CHƯƠNG I
PHẨM TƯ DUY
(SAMKAPA)

Số 251
CHUYỆN TƯ DUY
(Tiền thân Samkappa)

Không có người bắn tên…

Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo thối thât tâm.

Một thiện nam tử sống ở thành Xá-vệ (Sāvatthi), do lòng tin Phật pháp nên đã xuất gia. Nhưng một hôm, khi đi khất thực trong thành Xá-vệ, thầy tình cờ nhìn thấy một thiếu nữ ăn bận xiêm y lộng lẫy. Tình ái sanh khởi trong tâm, thầy trở nên buồn chán. Khi các tôn sư, giáo thọ sự, những pháp hữu của thầy nhìn thấy như vậy, họ liền hỏi thầy nguyên nhân vì sao. Biết rằng thầy có ý muốn hoàn tục, họ nói với nhau:

– Thưa các Hiền hữu, đức Thế Tôn có thể tẩy trừ phiền não của những ai bị đau khổ dày vò do phiền não ái dục gây ra. Và bằng cách thuyết giảng Thánh Đế, Ngài đưa họ đạt đến thánh qủa. Chúng ta hãy đưa thầy này đến gặp đức Thế Tôn.

Thế rồi họ đưa thầy này đến gặp đức Thế Tôn. Ngài nói:

– Này các Tỳ-kheo, tại sao các thầy đưa Tỳ-kheo trẻ này đến chỗ ta trong khi thầy này không muốn?

Họ bạch với Ngài duyên do. Ngài hỏi:

– Này Tỳ-kheo, như họ nói đấy, có thật là thầy bị thối thất tâm không?

Thầy thừa nhận có. Đức Thế Tôn hỏi lý do vì sao. Thầy thuật lại cặn kẽ những gì đã xảy ra. Đức Thế Tôn nói:

– Này Tỳ-kheo, điều đó trước đây đã từng xảy ra. Những phụ nữ này thậm chí đã làm cho nhiễm ô sanh khởi trong tâm những bậc thanh tịnh, những người mà phiền não của họ đã được tẩy trừ bằng năng lực thiền định. Vậy thì những người rỗng tuếch như thầy làm sao tránh khỏi nhiễm ô, trong khi ngay cả những người thanh tịnh còn phải bị nhiễm ô? Thậm chí cả những người danh vọng cao quý nhất cũng bị ô nhục. Sự ô nhiễm thật ghê gớm làm sao! Có ngọn gió nào làm lay động được ngọn núi Tu Di (Sineru) mà không lay động được một đống lá già cỗi? Phiền não này quấy nhiễu chính cả những bậc hiền trí, thì sao lại không quấy động một con người như thầy chứ?

Rồi theo lời thỉnh cầu của họ, Thế Tôn kể một câu chuyện đời trước.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua nước Ba-la-nại (Benares), Bồ tát sanh vào trong một gia đình cự phách có tài sản lên đến tám trăm triệu đồng tiền vàng.

Đến tuổi trưởng thành, Ngài đến Xoa-thi-la (Takkasilā) để theo học ở đấy, rồi sau đó quay trở lại Ba-la-nại và cưới vợ. Khi song thân khuất bóng, lo việc ma chay cho cha mẹ xong, Bồ-tát kiểm tra tài sản của mình và nghĩ: “Tài sản vẫn còn đây, nhưng người góp nhặt dành dụm nó thì không còn nữa!” Ngài kiệt sức vì đau buồn, mồ hôi đổ khắp thân thể.

Ngài sống một thời gian dài ở nhà, bố thí nhiều của cải và sống chế ngự ái dục. Sau đó, rời bỏ thân bằng đang khóc than, Ngài đi vào Tuyết Sơn, dựng một thảo am tại một địa điểm vừa ý, sống nhờ vào trái cây và rễ củ mà Ngài kiếm được trong rừng. Chẳng bao lâu, Ngài đắc được Thần thông cùng Thiền định, và sống một thời gian trong niềm hỷ lạc thiền định.

Rồi Bồ-tát nghĩ: “Ta sẽ đi vào nhân quần để kiếm muối và gia vị, như thế thân thể của ta sẽ trở nên tráng kiện, và ta sẽ đi bộ khắp nơi. Tất cả dân chúng cúng dường cho một người giới hạnh như ta và tiếp đón ta bằng lòng kính trọng, sẽ sanh về đầy các cõi thiên giới.” Nghĩ vậy, Bồ-tát rời Tuyết sơn để xuống vùng dân chúng sống. Vừa lúc hoang hôn buông xuống thì Ngài đến Ba-la-nại. Ngài nhìn quanh để kiếm một nơi cứ trú và trông thấy ngự viên. Ngài nói:

– Đây là một nơi thích hợp để tá túc. Ta sẽ trú lại đây.

Vì thế, Ngài đi vào ngự viên, ngồi xuống dưới một gốc cây, và trải qua suốt đêm trong niềm hỷ lạc thiền định.

Vào sáng hôm sau, sau khi vệ sinh thân thể, chỉnh đốn lại tóc tai rối bù và chiếc y bằng vỏ cây của mình, Ngài ôm bát đi khất thực. Tất cả các giác quan và tâm ý đều tịch tịnh vắng lặng, phong thái uy nghi, không nhìn tới phía trước quá một luỡi cày, thân thể rực rỡ, hoàn hảo mọi mặt, khiến người đời phải để mắt nhìn đến. Trong phong thái như vậy, Ngài đi vào kinh thành khất thực từng nhà một, mãi cho đến khi đi đến hoàng cung.

Bấy giờ, nhà vua đang tản bộ trên thượng đài cao. Ông nhìn qua cửa sổ và trông thấy Bồ-tát. Hài lòng về oai nghi của Ngài, vua nghĩ: “Nếu cần có một pháp an tịnh viên mãn, pháp đó hẳn được tìm thấy ở trong con người này.” Vì thế, vua gọi một vị cận thần đến, bảo ông ta đến đưa vị ẩn sĩ lại. Người này đi đến chào hỏi, mang lấy bình bát của Bồ-tát và nói:

– Thưa Tôn giả, đức vua cho gọi Ngài đến.

– Thưa ông, nhà vua không hề biết tôi! Bồ-tát trả lời.

– Thế thì thưa Ngài, xin Ngài nán lại nơi đây chờ đến khi tôi quay trở lại.

Thế rồi ông ta tâu lại với vua lời của vị khất sĩ. Vua nghe xong và nói:

– Chúng ta không có vị Sa môn nào thân cận cả. Khanh hãy đi đưa tôn giả ấy về đây.

Cùng lúc đó, vua đưa tay ra cửa sổ vẫy và gọi lớn:

– Thưa Tôn giả, xin mời Tôn giả đến đây!

Bồ-tát trao bát cho vị đại thần và bước lên thượng lầu. Nhà vua tiếp đón Ngài, mời Ngài ngồi lên ghế của vua, và cúng cho Ngài tất cả cơm thịt được chuẩn bị cho mình. Khi Bồ-tát ăn xong, nhà vua hỏi Ngài một vài câu hỏi. Và những câu trả lời của Bồ-tát càng làm cho ông hài lòng hơn, đến độ bằng một ngôn ngữ tôn kính, ông nói:

– Thưa Tôn giả, thầy sống ở đâu? Từ đâu thầy đến đây?

– Thưa đại vương, tôi sống ở Tuyết Sơn và từ Tuyết Sơn tôi đến đây.

– Tại sao thầy đến đây? Nhà vua hỏi.

– Thưa đại vương, bây giờ vào mùa mưa, nên tôi phải tìm một chỗ để an cư cố định.

Nhà vua nói:

– Thế thì xin thầy hãy trú lại nơi ngự viên của trẫm, thầy sẽ không thiếu bốn loại phẩm vật cần thiết (y phục, thức ăn uống, sàng toạ, thuốc thang), và trẫm cũng nhờ đó mà đạt được phước đức đưa đến sanh thiên.

Họ cùng hứa hẹn với nhau. Rồi sau khi dùng điểm tâm xong, vua cùng với Bồ-tát đi vào ngự viên. Vua sai dựng một thảo am ở đấy, cho làm một con đường kinh hành có mái che, và chuẩn bị nơi ăn chốn ở cho việc sinh hoạt của Bồ-tát vào ban ngày cũng như ban đêm. Vua cho mang đến những đồ dùng cần thiết cho đời sống của một người xuất gia, giao phó cho người trông coi ngự viên nhiệm vụ chăm sóc Ngài, và bảo Ngài cứ sống an lạc ở đấy.

Bồ-tát sống ở đó mười hai năm liền.

Một lần nọ, có một cuộc phản loạn xảy ra ở vùng biên giới. Nhà vua muốn thân chinh đến đó để dẹp loạn nên gọi hoàng hậu đến và nói:

– Này ái phi, nàng và trẫm hai người phải có một người ở lại thành.

– Hoàng thượng, tại sao hoàng thượng nói điều đó? Hoàng hậu hỏi.

– Bởi vì chúng ta cần có người chăm sóc Tôn giả ở trong ngự viên.

– Thiếp không bỏ mặc tôn giả ấy đâu, phục vụ Tôn giả là việc của thiếp, xin hoàng thượng cứ yên tâm ra đi, đừng có băn khoăn gì cả.

Thế rồi nhà vua ra đi, còn hoàng hậu tận tâm phục vụ Bồ-tát.

Bấy giờ khi vua đã đi rồi, cứ vào một thời gian được ấn định trong ngày, thì Bồ-tát đi đến hoang cung và thọ thực ở đấy. Một hôm, Ngài đến quá trể. Hoàng hậu sau khi làm sẵn tất cả thức ăn cho Ngài xong, đã tắm rửa, trang điểm, chuẩn bị một ghế ngồi thấp, choàng hờ lên người một chiếc áo đẹp, và nằm tựa chờ Bồ-tát đến. Bấy giờ, Bồ-tát nhận thấy thời gian ấn định trong ngày đã đến, liền cầm bình bát bay vào không trung và đi đến cửa sổ lớn. Khi nghe chiếc y vỏ cây của Ngài kêu sột soạt, hoàng hậu vội vàng đứng dậy, và thế là chiếc áo màu vàng của bà tuột khỏi người. Bồ-tát để cảnh tượng lạ thượng này thâm nhập vào giác quan, đứng trân người nhìn bà ta với lòng khao khát. Do đó, những dục lậu đã được chế ngự bấy lâu nay bằng năng lực của thiền định nay trổi dậy như một con rắn hổ mang vươn đầu mình lên từ cái thùng mà nó bị nhốt trong đó. Ngài giống như một cây yếu bị đốn bằng một cái rìu. Khi dục vọng của Ngài giành được sức mạnh, thì năng lực thiền định của Ngài bị đánh mất, các giác quan của Ngài không còn thanh tịnh nữa. Ngài như con qụa bị gãy một cánh. Ngài không thể ngồi xuống để thọ thực như trước. Mặc dầu hoàng hậu thỉnh ngồi, nhưng Ngài cũng không thể ngồi yên được. Vì thế, hoàng hậu đặt tất cả thức ăn vào trong bình bát của Ngài. Nhưng hôm đó Ngài không thể làm như Ngài đã từng làm sau bửa ăn, là bay ra cửa sổ để đi vào không trung. Do đó, mang thức ăn, Ngài đi xuống bằng cầu thang lớn và như vậy đi vào vườn.

Khi về lại chỗ trú, Bồ-tát không thể ăn được thứ gì. Ngài đặt thức ăn dưới chân giường, mê sảng lẩm bẩm: “Ôi một thiếu phụ! Tay mới đẹp làm sao! Chân mới đẹp làm sao! Eo tuyệt diệu làm sao! Bắp đùi mới quyến rủ làm sao…!” Ngài nằm mê sảng như thế bảy ngày. Thức ăn bị ôi thiu và ruồi đen bâu đầy.

Rồi nhà vua lại quay trở về, sau khi đã chinh phục được vùng biên giới. Tất cả kinh thành đều được trang hoàng. Vua dạo khắp kinh thành trong một đám rước long trọng, giữ đám rước luôn luôn ở phía bên phải, vua tiến đến hoàng cung. Sau đó, ông đi vào ngự viên mong được gặp mặt Bồ-tát. Nhìn thấy đồ bẩn và rác rưởi vung vãi khắp thảo am, vua nghĩ chắc Bồ-tát đi vắng nên đẩy cửa thảo am bước vào, và rồi ông nhìn thấy ẩn sĩ nằm ở đấy. Nhà vua nghĩ: “chắc Tôn giả bị bệnh.” Vì thế, ông đem thức ăn thui thối bỏ đi, dọn dẹp am thất và sau đó hỏi:

– Thưa Thầy, thầy có làm sao không?

– Hoàng thượng, tôi bị thương!

Lúc ấy vua nghĩ: “Ta nghĩ chắc những kẻ thù của ta đã gây ra điều này. Họ không thể tìm được một cơ hội nào nơi ta, nên quyết định gây điều ác hại đối với người mà ta yêu quý.” Vì thế, vua lật Ngài lại để tìm xem vết thương, nhưng ông không thể nhìn thấy vết thương nào, do đó ông hỏi:

– Thưa Thầy, vết thương ở đâu?

– Không có người nào làm ta bị thương cả, chính ta làm thương tổn con tim của mình. Bồ-tát trả lời.

Bồ-tát rời giường nằm, ngồi xuống ghế, và đọc lên những vần kệ như sau:

Không có người bắn tên

Bắn tên ngang qua tai

Để gây vết thương này.

Không có tên lông nào

Nhổ ra từ cánh công

Tô điểm làm đẹp nó

Bởi người thợ khéo tay.

