CHƯƠNG II
PHẨM KOSYA

Số 261
CHUYỆN HOA SEN
(Tiền thân Paduma)

Cắt, cắt và lại cắt…

Trong khi trú tại Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về những thầy Tỳ-kheo đã dâng những vòng hoa dưới cây A-nan. Những tình huống của câu chuyện sẽ được trình bày trong Tiền thân Kālinga-bodhi, số 479. Sở dĩ cây này được gọi là cây A-nan là do vì Tôn giả A-nan đã trồng nó. Khắp xứ Ấn Độ đều biết sự kiện Tôn giả đã trồng cây này bên cổng Kỳ Viên như thế nào.

Một số Tỳ-kheo sống ở miền quê muốn dâng vòng hoa trước cây A-nan. Vì thế, họ đi đến Kỳ Viên, đảnh lễ Đức Thế Tôn. Và ngày hôm sau, họ đi vào thành Xá-vệ, đến Liên Hoa phố tìm mua những vòng hoa, nhưng không thể tìm ra được một vòng hoa ở đấy. Thế rồi, họ kể lại với Tôn giả A-nan việc họ muốn dâng cúng cây ấy như thế nào, nhưng khắp Liên Hoa phố, họ không tìm đâu ra được một vòng hoa. Tôn giả hứa sẽ tìm cho họ một số. Sau đó, Tôn giả đi đến Liên Hoa phố, mang về nhiều bó hoa sen xanh và trao chúng cho họ. Họ dâng cúng những bó hoa này nơi cây.

Khi các Tỳ-kheo nghe điều này, ở trong Chánh pháp đường, họ bắt đầu bàn luận về công đức của Tôn giả A-nan:

– Thưa các Pháp hữu, một vài Tỳ-kheo ít phước đức từ miền quê lên không thể kiếm được một bó hoa nhỏ ở Liên Hoa phố, nhưng Tôn giả A-nan đã đến đó và mang hoa về cho họ.

Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang bàn luận điều gì khi cùng ngồi lại nơi đấy. Họ bạch sự việc với Ngài và Ngài nói:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên người khéo nói đã có được vòng hoa nhờ thiện ngôn của mình, mà trước đây điều ấy cũng từng xảy ra.

Và rồi, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời trước.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sinh làm con trai của một vị trưởng giả giàu có. Trong kinh thành, có một hồ sen thường nở hoa. Một ông già sứt mũi chăm sóc hồ sen này.

Một hôm, một lễ hội được tổ chức ở Ba-la-nại. Ba người con trai của vị trưởng giả giàu có này muốn đeo những vòng hoa đi dự lễ hội nên nói: “Chúng ta sẽ tâng bốc lão già sứt mũi kia, và sau đó xin lão ta một số hoa.” Vì thế, chọn thời điểm ông già thường hay hái sen, họ đi đến hồ nước và đứng ở đấy. Một người trong họ đọc lên bài kệ đầu tiên:

Cắt, cắt và lại cắt

Râu tóc mọc thật nhanh

Mũi ông sẽ như thế.

Xin cho tôi một cành!

Nhưng ông lão giận dữ và không cho một hoa sen nào. Thế rồi, người thứ hai đọc lên bài kệ thứ hai:

Mùa thu hạt được gieo

Lâu ngày mọc lên đầy,

Mũi ông mọc như chúng

Cho tôi đóa sen này!

Ông già lại giận dữ, và không cho một bông sen nào. Sau đó, người thứ ba đọc lên bài kệ thứ ba:

Những gã ngu bép xép!

Nghĩ rằng họ có thể

Kiếm được một bông hoa

Theo cách thức như thế.

Họ nói không, nói có

Mũi sứt mọc nữa đâu.

Tôi xin ông thành thật:

Thưa, cho tôi hoa này!

Khi nghe vậy, người giữ hồ nói:

– Hai người kia nói dối, nhưng cậu nói sự thật. Cậu xứng đáng có được một số hoa sen.

Vì thế, ông già cho người thứ ba một bó hoa sen lớn, rồi trở lại hồ của mình.

