhạc sĩ của họ. Mỗ-thi-la là một người chơi đàn luýt,
ông lên dây đàn của mình ở mức căng nhất để chơi. Nhưng những thương
nhân từng nghe nhạc sĩ Cổ-đề-lạp đánh đàn, nên tiếng đàn của Mỗ-thi-la
đối với họ giống như tiếng cào chiếu sột soạt. Vì thế, không một ai
trong họ tỏ ra hài lòng. Khi nhận thấy những người này không hài lòng,
Mỗ-thi-la tự nhủ: “Ta nghĩ là do tiếng đàn quá căng”, rồi anh ta vặn dậy
đàn giảm xuống ở giọng trung và chơi nó như vậy. Dù vậy, những người này
vẫn tỏ vẻ hờ hững. Anh ta nghĩ: “Ta nghĩ là họ không biết một chút gì về
âm nhạc.” Và làm như thể không hề biết gì, anh ta chơi đàn với những sợi
dây hoàn toàn thả chùng. Như trước, những người này cũng không phản ứng
gì. Thế rồi Mỗ-thi-la hỏi họ:
– Này các vị thương nhân, tôi đánh đàn như vậy
không làm các vị thích sao?
Nghe vậy, họ kêu lên:
– Gì! Ông đang chơi đàn đấy ư? Vậy mà chúng tôi
cứ ngở là ông đang lên dây đàn chứ.
– Sao! Có phải các vị biết một nhạc sĩ nào tài
giỏi hơn, hay là các vị quá ngu dốt nên không thích tiếng đàn của tôi?
Anh ta hỏi.
Những thương nhân trả lời:
– Ở Ba-la-nại, chúng tôi từng nghe nhạc sĩ
Cổ-đề-lạp chơi đàn. Còn ở đây, tiếng đàn của ông giống như những phụ nữ
ru dỗ con ngủ.
Anh ta nói:
– Đây, tôi trả lại tiền cho các vị, tôi không
cần nó. Chỉ cần khi nào các vị trở về Ba-la-nại, xin hoan hỷ cho tôi đi
cùng là được.
Họ đồng ý và đưa anh ta trở về Ba-la-nại cùng với
họ. Họ chỉ cho anh ta nơi ở của Cổ-đề-la, rồi sau đó trở về lại nhà
mình.
Mỗ-thi-la đi vào nhà Bồ-tát. Nhìn thấy cây đàn
tuyệt diệu của Ngài treo trên vách, anh ta lấy xuống và đánh. Bấy giờ,
hai ông bà lão vì mù nên không thể nhìn thấy anh ta. Vì thế, họ la lên:
– Những con chuột đang gặm cây đàn! Xùy! xùy! Đi
đi những con chuột đang đang gặm nát cây đàn!
Mỗ-thi-lạp liền đặt cây đàn xuống và chào hai ông
bà lão.
– Anh từ đâu đến đây? Họ hỏi.
– Thưa ông bà, con từ Uất-thiền-ni đến đây, muốn
được theo chân nhạc sư học đàn. Anh ta trả lời.
– Vậy sao, thật hay quá. Họ nói.
Anh ta hỏi nhạc sĩ đi đâu rồi. Họ trả lời:
– Anh ạ, con trai tôi đi vắng, nhưng sẽ trở về
nội trong ngày nay.
Mỗ-thi-la ngồi xuống và đợi cho đến khi Bồ-tát
trở về. Khi gặp Ngài, sau một vài lời chào hỏi thân mật, anh ta nói ra
mục đích của mình. Bấy giờ, Bồ-tát là người có tài đoán tướng. Nhận thấy
rằng người này không phải là một người tốt, nên Ngài từ chối. Ngài nói:
– Này anh, anh hãy đi đi, môn nghệ thuật này
không phải là thứ dành cho anh.
Mỗ-thi-lạp ôm chặt lấy chân cha mẹ Bồ-tát và nhờ
họ giúp đở cho lời thỉnh cầu của mình. Anh ta cầu xin họ:
– Xin ông bà khuyên thầy ấy dạy cho con!
Trước lời yêu cầu lập đi lập lại mãi của cha mẹ,
Bồ-tát không thể cưỡng lại được nên đành phải làm theo lời thỉnh cầu của
anh ta. Sau đó, Mỗ-thi-la cùng với Bồ-tát đi đến hoàng cung. Nhà vua
trông thấy anh ta và hỏi:
– Này khanh, người này là ai vậy?
– Tâu đại vương! Đó là người học trò của thần.
Từ hôm đó, anh ta bắt đầu thân cận nhà vua.
Bấy giờ, Bồ-tát không hẹp hòi trong việc dày
nghề, Ngài dạy cho người học trò tất cả những gì mà bản thân Ngài biết.
Trao truyền xong, Ngài nói:
– Này con, kiến thức nghề nghiệp của con coi như
hoàn mãn rồi đấy.
Mỗ-thi-la nghĩ: “Bây giờ ta đã tinh thông môn
nghệ thuật của mình. Kinh thành Ba-la-nại này là kinh thành đứng đầu
trong khắp cõi Ấn Độ. Thầy của ta nay đã già cả, do đó ta phải ở lại
đây.” Vì thế, anh ta nói với thầy mình:
– Thưa thầy, con xin được đến phục vụ nhà vua
– Hay đấy con ạ, ta sẽ nói với nhà vua điều này.
Ngài trả lời.
Ngài đi đến yết kiến nhà vua và nói:
– Tâu đại vương, học trò của thần muốn được phục
vụ đại vương. Xin đại vương ấn định tiền lương cho anh ta.
– Tiền lương của anh ta sẽ bằng một nữa tiền
lương của khanh. Nhà vua trả lời
Bồ-tát trở về và nói lại điều đó với Mỗ-thi-la.
Mỗ-thi-la nói:
Nếu con nhận được số tiền giống như thầy thì con
sẽ phục vụ nhà vua, bằng không, con sẽ không phục vụ ông ấy.
– Tại sao?
– Thế không phải con đã biết tất cả những gì
thầy biết sao?
– Con biết tất cả.
– Vậy thì tại sao nhà vua trả cho con chỉ bằng
một nữa của thầy?
Bồ-tát nói cho vua biết những gì đã xảy ra. Nhà
vua nói:
– Nếu tài năng của anh ta hoàn thiện giống như
khanh thì anh ta sẽ nhận được số tiền bằng khanh.
Bồ-tát nói lại điều này với học trò của mình. Anh
ta bằng lòng với sự thỏa thuận đó. Và nhà vua, khi được thông báo về
điều đó, đã trả lời:
– Rất hay, vậy khi nào các khanh sẽ cùng thi
tài?