Chính tim này của tôi

Trước sạch trừ tham dục

Nhờ bền chí, trí tuệ

Nay do vì dục tham

Gây ra vết thương này

Nó có thế giết tôi

Thiêu đốt hết chân tay

Giống như là ngọn lửa.

Tôi không thấy vết thương

Từ đó máu tuôn đổ:

Sự điên rồ tim tôi,

Chính nó gây đau khổ.

Bồ-tát giải thích vấn đề cho nhà vua bằng ba bài kệ như vậy. Rồi mời nhà vua ra khỏi thảo am, Ngài bắt đầu tu tập thiền định, và sau đó đạt lại được thiền định. Sau đó, Ngài rời thảo am, ngồi trên không trung và chúc tuế nhà vua. Rồi Ngài nói với vua rằng Ngài sẽ đi đến Tuyết sơn. Nhà vua can ngăn nhưng Ngài nói:

– Hỡi đại vương, xin hãy nhìn sự ô nhục mà ta đã ghánh chịu trong khi sống ở đây! Ta không thể sống ở đây được nữa.

Mặc dù Nhà vua khẩn khoản, nhưng Ngài bay lên không trung và đi đến Tuyết sơn. Ở đấy, Ngài sống trọn đời và đến khi mạng chung đã sanh về cõi Phạm thiên.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo thối thất chứng được quả A-la-hán, một số thầy chứng được quả Dự Lưu, một số chứng được quả Nhất Lai, và một số chứng được quả Bất Lai.

Rồi Thế Tôn nhận diên Tiền thân:

– Vào thuở đó, A-nan là nhà vua, còn ta là người ẩn sĩ.

Số 252
CHUYỆN MỘT NẮM MÈ
(Tiền thân Tila-Muṭṭhi)

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câcu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo dễ sân hận. Chuyện kể rằng rằng, có một Tỳ-kheo có tính khí hay cáu gắt. Dù nghe người khác nói ít bao nhiêu đi nữa, thầy cũng phẫn nộ, nói năng thô lỗ, biểu hiện tức giận, căm ghét và hồ nghi. Chư Tỳ-kheo bàn tán vấn đề này trong Chánh pháp đường.

– Thưa các Pháp hữu, thầy Tỳ-kheo ấy thật quá sân hận và cay nghiệt! Thầy ấy cáu gắt đốp chát người khác giống như muối bỏ vào lửa. Thầy ấy mặc dù tiếp nhận đời sống xuất gia bình lặng, tuy thế lại không thể chế ngự được tâm sân hận của mình.

Đức Thế Tôn nghe vậy liền cho một thầy Tỳ-kheo đi đưa thầy ấy đến và hỏi:

– Như họ nói, có thật thầy là một người dễ sân hận không?

Thầy Tỳ-kheo này trả lời thật có như vậy. Sau đó, đức Thế Tôn nói thêm:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên thầy này dễ bị sân hận thôi đâu, mà trước đây thầy này cũng đã từng như vậy.

Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện đời trước.

* * *

Thuở xưa, vua Phạm Dự (Brahmadatta) xứ Ba-la-nại (Benares) có một người con trai có tên là Vương tử Phạm Dự. Bấy giờ các vua, mặc dù đều có một vị thầy danh tiếng sống trong kinh thành, nhưng họ lại thường đưa con của mình đến những vương quốc xa xôi để hoàn thiện việc học. Bằng cách thức này, chúng có thể học hành để chế ngự tính kiêu ngạo và lòng tự cao tự đại của mình, biết chịu đựng nống lạnh, và để quen thuộc với những lề lối của cuộc đời. Vị vua này cũng làm như thế. Gọi con trai của mình đến – bấy giờ chàng ta đã mười sáu tuổi, ông trao cho chàng một đôi dép có một lớp đế, một cây dù bằng lá cây, một ngàn đồng tiền, cùng với những lời này:

– Này con, con hãy đi đến Xoa-thi-la (Takkasilā) để học tập các nghề nghiệp nhé.

Vâng lời phụ vương, thái tử từ biệt cha mẹ, và vào một thời điểm thích hợp thì lên đường đến Xoa-thi-la.

Ở đấy, chàng hỏi thăm nhà Sư trưởng, và đến đó đúng lúc Sư trưởng vừa kết thúc bài giảng của mình, đang đi đi lại lại trước cửa nhà. Khi nhìn thấy Sư trưởng, thái tử cởi dép, gấp dù, cung kính chào hỏi rồi đứng yên mãi đấy.

Nhận thấy người khách mới đến rất mệt mõi, Sư trưởng đón tiếp ân cần, cho chàng ăn uống và nghĩ ngơi. Sau đó, thái tử đi đến Sư trưởng và cung kính đứng cận một bên. Sư trưởng hỏi:

– Con từ đâu đến đây?

– Thưa thầy, con từ Ba-la-nại đến.

– Con là con của ai?

– Con là con của vua Ba-la-nại.

– Lý do gì con đến đây?

– Con đến đây muốn theo học. Chàng trả lời.

– Thế nào, con có đem theo tiền học phí để trả cho Sư trưởng không? Hay con muốn phục vụ ta để đáp đền lại việc dạy học cho con?

– Thưa thầy, con có đem theo tiền học phí.

Nói rồi, chàng đặt dười chân Sư trưởng số tiền một ngàn đồng của mình.

Bấy giờ, những học trò thường trú phục vụ sư trưởng của mình vào ban ngày, và vào ban đêm họ theo ông học. Nhưng những người có đem theo tiền học phí thì được đối xử giống như những người con trai cả trong nhà, chỉ có học nghề. Do vậy, sư trưởng sắp xếp thời gian để dạy cho thái tử.

Một hôm nọ, thái tử cùng với Sư trưởng đi tắm. Một bà lão nọ đem một số mè trắng ra và trải phơi trước mặt, sau đó ngồi xuống đấy canh chừng. Thái tử trông thấy số mè trắng này thì sinh lòng thèm muốn, thế rồi bốc lấy một nắm đầy bỏ vào miệng.

Bà lão nghĩ: “Cậu trai kia chắc là đói lắm.” Tuy thế, bà không nói một lời nào, mà ngồi im lặng.

Ngày hôm sau, việc như vậy lại tái diễn vào cùng thời điểm như thế. Bà lão cũng không nói lời nào với chàng. Vào ngày thứ ba, thái tử lại làm điều đó. Lúc này bà lão la lên:

– Ôi, vị Sư trưởng danh tiếng đang để cho các đệ tử của mình ăn cắp mè của tôi!

Bà vung tay lên, lớn tiếng khóc than. Sư trưởng quay trở lại và hỏi:

– Thưa bà lão, có vấn đề gì vậy?

– Thưa Sư truởng, tôi đang phơi một số mè, và đệ tử của ngài đã bốc một nắm đầy bỏ vào miệng! Hôm nay cậu ta làm vậy, hôm qua đã làm và ngày hôm kia cậu ta cũng đã làm vậy! Chắc cậu ta muốn ăn sạch mè nhà tôi!

– Thưa bà lão, bà đừng kêu khóc nữa. Tôi sẽ trả lại cho bà số mè ấy.

– Ôi, thưa Sư trưởng, tôi không cần ngài trả lại. Tôi chỉ cần ngài dạy cậu đệ tử của mình đừng làm như thế nữa.

– Thế thì, thưa bà, bà xem đây.

Ông nói và sai hai người khác nắm lấy hai tay của chàng trai trẻ, rồi lấy gậy tre đánh vào bụng chàng ta ba cái và bảo đừng bao giờ làm điều đó nữa.

Thái tử rất tức giận Sư trưởng của mình. Với cái nhìn nảy lửa, chàng ta nhìn ông từ đầu đến chân. Sư trưởng nhận thấy thái độ giận dữ của chàng ta như thế nào, và cách chàng ta đã nhìn mình ra làm sao.

Thái tử chuyên tâm vào học tập và hoàn tất các khóa học của mình, tuy thế vẫn giữ chặt trong tâm lòng thù hận và cương quyết giết chết Sư trưởng. Khi ngày về đã đến, thái tử thưa với Sư trưởng:

– Thưa thầy, khi con thừa kế vương quốc Ba-la-nại, con sẽ mời thầy đến. Lúc ấy, con cầu xin thầy hãy đến với con.

Trước lời mời quá chân thành, Sư trưởng đã nhận lời.

Thái tử quay trở về Ba-la-nại, đến thăm phụ vương và mẫu hậu, trình bày những gì mà chàng đã học. Nhà vua nói:

– Vậy là ta vẫn còn sống để gặp lại con trai ta. Trong khi ta sống đây, ta muốn thấy việc cai trị vĩ đại của con trai ta.

Vì thế, vua cho thái tử lên làm vua thế ông.

Khi thừa hưởng được hoàng quyền, chàng ta nhớ lại mối hận ngày xưa, và thế là cơn giận bùng khởi trong lòng. “Ta sẽ giết chết ông ta!” vua nghĩ và cho sứ giả đến mời Sư trưởng của mình về triều. “Ta sẽ không bao giờ có thể khuyên giải được vua trong khi vua còn trẻ.” Sư trưởng nghĩ và vì thế ông không đến. Nhưng một thời gian sau, khi vua bước vào tuổi trung niên, lúc ấy Sư truởng nghĩ có thể khuyên bảo được vua. Rồi Sư trưởng đi đến, đứng trước cửa hoàng cung và gửi lời vào thưa rằng Sư trưởng xứ Xoa-thi-la đã đến. Nhà vua vui mừng và cho mời Sư trưởng vào. Thế rồi cơn giận phát khởi, mắt vua đỏ lửa, ông gật đầu ra hiệu cho những người xung quanh.

– Ha ha, chỗ mà sư trưởng của ta đánh thuở trước nay vẫn còn làm ta đau! Ông ấy đến đây cùng với chữ tử được viết lên trán, hãy giết ông ấy! Hôm này mạng sống của ông ấy phải kết thúc!

Nói vậy rồi, vua đọc lên hai bài kệ đầu tiên:

Bây giờ tôi nhớ lại

Ngày trước vì nắm mè

Tôi bị ông nắm lấy

Đánh đập bằng gậy tre.

Này hỡi Bà-la-môn

Có phải muốn bỏ thây

Không sợ chuyện ngày trước

Liều mạng đến chốn này?

Vua lấy cái chết ra để đe dọa Sư trưởng như vậy. Khi nghe vua nói thế, Sư trưởng đọc lên bài kệ thứ ba:

Người hiền trí đánh đập

Nhằm uốn người thẳng ngay

Vì dạy không vì giận

Người trí rõ điều này.

Đọc kệ xong, Sư trưởng nói tiếp:

– Và như thế, tâu đại vương, ngài phải tự hiểu điều này. Ngài nên biết rằng tôi đánh ngài không phải vì sân hận. Thực ra, nếu ngài không được tôi dạy cho bài học này thì ngài sẽ tiếp tục lấy bánh kẹo, trái cây và những thứ giống như thế, cho đến khi ngài trở nên thèm thuồng những việc làm trộm cắp này. Sau đó dần dần, ngài sẽ bị lôi cuốn vào các hành vị phá nhà, cướp đường và giết hại khắp làng. Kết cục sẽ là, ngài bị bắt quả tang và bị kéo đến trước nhà vua vì ngài là một kẻ địch, là một tên trộm của dân chúng. Rồi ngài sẽ sợ hãi sự trừng phạt trước mặt công chúng khi nhà vua nói: “Hãy mang người này đi và trừng trị y theo tội phạm của y.” Vậy tất cả sự vinh quang mà ngài hưởng được bây giờ do đâu đến? Không phải do tôi mà ngài đạt được sự vinh hiển này ư?

Sư trưởng của vua đã nói với vua như vậy. Khi nghe lời thuyết giáo này, những triều thần, những người đứng xung quanh đã nói:

– Bẩm hoàng thượng, đó là một sự thật, tất cả sự vinh hiển của ngài thật sự nhờ vào Sư trưởng của ngài!

Ngay khi ấy, vua nhận ra được sự hữu ích của Sư trưởng, vì thế đã nói với ngài:

– Thưa thầy, con xin trao lại tất cả quyền lực của con cho thầy! Xin thầy hãy nhận lấy vương quốc này!

Nhưng Sư trưởng từ chối, ông nói:

– Không đâu, thưa đại vương, tôi không muốn vương quốc.

Vua cho người đến Xoa-thi-la đưa vợ con của Sư trưởng về triều. Ông trao cho họ nhiều danh vọng, và phong Sư trưởng làm quan tư tế, đối xử với ông như cha của mình và vâng theo những lời khuyên bảo của ông.

Sau đó, vua làm việc bố thí, thực hành thiện nghiệp, và đến khi mạng chung đã sanh về thiên giới.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo dễ sân hận đắc được quả Bất lai, và nhiều vị khác đắc được quả Dự lưu, hoặc Nhất lai, hoặc Bất lai.

Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, thầy Tỳ-kheo dễ sân hận này là nhà vua, còn ta chính là vị Sư trưởng.

Số 253
CHUYỆN RẮN THẦN BẢO CHÂU CẢNH
(Tiền thân Mai-Kaṇṭha)

Thức uống thức ăn tôi đủ đầy…

Trong khi sống ở điện thờ A-già-la-bà (Aggālava) gần A-la-tỳ (Ālavi), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về những điều luật xây cất phòng thất.

Một số Tỳ-kheo sống ở A-la-tỳ đi khắp nơi để xin những vật liệu dùng xây cất nhà cửa mà họ đang làm cho mình. Họ cứ nói luôn miệng và quấy rầy:

– Cho chúng tôi một người, cho chúng tôi một người giúp việc .v.v..

Dân chúng lấy làm bực bội với sự cầu xin gạ gẫm này. Vì quá khó chịu, nên mỗi khi nhìn thấy những Tỳ-kheo này là họ hoảng hốt bỏ chạy.