* * *

Kết thúc pháp ngữ này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, chàng trai có được những hoa sen đó chính là ta.

Số 262
CHUYỆN BÀN TAY MỀM MẠI
(Tiền thân Mudu-Pāi)

Một bàn tay mềm mại…

Ở tại Kỳ viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo thối thất. Tăng chúng đưa thầy vào Chánh pháp đường, và đức Thế Tôn hỏi thầy có phải thầy thực sự thối thất không? Thầy trả lời thầy thật có như vậy. Thế rồi, đức Thế Tôn nói:

– Này Tỳ-kheo! Không thể kiềm giữ nữ giới để họ đừng đi tìm kiếm ái dục. Vào thuở xưa, ngay cả những người có trí cũng không thể canh giữ được con gái của mình. Trong khi chúng đứng nắm tay cha mình, nhưng rồi chúng trốn đi làm việc tà quấy với tình nhân thì người cha cũng không hề hay biết.

Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện xưa.

* * *

Thửa xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sinh làm con trai bà chánh phi. Đến tuổi trưởng thành, Ngài được được đưa đến học tại Xoa-thi-la (Takkasilā). Rồi khi phụ vương băng hà, Ngài thừa kế vương vị và dùng chánh nghĩa cai trị vương quốc.

Bấy giờ, Ngài sống cùng với cô con gái và người cháu trai của mình ở trong vương cung. Một hôm, khi ngồi cùng với các triều thần, Ngài nói:

– Khi trẫm băng hà, cháu của trẫm sẽ lên làm vua, và con gái của trẫm sẽ là chánh phi.

Về sau, khi họ trưởng thành, Ngài ngồi cùng với các triều thần và lại nói với họ:

– Trẫm sẽ cưới con gái của người kia cho cháu của trẫm. Còn con gái trẫm, trẫm sẽ gả vào hoàng gia nọ. Bằng cách này, trẫm sẽ có nhiều mối quan hệ thân thuộc.

Những triều thần tán thành. Sau đó, vua cho cháu mình một căn nhà ở ngoài hoàng cung, và ngăn cấm chàng ra vào hoàng cung.

Nhưng hai người này yêu nhau tha thiết, và chàng trai nghĩ: “Làm cách nào ta đưa được công chúa ra khỏi hoàng cung nhỉ? – A, ta đã có cách.”

Rồi chàng ta giao cho người nhủ mẫu một món quà.

– Thưa thái tử, tôi phải làm gì với món quà này? Nhủ mẩu hỏi.

– Thế này, thưa nhủ mẩu, con muốn tìm cơ hội để đưa công chúa ra khỏi hoang cùng.

– Tôi sẽ bàn điều đó với công chúa và sau đó nói lại với thái tử. Nhủ mẩu nói.

– Rất hay, thưa nhủ mẩu. Thái tử trả lời.

Bà này đi đến công chúa và nói:

– Công chúa hãy để tôi bắt chí cho công chúa.

Bà đặt công chúa ngồi trên một cái ghế thấp, còn mình ngồi trên một cái cao hơn, đặt đầu của công chúa vào lòng mình và tìm bắt chí. Bà cào vào đầu công chúa. Công chúa hiểu ý, nàng nghĩ: “Nhủ mẩu cào ta bằng mống tay của thái tử anh họ ta, mà không phải mống tay của nhủ mẫu.” Thế nên nàng hỏi:

– Thưa nhủ mẫu, có phải nhủ mẫu đã ở nơi thái tử về không?

– Đúng vậy, con gái ạ.

– Chàng đã nói gì?

– Thái tử hỏi rằng làm cách nào thái tử có thể đưa được công chúa ra khỏi hoàng cung.

– Nếu thái tử là người có trí, thái tử sẽ biết cách.

Công chúa nói và đọc lên một bài kệ, bảo nhủ mẫu học thuộc nó và đọc lại cho thái tử nghe.

Một bàn tay mềm mại

Một con voi khéo luyện

Và một đêm mưa gió

Trao chàng điều chàng muốn.