– Tâu đại vương, bảy ngày nữa?
Nhà vua cho gọi Mỗ-thi-la đến và nói với anh ta:
– Trẫm nghe nói khanh chuẩn bị thi tài với thầy
của mình?
– Tâu đại vương, đúng như thế. Anh ta trả lời.
Nhà vua can ngăn anh ta. Ông nói:
– Đừng làm như vậy, không nên có sự thi tài giữa
thầy và trò!
– Tâu đại vương, xin đừng nói nữa! Xin đại vương
cứ để thần và thầy của thần cùng tranh tài trong bảy ngày nữa. Rồi chúng
ta sẽ biết ai là người tinh thông nghệ thuật hơn.
Nhà vua chấp nhận như vậy. Ông cho đánh trống
khắp kinh thành và thông báo thế này:
– Xin thần dân hãy nghe đây! Bảy ngày nữa, nhạc
sĩ Cổ-đề-lạp và người học trò Mỗ-thi-la sẽ gặp nhau trước hoàng cung để
biểu diễn tài nghệ. Dân chúng khắp kinh thành hãy tập trung lại để xem
tài nghệ của họ!
Bồ-tát suy nghĩ:“Mỗ-thi-la con trẻ và sung sức,
tôi nay đã già và sức mạnh không còn nữa. Một người già sẽ không thắng
cuộc được. Nếu học trò của ta bị đánh bại thì không có ai thán phục ta
cả. Còn nếu anh ta thắng, thì cái chết trong rừng còn tốt hơn nỗi ô nhục
là phần ta phải nhận lấy.” Vì thế, Ngài đi vào rừng. Nhưng vừa bước chân
vào rừng, Ngài lại quay gót trở về vì nỗi sợ hãi về cái chết đè nặng.
Vừa trở về, Ngài lại đi vào rừng vì sợ hãi nỗi ô nhục. Ngài đi vào, trở
ra qua con đường này sáu ngày liền như vậy. Cỏ chết khi Ngài đi, và bước
chân của ngài đã tạo thành một con đường mòn.
Vào lúc đó, ngai vua trời Đế Thích trở nên nóng.
Đế Thích thiền định quán chiếu và biết những gì đang xảy ra. “Nhạc sĩ
Cổ-đề-lạp đang chịu khổ đau khốc liết ở trong rừng mà nguyên nhân là do
người học trò của ông ấy gây ra. Ta phải giúp ông ấy mới được!” Vì thế,
đi nhanh đến chỗ Bồ-tát, Đế Thích nói:
– Thưa Ngài, tại sao ngài đi đến khu rừng này?
– Ông là ai? Bồ-tát hỏi.
– Tôi là vua trời Đế Thích.
Nghe thế, Bồ-tát nói:
– Thưa vua của chư thiên, tôi sợ người học trò
của mình đánh bại, nên trốn vào khu rừng này.
Và Ngài đọc lên bài kệ đầu tiên:
Trước đây tôi có vị học trò
Theo tôi học đàn bảy dây so,
Giờ y vượt trội tôi tài nghệ.
Hỡi vua Đế Thích! Xin giúp cho!
– Đừng sợ, ta sẽ là nơi che chở và nương tựa của
ông.
Đế Thích nói và đọc lên bài kệ thứ hai:
Đừng sợ, ta giúp điều ông cần
Phần thưởng người thầy là thanh danh.
Đừng sợ! học trò không địch được,
Ông sẽ chứng tỏ bậc tài nhân.
– Thưa Ngài, giờ Ngài hãy trở về và cứ tranh
tài. Chỉ lưu ý Ngài điều này: Khi Ngài đánh đàn, Ngài hãy làm đứt một
sợi dây đàn của mình, và đánh vào sáu dây còn lại, khúc nhạc vẫn hay như
trước. Mỗ-thi-la cũng sẽ làm đứt một dây, nhưng y sẽ không thể chơi được
khúc nhạc với cây đàn của mình. Như thế, y sẽ bị đánh bại. Và khi nhận
thấy rằng y đã bị đánh bại, Ngài hãy làm đứt sợi dây đàn thứ hai, thứ
ba, thậm chí cho đến sợi dây thứ bảy, và ngài hãy tiếp tục đánh đàn dù
không có sợi dây nào ngoài thân đàn. Rồi từ đầu những giây đàn bị đứt sẽ
phát ra âm thanh, và tiếng đàn sẽ vang vọng toàn xứ Ba-la-nại trong một
vùng không gian mười hai dặm.
Nói vậy xong, vua trời Đế Thích trao cho Bồ-tát
ba con súc sắc và nói tiếp:
– Khi tiếng đàn tràn ngập khắp cả kinh thành,
Ngài hãy ném một trong những con súc sắc này vào không gian, ba trăm
thiên nữ sẽ giáng trần và nhảy múa trước mặt Ngài. Trong khi họ nhảy
múa, ngài hãy ném lên con súc sắc thứ hai, ba trăm thiên nữ khác sẽ nhãy
múa trước cây đàn của Ngài. Sau đó, Ngài ném lên con súc sắc thứ ba, ba
trăm thiên nữ nữa sẽ hạ trần và nhảy múa trong đấu trường. Ta cũng sẽ đi
đến với họ. Cứ tranh tài, đừng sợ hãi!
Vào buổi sáng, Bồ-tát quay trở về nhà. Người ta
dựng lên một cái đình lớn trước hoàng cung và thiết một long toà dành
riêng cho vua. Nhà vua từ cung điện giáng lâm, ngự lên long tòa đặt
trong cái đình rực rỡ. Bao quanh ông là hàng ngàn người hầu, những phụ
nữ trang sức tuyệt đẹp, những triều thần, Bà-la-môn và dân chúng. Tất cả
dân chúng của kinh thành cùng đi đến. Trong sân, họ đang ấn đinh chỗ
ngồi, vòng vòng lớp lớp chồng chất lên nhau. Bồ-tát tắm rửa, xức dầu
thơm, ăn các thứ thịt ngon nhất, rồi cầm đàn trong tay đi đến ngồi chờ ở
nơi được dành cho mình. Đế Thích đến đấy, ẩn hình, đứng lơ lững trong
không trung, cùng với một đoàn tùy tùng đông đảo vây quanh. Tuy Đế thích
ẩn hình như vậy, nhưng Bồ-tát vẫn nhìn thấy. Mỗ-thi-la cũng ở đấy, anh
ta ngồi ở nơi được dành cho mình. Khắp xung quanh là đám người tụ tập
đông đúc.