Một hôm, Trưởng lão Đại Ca Diếp (Mahākassapa) đi đến A-la-tỳ và khất thực quanh vùng ấy. Vừa nhìn thấy Trưởng lão, dân chúng đã bỏ chạy. Thọ thực xong, trên đường quay trở lại, Trưởng lão gọi các Tỳ-kheo đến và nói với họ thế này:

– Trước đây, A-la-tỳ là một nơi khất thực chính yếu, tại sao bây giờ lại nghèo khó như vậy?

Họ nói với Trưởng lão lý do vì sao.

Bấy giờ, đức Thế Tôn đang trú ở điện A-già-la-bà. Trưởng lão đi đến đức Thế Tôn và bạch với Ngài tất cả sự việc. Đức Thế Tôn tập họp các Tỳ-kheo có liên quan đến sự việc lại và nói:

– Ta nghe các thầy đang xây cất phòng thất, vì nhờ giúp đở nên làm phiền dân chúng, điều ấy đúng không?

Họ nói điều ấy có thật. Nghe thế, đức Thế Tôn khiển trách họ và nói thêm những lời này:

– Này các Tỳ-kheo, ngay cả ở long cung có đầy đủ bảy báu, nhưng sự cầu xin này cũng khiến cho các long thần khó chịu, huống gì đối với loài người mà để xin được một đồng thì khó khăn như rán sành ra mỡ này!

Nói rồi, Ngài kể một câu chuyện đời xưa.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con trai một vị Bà-la-môn giàu có. Khi Bồ-tát đến tuổi có thể chạy chơi quanh xóm được thì mẹ của Bồ-tát sinh thêm một người em thông minh khác. Khi hai anh em khi đến tuổi trưởng thành thì cha mẹ qua đời. Quá đớn đau trước sự mất mát người thân, hai anh em đã xuất gia làm ẩn sĩ, dựng thảo am bên bờ sông Hằng và sống ở đấy. Am của người anh ở phía thượng lưu sông Hằng, còn người em thì dưới hạ lưu.

Một hôm, có một con rắn thần tên là Bảo Châu Cảnh (Makaṇṭha), đã rời trú xứ của mình, hoá hiện làm một con người, và đi dọc theo bờ sông mãi cho đến khi đi đến nơi trú của người em. Ông ta chào hỏi chủ nhân thảo am và ngồi xuống một bên. Họ chuyện trò với nhau một cách thân mật, và rồi trở thành bạn bè của nhau, gần gũi không có gì tách rời được họ.

Bảo Châu Cảnh thương viếng thăm vị ẩn sĩ em và say đắm chuyện trò với vị này. Rồi khi ra về, rắn thần vì quá thương yêu vị này nên đã để lỗ nguyên hình, lấy thân cuốn tròn vị ẩn sĩ, ôm ấp vị này với cái mồng lớn ở trên đầu. Rắn thần nằm ở đấy một lát cho đến khi thỏa mãn sự yêu thương, sau đó rời thân bạn ra, nói lời từ biệt và quay trở về trú xứ của mình. Vì sợ hãi, vị ẩn sĩ này trở nên gầy ốm, tiều tuỵ, mất hết sắc thân, da dẻ ngày càng vàng vọt và gân nỗi lên khắp mình.

Một ngày nọ, vị này viếng thăm người anh. Người anh thấy em liền hỏi:

– Này em, điều gì khiến em trở nên gầy yếu như vậy? Tại sao em mất hết sắc thân, da dẻ vàng vọt và gân nỗi lên khắp mình như vậy?

Vị này kể lại cho anh mình tất cả sự việc. Người anh nói:

– Này em, hãy nói cho anh biết, em có thích con vật kia đến với em không?

– Không, em không thích.

– Tốt! Vậy khi đến thăm em, rắn thần kia thường mang trang sức gì?

– Mang một viên ngọc quý.

– Hay lắm, vậy khi nó đến lại, trước khi nó ngồi xuống, em hãy xin nó viên ngọc. Như thế, con rắn thần ấy sẽ bỏ đi mà không dùng thân nó ôm ấp em. Ngày kế tiếp, em hãy đứng trước cửa và xin nó viên ngọc. Và vào ngày thứ ba, em hãy xin nó ngay khi nó vừa ra khỏi sông. Như vậy, nó sẽ không bao giờ viếng thăm em nữa.

Người em hứa sẽ làm như vậy, và quay trở về thảo am của mình. Vào buổi sáng, khi con rắn đi đến và đứng ở đấy, vị ẩn sĩ nói lớn:

– Hãy cho tôi viên ngọc quý của bạn đi!

Con rắn nghe thế, vội vàng bỏ đi mà không ngồi xuống. Vào ngày tiếp theo, vị ẩn sĩ đứng ở trước cửa và nói lớn khi con rắn đi đến:

– Hôm qua bạn không cho tôi viên ngọc! Hôm nay bạn phải cho đấy!

Con rắn vội bỏ chạy mà không đi vào am.

Vào ngày thứ ba, vị này nói lớn khi con rắn vừa ra khỏi mặt nước:

– Đây là ngày thứ ba tôi xin bạn viên ngọc. Hãy đến đây và cho tôi viên ngọc ấy!

Con rắn đứng ở trong nước, nói lời từ chối qua hai bài kệ:

Thức uống, thức ăn tôi đủ đầy

Là nhờ ngọc quý, bạn xin đây

Xin nhiều, tôi không cho ngọc được

Cũng không viếng bạn ở nơi này.

Như trẻ cầm kiếm sắc trong tay.

Tôi sợ, khi bạn xin ngọc này

Xin nhiều, tôi không cho ngọc được

Cũng không viếng bạn ở nơi này.

Nói vậy xong, rắn thần lặn xuống nước, quay về trú xứ của mình và không bao giờ quay trở lại nữa.

Thế rồi vị ẩn sĩ kia, không được nhìn thấy rắn thần xinh đẹp của mình nên đã trở nên gầy ốm, tiều tuỵ, vàng vọt xanh xao, và gân nỗi lên trên da nhiều hơn nữa.

Người anh muốn biết em mình thế nào nên đã đến thăm em. Nhìn thấy em mình còn vàng vọt xanh xao hơn trước, liền hỏi em:

– Này em, Tại sao lại thế này? Sao em lại xanh xao hơn cả trước đây?

Người em trả lời:

– Bởi vì em không còn được nhìn thấy rắn thần đáng yêu nữa!

Nghe thế, người anh nói:

– Ẩn sĩ này không thể sống mà không có rắn thần.

Rồi Ngài đọc lên bài kệ thứ ba:

Đừng xin những ai mình thương yêu

Vì xin khiến họ ghét mình nhiều

Phạm chí xin ngọc rắn thần mãi

Nó không trở lại, biến mất tiêu.

Sau đó, Ngài khuyên bảo em mình đừng sầu bi nữa. An ủi vậy xong, Ngài quay trở lại am thất của mình. Sau đó, cả hai anh em cùng tu tập Thần thông và Thiền định, đến khi mạng chung đã sanh về Phạm thiên giới.

* * *

Đức Thế Tôn nói thêm:

– Như vậy, này các Tỳ-kheo, ngay cả thế giới rắn thần, nơi có nhiều ngọc quý, cũng sinh chán ghét khi bị cầu xin huống hồ gì loài người!

Sau khi dạy cho chư vị bài học này xong, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, A-nan là người em, còn ta chính là người anh.

Số 254
CHUYỆN CON NGỰA ĂN CÁM ĐỎ
(Tiền thân Kuṇḍaka-Kucchi-Sindhava)

Trước đây chú ăn cỏ…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về Trưởng lão Xá-lợi-phất.

Một dịp, đức Thế Tôn trải qua an cư mùa mưa ở thành Xá-vệ (Sāvatthi), và sau đó ra đi du hoá. Khi Ngài đi du hoá trở về, dân chúng quyết định cung đón Ngài nên chuẩn bị phẩm vật để cúng dường cho Ngài và Tăng chúng. Họ thông báo cho thầy Tỳ-kheo tri sự biết số lượng họ muốn cúng bao nhiêu, để thầy chỉ định số lượng những Tỳ-kheo sẽ đến.

Có một bà lão nghèo chuẩn bị một phần để cúng dường. Các Tỳ-kheo được chỉ định, một số thì đến người cúng dường này, một số thì đến người kia. Vào lúc mặt trời mọc, bà lão nghèo đi đến thầy tri sự và nói:

– Thưa thầy, thầy cho tôi thỉnh một Tỳ-kheo!

Thầy tri sự trả lời:

– Tất cả các Tỳ-kheo tôi đã chỉ định hết rồi, nhưng Trưởng lão Xá-lợi-phất hiện giờ vẫn còn ở trong tinh xá, bà có thể cúng dường phần ăn của mình cho Trưởng lão.

Bà lão lấy làm sung sướng về điều đó, và đừng chờ nơi cổng Kỳ Viên cho đến khi Trưởng lão đi ra. Bà đảnh lễ Trưởng lão, mang lấy bình bát từ tay thầy, rồi đưa thầy về nhà mình và mời thầy ngồi.

Nhiều gia đình mộ đạo nghe đồn rằng có một bà lão đã thỉnh được Trưởng lão Xá-lợi-phất về nhà mình, trong số đó có vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la. Nghe thế, vua liền gửi cho bà tất cả các loại thức ăn, cùng với một chiếc áo và một ví tiền một ngàn đồng, cùng với lời yêu cầu: “Xin bà bà hãy nhận lấy chiếc áo này, dùng số tiền này, và tiếp đón Trưởng lão thật chú đáo.” Khi nhà vua làm như vậy, ông Cấp Cô Độc anh (Anātha-piṇḍca), ông Cấp Cô Độc em cùng đại tín nữ Vệ-tát-già (Visākhā) cũng làm như thế, tất cả đều gửi những vật thí như vậy. Những già đình khác, có nhà gửi một trăm, có nhà gửi hai trăm đông tiền.., tuỳ theo tài sản của họ cho phép. Như vậy chỉ nội trong một ngày, bà lão đã nhận được số tiền lên đến một trăm ngàn đồng.

Trưởng lão uống cháo mà bà lão đưa, ăn thức ăn bà lão làm, và dùng cơm mà bà lão nấu. Sau đó thầy hồi hướng công đức cho bà, khai mở trí tuệ và khiến cho bà đắc được quả Dự Lưu. Rồi Trưởng lão quay về tinh xá.

Trong Chánh pháp đường, chư Tỳ-kheo đang bàn luận về công đức của Trưởng lão.

– Thưa các Pháp hữu, bậc Tướng Quân Chánh Pháp đã độ một bà lão ra khỏi cảnh đói nghèo. Thầy ấy là chỗ nương tượng của bà lão. Bà lão cúng dường thức ăn và Thầy ấy đã ăn mà không khinh thị.

Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang bàn luận điều gì khi ngồi lại với nhau. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên Xá-lợi-phất là nơi nương tựa của bà lão này thôi đâu, cũng không phải là lần đầu tiên Thầy ấy ăn thức ăn của bà lão này cúng mà không khinh thị. Trước đây, Thầy ấy cũng từng đối xử với bà như vậy.

Sau đó, Ngài kể một câu chuyện đời trước.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Banares), Bồ-tát thọ sanh vào trong một gia đình thương gia ở miền Bắc. Năm trăm người buôn ngựa ở vùng đó thường mang những con ngựa đến Ba-la-nại để bán.

Bấy giờ, có một thương nhân nọ trên đường đến Ba-la-nại cùng với năm trăm con ngựa đem bán. Trên con đường này, cách không xa Ba-la-nại, có một thị trấn, ở đấy trước kia có một trưởng giả giàu có đã sống. Thuở ấy, chỗ ở của ông ta là một nơi rộng lớn, nhưng gia đình của ông ta lần lượt qua đời và chỉ còn lại một bà lão sống trong một căn nhà. Vị thương nhân thuê một chỗ trong căn nhà này để làm nơi nghĩ và buộc chặt những con ngựa ở cận đó.

Vào chính ngày hôm ấy, thật may mắn, một con ngựa cái thuần chủng của ông sinh được một con ngựa con. Ông ta lưu lại đấy hai ba ngày và sau đó sửa soạn đưa những con ngựa của mình đi đến yết kiến nhà vua. Thấy thế, bà lão xin ông ta tiền thuê nhà. Vị thương nhân nói:

– Vâng thưa bà, cháu sẽ trả cho bà.

– Này cháu, thôi cháu cho lão chú ngựa con này đi, coi như trừ đi số tiền cháu thuê nhà vậy. Bà lão nói.

Vị thương nhân làm theo lời yêu cầu của bà và ra đi. Bà lão thương yêu chú ngựa con giống như một người con. Bà cho nó uống nước gạo rang, thịt xay và cỏ.

Một thời gian sau, Bồ-tát trên đường đi cùng với năm trăm con ngựa đã nghĩ lại ở ngôi nhà này. Nhưng những con ngựa đánh thấy hơi chú ngựa thuần chủng được cho ăn bột gạo đỏ này, nên không một con nào dám vào nơi ấy. Vì thế, Bồ-tát hỏi bà lão:

– Thưa lão, hình như có một con ngựa ở trong ấy phải không?

– Này cháu, ở đây có một chú ngựa con duy nhất mà lão trông nom cẩn thận như là con của lão vậy!

– Thưa lão, con ngựa ấy ở đâu?

– Nó đi ăn cỏ rồi.

– Khi nào nó sẽ về?

– À, nó sẽ trở về ngay bây giờ.

Bồ-tát không buộc những con ngựa mà ngồi xuống chờ cho đến khi chú ngựa con trở về. Rồi khi chú ngựa con đi ăn có trở về, Bồ-tát nhìn thấy chú ngựa thuần chủng với cái bụng đầy bột gạo đỏ, và nhận ra những tướng tốt của nó. Ngài nghĩ, “Đây là một chú ngựa thuần chủng vô giá, ta phải mua lại bà lão mới được.”