Nhủ mẫu học thuộc bài kệ này và quay trở lại chỗ thái tử.

– Thế nào, thưa nhủ mẫu, công chúa đã nói gì với nhủ mẫu? Thái tử hỏi.

– Không nói gì cả, mà chỉ gởi cho thái tử bài kệ này.

Nhủ mẫu trả lời và đọc lại bài kệ. Thái tử hiểu ý bài kệ và cho nhủ mẫu về.

Thái tử hiểu bài kệ muốn nói gì, nên tìm một chú bé có nhan sắc đẹp và có bàn tay mềm mại, rồi bắt chú chờ đợi. Chàng ta mua chuộc người giữ quốc tượng, và sau khi huấn luyện cho con voi trở nên bình thản, chàng ta chọn cơ hội. Sau đó, vào một đêm ba mươi tối trời, ngay sau canh giữa, trời mưa tầm tả, thái tử nghĩ: “Đây là ngày công chúa muốn nói.” Rồi chàng cỡi voi, đặt đưa bé có bàn tay mềm mại lên lưng voi và khởi hành. Phía trước hoàng cung, chàng buộc chặt con voi vào bức tường lớn của sân chầu rộng, rồi đứng trước một cửa sổ với mình mẩy ướt sũng.

Bấy giờ, nhà vua canh giữ con gái của mình. Ông không để nàng ngủ bất cứ nơi đâu khác ngoài chiếc giường nhỏ đặt ở trước mặt mình. Công chúa nghĩ thầm: “Hôm nay thái tử sẽ đến!” Nghĩ như vậy nên nàng nằm mà không ngủ.

– Phụ vương, con muốn đi tắm. Công chúa nói.

– Con gái, vậy thì hãy đi.

Nhà vua nói và nắm lấy tay nàng dẫn đến cửa sổ, nhấc nàng lên và đặt trên một cái bệ hình hoa sen bên ngoài cửa sổ, rồi nắm lấy một tay nàng. Khi công chúa tắm, nàng đưa ra một cánh tay cho thái tử. Thái tử tháo những vòng đeo của nàng ra khỏi tay, và đeo chúng vào cánh tay của cậu bé tiểu đồng. Sau đó, nhắc bổng chú bé lên và đặt chú trên một cái bệ hình hoa sen bên cạnh công chúa. Công chúa nắm lấy tay chú bé và đặt nó vào tay cha mình, ông nắm lấy nó và buông tay con gái của mình ra. Sau đó, nàng tháo những đồ trang sức từ cánh tay kia của nàng và đeo nó vào cánh tay kia của chú bé, rồi đặt cánh tay chú bé vào trong tay cha nàng và sau đó trốn đi cùng với thái tử. Nhà vua nghĩ chú bé là con gái của mình nên khi việc tắm rửa đã xong, ông đặt chú bé ngủ ở trong phòng ngủ hoàng cung, đống cửa và ấn triện lên cửa.

Vào lúc rạng đông, vua mở cửa và thấy chú bé ở đấy. “Gì thế này?” Ngài kinh ngạc kêu lên. Chú bé kể lại cho vua cách thức công chúa đã trốn đi cùng với thái tử như thế nào. Nhà vua thất vọng. Ngài nghĩ: “Người ta dầu có đi cùng và nắm lấy tay thì cũng không thể giữ được một người phụ nữ. Những phụ nữ như thế không thể nào canh giữ được.” Rồi Ngài đọc lên hai bài kệ khác:

Dù lời nói nhu hoà

Không thể mãn ý đâu

Như sông khó đổ đầy

Chúng chìm mãi xuống sâu.

Vì thế nên đàn ông

Nên tránh xa nữ giới,

Những ai phục vụ họ

Vì vàng hay dục tham

Y sẽ bị họ đốt

Như lửa đốt củi than.

Nói vậy rồi, bậc Đại Sĩ nói thêm:

– Ta phải ủng hộ cháu ta.