Đầu tiên, hai người cùng chơi khúc nhạc như nhau.
Khi họ chơi, cả hai đều giống nhau. Dân chúng lấy làm vui thích và tán
thưởng hết lời. Đế Thích từ chỗ của mình ở trong không trung đã nói với
Bồ-tát:
– Hãy làm đứt một sợi dây đàn của Ngài đi!”
Thế rồi Bồ-tát làm đứt một sợi dây đàn, và sợi
dây đàn mặc dầu bị đứt, nhưng từ đầu chỗ đứt vẫn phát ra âm thanh mà nó
nghe giống như một khúc thiên nhạc. Mỗ-thi-la cũng làm đứt một sợi dây,
nhưng sau khi làm đứt thì dây không phát ra âm thanh. Người thầy của anh
ta làm đứt sợi dây thứ hai, và tiếp tục như vậy cho đến sợi dây thứ bảy.
Rồi Ngài chơi với cây đàn không dây, âm thanh vẫn tiếp tục ngân lên và
vang vọng khắp cả kinh thành. Dân chúng vẫy hàng ngàn chiếc khăn lên
không trung, và hàng ngàn người hò reo tán thưởng. Bồ-tát ném một trong
những con súc sắc vào không trung, ba trăm thiên nữ giáng trần và bắt
đầu nhảy múa. Và khi Ngài ném con súc sắc thứ hai và thứ ba trong cùng
cách như vậy, có chín trăm thiên nữ giáng trần nhảy múa giống như Đế
Thích đã nói. Thấy thế, nhà vua ra lệnh cho dân chúng. Dân chúng đứng
lên và hò hét:
– Chính ngươi đã phạm một trọng tội khi đi tranh
tài với thầy của mình! Ngươi thật không biết vị thế của mình!
Họ thét vào mặt Mỗ-thi-la như thế. Rồi với đất
đá, gậy gộc, hay bất cứ thứ gì có thể nắm được, họ đánh anh ta đến chết.
Sau đó, họ nắm lấy chân và ném anh ta vào đống phân.
Nhà vua trong niềm vui sướng đã ban tặng cho
Bồ-tát những tặng phẩm, và thị dân cũng làm như vậy. Sau đó, Đế Thích
vui vẻ nói với Bồ-tát:
– Thưa bậc Hiền trí, không bao lâu nữa ta sẽ gửi
người đánh xe ngựa của ta là Mātali cùng với một chiếc xe được kéo bằng
một ngàn con tuấn mã đến đây. Ngài sẽ ngồi lên chiếc xe cao quý được kéo
bởi một ngàn con tuấn mã này để dạo khắp thiên giới.
Nói thế rồi, Đế Thích cáo từ. Khi Đế Thích quay
trở về và ngôi lên thạch sàng quý báu của mình, những thiên nữ hỏi ngài:
– Thưa Thiên vương, lâu này ngài đã ở đâu?
Đế Thích kể hết cho họ những gì đã xảy ra, rồi
tán thán đức hạnh và tài năng của Bồ-tát. Sau đó, những thiên nữ nói:
– Thưa Thiên vương, chúng con muốn được diện
kiến người nhạc sĩ này. Xin đưa ông ấy đến đây!
Đế Thích cho gọi Mātali đến và nói:
– Những thiên nữ mong muôn diện kiến nhạc sĩ
Cổ-đề-lạp. Ngươi hãy đến đấy, cho ông ấy ngồi trên chiếc xe cao quý của
ta và mang ông ấy về đây.
Người đánh xe ra đi và đưa Bồ tát đến. Đế Thích
tiếp đón Ngài thân mật và nói:
– Thưa Ngài, các thiên nữ mong được nghe tiếng
nhạc của Ngài.
– Thưa Thiên vương, chúng tôi là những nhạc sĩ,
sống nhờ vào nghề của mình. Vạy hãy ban cho tôi một vật thưởng, tôi sẽ
đánh đàn.
– Hãy đánh đàn, ta sẽ ban thưởng cho Ngài.
– Tôi không quan tâm đến một thứ phần thưởng nào
khác ngoài điều này. Hãy để những thiên nữ nói với tôi họ đã làm những
việc phước đức gì mà được sanh về đây, rồi tôi sẽ chơi đàn.
Thế rồi những thiên nữ nói:
– Thưa Ngài, chúng tôi sẽ rất sung sướng khi nói
với Ngài những phước đức mà chúng tôi đã làm. Nhưng trước tiên xin Ngài
hãy đánh đàn cho chúng tôi nghe.
Trong thời gian một tuần, Bồ-tát đã đánh đàn cho
họ nghe, và tiếng nhạc của Ngài còn hay hơn cả thiên nhạc. Vào ngày thứ
bảy, Ngài hỏi các thiên nữ về đời sống đức hạnh của họ, bắt đầu từ người
đầu tiên. Một người trong họ, vào thời đức Phật Ca Diếp (Kassapa), đã bố
thí một chiếc thượng y cho một vị Tỳ-kheo nọ, sau khi tái sanh đã trở
thành người hầu của vua trời Đế Thích, người đứng đầu trong số những
thiên nữ một ngàn người. Bồ-tát hỏi cô:
– Đời trước cô đã làm gì mà nay được sanh về
đây?
Cách thức câu hỏi của Ngài và những phẩm vật mà
thiên nữ đã bố thí cả hai được kể trong câu chuyện Thiên Cung Sự
(Vimāna). Bài kệ trong đó nói như sau:
Hỡi thiên nữ sáng như sao mai
Ánh sáng diệu kỳ tỏa khắp cả,
Vẻ đẹp, hạnh phúc từ đâu có?
Tất cả phúc lành từ đâu ra?
Thiên nữ oai thần, tôi hỏi cô
Ánh sáng diệu kỳ từ đâu đến?
Khi ở nhân gian, đã làm gì
Bây giờ đạt được phổ oai quang?
Giữa nữ và nam tôi đứng đầu
Người bằng lòng từ cúng thượng y.
Bố thí điều vui chắc chắn được
Căn nhà cư ngụ đẹp diệu kỳ.
Trông ngôi nhà này tuyệt làm sao!
Là quả thiện nghiệp thật lớn lao
Ngàn thiên nữ đứng chờ tôi gọi
Thiên nữ đẹp xinh – tôi tột cao.
Do đó tôi có được oai quang
Ánh sáng diệu kỳ do đây có.