Khi chú ngựa con đi vào nhà và đến chuồng của mình rồi, lúc ấy những con ngựa kia mới dám đi vào.

Bồ-tát ở lại đó một vài ngày và chăm sóc những con ngựa của mình. Đến ngày lên đường, Ngài nói với bà lão.

– Thưa lão, xin lão bán lại chú ngựa con của lão cho cháu.

– Cháu đang nói gì vậy! Người ta không thể nào bán đi người con của mình được!

– Thưa lão, lão thường cho con ngựa này ăn gì?

– Cho ăn cơm, cháo, gạo rang, thịt xay, cỏ, và cho uống nước gạo.

– Như vậy thưa lão, nếu cháu có được con ngựa này, cháu sẽ cho nó ăn thức ăn ngon nhất. Khi nó đứng, cháu sẽ lấy một tâm vải căng lên trên, và sẽ cho nó đứng trên một tấm thảm.

– Này cháu, cháu muốn chú ngựa này lắm phải không? Thế thì cháu hãy nhận lấy con của lão và đưa nó đi. Nó chắc sẽ được sung sướng!

Bồ-tát trả tiền riêng cho bốn cái chân, cái đuôi và cái đầu của con ngựa. Ngài đặt xuống mỗi chỗ một ví tiền một ngàn đồng, choàng cho bà lão một chiếc áo mới, trang sức vàng bạc cho bà, và để bà lão đứng trước con ngựa. Con ngựa con mở to mắt nhìn trân người mẹ của mình và khóc. Bà lão vuốt lưng nó và nói:

– Con ạ, công sức lão nuôi con bấy lâu nay đã được đền bù rồi, giờ con hãy đi với ông ta đi.

Nghe vậy, con ngựa mới đi.

Ngày hôm sau, Bồ-tát nghĩ là Ngài sẽ thử tài con ngựa con ngày để xem nó có biết sức mạnh của nó hay không. Vì thế sau khi chuẩn bị thức ăn tầm thường, Bồ-tát cho đổ cháo gạo đỏ ra, bỏ trong một cái máng đem cho nó. Nhưng nó không nuốt thứ thức ăn này, từ chối không đụng vào bất cư thứ thức ăn nào như vậy. Thế rồi để thử thách nó, Bồ-tát đọc lên bài kệ thứ nhất:

Trước đây chú ăn cỏ

Cháo cặn và cơm thừa

Thường thích đồ ăn ấy,

Giờ sao lại không ưa?

Khi nghe vậy, con Ngựa trả lời bằng hai bài kệ sau:

Khi người ta không biết

Dòng dõi của bản thân,

Thì cơm thừa đủ tốt

Thỏa mãn điều họ cần.

Nhưng ông cần phải biết

Ngựa chúa chính là tôi

Do đó tôi không nhận

Thứ thức ăn ông mời.

Nghe thế, Bồ-tát trả lời:

– Ta làm điều này để thử chú thôi, xin chú đừng giận.

Sau đó, Ngài nấu thức ăn ngon cho con ngựa ăn và đi đến chầu vua. Khi đến sân nhà vua, ngài để năm trăm con ngựa đứng qua một bên. Còn phía bên kia, Ngài căng một tấm bạt thêu, dưới ấy đặt một tấm thảm, cùng với một cái tán che ở phía trên, và cho con ngựa này nghĩ ở đấy.

Nhà vua đi đến kiểm tra những con ngựa, ông hỏi tại sao chú ngựa này lại được cho ở riêng. Bồ-tát trả lời:

– Tâu đại vương, nếu con ngựa này không được giữ riêng, nó sẽ làm những con ngựa kia sổng chuồng hết.

– Có phải đó là một con ngựa đẹp không? Nhà vua hỏi.

– Đúng vậy, tâu đại vương.

– Thế thì hãy cho trẫm xem nước kiệu của nó đi.

Bồ-tát buộc yên ngựa và cỡi lên lưng nó. Sau đó, dẹp hết những người đang đứng trong sân ra, Ngài cưỡi ngựa chạy quanh trong sân. Ngựa chạy như bay khiến cho tất cả những nơi nó phi qua tạo thành một đường tròn những con ngựa nối tiếp nhau không dán đoạn!

Thế rồi, Bồ-tát nói:

– Tâu đại vương, xin hãy xem tốc độ con ngựa của tôi!

Rồi Ngài cho ngựa tăng tốc chạy tiếp. Không có một người nào có thể nhìn thấy bống dáng con ngựa nữa ! Sau đó, ngài buộc một miếng vải đỏ trên sườn ngựa, và khi ấy họ chỉ nhìn thấy mảnh vải đỏ. Và rồi, Ngài cưỡi nó phi lên trên mặt hồ nước ở trong một khu vườn của kinh thành. Ngựa phi lướt qua mặt nước nhưng đầu mống chân của nó không bị ướt. Thêm nữa, ngựa phi nhanh trên những là sen, nhưng không đạp một lá sen nào xuống nước.

Khi biểu diễn xong những nước kiệu tuyệt diệu của con ngựa, Bồ-tát bước xuống ngựa, vổ tay, đưa ra một bàn tay và lật ngữa lại. Con ngựa bước lên và đứng trong lòng bàn tay người chủ với bốn chân chụm sát vào nhau. Bồ-tát nói:

– Tâu đại vương, thậm chí toàn bộ vòng tròn của đại dương cũng không đủ cho chú ngựa này biễu diễn tài nghệ của mình.

Nhà vua quá vui thích đến độ ông trao cho Bồ-tát một nữa vương quốc của mình, phong con ngựa là quốc mã, và rưới nước làm lễ quán đảnh. Nhà vua yêu quý ngựa và kính trọng nó rất mực. Chỗ ở của nó được làm giống như phòng ngủ của nhà vua, vô cùng đẹp đẻ. Sàn được rãi bằng tất cả bốn loại nước hương, tường vách được treo những tràng và vòng hoa, ở trên trần là một tấm bạt vải được điểm những ngôi sao vàng, nó giống y như một sảnh đường đủ mọi vẻ đẹp bao quanh. Một ngon đèn dầu thơm luôn được đốt, còn trong buồng tiểu tiện, họ đặt một cái chậu bằng vàng. Thức ăn của nó luôn luôn giống với thức ăn của vua. Và từ khi con ngựa đến đấy, toàn thể chủ quyền của cõi Ấn Độ đều thuộc về tay nhà vua. Nhà vua làm các việc thiện và bố thí tài vật theo lời khuyên của Bồ-tát, rồi đến khi mạng chung đã sanh về thiên giới.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, nhiều Tỳ-kheo chứng được quả Dự lưu, hoặc Nhất lai, hoặc Bất lai.

Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, bà lão chính là bà lão bây giờ, Xá-lợi-phất là chú ngựa thuần chủng, A-nan là nhà vua, có ta chính là người buôn ngựa.

Số 255
CHUYỆN CON VẸT
(Tiền thân Kuka)

Bao lần chim đã ăn…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo bị chết do bội thực.

Khi nghe thầy Tỳ-kheo này chết, các Tỳ-kheo tập trung lại trong Chánh pháp đường và bàn luận về những lỗi lầm của thầy này:

– Thưa các Pháp hữu, Tỳ-kheo kia không biết lường cái bao tử của mình, ăn nhiều thức ăn hơn mức bao tử có thể tiêu hóa, nên đành phải chịu chết như vậy.

Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang bàn luận điều gì vào lúc ấy khi cùng ngồi lại với nhau. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu thầy này bị chết bởi do ăn uống quá độ, mà đời trước điều như vậy cũng đã từng xảy ra.

Nói vậy rồi, Ngài kể một câu chuyện đời trước.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một chú Vẹt sống trong vùng Tuyết sơn. Bồ-tát là vua của hàng ngàn con vẹt sống bên sườn Tuyết sơn cạnh bờ biển biển. Vua Vẹt có một đưa con. Khi con trai của vua Vẹt trưởng thành, thì mắt của Vẹt cha trở nên mờ yếu. Người ta nói do những chú vẹt bay quá nhanh, nên khi về già thì mắt của chúng bị mờ yếu trước. Con trai của Bồ-tát đặt cha mẹ mình trong tổ và mang thức ăn về nuôi dưỡng họ.

Tình cờ một ngày nọ, chú Vẹt trẻ bay đi kiếm thức ăn và đậu xuống trên đỉnh một ngon núi. Từ đỉnh núi, nó nhìn ra biển và trông thấy một hòn đảo mà trên đó có một rừng xoài đầy trái vàng ngọt. Vì thế ngày hôm sau, lúc bay đi kiếm thức ăn, nó lao lên không trung và bay đến khu vườn xoài này. Ở đấy, nó hút nước xoài, ăn xoài, và mang xoài về cho cha mẹ mình. Bồ-tát ăn xoài, biết hương vị, bèn hỏi con trai:

– Này con, có phải trái xoài này ở tại một hòn đảo có tên như vậy không?

– Thưa cha, đúng như thế! Chú Vẹt trẻ trả lời.

– Này con, những con vẹt nào đi đến đó thì không thể có được thọ mệnh. Con không nên đến hòn đảo đó nữa. Bồ-tát nói.

Nhưng Vẹt con không vâng lời cha, lại đi đến đó.

Thế rồi một hôm, như thường lệ, chú bay đến đó và uống rất nhiều nước xoài, sau đó dùng miệng cắp một trái xoài bay qua biển. Khi ấy, nó trở nên mệt mỏi vì đã mang trái xoài đi quá lâu. Nó cảm thấy buồn ngủ nên vừa bay vừa ngủ, và trái xoài mà nó mang đã rơi ra khỏi miệng. Dần dần lạc mất đường về, chim bay sà xuống rồi rơi vào nước. Một con cá nhìn thấy đã bắt và nuốt sống nó. Khi đến giờ mà không thấy nó trở về, Bồ-tát biết chắc rằng nó đã bị rơi xuống nước. Sau đó, cha mẹ nó không nhận được thức ăn nên ngày càng gầy mòn và qua đời.

* * *

Khi kể xong câu chuyện này, với trí tuệ viên mãn, đức Thế Tôn đọc lên những vần kệ sau:

Bao lần chim đã ăn

Không khi nào quá lượng

Tìm ăn theo cách này

Mẹ cha, nó phụng dưỡng.

Nhưng một lần ăn nhiều

Quên mất đi tiết độ

Nó rơi và về sau

Không ai nhìn thấy nữa.

Vì thế đừng tham lam

Tiết độ trong tất cả.

Vô tham được an ổn

Tham rơi xuống biển cả.

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, nhiều Tỳ-kheo đắc được quả Dự lưu, hoặc Nhất lai, hoặc Bất lai, hoặc A-la-hán.

Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, Tỳ-kheo này là chú vẹt con ăn quá độ, còn ta chính là vua Vẹt.

Số 256
CHUYỆN CÁI GIẾNG CŨ
(Tiền thân Jarudapāna)

Thương nhân muốn nước nên đào đất…

Trong khi sống ở Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về những thương nhân có nhà cửa tại thành Xá-vệ (Sāvatthi).

Chuyện kể rằng, những người này mua nhiều món hàng ở Xá-vệ, và chất chúng lên trên những cỗ xe. Khi thời điểm để ra đi buôn bán đến, họ thỉnh cầu đức Thế Tôn và cúng dường cho Ngài nhiều phẩm vật, quy y và giữ gìn giới luật tinh nghiêm. Sau đó họ đảnh lễ đức Thế Tôn và thưa:

– Bạch Thế Tôn, chúng con sắp đi buôn bán xa. Khi nào chúng con bán xong hàng hoá của mình, gặp may mắn và trở về an ổn, chúng con sẽ đến thăm và đảnh lễ đức Thế Tôn trở lại.

Sau đó, họ lên đường.

Trên một đoạn đường khó khăn, họ nhìn thấy một cái giếng bỏ không. Họ không nhìn thấy có một giọt nước nào ở trong giếng, trong khi họ lại rất khát nước. Vì thế họ quyết định đào giếng xuống sâu hơn. Khi họ đào, họ liên tục bắt gặp nhiều loại khoáng vật, từ sắt cho đến đồng xanh. Họ bằng lòng khi tìm thấy những thứ báu này, liền chất chúng lên đầy những cỗ xe, và trở về Xá-vệ an toàn. Họ xếp cất của báu được mang về, nghĩ là mình quá may mắn nên đem thức ăn cúng dường cho chư Tỳ-kheo. Vì thế, họ thỉnh đức Thế Tôn đến và cúng dường phẩm vật cho Ngài. Rồi sau khi cung kính đảnh lễ đức Thế Tôn xong, họ ngồi xuống một bên và thuật lại tỉ mỉ sự kiện họ đã tìm được kho báu như thế nào. Đức Thế Tôn nói:

– Này các thiện nam cư sĩ, các vị bằng lòng về điều mình tìm được, và nhận lấy tài sản cùng nếp sống của mình bằng tất cả tâm tiết chế. Còn vào đời trước, có những người không bằng lòng, không tiết chế, họ từ chối làm theo lời bậc hiền trí khuyên bảo, và vì thế họ đã bị mất mạng.