Vì thế, cùng với chức tước cao quý, vua gả con gái mình cho thái tử, và cho chàng làm phó vương. Còn Thái tử, khi cậu của chàng băng hà, đã lên kế thừa vương vị.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Lý Thánh Đế, thầy Tỳ- kheo thối thất tâm này chứng được quả Dự Lưu. Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, ta chính là nhà vua.

Số 263
CHUYỆN MÊ HOẶC
(Tiền thân Culla-palobhana)

Không phải nhờ biển cả...

Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo thối thất. Đức Thế Tôn cho đưa thầy vào Chánh pháp đường và hỏi:

– Này Tỳ-kheo, có phải thầy thật sự thối thất không?

– Bạch Thế Tôn, thật có vậy. Thầy trả lời.

Đức Thế Tôn nói:

– Này Tỳ-kheo, đời trước, nữ giới thậm chí đã làm ô nhiễm ngay cả những bậc thanh tịnh.

Rồi Ngài kể một câu chuyện.

* * *

Thuở xưa, vua Phạm Dự (Brahmadatta) nước Ba-la-nại không có con. Ông nói với hoàng hậu của mình:

– Ái phi, chúng ta hãy cầu nguyện trời đầt ban cho chúng ta một đứa con.

Từ hôm ấy, họ bắt đầu cầu nguyện. Sau một thời gian dài, từ cõi Phạm thiên, Bồ-tát đã giáng trần và nhập thai vào bà hoàng hậu này. Khi Bồ-tát chào đời, người ta tắm rửa cho Bồ-tát và trao cho một nhủ mẫu nuôi dưỡng. Nhưng khi vừa nắm lấy bầu vú, thái tử đã khóc thét lên. Thấy thế, họ trao thái tử cho một bà nhủ mẫu khác chăm sóc, nhưng khi người phụ nữ này ẵm giữ thái tử cũng không chịu im lặng. Vì thế, người ta trao thái tử cho một người hầu nam giữ, và khi người này ẵm lấy thì thái tử mời chịu im lặng. Từ đó, những người nam thường ẵm thái tử đi dạo chơi. Khi họ cho thái tử bú, họ phải lấy sữa từ bầu vú ra cho thái tử uống, hoặc họ cho một người đứng sau bức màn và đưa bầu vú ra cho thái tử bú. Ngay khi thái tử đã trưởng thành, họ cũng không thể cho thái tử nhìn thấy nữ nhân. Nhà vua sai làm cho thái tử một chỗ ngồi và một thiền thất riêng biệt.

Khi thái tử được mười sáu tuổi, nhà vua suy nghĩ: “Ta không còn một người con nào khác ngoài thái tử, mà thái tử thì không thích hưởng thụ lạc thú, thậm chí không ước muốn cả vương quốc. Có lợi ích gì về một người con như thế chứ?”

Bấy giờ có một kỹ nữ trẻ, khéo nhảy múa, hát hay và giỏi âm nhạc, có thể khuất phục uy lực bất cứ người đàn ông nào mà cô đi ngang qua. Cô ta đi đến nhà vua, hỏi ông đang suy nghĩ về điều gì. Nhà vua nói vơi cô điều mình đang nghĩ. Cô nói:

– Bẩm hoàng thượng, xin cho phép tôi được quyến rũ thái tử. Tôi sẽ làm cho thái tử yêu tôi.

– Tốt, nếu cô có thể quyến rũ được con trai ta, người mà chưa hề có mối giao thiệp nào với nữ nhân, thì khi thái tử lên làm vua, cô sẽ là chành phi của thái tử!

– Bẩm hoàng thượng, xin người chớ quá ưu phiền, xin để điều đó cho thiếp lo liệu.

Thế rồi, cô đi đến những người canh gác và nói:

– Rạng sáng ngày mai, tôi sẽ đi đến phòng ngủ của thái tử, và tôi sẽ hát ở bên ngoài phòng, nơi dành riêng cho thái tử thiền định. Nếu thái tử giận, thì các ông phải nói cho tôi biết, và tôi sẽ trốn đi. Còn nếu thái tử lắng nghe, xin hãy nói lời tán dương tôi.

Họ đồng ý làm điều này.