Có người đã cúng dường những bông hoa cho một vị
Tỳ-kheo khất thực. Có người đã hướng điện thờ cúng dường năm loại vòng
hoa. Có người đã cúng dường những trái cây ngọt. Có người đã cúng năm
loại nước hoa. Có người cúng dường năm loại vòng hoa ở điện thờ Phật Ca
Diếp. Có người đến nghe các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni thuyết pháp, hay cho họ
trú trong nhà một gia đình. Có người đứng ở trong nước, cúng dường nước
cho một Tỳ-kheo thọ thực trên một chiếc thuyền. Có người ở đời đã làm
tròn bổn phận của mình đối với cha mẹ chồng và không bao giờ tức giận.
Có người đã chia cả phần ăn mà mình nhận được và giữ giới hạnh. Có người
làm một người hầu trong một gia đình, không giận dữ, không tự phụ, đã
chia phần ăn của mình, nên được tái sanh làm một người hầu của vua chư
thiên. Cũng như vậy đối với tất cả những người được viết trong câu
chuyện Cổ-đề-lạp Thiên Cung Sự, Bồ-tát đã hỏi ba mươi bảy vị thiên nữ,
mỗi người đã tạo nghiệp gì để được sanh về đây, và họ đã nói lên những
thiện nghiệp mà họ đã làm theo cùng cách như vậy qua những bài kệ.
Nghe thế, Bồ-tát nói:
– Thật lợi ích cho ta, thật vô cùng lợi ích cho
ta. Ta đến đây và nghe được rằng, chỉ bằng một việc làm rất nhỏ mà người
ta đã đạt được phước đức lớn lao. Từ này về sau, khi quay về nhân thế,
ta sẽ bố thí và thực hành thiện nghiệp.
Rồi Ngài ngâm lên nguồn cảm hứng này:
Buổi đầu hạnh phúc, ôi ta có!
Phúc lành hành hương, ôi nhờ đó
Thấy những thiên nữ đẹp tuyệt trần
Nghe lời dịu êm từ nơi họ!
Từ nay về sau ta nguyện rằng
Thực hành bố thí, tâm bình an
Tri túc và sống đời chân thật,
Thoát khỏi buồn khổ cõi nhân gian.
Thế rồi bảy ngày trôi qua, vua chư thiên cho gọi
người đánh xe Matali đến. Vua mời Cổ-đề-lạp ngồi vào xe và bào Matali
đánh xe đưa Ngài trở lại Ba-la-nại. Khi trở về đến Ba-la-nại, Ngài kể
lại cho dân chúng nghe những gì mà Ngài đã tận mắt nhìn thấy ở thiên
giới. Từ đó về sau, dân chúng quyết tâm nỗ lực làm việc thiện.
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
–Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là Mỗ-thi-la,
A-na-luật (Anuruddha) là vua trời Đế Thích, A-nan là nhà vua, còn ta
chính là nhạc sĩ Cổ-đề-lạp.
Số 244
CHUYỆN LY DỤC
(Tiền thân Vīticcha)
Nguời ta tưởng điều mình không có...
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về một vị du sĩ lang thang đã chạy trốn.
Chuyện kể rằng, người này không tìm đâu ra khắp
cõi Ấn Độ một người có thể tranh luận nỗi với mình, nên đã đến Xá-vệ và
hỏi có ai có thể tranh luận với ông ta không. Dân chúng trả lời có đức
Phật Chánh đẳng giác có thể tranh luận với ông. Nghe vậy, ông ta cùng
với một đám đông kéo đến tinh xá Kỳ Viên và đặt câu hỏi với đức Thế Tôn,
trong khi Ngài đang thuyết pháp trước bốn chúng đệ tử. Đức Thế Tôn trả
lời câu hỏi của ông ta, và sau đó đặt lại cho ông ta một câu hỏi. Vị này
không trả lời được liền đứng dậy chuồn mất. Hội chúng ngồi quanh nói to:
– Bạch Thế Tôn, chỉ có một lời mà Thế Tôn đã
đánh bại kẻ du sĩ kia!
Đức Thế Tôn nói:
– Này các vị, giống như bây giờ vậy, đời trước
ta cũng đã đánh bại ông ta chỉ bằng một lời nói.
Rồi Ngài kể một câu chuyện đời trước.
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh làm một người Ba-la-môn sống ở vương quốc
Ca-thi (Kāsi). Đến tuổi trưởng thành, Ngài từ bỏ mọi dục lạc và xuất gia
sống đạo, trú một thời gian dài trong vùng Tuyết Sơn.
Từ cao nguyên, Ngài đi về đồng bằng và chọn chỗ ở
của mình gần một kinh thành lớn, sống trong một thảo am được dựng bên
một khúc quanh sông Hằng.
Một vi du sĩ nọ, không tìm đâu ra khắp cõi Ấn Độ
một người có thể trả lời được câu hỏi của ông, đã đi đến kinh thành đó.
Ông ta hỏi:
– Ở đây có người nào có thể tranh luận với ta
không?
Dân chúng nói có và kể cho ông ta nghe năng lực
của Bồ-tát. Vì thế, cùng với một đám đông đi theo, ông ta thân hành đến
nơi Bồ-tát ở. Sau khi chào hỏi Ngài xong, ông ngồi xuống. Bồ-tát hỏi:
– Ông có uống hết được nước sông Hằng ngâm với
hương hoa của rừng già không?
Vị du sĩ cố bắt chẹt Ngài bằng lời lẽ này.
– Sông Hằng có thể là cát, sông Hằng có thể là
nước, sông Hằng có thể là bờ bên này, sông Hằng có thể là bờ bên kia!
Ngài nói sông Hằng nào?
Bồ-tát nói với vị du sĩ:
– Ngoài cát, nước, bờ bên này và bờ bên kia ra,
ông có thể có thứ sông Hằng nào khác?
Vị du sĩ không trả lời được câu hỏi này, liền
đứng dậy bỏ chạy. Khi ông ta bỏ chạy rồi, Bồ-tát nói lên những vần kệ
này để giáo giới cho hội chúng:
Người ta tưởng điều mình không có
Không tưởng đến điều cần cầu mong.
Đường dài có thể đi khắp hết
Vẫn không tìm được điều mình trông.
Người ta xem thường điều mình có
Điều mình đã có, không thiết tha.
Người ta luôn mong hết mọi thứ
Ly dục dành được sự ngợi ca.
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vị du sĩ này trong cả hai trường hợp đều giống
nhau, còn ta vào thuở đó chính là vị ẩn sĩ.