Rồi theo lời thỉnh cầu của những thương nhân, Thế Tôn kể một câu chuyện đời trước.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào một gia đình thương gia, và về sau trở thành một người thương gia cự phú. Một lần nọ, chất đầy hàng hoá vào những cỗ xe, rồi cùng với một đoàn lái buôn đông đảo, Ngài đi đến chính khu rừng như vậy và nhìn thấy chính cái giếng như thế. Khi nhìn thấy giếng, những thương nhân muốn uống nước nên bắt đầu đào giếng xuống sâu hơn. Khi họ đào, họ bắt gặp một số sắt và đá quý. Nhưng nghĩ rằng họ phải được nhiều của báu tốt hơn, nên họ không bằng lòng với những thứ này. “Ở đây chắc phải có kho báu khác tốt hơn thứ này.” Họ nghĩ như thế nên đào mãi. Thấy thế, Bồ-tát nói với họ:

– Này các anh bạn thương nhân, tham lam là nguồn gốc của diệt vong. Các anh đã có được nhiều của cải rồi, các anh nên bằng lòng với số của cải này đi và đừng có đào nữa.

Dẫu được khuyên như thế, họ vẫn tiếp tục đào.

Bấy giờ, cái giếng này là nơi những con rắn cư trú. Điên tiết lên vì đất sỏi rơi lên mình, Xà vương dùng hơi thở mũi của mình phun nọc độc ra giết chết các thương nhân, chỉ trừ Bồ-tát. Xà vương đi ra khỏi thế giới loài rắn, buộc các cỗ xe vào những con bò, chất đầy báu vật lên xe và đặt Bồ-tát ngồi lên một chiếc xe đẹp, bắt một con rắn trẻ đánh xe đưa Bồ-tát về Ba-la-nại. Rắn đưa Bồ-tát vào nhà, sắp xếp của báu đâu vào đấy, rồi trở lại vùng đất rắn. Bồ-tát tiêu dùng kho báu, làm chấn động khắp cõi Ấn Độ bằng việc bố thí, làm việc phước đức và giữ ngày trai giới, rồi đến lúc mạng chung đã sanh về thiên giới.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn với trí tuệ viên mãn đã đọc lên những dòng kệ sau:

Thương nhân muốn nước nên đào đất

Ở trong giếng cũ báu chồng chất

Thiếc, săt, đồng, chì, vàng và bạc

Ngọc trai, đá quý nhiều vô ngần.

Nhưng không bằng lòng, muốn nhiều hơn

Rắn điên phun lửa, khiến tiêu đời.

Nếu người cứ đào, không tiết độ

Đào nhiều nguy hại, có vậy thôi.

Kho báu dành cho người đào này

Nhưng đào quá độ lại trắng tay.

* * *

Rồi đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, Xá-lợi-phất là Xà vương, còn ta chính là người trưởng đoàn thương nhân.

Số 257
CHUYỆN NGƯỜI HẦU GIÀ-MÃ-NI-XIỂN-ĐÀ
(Tiền thân Gāmai-Caṇḍa)

Đó không phải thầy địa lý tài giỏi…

Trong khi sống tại Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về việc tán thán trí tuệ. Chư Tỳ-kheo ngồi trong Chánh pháp đường và thán trí tuệ của đức Phật:

– Thưa các Pháp hữu, đức Thế Tôn có trí tuệ quảng đại, trí tuệ nhanh nhạy, trí tuệ sắc bén và trí tuệ thấu suốt. Trí tuệ của Thế Tôn vượt hẳn trí của nhân thiên.

Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang bàn luận điều gì khi cùng ngồi lại nơi ấy. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên Như Lai có đủ trí tuệ thôi đâu, mà đời trước Như Lai cũng đã như vậy.

Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện đời trước.

* * *

Này các Tỳ-kheo, thuở xưa, khi vua Kết Dân (Janasandha) trị vì vương quốc Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào đời làm con trai của bà chánh phi. Khuôn mặt của Ngài sáng rực, mang một vẻ đẹp diệu kỳ, giống như một cái gương được đánh sáng bóng. Vào ngày lễ đặt tên, họ đặt tên cho Ngài là Vương tử Kính Diện (Adasa-mukha).

Trong thời gian bảy năm, phụ vương của Ngài đã dạy cho Ngài ba bộ Vệ-đà và tất cả những bổn phận phải làm khi sống ở đời. Đến khi Vương tử được bảy tuổi thì phụ vương băng hà. Triều thần cử hành tang lễ cho vua cha vô cùng long trọng và cúng tiến nhiều lễ vật cho người quá cố. Vào ngày thứ bảy, họ tập trung lại trong cung điện và họp bàn với nhau. Họ nghĩ: “Vương tử còn trẻ và không thể làm vua được.”

Trước khi họ tôn Vương tử làm vua, họ phải thử thách Ngài. Vì thế, họ sửa soạn pháp đường và đặt một cái bệ ở đó. Sau đó, họ đi vào gặp vương tử và nói:

– Thưa vương tử, xin vương tử hãy đến pháp đường.

Vương tử đồng ý. Sau đó cùng với một đoàn tùy tùng đông đảo, Ngài đi đến đó và ngồi lên bệ.

Bấy giờ, lúc nhà vua ngồi xử án, những triều thần mặc cho một con khỉ bộ áo quần của thầy địa lý, bắt nó đi bằng hai chân, và đưa nó vào pháp đường.

Họ nói:

– Thưa vương tử, vào thời phụ vương của ngài trị vì, người này là một một thầy địa lý giỏi. Ông ta là người có pháp thuật rất cao cường, và rất thuần thục trong nghề nghiệp. Ông ta có thể nhìn thấy một khuyết điểm sâu dưới mặt đất đến bảy khuỷu tay. Hoàng cung là do ông ta chọn lấy đấy. Xin hoàng thượng lo liệu cho ông ta và ban cho ông ta một chức vụ.

Vương tử nhìn kẻ ấy từ đầu đến chân và nghĩ: “Đây không phải là một con người mà là một con khỉ. Loài khỉ có thể phá hỏng hết những gì mà người khác đã làm, nhưng chính bản thân chúng lại không thể làm được một thứ gì, cũng không thế thực hiện được một công trình gì.” Vì thế, Ngài đọc lên bài kệ đầu tiên:

Đó không phải thầy địa lý tài giỏi

Mà con khỉ với bộ mặt nhăn nheo

Nó có thể phá hỏng việc người khác,

Đó là cách dòng dõi nó làm theo.

– Tâu hoàng thượng, thật đúng như vậy!

Những triều thần nói và mang nó đi. Nhưng sau một hai ngày, họ mặc cho con vật này một bộ áo quần oai nghiêm, và lại mang nó vào pháp đường.

– Tâu hoàng thượng, vào thời phụ vương của Ngài trị vì, người này là một vị quan xử án công minh. Ngài nên để ông ta giúp Ngài trong việc xét án.

Vương tử nhìn nó. Ngài nghĩ: “Một con người có tâm tính và lý trí thì không thể có lông lá như thế ấy. Con khỉ nhăn nhó này không thể phân xử công minh được.” Và Ngài đọc lên bài kệ thứ hai:

Không có trí trong vật lông lá đó

Nó không hề tạo ra được niềm tin

Nó ngu dốt, như phụ vương đã dạy:

Con thú này không có trí thông minh.

– Tâu hoàng thượng, đúng như vậy!

Những triều thần nói và đưa nó đi. Tuy thế thêm một lần nữa, họ mặc áo quần cho con khỉ này và đưa nó đến pháp đường. Họ nói:

– Tâu hoàng thượng, vào thời phụ vương của Ngài trị vì, người này là một người có hiếu với cha mẹ và kính trọng những người lớn tuổi trong gia đình. Ngài nên giữ ông ấy lại với mình.

Vương tử lại nhìn nó và nghĩ: “Loài khỉ tâm tính thường hay thay đổi, nó không thể làm một điều như vậy được.” Và rồi ngài đọc lên bài kệ thứ ba:

Sinh vật ấy không thể giúp đở được

Cha và mẹ, anh chị em, họ hàng

Hay bất cứ những ai gọi nó bạn.

Phụ vương ta dạy cho ta rõ ràng.

– Tâu hoàng thượng, thật đúng như vậy!

Họ trả lời và lại mang con vật đi. Sau đó, họ nói với nhau:

– Đây là một vị vương tử có trí tụê, sẽ có thể trị vì được.

Sau đó, họ tôn Bồ-tát lên làm vua, cho đánh trống thông báo khắp cả kinh thành và rao:

– Đây là những chỉ dụ của vua Kính Diện!

Từ đó về sau, Bồ-tát trị vì một cách chính nghĩa, và trí tuệ của Ngài được loan truyền khắp xứ Ấn Độ. Để làm sáng tỏ tầm mức trí tuệ của Bồ-tát, mười bốn vấn đề này được mang đến Ngài quyết định:

Bò, thai nhi, ngựa, thợ đan tre

Điền chủ, kỷ nữ, cùng thiếu phụ

Rắn, nai, gà trống, và thần cây,

Rồng, ẩn sĩ, Bà-la-môn; gọi đủ.

Câu chuyện xảy ra như thế nào sẽ được giảng giải dưới đây:

Khi Bồ-tát được tôn làm vua, một người hầu của vua Kết Dân tên là Già-mã-ni-xiển-đà (Gāmani.caṇḍa) suy ngẫm thế này: “Vương quốc này sẽ vinh quang nếu được cai trị nhờ sự phò tá của những người đồng trang lứa với nhà vua. Nay ta đã già, ta không thể hầu hạ vị vua trẻ được, vậy ta sẽ về quê làm nông kiếm sống.”

Vì thế, ông rời kinh thành và đến một ngôi làng cách xa kinh thành ba dặm. Nhưng ông không có con bò cày nào cả. Và vì thế, sau khi mưa xuống, ông đến nhà một người bạn mượn hai con bò và cùng chúng cày bừa suốt ngày. Sau đó, ông cho chúng ăn cỏ và mang chúng về trả lại cho người chủ của chúng. Khi ông mang bò đến trả, người chủ bò cùng với vợ của mình đang ăn cơm. Ông im lặng dẫn những con bò vào nhà. Khi chúng đi vào, hai vợ chồng người chủ cứ mãi lo ăn uống. Nhận thấy họ không mời mình cùng dùng bửa, Già-mã-ni-xiển-đà ra về mà không tận tay giao những con bò lại. Ban đêm, những tên trộm đã đột nhập vào chuồng bò và bắt những con bò đưa đi.

Sáng sớm hôm sau, người chủ bò đi vào chuồng bò nhưng không thấy con bò nào ở đấy cả, và ông biết rằng những tên trộm đã đánh cắp. “Ta sẽ bắt Già-mã-ni trả!” Ông ta nghĩ và đi đến nhà Già-mã-ni.

– Xin ông trả lại những con bò cho tôi! Ông ta nói lớn.

– Chúng không ở trong chuồng ư?

– Nhưng ông có giao trả chúng cho tôi đâu?

– Đúng vậy, tôi không giao trả.

– Vậy đây là sứ giả của nhà vua đến mời ông đi!

Bấy giờ, người ở đây có một tập quán rằng, khi họ đặt một hòn đá hay một mảnh gốm và nói: “Đây là sứ giả của nhà vua đến mời đi!” Nếu người nào từ chối không đi, vị ấy sẽ bị trừng phạt. Vì thế, khi Già-mã-ni nghe từ “sứ giả”, thì liền đi.

Như thế, họ cùng đi đến triều đình. Trên đường đi, họ đi đến một ngôi làng mà một người bạn của Già-mã-ni sống ở đấy. Ông nói với người kia:

– Tôi rất đói bụng. Xin ông đứng đây chờ tôi cho đến khi nào tôi đi vào ăn xong và trở ra!

Nói rồi, ông đi vào nhà người bạn.

Nhưng người bạn không có nhà. Vợ người bạn nói:

– Thưa ông, nhà không có thứ gì nấu sẵn cả. Xin ông hãy chờ chốc lát, tôi sẽ nấu và dọn ngay cho ông.

Rồi bà ta bắc thang leo lên kho lúa, và trong sự vội vã, bà ta đã ngã xuống đất. Vào thời điểm ấy, bà ta đã mang thai được bảy tháng, và bà bị sẩy thai.

Vào lúc đó, người chồng đi về và nhìn thấy những gì đang xảy ra. Ông ta hét lên:

– Ông đã đánh vợ tôi và khiến cho cô ấy bị sẩy thai! Đây là sứ giả của nhà vua, hãy đi!

Người chồng nói rồi đưa ông đi. Sau đó, họ lại tiếp tục lên đường, hai người đi hai bên còn Già-mã-ni đi giữa.

Khi họ đang đi, có một con ngựa đứng trước cổng làng đã chạy theo họ. Người giữ ngựa không thể bắt nó đứng lại nên gọi Già-mã-ni:

– Bác Già-mã-nị-xiển-đà ơi, lấy gì đánh con ngựa và bắt nó quay trở lại giúp tôi với!

Già-mã-ni nhặt một hòn đá và ném vào con ngựa. Hòn đá đánh trúng vào chân ngựa, làm gãy chân nó như làm gãy cuống cây thầu dầu. Thế rồi người giữ ngựa kêu lên:

– Ôi, ông đã làm gãy chân con ngựa của tôi rồi! Đây là sứ giả của nhà vua dành cho ông đây!

Phu ngựa nói và nắm chặt lấy ông.

Như vậy, Già-mã-ni trở thành tù nhân của ba người đàn ông. Khi bị đưa đi, ông nghĩ: “Những người này sẽ tố cáo ta với nhà vua, ta không thể trả tiền hai con bò, tiền phạt vì gây ra việc sẩy thai dù nhiều hay ít thì ta cũng không có, và rồi ta sẽ đào đâu ra để trả tiền ngựa nữa chứ? Tốt hơn ta phải chết.” Vì thế, khi họ đang đi, ông nhìn thấy một khu rừng gần bên đường và nơi đó có một ngọn núi với một một vách núi dựng đứng. Ở dưới bống của vách núi, có hai cha con người thợ đan giỏ đang đan một chiếc chiếu. Già-mã-ni nói:

– Tôi muốn nghỉ ngơi một lát. Trong khi tôi qua bên kia, hãy chờ tôi ở đây.