Vì thế, vào buổi sáng, cô đến đứng ở chỗ ấy và cất lên giọng hát ngọt ngào như mật ong, đến độ tiếng nhạc du dương như lời ca, và lời ca du dương như tiếng nhạc. Thái tử nằm lắng nghe. Ngày kế tiếp, chàng ra lệnh cho cô ta đến đứng gần để hát. Ngày tiếp nữa, chàng ra lệnh cho cô ta đứng trong một phòng riêng. Và ngày kế tiếp, ở trước mặt chàng. Rồi từ khi ấy, dục ái sanh khởi trong tâm, thái tử bước theo lối đi thế gian và biết được niềm vui cuộc đời. “Ta không để cho một ai khác chiếm đoạt cô gái này.” Thái tử quyết định. Rồi mang một thanh gươm, thái tử chạy điên cuồng khắp phố và rượt đuổi người ta. Nhà vua cho người bắt lấy thái tử và trục xuất chàng ra khỏi kinh thành cùng với cô kỹ nữ.

Họ dắt nhau đi vào rừng sâu, xuôi mãi tận sông Hằng. Ở đấy, một bên là sông và bên kia là biển cả, họ dựng một am tranh và sống ở đấy. Cô nàng ở nhà nấu củ rừng, còn Bồ-tát đi vào rừng kiếm trái cây đem về.

Một ngày nọ, khi thái tử đi xa để kiếm trái cây, một vị ẩn sĩ từ một hòn đảo ngoài biển, đang đi khắp nơi để kiếm thực phẩm. Lúc bay ngang qua không trung, ông nhìn thấy khói và bước xuống trước am tranh này.

– Xin ông ngồi đợi cho đến khi tôi nấu thức ăn chính. Cô nàng nói với vị ẩn sĩ.

Thế rồi nhan sắc của cô đã làm mê hoặc tâm trí vị ẩn sĩ, khiến cho ông mất hết định lực; tâm đã thanh tịnh nay bị rối bời. Vị ẩn sĩ, giống như một con quạ bị gãy cánh, không thể rời khỏi cô ta, ngồi ở đấy suốt ngày cho đến khi ông nhìn thấy Bồ-tát trở về. Khi thấy Bồ-tát về, ông liền lao nhanh ra hướng biển. “Đây chắc là một kẻ thù,” Bồ-tát nghĩ và rút thanh gươm đuổi theo. Còn vị ẩn sĩ, nghĩ rằng có thể nhảy lên được không trung nên đã nhảy lên, nhưng khi vừa nhảy lên thì đã bị rơi xuống biển. Lúc đó, Bồ-tát nghĩ: “Không nghi ngờ gì nữa, người kia là một ẩn sĩ, bay qua không trung và đến đây. Bây giờ bị mất thần thông, ông ta nhảy lên không trung và bị rơi xuống biển. Ta phải đến giúp ông ta mới được.”

Nghĩ thế, thái tử đến đứng bên bờ biển và đọc lên những bài kệ này:

Không phải nhờ biển cả

Mà nhờ bởi thần thông

Ông đi đến nơi đây

Vào một sớm rạng đông.

Bầy giờ do cùng ở

Với nữ nhơn xấu xa

Mà ông bị nhấn chìm

Vào đại dương bao la.

Đầy mưu mẹo quyến rũ

Đủ cả những lọc lừa

Họ quyến rũ, làm đọa

Tâm người thanh tịnh nhất

Khiến họ chìm sâu xuống.

Do vậy nên đàn ông

Nên tránh xa nữ giới

Khi biết họ thế nào.

Những ai phục vụ họ

Vì vàng hay dục tham

Y sẽ bị họ đốt

Như lửa đốt củi than.