Số 245
CHUYỆN KINH CĂN BẢN PHƯƠNG TIÊN
(Tiền thân Mūla-Pariyāya)
Thời gian ăn tất cả...
Trong khi sống tại Hữu-ca-đế (Ukkaṭṭhā),
gần Hạnh Phúc Lâm (Subhagavana), đức Thế Tôn đã kể câu chuyện này. Câu
chuyện này có liên quan đến Căn Bản Phương Tiện Kinh.
Chuyện kể rằng, vào thuở đó, có năm trăm vị
Bà-la-môn tinh thông ba bộ Vệ-đà đã xuất gia nghiên cứu Tam tạng Kinh
điển. Những người này nghiên cứu học hỏi, rồi trở nên cuồng si cao mạn,
tự nghĩ: “Đức Phật Chánh đẳng giác biết Tam tạng Kinh điển, và chúng ta
cũng biết. Thế thì có gì khác nhau giữa ông ấy và chúng ta?” Nghĩ thế,
họ thôi không hầu cận đức Phật nữa, rồi trong việc đi lại và sinh hoạt,
họ cũng xem họ và đức Phật đồng nhau.
Một ngày nọ, khi những vị nay ngồi trước đức Thế
Tôn, Ngài thuyết kinh Căn Bản Phương Tiện và trang sức kinh với Tám giai
đoạn của trí tuệ. Họ không hiểu được một từ nào nên nghĩ: “Chúng ta cứ
nghĩ rằng ở đây không có người nào trí tuệ như chúng ta, thế nhưng chúng
ta không hiểu gì về điều này cả. Thật không có người nào có trí tuệ như
đức Phật. Ôi! Đức Phật thật tối ưu!” Sau sự kiện này, họ trở nên biết
nhún nhường và ngâm thinh không dám nói như những con rắn bị nhổ mất
răng.
Sau khi sống ở Hữu-ca-đế một thời gian theo ý
mình, đức Thế Tôn đi đến Tỳ-xá-ly (Vesāli) và thuyết Cù Đàm kinh tại Cù
Đàm điện. Việc tuyên thuyết của Ngài đã làm cho một ngàn thế giới rúng
động! Nghe xong bài kinh, những vị Tỳ-kheo này trở thành những vị
A-la-hán.
Nhưng khi đức Thế Tôn thuyết xong kinh Căn Bản
Phương Tiện, và khi Ngài đang lưu trú tại tại Hữu-ca-đế, chư Tỳ-kheo bắt
đầu bàn luận việc này trong Chánh pháp đường.
– Thưa các Hiền hữu, oai thần lực của đức Phật
thật là lớn! Những du sĩ Bà-la-môn, những người quen say cuồng với sự
cao mạn này, phải chịu nhún nhường bởi bài học Căn Bản Phương Tiện kinh!
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang thảo luận về
điều gì. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên ta đã làm cho những người quen dương dương cao mạn này biết khiêm
tốn nhún nhường thôi đâu, mà trước đây ta cũng đã từng làm như vậy.
Nói rồi, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời trước.
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh làm một vị Ba-la-môn. Khi đến tuổi trưởng
thành, Ngài tinh thông ba bộ Vệ-đà và trở thành một vị đạo sư lừng danh,
chỉ dạy cho năm trăm đệ tử tu học theo kinh điển Vệ-đà. Năm trăm người
này chuyên tâm tinh cần tu học và thành tựu sở học của mình. Họ tự nhủ:
– Những gì thầy chúng ta biết, chúng ta cũng
biết. Thật không có sự khác nhau nào.
Cao mạn và ương ngạnh, họ không còn đến thỉnh
giáo Đạo sư của họ như trước nữa, cũng không làm tròn bổn phận của họ
với Đạo sư.
Một ngày nọ, nhìn thấy Đạo sư của họ ngồi dưới
một gốc cây táo. Muốn chế nhạo Ngài, họ dùng ngón tay gõ vào cây và nói:
– Một cái cây không có giá trị!
Bồ-tát nhận biết họ đang chế nhạo mình, liền nói:
– Này các học trò của ta, ta sẽ hỏi các vị một
câu hỏi.
Vui mừng, họ nói:
– Thầy cứ hỏi đi, chúng con sẽ trả lời.
Đạo sư của họ hỏi bằng cách đọc lên bài kệ thứ
nhất:
Thời gian ăn tất cả
Ăn ngay cả chính mình.
Ai thời gian không huỷ
Thoát khỏi sự tử sinh?
Các thanh niên lắng nghe câu hỏi, nhưng không một
ai trong họ có thể trả lời được. Thế rồi Bồ-tát nói:
– Đừng nghĩ rằng câu hỏi này có trong ba bộ
Vệ-đà. Các vị tưởng rằng các vị biết tất cả những gì ta biết nên các vị
đã hành động giống như những cây táo. Các vị không biết rằng ta biết rất
nhiều điều mà các vị không biết được. Giờ hãy để mặc ta. Ta cho các vị
bảy ngày, hãy suy nghĩ câu hỏi này thật kỹ.
Thế rồi, họ chào Ngài và trở về nhà của mình. Ở
đấy, họ suy ngẫm trong suốt một tuần, tuy thế vẫn không thể hiểu được
đầu đuôi vấn đề. Vào ngày thứ bảy, họ trở lại chỗ Đạo sư của họ, đảnh lễ
Ngài và ngồi xuống một bên.
– Thế nào, các vị đã tháo gỡ được vấn đề chưa?
Đạo sư hỏi.
– Thưa thầy, chúng con chưa giải quyết được vấn
đề. Họ nói.
Khiển trách họ, Bồ-tát lại đọc lên bài kệ thứ
hai.
Đầu mọc ở trên cổ
Và tóc mọc trên đầu
Đầu có bao nhiêu tai
Ta rất mong được biết?
Đọc xong bài kệ, Ngài tiếp tục quở trách những
người học trò.
– Các vị là những kẻ ngu ngốc, các vị có tai
nhưng không có trí tuệ.
Nói xong, Ngài giải thích vấn đề cho họ. Họ lắng
lòng nghe và nói:
– Ôi, Đạo sư của chúng ta thật vĩ đại!
Sau đó, họ cầu xin Bồ-tát tha thứ. Rồi dập tắt
đi lòng kiêu mạn, họ theo Ngài tu học trở lại.
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, những thầy Tỳ-kheo này là là năm
trăm vị đệ tử, còn ta chính là Đạo sư của họ.