Nói vậy xong, ông leo lên ngọn núi và gieo mình từ trên vách núi cao xuống. Ông rơi xuống trên lưng người thợ đan giỏ già và giết chết ông ta ngay tại chỗ. Già-mã-nị đứng dậy, im lặng sững sờ. Người thanh niên đan rổ hét lên:

– Trời đất ơi, gã bất lương Kia! Ngươi đã giết chết cha của ta rồi! Đây là sứ giả của nhà vua!

Rồi anh ta nắm lấy tay của Già-mã-ni và đi ra khỏi bụi cây.

– Có điều gì vậy? Những người kia hỏi.

– Gã bất lương này đã giết chết cha tôi!

Thế rồi, họ tiếp tục đi. Già-mã-ni đi giữa bốn người.

Họ đi đến cổng một ngôi làng khác. Người trưởng làng ở đấy gọi Già-mã-ni:

– Bác xiển đà đi đâu thế?

– Đến gặp nhà vua. Già-mã-ni nói.

– Ôi, đến gặp nhà vua, thực thế à. Tôi muốn gửi bác một lời nhắn, bác sẽ nhận nó chứ?

– Vâng, tôi sẽ nhận nó.

– May quá! Trước đây tôi có sắc đẹp, giàu sang, có thanh danh và sức khỏe, nhưng bây giờ tôi nghèo khổ lại thêm bệnh tật. Xin bác hỏi nhà vua điều này do bởi nguyên nhân gì. Người ta nói vua là một người có trí. Vua sẽ nói với bác, và xin bác nói lại cho tôi lời của vua.

Già-mã-ni đồng ý nhận lời nhắn này.

Đến một ngôi làng khác, một người kỹ nữ gọi ông:

– Bác Xiển-đà đi đâu đấy?

– Đến gặp nhà vua. Ông trả lời.

– Người ta nói nhà vua là một người có trí tuệ. Xin bác hỏi vua giúp tôi. Trước đây tôi làm ra tiền của rất nhiều, nhưng bây giờ tôi không kiếm đâu ra chút tiền đáng giá quả cau, không còn gã đàn ông nào đến ve vãn tôi nữa. Xin bác hỏi nhà vua tôi phải giải quyết điều này thế nào, và sau đó xin bác nói lại cho tôi biết.

Đến ngôi làng thứ ba, có một thiếu phụ nói với Già-mã-ni:

– Tôi không thể sống với chồng của tôi, cũng không thể sống ở nhà ba mẹ tôi. Hỏi nhà vua tôi phải làm cách nào, rồi nói lại cho tôi biết.

Đi xa thêm được một quãng, có một con rắn sống trong một ổ mối gần bên đường. Nó nhìn thấy Già-mã-ni và gọi lớn:

– Xiển-đà đi đâu đấy?

– Đến gặp nhà vua.

– Nhà vua là một người có trí tuệ, xin bác hỏi ông ấy giúp tôi. Khi tôi bò ra khỏi hang để kiếm mồi, tôi rời ổ mối yếu ớt và đói lã, tuy thế tôi đã lấp thân chật cả hang, và trườn mình ra rất khó khăn. Nhưng khi trở vào, sau khi đã ăn uống thỏa mãn no nê, thân thẻ mập ra, tuy thế tôi lại đi vào hang rất nhanh mà không đụng phải sườn hang. Điều này là thế nào? Xin bác hỏi nhà vua, và mang câu trả lời về giúp tôi.

Đi xa thêm, một con nai nhìn thấy ông. Nó nói:

– Tôi không thể ăn cỏ ở những nơi khác ngoài dưới gốc cây này. Xin ông hỏi nhà vua lý do tại sao.

Và đi xa thêm một đoạn nữa, một con gà trống nói:

Khi tôi đậu nơi chân tổ mối này và cất tiếng gáy của mình, tôi có thể gáy rất hay, nhưng ở nơi khác thì không như vậy. Xin ông hỏi vua lý do tại sao.

Thêm một đoạn nữa, một nữ thần cây nhìn thấy ông và nói:

– Xiển-đà, ông đi đâu vậy?

– Đi đến nhà vua.

– Người ta nói nhà vua là một người có trí. Trước đây, tôi được dâng cúng rất nhiều. Nhưng giờ đây một nắm nhành cây cỏn con tôi cũng không nhận được. Xin ông hỏi nhà vua lý do vì sao.

Đi xa thêm nữa, một con rắn chúa nhìn thấy ông và nói với ông thế này:

– Nhà vua là một người hiền trí. Thế thì hãy hỏi vua câu hỏi này. Trước đây nước trong hồ này trong suốt như pha lê. Tại sao bây giờ nó trở nên vẩn đục với váng bọt nổi lên cùng khắp?

Đi xa nữa, cách kinh thành không còn xa, một số ẩn sĩ sống trong rừng nhìn thấy ông và hỏi ông cùng cách như vậy:

– Người ta nói nhà vua là một người có trí. Trước đây, trong khu rừng này có rất nhiều trái cây ngọt, thế nhưng bây giờ chúng trở nên vô vị và nứt khô. Xin ông hỏi nhà vua bởi lý do gì.

Đi thêm nữa, một vài thanh niên Bà-la-môn ở trong một ngôi nhà gần cổng thành xáp đến bắt chuyện với ông. Họ hỏi:

– Xiển-đà, ông đang đi đâu vậy?

– Tôi đến gặp nhà vua. Xiển-đà nói.

– Thế thì cho chúng tôi gửi lời nhằn. Trước đây, bất kỳ kinh chú nào chúng tôi học được đều rõ ràng sáng sủa. Bây giờ, chúng tôi không còn nhớ gì cả, không còn hiểu được kinh chú, tất cả đều tối tăm, nó giống như nước đựng trong một cái bình có lỗ rò rĩ. Xin ông hỏi nhà vua lý do vì sao.

Già-mã-ni-xiển-đà đến yết kiến nhà vua cùng với mười bốn câu hỏi. Khi nhà vua nhìn thấy Già-mã-ni, liền nhận ra ông: “Đây là người hầu của phụ vương ta, người từng nâng niu ta trong tay. Độ này ông ấy sống ở đâu nhỉ?” Rồi vua hỏi:

– Xiển-đà, độ này khanh sống ở đâu? Rất lâu rồi trẫm không hề thấy bống dáng của khanh, hôm nay khanh đến đây có việc gì không?

– Tâu hoàng thượng, từ khi phụ vương của ngài quy tiên, tôi đã trở về miền quê và sống bằng nghề nông. Thế rồi người này đã triệu tôi đến đây vì một sự kiện cáo liên quan đến những con bò.

– Nếu khanh không được đưa đến đây, thì chắc khanh sẽ không bao giờ đến. Nhưng dầu sao đi nữa trẫm cũng lấy làm vui là khanh được đưa đến đây. Bây giờ trẫm có thể gặp người ấy. Ông ta bây giờ ở đâu?

– Ở đây, tâu hoàng thượng.

– Có phải chính ông đã triệu người bạn Xiển-đà của ta đến đây không?

– Thưa vâng, tâu hoàng thượng.

– Lý do tại sao?

– Ông ta từ chối trả lại cặp bò của thảo dân!

– Xiển-đà, có phải vậy không?

– Tâu hoàng thượng, xin ngài hãy nghe tôi nói!

Xiển-đà nói và kể cho vua hết thảy sự việc. Khi vua nghe xong câu chuyện này, ông nói với người chủ bò:

– Ông có nhìn thấy cặp bò đi vào chuồng không?

– Không, tâu hoàng thượng. Ông ta trả lời.

– Thế nào, có phải ông không bao giờ nghe đến tên ta? Người ta gọi ta là vua Kính Diện. Hãy khai báo trung thực đi.

– Thảo dân nhìn thấy chúng, tâu hoàng thượng. Ông ta nói.

– Này Xiển-đà, khanh quên trả lại những con bò, và do đó khanh là con nợ của ông ta. Nhưng người này nói rằng không nhìn thấy chúng là hoàn toàn nói dối. Vì thế, khanh hãy dùng tay của mình mốc mắt ông ta ra, và chính khanh phải trả cho ông ta hai mươi bốn đồng tiền vàng là giá tiền cặp bò.

Thế rồi, cận vệ đưa người chủ bò ra ngoài.

Ông này nghĩ: “Nếu ta mất đi đôi mắt thì tiền bạc còn có ý nghĩa gì?” Thế rồi ông ta sụp xuống nơi chân Già-mã-ni và van xin:

– Ôi ngài Xiển-đà, xin ngài cứ giữ lại hai mươi bốn đồng tiền vàng đó, và nhận luôn cả những thứ này!

Ông ta đưa thêm cho Xiển-đà một số tiền khác và bỏ chạy.

Người thứ hai nói:

– Tâu hoàng thượng, người này đã đánh vợ thảo dân và làm cho cô ấy bị sẩy thai.

– Xiển-đà, điều ấy thật chăng? Nhà vua hỏi.

– Xin hoàng thượng hãy nghe tôi nói.

Rồi ông kể lại toàn bộ câu chuyện.

– Có phải ông thật sự đánh cô ta và làm cho cô ta bị sẩy thai? Nhà vua hỏi

– Thưa không, tâu hoàng thượng, tôi không gây ra điều như vậy.

Nhà vua nói với người kia.

– Bây giờ ông có thế chữa lành việc sẩy thai mà Xiển-đà đã gây ra không?

– Không, tâu hoàng thượng, thảo dân không thể.

– Bây giờ ông muốn gì?

– Tâu hoàng thượng, thảo dân muốn có một đứa con.

– Thế thì Xiển-đà, bây giờ ông hãy đưa vợ của người này về nhà của mình, và khi nào sinh được một đứa bé thì hãy mang nó đến cho người chồng của cô ta.

Nghe thế, người này cũng sụp xuống dưới chân Xiển-đà khóc lóc:

– Thưa ông, xin đừng phá vỡ gia đình tôi!

Ông ta đặt xuống một số tiền và chuồn mất.

Sau đó, người thứ ba buộc tội Xiển-đà đã làm què chân con ngựa của ông ta. Như trước, Xiển-đà kể lại những gì đã xảy ra. Thế rồi nhà vua nói với người chủ ngựa:

– Ông có thật sự bảo Xiển-đà đánh con ngựa để cho nó quay trở lại không?

– Không, tâu hoàng thượng, thảo dân không bảo ông ấy.

Nhưng rồi khi bị thúc ép, ông ta thừa nhận rằng ông ta đã bảo như vậy.

Nhà vua nói:

– Người này hoàn toàn dối trá khi nói rằng y không bảo khanh làm cho con ngựa quay lại. Khanh được phép xé lưỡi của y ra, sau đó trả cho y một ngàn đồng giá tiền ngựa, số tiền đó trẫm sẽ cho khanh.

Nhưng gã này, không những không còn dám đòi tiền, mà còn đưa thêm cho ông một số tiền khác và bỏ đi.

Sau đó, con trai của người đan giỏ nói:

– Ông này là một kẻ sát nhân, ông ta đã giết chết cha của thảo dân!

– Có thật như vây không Xiển-đà? Nhà vua hỏi.

– Tâu hoàng thượng, xin nghe tôi nói.

Sau đó, ông kể sự việc với nhà vua.

– Bây giờ anh muốn gì? Nhà vua hỏi con trai người đan giỏ.

– Tâu hoàng thượng, thảo dân muốn có lại người cha của mình.

Xiển-đà, người này muốn có một người cha. Nhưng khanh không thể mang ông cụ kia từ cõi chết trở lại được. Vậy khanh hãy đưa mẹ của anh này về nhà, và khanh hãy làm cha của anh ta.

– Ôi, thưa ông! Xin đừng phá nát gia đình người cha quá cố của tôi!

Anh ta van xin, sau đó trao cho Xiển-đà một số tiền và vội vàng bỏ chạy.

Như thế, Xiển-đà đã thắng kiện. Và trong sự vui mừng khốn xiết, ông nói với nhà vua:

– Tâu hoàng thượng, tôi muốn hỏi ngài nhiều vấn đề của nhiều người nhờ hỏi. Hoàng thượng cho phép tôi hỏi chứ?

– Hãy nói đi. Nhà vua nói.

Thế rồi, Già-mã-ni thuật lại những câu hỏi theo trình tự đảo ngược, bắt đầu từ những thanh niên Bà-la-môn. Nhà vua lần lượt trả lời chúng. Đối với câu hỏi đầu tiên, Ngài trả lời:

– Trước đây, ở nơi họ sống, từng có một con gà trống biết gáy đúng giờ. Khi nghe tiếng gáy của nó, họ thường thức dậy và đọc những bài chú của mình, mãi cho đến khi mặt trời mọc. Và như vậy, họ không quên những gì họ đã học. Nhưng bây giờ, có một con gà trống gáy không đúng giờ. Nó thường gáy vào lúc nửa đêm hoặc vào lúc rạng đông. Khi nó gáy vào giữa đêm thâu, họ thức dậy. Nhưng khi đọc những bài chú, họ lại quá buồn ngủ. Khi nó gáy vào lúc rạng đông, họ thức dậy, nhưng họ không còn thời gian để đọc những bài chú. Chính vì vậy mà những gì đã học họ vội quên ngay.

Đối với câu hỏi thứ hai, vua trả lời:

– Trước đây, những người này từng thực hiện đầy đủ những bổn phận phải làm của một người ẩn sĩ, và họ đạt được thiền định. Còn bây giờ, họ xao lãng đối với những bổn phận của một người ẩn sĩ, và những gì cần phải làm họ không muốn làm. Trái cây ở trong vườn này họ đem cho những người hầu cận của họ. Họ đã sống theo một lối sống sai trái là trao đổi thí vật. Đây là lý do tại sao trái cây ở đây mất hết vị ngọt. Nếu mỗi khi họ bằng lòng thực hiện trở lại những việc làm phạm hạnh của một người ẩn sĩ, thì trái cây dành cho họ sẽ ngọt trở lại. Những ẩn sĩ này không biết trí tuệ của những vị vua, hãy bảo họ sống đời sống ẩn sĩ.

Vua nghe câu hỏi thứ ba và trả lời:

– Những chúa rắn tranh cãi với một con rắn khác, và đó là lý do tại sao nước trở nên đục. Nếu chúng kết bạn lại với nhau như trước đây, thì nước sẽ trong trở lại.

Sau khi nghe câu hỏi thứ tư, Vua nói:

– Trước đây, nữ thần cây này thường bảo vệ những người đi qua rừng và do đó thường nhận được nhiều sự cúng tiến. Bây giờ nữ thần không bảo hộ họ nữa nên không còn nhận được những phẩm vật cúng tiến. Nếu nữ thần bảo hộ họ giống như trước thì nữ thần sẽ nhận được những vật phẩm cúng tiến tốt trở lại. Nữ thần không biết có những vị vua hiền trí trong đời. Thế nên nói với nữ thần, hãy bảo hộ những người đi vào khu rừng đó.

Khi nghe câu hỏi thứ năm, vua nói:

– Dưới tổ mối, nơi con gà trống tự nhận thấy có thể cất lên tiếng gáy hay, ở đấy có một bình báu. Hãy đào lên và lấy nó.

Đối với câu hỏi thứ sáu, vua trả lời:

– Trên cây mà ở dưới đó con nai có thể ăn cỏ, có một tổ ong lớn. Con nai thèm muốn thứ cỏ mà mật từ tổ ong này giọt xuống trên đó nên nó không thể ăn những thứ cỏ khác. Khanh hãy lấy tổ ong, gởi phần ngon nhất đến cho trẫm, và ông ăn phần còn lại.

Rồi khi nghe câu hỏi thứ bảy, vua trả lời:

– Ở dưới tổ mối con rắn ở, có một cái bình báu lớn, và nó sống ở đấy để gìn giữ cái bình báu. Vì thế khi nó đi ra, từ việc tham lam cái bình này mà thân của nó đụng sát chặt. Nhưng sau khi ăn xong, lòng tham vật báu của nó không còn nên nó đi vào nhanh và dễ dàng mà thân không bị đụng sườn hang. Hãy đào vật báu lên và lấy nó.

Rồi vua trả lời vấn đề thứ tám:

– Giữa hai ngôi làng mà chồng của người thiếu phụ và cha mẹ của cô ta ở, có gã tình nhân của cô ta sống ở một căn nhà nọ. Cô ta nhớ gã, và vì luyến ái gã mà cô ta không thể ở trong nhà cha mẹ chồng, và nói rằng sẽ về thăm cha mẹ của cô ta. Rồi trên đường đi, cô ta ở một vài ngày với người tình của mình. Khi cô ta ở nhà mình được ít ngày, cô lại nhớ gã và nói rằng sẽ quay về với chồng mình, nhưng cô lại đến với gã tình nhân của cô ta. Hãy đến nói với cô ta, có những vị vua hiền trí ở trên cõi đời. Bảo cô ta phải sống với chồng của mình. Nếu cô ta không nghe lời, nói cô ta hãy coi chừng, nhà vua sẽ cho bắt cô ta và sau đó sẽ giết chết.

Nghe vấn đề thứ chính, và đối với điều này, vua nói:

– Trước đây, người phụ nữ này mỗi khi nhận tiền từ tay một người khách, thì sẽ không đi với người khác cho đến khi nào cô ta không còn đi với người này nữa, và đây là cách thức mà cô ta nhận được nhiều tiền. Bây giờ, cô ta thay đổi cách thức của mình, chưa rời bỏ người trước, đã vội đi với người sau, cho nên cô ta không còn nhận được thứ gì cả, và cũng không còn người nào tìm đến cô ta. Nếu cô ta giữ cách thức cũ thì sự việc sẽ trở lại như trước đây. Hãy bảo cô ta nên giữ điều đó.

Khi nghe vấn đề thứ mười, vua trả lời:

– Trước đây, người trưởng làng đó thường xét xử công minh, vô tư, vì thế người ta hài lòng và vui vẻ với ông. Và trong niềm vui của họ, họ đã tặng cho ông nhiều quà. Đây là điều làm cho ông ta có sắc đẹp, giàu sang và được kính trọng. Bầy giờ ông ta thích nhận của hối lộ, và việc xét xử của ông không còn công bằng, nên ông ta ngheo khó, khổ đau và bệnh tật. Nếu ông ta xét xử công chính trở lại, ông ta sẽ được lại như trước đây. Ông ta không biết rằng trên đời này có những vị vua hiền trí. Hãy bảo ông ta phải sử dụng sự công minh trong việc xét xử.

Già-mã-ni-xiển-đã đã thuật lại tất cả những lời nhắn gởi này với vua, như những gì người ta đã nói với ông. Và nhà vua sau khi đã giải quyết tất cả những vấn đề này bằng trí tuệ của mình, giống như đức Phật toàn trí, đã ban nhiều phẩm vật cho Già-mã-ni-xiển-đà. Nhà vua cho Xiển-đà ngôi làng nơi ông đang sống, như là món quà của một người Bà-la-môn, và sau đó cho ông về. Xiển-đà ra khỏi kinh thành và nói lại câu giải đáp của nhà vua cho các thanh niên Bà-la-môn, những ẩn sĩ, cho rắn chúa và thần cây. Ông lấy vật báu ở nơi con gà trống đậu, và ở nơi cây mà dưới đó con nai ăn cỏ, ông lấy tổ ong và gởi mật đến nhà vua. Ông phá tổ mối của con rắn và lấy vật báu ra khỏi hang. Đối với người thiếu phụ, cô kỹ nữ, và vị trưởng làng, ông đã nói tất cả những gì mà nhà vua đã nói với ông. Sau đó, ông quay trở về làng của mình và sống ở đấy cho đến cuối đời, rồi sau khi mạng chung đã tái sanh theo hành nghiệp của mình. Vua Kính Diện cũng bố thí, làm việc lành, và sau khi mạng chung đã sanh về thiên giới.

* * *

Kết thúc pháp thoại nhằm chỉ bày ra rằng đức Thế Tôn không chỉ có trí tuệ ở đời này mà đời trước Ngài cũng có trí tuệ, Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Bấy giờ, vào lúc kết thúc các Thánh đế, nhiều người đắc được quả Dự lưu, hoặc Nhất lai, hoặc Bất lai, hoặc A-la-hán.

Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, A-nan là Già-mã-ni-xiển-đề, còn ta chính là vua Kính Diện.

Số 258
CHUYỆN VUA MẠN-ĐÀ-ĐA
(Tiền thân Mandhātu)

Ở đâu mặt trời mặt trăng chiếu…

Trong khi trú tại Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo thối thất.

Chuyện kể rằng, thầy Tỳ-kheo này trong khi đi khất thực ở thành Xá-vệ (Sāvatthi), đã nhìn thấy một phụ nữ ăn bận xiêm y lộng lẫy và sanh lòng luyến ái cô nàng. Thế rồi các Tỳ-kheo đưa thầy vào Chánh pháp đường và bạch lên đức Thế Tôn rằng thầy ấy là một người thối thất. Đức Thế Tôn hỏi thầy việc ấy có thật không. Thầy trả lời rằng việc ấy là có thật. Đức Thế Tôn nói:

– Này Tỳ-kheo, ngay khi thầy còn là một gia chủ, thì có bao giờ thầy thỏa mãn được dục tham này không? Dục tham sâu như đại dương, không có thứ gì làm thỏa mãn được nó. Vào đời trước, có những vị Chuyển Luân Vương, những người được tùy tùng của họ chăm sóc, đã nắm quyền thống trị khắp bốn đại châu được bao quanh bằng hai ngàn hòn đảo, thậm chí thống trị ở thiên giới của Tứ đại thiên vương, thậm chí khi họ là những vị thiên vương ở cõi trời Tam Thập Tam, thậm chí ở cõi trời của ba mươi sáu vị Đế Thích, thì ngay cả những người này cũng không thỏa mãn được dục tham của họ, và đã chết trước khi họ có thể thỏa mãn được. Thế thì bao giờ thầy sẽ thỏa mãn được dục tham chứ?

Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện đời trước.

* * *

Thuở xưa, vào thời sơ thủy của thế giới, có một vị vua tên là Ma-ha-tam-ma-đa (Māhsammata) sống ở đấy. Ông có một người con trai tên là Lâu-di (Roja), Lâu-di có một người con tên là Ca-lê-da-na (Kalyāa), Ca-lê-da-na có một người con tên là Bạt-lan-ca-lê-da-na (Varakalyāa), vị này có một người con tên là Điểu-bô-sa-tha (Uposatha), và Điểu-bô-sa-tha có một người con tên là Mạn-đà-đa (Mandhātā). Mạn-đà-đa có đủ Thất bảo và Tứ Thần thông. Ông là một vị chuyển luân vương. Khi ông nắm chặt bàn tay trái của mình và đụng nó vào bàn tay phải, thì ở đấy một trận mưa bảy báu trút xuống, ngập đến tận đầu gối, như thể một trận mưa giông từ trên trời đổ xuống; ông ta là một người kỳ diệu như vậy. Ông ta làm vương tử tám mươi bốn ngàn năm, cùng khoảng thời gian như vậy ông làm một vị phó vương, và thậm chí trong chừng ấy năm ông đã trị vì như một vị chuyển luân vương. Thọ mệnh của ông kéo dài vô lượng.

Một ngày nọ, vì không thể thỏa mãn được một vài dục tham, ông ta đã biểu lộ những dấu hiệu bất mãn. Thấy vậy những triều thần hỏi ông:

– Bẩm hoàng thượng, tại sao ngài thất vọng chán nản như vậy?

– Khi sức mạnh phước đức của ta được xem là kỳ diệu như thế, thì vương quốc này có nghĩa gì chứ? Có nơi nào đáng giá hơn không?

– Bẩm hoàng thượng, có thiên giới.

Vì thế, chuyển vận luân vương, ông cùng với đoàn tùy tùng của mình đi đến cõi trời của Tứ đại thiên vương. Bốn vị thiên vương cùng với hội chúng chư thiên đông đảo , mang theo thiên hương và thiên hoa long trọng đến đón tiếp ông, đưa ông vào thiên giới của họ và cho ông trị vì thiên quốc. Ông chính thức trị vì ở đấy một thời gian dài. Nhưng ở đấy, không thể làm thỏa mãn được dục tham của ông, và vì thế, ông bắt đầu tỏ ra chán nãn bất mãn.

Bốn vị thiên vương hỏi:

– Thưa đại vương, tại sao ngài lại bất mãn?

Nhà vua hỏi:

– Có nơi nào vui thú hơn cõi trời này không?

– Thưa đại vương, chúng tôi giống như những người hầu. Cõi trời Tam Thập Tam thì vui thú hơn cõi này!

Mạn-đà-đa vận chuyển luân vương, và cùng với đoàn tùy tùng của mình vây quanh, ông đi đến cõi trời Tam Thập Tam. Và Đế Thích, vua của chư thiên, mang thiên hoa và thiên hương, được đông đảo chư thiên vây quanh, đã đi đến đón tiếp ông long trọng và chỉ dẫn cho ông đường đi. Vào lúc nhà vua đang tuần hành giữa đám đông chư thiên, người con trai trưởng của ông đã lấy Luân Vương và xuống hạ giới, sau đó đi đến kinh thành của mình. Đế Thích đã dẫn Mạn-đà-đa vào cõi trời Tam Thập Tam, trao cho ông một nữa vương quốc của mình, và hai người cùng trị vì. Thời gian trôi đưa, cho đến khi Đế Thích sống ở đó được sáu mươi vạn năm, rồi ba mươi triệu năm, sau đó tái sanh trở lại nhân gian. Vị Đế Thích khác trưởng thành, và ông cũng trì vì, sống hết đời của mình và sanh về nhân gian. Cùng cách này, ba mươi sáu vị Đế Thích kế tiếp nhau trị vì. Cho đến khi Mạn-đà-đa trị vì cùng với đám đông triều thần của ông vây quanh. Theo thời gian trôi, sức mạnh dục tham của ông ngày càng mạnh hơn. Ông nhủ thầm: “Nửa vương quốc thì có nghĩa gì đối với ta chứ? Ta sẽ giết Đế Thích và trị vì một mình!” Nhưng ông không thể giết được Đế Thích. Dục tham này của ông là nguồn gốc của tại hoạ. Năng lực thọ mạng của ông bắt đầu tàn lụi, tuổi già túm chặt ông, nhưng thẩn thể con người thì không thể rã tan trên thiên giới được. Vì thế, từ thiên giới, ông rớt xuống và rơi vào trong một khu vườn. Người giữ vườn trông thấy và đi đến báo cho hoàng gia biết. Người của hoàng gia đến và làm cho ông một chỗ nghỉ ngơi ở trong vườn. Nhà vua nằm ở đấy trong sự chán nãn mệt mõi. Những triều thần hỏi ông:

– Bẩm hoàng thượng, ngài có điều gì cần nói với chúng thần không?

Ông nói:

– Hãy đem lời này của ta nói với dân chúng: Mạn-đà-đa, vua của các vua, đã thống lãnh khắp bốn đại châu, cùng với hai ngàn hòn đảo bao quanh, đã trị vì cư dân của bốn vị đại vương trong một thời gian lâu dài, đã từng là vua của Thiên giới trong suốt cuộc đời của ba mươi sáu vị Đế Thích, giờ đã chết.