Số 246
CHUYỆN LỜI PHỈ BÁNG
(Tiền thân Telovāda)
Người ác giết sinh vật…
Đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Sư Tử Tướng Quân
(Sīhasenāpati), trong khi Ngài trú tại căn nhà có nóc, gần thành
Vệ-xá-ly (Vesāli).
Chuyện kể rằng, người này sau khi quy y theo
Phật, đã tỏ lòng mến mộ và cúng dường cơm kèm với thịt cho Ngài. Những
nhà khổ hạnh khỏa thân Ni-kiền-tử khi nghe việc này thì tỏ ra giận dữ và
bất mãn. Họ muốn làm hại Đức Phật nên chế nhạo:
– Sa môn Cù Đàm tuy tận mắt thấy rõ món thịt
được làm cố ý cho mình mà vẫn ăn.
Chư Tỳ kheo bàn luận vấn đề này trong Chánh pháp
đường:
– Thưa các hiền hữu, những tu sĩ khổ hạnh
Ni-kiền-tử đi phỉ báng khắp nơi rằng: “Sa môn Cù Đàm tuy tận mắt thấy rõ
món thịt được làm cố ý cho mình mà vẫn ăn.”
Nghe vậy, đức Thế Tôn nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên vị Ni-kiền-tử này phỉ báng ta là đã ăn món thịt được làm có chủ ý
dành cho ta, mà đời trước ông ta cũng đã từng làm như vậy.
Rồi Ngài kể cho họ một câu chuyện đời trước.
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sinh làm một vị Ba-la-môn. Khi đến tuôi
trưởng thành, Ngài xuất gia học đạo.
Từ Tuyết Sơn, Ngài đi xuống đồng bằng để kiếm
muối và gia vị. Rồi vào ngày kế tiếp, Ngài đi vào kinh thành khất thức.
Có một người giàu sang nọ có ý muốn quấy nhiễu ẩn sĩ. Vì thế, ông ta đưa
Ngài về nhà của mình, chỉ một chỗ ngồi và sau đó dọn cá cho Ngài dùng.
Sau bửa ăn, người đàn ông ngồi xuống một bên và nói:
– Thưa Tôn giả, tôi đã giết hại sinh vật để
chuẩn bị thức ăn này cho ngài. Điều tội lỗi này không phải do tôi, mà là
do ngài đấy!
Và ông ta đọc lên bài kệ đầu tiên:
Người ác giết sinh vật,
Nấu và thí cho ăn
Ai ăn thứ thịt này.
Người ấy bị nhiễm tội.
Khi nghe vậy, Bồ-tát đọc lên bài kệ thứ hai:
Người ác vì bố thí
Giết hại vợ hay con,
Tuy thế, người có trí
Ăn không tạo tôi lỗi.
Nói vậy xong, Bồ-tát đứng dậy và cáo từ.
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, vị khổ hạnh khỏa thân Ni-kiền-tử
là người đàn ông giàu sang này, còn ta chính là vị ẫn sĩ
Số 247
CHUYỆN VUA MẠT-ĐAN-CA-LỢI
(Tiền thân Pādañjali)
Thái tử chắc có trí…
Trong khi sống tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana),
đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Trưởng lão Ca-lưu-đà-di (Lāḷudāyi).
Chuyện kể rằng, một ngày nọ, hai vị Thương thủ đệ
tử đàm đạo với nhau. Chư Tỳ-kheo nghe được cuộc pháp đàm này nên đã tán
thán hai Tôn giả. Trưởng lão Ca-lưu-đà-di ngồi trong hội chúng, bĩu môi
nghĩ: “Trí tuệ của họ so với ta có đáng gì chứ?” Các Tỳ-kheo nhận thấy
điều này nên đã bỏ đi, và hội chúng giải tán.
Chư Tỳ-kheo bàn luận điều đó trong Chánh pháp
đường:
– Thưa các Pháp hữu, các thầy có nhìn
thấy Ca-lưu-đà-di bĩu môi khinh thường hai đại Thượng thủ để tử như thế
nào không?
Khi nghe như vậy, đức Thế Tôn nói:
– Này các Tỳ-kheo, cũng như bây giờ vậy, đời
trước, Ca-lưu-đà-di cũng không có sự trả lời nào khác ngoài cái bĩu môi
khinh thường.
Nói rồi Ngài kể cho họ một câu chuyện đời trước.
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát là người cố vấn của vua trong những việc tâm
linh cũng như thế tục. Bấy giờ, nhà vua có một vị thái tử tên là
Mạt-đan-ca-lợi (Pādañjali), một kẻ biếng nhác rỗi nghề. Rồi khi vua cha
băng hà và đám tang của ông đã hoàn tất, những triều thần đã tôn thái tử
Mạt-đan-ca-lợi lên làm vua. Nhưng Bồ-tát nói:
– Đây là một kẻ lười biếng, một kẻ vô công rỗi
nghề. Chúng ta tôn một kẻ như vậy lên làm vua sao?
Một hôm, những triều thần tiến hành một vụ xử án.
Họ cho thái tử ngồi gần và đưa ra một phán quyết sai lầm. Họ xét xử phần
đúng cho chủ nhân sai phạm, và hỏi thái tử:
– Thưa thái tử, chúng tôi xét xử như vậy có
đúng không?
Thái tử bĩu môi.
Bồ-tát suy nghĩ: “Ta nghĩ thái tử là một người có
trí nên mới biết chúng ta đã định án sai.
Rồi Ngài đọc lên bài kệ đầu tiên:
Thái tử chắc có trí
Mọi người không ai qua.
Thái tử bĩu môi thế
Hẳn biết rõ chúng ta!
Ngày hôm sau, cũng như lần trước, họ tiến hành
một cuộc xử án nhưng lần này lại xét xử đúng. Họ lại hỏi thái tử suy
nghĩ gì về điều đó.
Thái tử lại bĩu môi. Thấy thế, Bồ-tát biết rằng
thái tử là một kẻ ngu ngốc mù quáng thực sự, và Ngài đọc lên bài kệ thứ
hai:
Không biết đúng và sai
Không biết xấu và tốt
Thái tử cứ bĩu mỗi
Mà không thấy gì rốt.
Những triều thần biết rằng thái tử Mạt-đan-ca-lợi
là một kẻ ngu ngốc, vì thế họ tôn Bồ-tát lên làm vua.
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, Ca-lưu-đà-di là Mạt-đan-ca-lợi,
còn ta là vị triều thần hiền trí.
Số 248
CHUYỆN VÍ DỤ CÂY CHÚC-CA
(Tiền thân Kimsukopama)
Các con đều thấy cây Chúc-đa…
Trong khi sống tại tinh xá Kỳ Viên
(Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Chúc-ca Dụ kinh.
Bốn thầy Tỳ-kheo cùng đi đến đức Thế Tôn, thỉnh
Ngài giảng thuyết pháp môn làm phát sinh thiền định. Ngài giảng thuyết
điều này. Kết thúc buổi thuyết giảng, mỗi người trở về chỗ trú của mình.
Một người trong số họ, sau khi quán chiếu Lục Chủng Xúc Xứ, đã trở thành
một vị A-la-hán. Một người khác cũng chứng được A-la-hán sau khi quán
chiếu Ngũ Uẩn. Người thứ ba sau khi quán chiếu thấu triệt Tứ Đại đã
chứng được A-la-hán. Người thứ tư sau khi quán chiếu thấu triệt Thập Bát
Giới cũng chứng được A-la-hán. Các vị bạch lên đức Thế Tôn quả vị mà
mình đã đạt được. Một người trong họ suy nghĩ và hỏi đức Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, tất cả những pháp môn thiền định
này đều có khả năng đưa đến Niết bàn, vậy tại sao tất cả lại đưa đến
thánh quả?
Nghe vậy, đức Thế Tôn hỏi:
– Sự kiện này không giống như người ta nhìn thấy
cây Chúc-ca ư?
Rồi theo lời thỉnh cầu của họ, đức Thế Tôn kể một
câu chuyện đời trước.
Thuở xưa, vua Phạm Dự xứ Ba-la-nại có bốn người
con trai. Một hôm, họ gọi người đánh xe ngựa đến và nói với ông:
– Chúng tôi muốn xem một cây Chúc-ca (Judas).
Hãy cho chúng tôi xem nó!
– Thưa vâng, thần sẽ làm điều đó. Người đánh xe
trả lời.
Nhưng ông ta không cho họ xem cây cùng một lúc.
Liền khi đó, ông ta đánh xe đưa người anh cả vào rừng và chỉ cho thái tử
thấy cái cây vào thời điểm mà thân cây vừa mới đâm chồi. Đến người thứ
hai, ông ta cho xem cây khi lá cây đã xanh. Đến người thứ ba vào lúc cây
trổ hoa. Và người thứ tư thì khi cây đơm quả.
Rồi một hôm, bốn vị thái tử cùng ngồi lại với
nhau. Một người hỏi:
– Cây Chúc-đa là loại cây thế nào nhỉ?
Người anh cả trả lời:
– Nó giống như một thân cây bị đốt cháy!
– Nó giống như một cây đa! Người thứ hai nói.
– Nó giống như một miếng thịt! Người thứ ba trả
lời.
– Nó giống như một cây keo! Người thứ tư đáp.
Không ai bằng lòng câu trả lời của ai, nên chạy
đi tìm vua cha. Họ hỏi:
– Thưa phụ vương, cây Chúc-đa là loại cây như thế
nào?
– Các con đã nói gì về cây đó? Nhà vua hỏi.
Họ kể lại với vua cách thức những câu trả lời
của họ. Nhà vua nói:
– Tất cả bốn đứa con đã nhìn thấy cây. Nhưng
chính vào lúc người đánh xe chỉ cho các con xem cây, các con không hỏi
ông ta: “Cây vào thời điểm như vậy thì như thế nào? Vào một thời điểm
khác thì cây sẽ ra làm sao?” Các con không phân biệt được cây vào từng
thời điểm, và chính đó là nguyên nhân đưa đến sự nhầm lẫn của các con.
Nói rồi, Ngài đọc lên bài kệ đầu tiên:
Các con đều thấy cây Chúc-đa
Nhưng rồi bối rối, tại vì sao?
Do không ai hỏi bác xe ngựa
Hình dạng cả năm cây thế nào!
Giảng giải vấn đề xong, đức Thế Tôn nói với các
thầy Tỳ-kheo:
– Này các Tỳ-kheo, giống như bốn vị thái tử thuở
ấy, bởi vì không nhận ra được sự sai biệt và không chịu hỏi nên mới nghi
ngờ về cây Chúc-đa, cũng như các thầy đã nghi ngờ về giáo pháp vậy.
Và rồi với trí tụê viên mãn, Ngài đọc lên bài kệ
thứ hai:
Như vậy những ai thấy Chánh pháp
Với sự hiểu biết không tròn đầy
Cảm thấy nghi ngờ về chánh pháp
Như bốn thái tử với cái cây.
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, ta là vua nước Ba-la-nại.
Số 249
CHUYỆN CON KHỈ TÁT-LA-CA
(Tiền thân Sālaka)
Như con trai ta, chú người thân…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên
(Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một vị đại Trưởng lão.
Chuyện kể rằng, vị Trưởng lão này đã thế độ cho
một thanh niên xuất gia, nhưng thầy đối xử với thanh niên Sa-di này
không được tốt. Cuối cùng, Sa-di không thể chịu đựng được nữa nên đã
hoàn tục. Sau đó, Trưởng lão vỗ về vị này và nói:
– Này chú, hãy xem đây này, y của chú sẽ là phần
của chú và bình bát của chú cũng vậy. Thầy có bình bát và y như vậy,
thầy sẽ cho chú. Hãy xuất gia trở lại đi!
Lúc đầu chú từ chối, nhưng sau nhiều lần dỗ ngọt
như vậy, cuối cùng chú đã xuất gia trở lại. Khi chú gia nhập vào Tăng
chúng, Trưởng lão lại ngược đãi chú giống như trước. Sa-di bị ngược đãi
quá nhiều lần nên lại rời bỏ Tăng đoàn. Rồi khi nghe Trưởng lão nhiều
lần khuyên mình nên gia nhập Tăng đoàn trở lại, chú trả lời:
– Thầy không thể chịu đựng được con, cũng không
thể không chịu đựng được khi không có con. Hãy để cho con yên, con không
muốn gia nhập tăng đoàn nữa!
Chư Tỳ-kheo bàn luận việc này trong Chánh pháp
đường. Họ nói:
– Thưa các hiền hữu, Sa-di đó thật có tâm nhạy
bén! Chú biết quá rõ vị Trưởng lão kia nên không cùng chúng ta tu học
nữa.
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang thảo luận điều
gì. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, bây giờ không phải là lần đầu
tiên Sa di này có tâm bén nhạy thôi đâu, mà trước đây chú ta cũng đã
từng vậy rồi. Đời trước, khi chú ta nhìn thấy những lỗi lầm của người
kia, đã không chấp nhận ông ta nữa.