Nói xong những lời này, ông nhắm mắt xuôi tay và tái sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn hiển thị giác ngộ viên mãn và đọc lên những vần kệ sau:

Ở đâu mặt trời mặt trăng chiếu

Dân chúng đều thuộc Man-đà-đa

Đâu trên mặt đất thấy ánh sáng

Ở đấy thuộc quyền Mạn-đà-đa.

Dù cho mưa tiền từ trời xuống

Không gì thỏa mãn được dục tham.

Dao động, tham lam là ưu khổ

Biết được điều này là trí nhân.

Ngay cả các dục trên thiên giới

Tìm được khoái lạc thật gian nan.

Đệ tử đức Phật cần nỗ lực

Tinh tấn đoạn trừ mọi dục tham.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết Tứ Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo thối thất và nhiều Tỳ-kheo khác đắc được quả Dự lưu.

Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, ta chính là vua Mạn-đà-đa.

Số 259
CHUYỆN ẨN SĨ ĐỀ-LỢI-ĐẠT-NGOÃ-XA
(Tiền thân Tirīa-Vaccha)

Không thể thấy thông minh nơi ông ấy…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về phẩm vật cúng dường một ngàn tấm y mà Tôn giả A-nan đã nhận được: năm trăm tấm từ một nữ tín chủ của vua nước Câu-tát-la (Kosala) và năm trăm tấm từ chính nhà vua. Những tình huống của câu chuyện đã được miêu tả ở trên, Tiền thân Sigāla, số 252.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con trai một người Bà-la-môn ở nước Ca-thi (Kāsi). Vào ngày lễ đặt tên, họ đặt tên cho ngài là Đồng tử Đề-lợi-đạt-ngõa-xa (Tirīvaccha). Đến khi trưởng thành, Ngài đến Xoa-thi-la (Takkasilā) học nghề, sau đó kết hôn và ổn định gia thất. Nhưng quá đau buồn trước cái chết của song thân, Ngài đã xuất gia làm một ẩn sĩ khổ hạnh, sống trong một khu rừng, ăn trái cây và củ rễ.

Trong khi ngài sống ở đấy, có một cuộc phản loạn nổi lên ở vùng biên giới xứ Ba-la-nại. Nhà vua chinh hành đến đây, nhưng ông bị đánh bại. Sợ hãi cho tính mạng, ông nhảy lên lưng voi và len lút xuyên rừng chạy trốn. Vào buổi sáng, Đề-lợi-đạt-ngõa-xa đi ra ngoài để hái lượm trái cây rừng. Và trong lúc ấy, nhà vua đi đến thảo am của Ngài. Ông nói: “Đây là thảo am của một ẩn sĩ!”. Ông tụt xuống lưng voi. Kiệt sức vì gió nắng và khát nước, ông tìm kiếm một bình nước nhưng không thể tìm thấy một chiếc nào. Cuối đường kinh hành có mái che, vua nhìn thấy một cái giếng, nhưng ông không tìm thấy dây và gàu kéo nước. Quá khát đến không chịu đựng nỗi, vua bèn tháo đai nịt bụng voi, buộc chặt vào thành giếng và đu mình xuống giếng. Nhưng đai dây quá ngắn, vì thế ông buộc múi dây đai vào áo của mình và thả mình xuống giếng trở lại. Tuy thế, ông cũng không thể với tới nước được, chỉ có thể đụng chân vào nước mà thôi. Quá khát nước, ông nghĩ: “Nếu ta có thể dập tắt được cơn khát thì dù có chết cũng thỏa!” Vì thế, ông thả mình xuống giếng và uống no nươc, nhưng rồi ông không thể leo lên lại được. Vì thế, ông đứng nguyên ở trong giếng. Còn con voi, vì được huấn luyện thuần thục, nên đứng mãi ở đấy chờ vua.

Vào buổi chiều, Bồ-tát quay trở về, giỏ chất đầy trái cây rừng. Ngài trông thấy con voi và nghĩ: “Ta nghĩ là nhà vua đã đến đây, nhưng sao chỉ có con voi chiến. Điều gì đã xảy ra?” Rồi Ngài đến gần con voi đang đứng chờ Ngài. Sau đó, Ngài đi đến bên thành giếng và nhìn thấy nhà vua đang ở dưới giếng. Ngài gọi lớn:

– Thưa đại vương, xin đại vương đừng sợ gì cả.

Nói rồi, Ngài đặt một cái thang xuống và giúp nhà vua trèo lên khỏi giếng, xoa bóp và xức dầu cho ông, sau đó đưa trái cây cho vua ăn, và tháo áo giáp cho con voi. Vua nghĩ ở đấy hai ba ngày thì ra đi, sau khi mời Bồ-tát và được Ngài nhận lời sẽ đến viếng thăm ông.

Một tháng rưỡi sau, Bồ-tát đi đến Ba-la-nại và trú trong một công viên. Ngày hôm sau, ngài đến hoàng cung để khất thực. Nhà vua mở cửa sổ lớn và đứng nhìn ra sân. Thế rồi, ông nhìn thấy Bồ-tát và nhận ra Ngài. Ông đi xuống đảnh lễ và dẫn Ngài đến một cái bệ, cho Ngài ngồi trên ngai vàng dưới một chiếc lộng trắng. Nhà vua cúng thức ăn của mình cho Ngài dùng. Rồi ông đưa Bồ-tát đến vườn, sai người làm một lối kinh hành có mái che và một chỗ ở cho Ngài, và cung cấp cho Ngài tất cả những nhu yếu phẩm cần thiết cho một ẩn sĩ. Sau khi giao Bồ-tát cho người giữ vườn chăm sóc, vua chào Ngài và ra về. Từ đó, Bồ-tát ăn uống tại cung vua và được vua tôn kính rất mực.

Nhưng những triều thần không thể chịu được điều đó nên nói:

– Ông ta có làm được gì đâu mà phải kính trọng như thế?

Họ dụ dỗ phó vương:

– Tâu phó vương, hoàng thượng của chúng ta kính trọng quá mực một vị ẩn sĩ! Không biết hoàng thượng thấy gì ở con người này? Xin phó vương bàn bạc với hoàng thượng về việc này.

Phó vương đồng ý, và họ cùng đi đến yết kiến nhà vua. Phó vương khấu đầu chào vua và đọc lên bài kệ đầu tiên:

Không thể thấy thông minh nơi ông ấy

Không quyến thuộc, bằng hữu với phụ vương

Sao ẩn sĩ, người có ba mảnh gỗ

Lại nhận được thức ăn ngon cúng dường?

Nhà vua lắng nghe, sau đó nói với con trai mình:

– Này con, con có nhớ lần trước phụ vương đi đánh trận, bị thất trận và mấy ngày không trở về nhà không?

– Con nhớ. Phó vương nói.

– Người này đã cứu mạng phụ vương đấy.

Nhà vua nói và kể cho phó vương nghe tất cả những gì đã xảy ra.

– Vậy nên, này con, bây giờ người cứu mạng phụ vương đã đến ở cùng với phụ vương. Phụ vương không thể nào đền bù được những gì ông ấy đã làm, cho dù phụ vương có trao vương quốc này cho ông ấy đi nữa thì cũng không thể đáp đền được ân nghĩa đó.

Nói rồi, vua đọc lên hai bài kệ sau.

Khi một mình khát cháy trong rừng vắng

Ông ấy người đối xử tốt với cha

Trong đau khổ ông ấy người giúp đở

Kéo cha lên, cái chết được thoát xa.

Cha về được là nhờ vào ông ấy

Thoát tử thần quay trở lại nhân gian.

Lòng tốt đó báo đền là thoả đáng

Cúng dường nhiều không hạn chế, từ nan.

Nhà vua nói lên những công đức của Bồ-tát, như thể làm cho mặt trăng mọc lên trên bầu trời, và công đức ấy được công bố khắp nơi. Nhà vua cúng dường thêm phẩm vật cho Ngài và kính trọng Ngài hơn nữa. Sau sự kiện đó, không có người nào dù là phó vương, triều thần hay bất cứ những ai khác dám nói lời chống đối Bồ-tát với nhà vua. Nhà vua sống theo lời khuyên bảo của Bồ-tát. Ông bố thí và làm nhiều việc thiện, rồi sau khi mạng chung đã sanh về cảnh giới chư thiên. Còn Bồ-tát, sau khi đắc được Thiền định và Thần thông, đã sanh về thế giời Phạm thiên.

* * *

Rồi đức Thế Tôn nói thêm:

– Những bậc hiền trí đời trước cũng đã có lòng giúp đở như vậy.

Sau khi kết thúc thoại này, Thế Tôn nhận diện Tiền thân như sau:

– Vào thuở đó, A-nan là nhà vua, còn ta chính là vị ẩn sĩ.

Số 260
CHUYỆN SỨ GIẢ CÁI BỤNG
(Tiền thân Dūta)

Tâu vua, ngài xem sứ giả bụng...

Đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo tham dục khi Ngài sống ở Kỳ Viên (Jetavana). Những tình huống của câu chuyện sẽ được trình bày đầy đủ ở Tiền thân Kāka, số 395. Ở đây, đức Thế Tôn lại nói với thầy Tỳ-kheo này:

– Này Tỳ-kheo, cũng giống như bây giờ, trước đây thầy cũng đã tham dục. Vào đời trước, vì lòng tham ăn của thầy mà đầu của thầy chút nữa bị một thanh gươm bổ xuống.

Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện đời trước.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con trai của ông. Khi đến tuổi trưởng thành, thái tử hoàn tất việc học ở Xoa-thi-la (Takkasilā). Rồi khi phụ hoàng băng hà, Ngài lên ngôi thừa kế vương quốc. Ngài là người rất cầu kỳ trong việc ăn uống. Ngài chỉ ăn những món ăn ngon, nên được mệnh danh là Mỹ Thực Vương. Việc ăn uống của Ngài quá phung phí, đến độ Ngài bỏ ra một trăm ngàn đồng cho một đĩa thức ăn. Khi ăn uống, vua không ăn ở trong nhà. Vì muốn cho dân chúng trông thấy những những bữa ăn hao tiền tốn của của mình, nên vua cho dựng một sảnh đường được trang điểm châu báu tại các cửa, và đến giờ ăn, vua cho trang hoàng sãnh đường ấy. Rồi ở đấy, vua ngồi trên một chiếc ngai vàng đặt dưới một cái lọng trắng, xung quanh có các hoàng phi đứng hầu. Vua ăn món ăn ngon có một trăm thứ hương vị từ một cái đĩa có trị giá một trăm ngàn đồng tiền.

Bầy giờ, có một người tham ăn nọ nhìn thấy cách thức ăn uống của nhà vua thì thèm được ăn một ít. Không thể kiềm chế được lòng tham ăn của mình, gã này buộc thắt lưng thật chặt và chạy đến nhà vua, hai tay đưa lên trời và kêu lên một cách ầm ĩ:

– Tâu hoàng thượng, tôi là sứ giả! Tôi là sứ giả đây!

(Bấy giờ, ở dân tộc đó, nếu một người nào đó nói lên: “Tôi là sứ giả!” thì không có một ai ngăn chặn người ấy lại. Chính vì thế mà dân chúng tản ra nhường lối cho ông ta vào.)

Người này chạy đến thật nhanh, bốc lấy một nắm cơm từ nơi đĩa của vua và đút vào miệng. Vị kiếm sĩ rút thanh kiếm ra định bổ xuống đầu ông ta, nhưng vua ngăn anh ta lại và nói:

– Không được chém.

Rồi vua nói với người bốc cơm:

– Đừng sợ, cứ ăn tiếp đi!

Thế là ông ta rửa tay và ngồi xuống.

Sau bửa ăn, vua sai đem nước uống và cau của mình đến cho người kia, rồi nói với ông ta:

– Này ông, ông nói ông là sứ giả đưa tin. Thế ông đưa tin tức gì vậy?

– Tâu đại vương, thảo dân là sứ giả của lòng Tham và cái Bụng. Lòng Tham bảo thảo dân: Đi! Và đưa thảo dân đến đây làm sứ giả cho nó.

Nói xong, ông ta đọc lên hai bài kệ:

Tâu vua, ngài xem sứ giả Bụng

Tâu bậc vương xa, xin chớ giận!

Vì Bụng người ta phải đi xa,

Xin cả kẻ thù những hồng ân.

Tâu vua, ngài xem sứ giả Bụng;

Tâu bậc vương xa, xin chớ giận!

Người trên trái đất ngày và đêm

Đều dưới quyền uy của cái bụng.

Khi nhà vua nghe vậy, ông nói:

– Đó là sự thật, những người này là sứ giả của cái Bụng. Bởi lòng tham thúc dục mà người ta đi khắp nơi, lòng tham khiến cho người ta đi. Người này đã đưa ra vấn đề thật hay!

Nhà vua hài lòng về người này, và đọc lên bài kệ thứ ba:

Này Bà-la-môn, ta tặng ông

Ngàn bò cái đỏ, đực bổ sung.

Sứ giả có thế cho sứ khác

Chúng ta đều là sứ giả Bụng.

Đọc kệ xong, vua nói tiếp:

– Người vĩ đại này đã nói cho trẫm nghe một điều mà trước đấy trẫm chưa bao giờ nghe hay nghĩ đến.

Nhà vua vì quá vui mừng nên ban cho người này nhiều danh vọng.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo tham dục đắc được quả Dư lưu, và nhiều thầy khác đắc được những Thánh quả khác.

Sau đó đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Người tham dục trong cả hai câu chuyện đều giống nhau, còn ta vào thuở ấy là Mỹ Thực Vương.

 


Ban Tu Thư Phật Học

Cập nhật: 03/22/2006