Nói rồi Ngài kể một câu chuyện đời trước.
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh vào gia đình một vị điền chủ và kiếm sống
bằng nghề buôn bán ngũ cốc. Một người làm nghề dụ rắn nọ đã huấn luyện
một con khỉ, cho nó nuốt thuốc giải độc, rồi bắt một con rắn cho chơi
cùng với nó. Ông ta đã kiếm sống theo lối này.
Một lễ hội được thông báo. Ông này muốn vui chơi
lễ hội nên giao con khỉ cho người thương nhân nhờ coi sốc, và dặn Ngài
vui lòng để ý đến nó. Sau bảy ngày, ông ta đến người thương nhân và xin
nhận lại con khỉ của mình. Từ cửa hàng ngũ cốc, con khỉ nghe giọng nói
của chủ đã vội vàng chạy ra. Ngay lúc đó, chủ của nó dùng một thanh tre
đánh vào lưng nó, rồi mang nó vào rừng, trói nó lại và nằm ngủ. Khi thấy
ông ta đã ngủ, con khỉ tháo sợi dây xích, chạy trốn và leo lên một cây
xoài. Nó ăn một trái xoài và thả hạt lên đầu của người dụ rắn. Ông ta
thức dậy, nhìn lên và thấy con khỉ. Ông ta nghĩ: “Ta sẽ dỗ ngọt nó, rồi
khi nó leo xuống ta sẽ bắt nó!” Vì thế, để dụ dỗ con khỉ, ông ta đọc lên
bài kệ thứ nhất:
Như con trai ta, chú người thân
Nhà ta chú sẽ là chủ nhân
Chú khỉ trên cây thôi trèo xuống
Hãy trở về nhà cùng ta nhanh.
Con khỉ lắng nghe và đọc lên bài kệ thứ hai:
Ông xem thường tôi, tệ biết bao!
Ông quên hết chuyện đánh tôi sao?
Chi bằng nơi đây tôi vui sống
Ăn xoài chín mọng ở trên cao.
Đọc xong, nó đứng lên và chuồn nhanh vào rừng.
Còn người dụ rắn trở về nhà trong sự tức giận tột cùng.
Kết thúc pháp thoại này, Đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, Sa-di là con Khỉ, vị Trưởng lão
là người dụ rắn, còn ta chính là người thương nhân bán ngũ cốc.
Số 250
CHUYỆN CON KHỈ
(Tiền thân Kapi)
Ẩn sĩ đứng run trước cổng nhà…
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên
(Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ -kheo dối trá.
Chư Tỳ-kheo phát hiện ra sự dối trá của thầy này.
Trong Chánh pháp đường, họ bàn luận về điều đó:
– Thưa các hiền hữu, Tỳ-kheo kia đã xuất gia
theo Phật cầu tìm giải thoát, vậy mà vẫn còn làm việc dối trá.
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang cùng thảo luận
điều gì. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần duy
nhất thầy Tỳ-kheo này là người dối trá, mà trước đây thấy này cũng từng
là người như thế. Thuở đó, vì muốn được sưỡi ấm nơi bếp lửa, thầy này
cũng đã làm điều dối trá.
Nói vậy xong, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời
xưa.
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con trai của một gia đình
Bà-la-môn. Khi trưởng thành và con trai của ngài được một tuổi, có thể
chạy chơi được thì vợ của ngài qua đời. Ngài bồng đứa bé bên hông và đi
đến vùng Tuyết sơn. Ở đấy, Ngài trở thành một vị ẩn sĩ và nuôi dạy con
trai mình đi theo đời sống như vậy. Cả hai cha con cùng ở trong một thảo
am.
Bấy giờ vào mùa mưa, trời mưa xối xả không dứt.
Một con Khỉ đi lang thang khắp nơi, khổ sở vì lạnh, răng đập lập cập vào
nhau. Bồ-tát mang về một khúc củi lớn, nhóm một bếp lửa, rồi nằm xuống
trên chiếc nệm rơm. Cậu bé ngồi xuống bên cạnh xoa bóp chân cho cha.
Bấy giờ, Khỉ kiếm được chiếc y của một vị ẩn sĩ
đã qua đời, mặc hạ y và vắt chéo thượng y qua vai. Rồi trong bộ cánh
xuất gia vay mượn này, nó cầm một cây gậy và một bình nước, đi đến đứng
trước thảo am mong được sưỡi ấm.
Cậu bé nhìn thấy nó liền nói lớn với cha:
– Cha, hãy nhìn kìa, có một ẩn sĩ đang run lên
vì lạnh! Cha hãy mời ông ấy vào và cho ông ấy sưỡi ấm đi.
Nói vậy xong, cậu bé đọc lên bài kệ đầu tiên:
Ẩn sĩ đứng run trước cổng nhà,
An lành dâng hiến bậc xuất gia.
Thưa cha, xin gọi ông ấy lại
Rét khổ của ông được dịu xoa.
Nghe con trai nói vậy, Bồ-tát đứng dậy và nhìn.
Khi biết đó là con khỉ, Ngài bèn đọc lên bài kệ thứ hai:
Đấy không phải là bậc xuất gia,
Mà khỉ đáng kinh, tham xấu xa
Làm hổng mọi thứ khi nó đụng
Nó vào sẽ uế chỗ chúng ta.
Nói vậy xong, Bồ- tát nắm lấy cây củi đang cháy
dỡ và đuổi con khỉ đi. Con khỉ nhảy lên, và dù có thích rừng hay không
thì nó cũng không bao giờ dám quay trở lại chỗ ở của Bồ-tát nữa. Sau đó,
Bồ-tát tu tập và chứng đắc được Thần thông cùng Thiền định. Ngài giảng
thuyết cho vị ẩn sĩ thiếu niên tiến trình của thiền định, và cậu bé cũng
đắc được Thần thông và Thiền định. Và cả hai, không ngưng nghĩ thiền
định, đến khi mạng chung đã sanh về cõi Phạm thiên.
Như vậy, đức Thế Tôn đã thuyết giảng bằng cách
chỉ ra rằng, người này không phải chỉ bây giờ mới là một người dối trá,
mà đã từng là kẻ dối trá như thế. Kết thúc câu chuyện này, Ngài tuyên
thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, một số Tỳ-kheo chứng
được quả Dự lưu, một số chứng được quả Nhất lai, và một số chứng được
quả Bất lai. Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, Tỳ-kheo dối trá này là con Khỉ,
La-hầu-la là cậu con trai, còn ta chính là người ẩn sĩ. |