Khi nghe Bồ-tát nói vậy, vị ẩn đứng lên giữa biển, đạt lại được định lực chuyên nhất đã mất, sau đó bay xuyên qua không trung và trở về lại trú xứ của mình. Bồ-tát nghĩ: “Vị ẩn sĩ kia, với một thân hình rất lớn, vậy mà đi qua không trung giống như một nhúm bông. Tại sao ta không tu tập thiền định như ông ta để bay qua không trung nhỉ?” Vì thế, thái tử quay về thảo am, đưa cô gái trở lại với quần chúng và bảo cô ra đi. Còn riêng mình, thái tử đi vào rừng sâu, dựng lấy một thảo am tại một nơi vừa ý và trở thành một vị ẩn sĩ. Ngài tu tập thiền định, chứng đắc được Thiền định và Thần thông, về sau được sanh lên cõi Phạm thiên.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Bấy giờ, vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo thối thất này chứng được quả Dự lưu.

Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, ta chính là thái tử, người không bao giờ làm bất cứ điều gì với nữ nhân.

Số 264
CHUYỆN VUA MA-HA-BA-LA-NA
(Tiền thân Maha-Panada)

Vua Ba-la-na có cung này…

Khi ở trên bờ sông Hằng, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về thần thông lực của Tôn giả Bạt-đà-la (Bhaddaji).

Một dịp nọ, sau khi trải qua an cư mùa mưa ở thành Xá-vệ (Sāvatthi), đức Thế Tôn nghĩ sẽ thể hiện từ tâm để tế độ một thanh niên có tên là Bạt-đà-la. Vì thế, cùng với tất cả hội chúng Tỳ-kheo hiện tiền, đức Thế Tôn lên đường đi đến kinh thành Bạt-đề, sống ba tháng ở rừng Gia-đề-á (Jātiyā), đợi cho đến khi chàng thanh niên chín muồi nhân duyên và viên mãn trí tuệ. Bấy giờ, thanh niên Bạt-đà-la là một người cao quý, là con trai duy nhất của một trưởng giả giàu có ở Bạt-đề, với một gia sản lên đến tám trăm triệu đồng tiền vàng. Chàng có ba ngôi nhà dành cho ba mùa. Trong mỗi căn nhà, chàng sống bốn tháng. Và sau khi trải qua thời gian sống ở một trong ba căn nhà này, chàng thường cùng với bạn bè và họ hàng di chuyển đến một căn nhà tráng lệ tuyệt diệu khác. Vào những dịp này, tất cả thị dân vẫy tay tiển đưa chàng thanh niên cao quý này, và giữa những căn nhà này, họ đặt vòng vòng lớp lớp những chỗ ngồi.

Sau ba tháng trú ở đấy, đức Thế Tôn cho những thị dân biết rằng Ngài sắp ra đi. Những thị dân thỉnh cầu Ngài ở lại cho đến ngày hôm sau. Rồi ngày hôm sau, họ đã quyên góp những tịnh vật để cúng dường cho đức Phật và Tăng chúng. Họ dựng một sãnh đường ở giữa kinh thành, trang hoàng nó và sắp đặt chỗ ngồi. Sau đó, họ thông báo đã đúng thời. Đức Thế Tôn cùng với các Tỳ-kheo đi đến và ngồi ở đấy. Dân chúng cúng dường cho Ngài và chư vị một cách rộng lượng. Sau bửa ăn, bằng một giọng nói ngọt ngào như mật ong, đức Thế Tôn hồi hướng công đức cho họ.

Bấy giờ, thanh niên Bạt-đà-la đang từ một căn nhà của mình di chuyển sang một căn nhà khác. Nhưng ngày hôm đó không có một người nào đến xem sự vinh quang và huy hoàng của chàng, ngoại trừ những người hầu của chàng. Vì thế, chàng hỏi những người hầu của mình:

– Tất cả thị dân thường vẩy tay chào đón ta mỗi khi ta đi qua từng nhà, và đặt vòng vòng lớp lớp những chỗ ngồi gần nơi đường đi. Nhưng hôm này không hiểu vì sao không có một người nào cả?

Người nhà của chàng trả lời:

– Thưa công tử, đức Phật Chánh Đẳng Giác đã trải qua ba tháng an cư ở gần kinh thành và ngày hôm nay Ngài sẽ ra đi. Hiện giờ, Ngài vừa thọ thực xong và đang thuyết pháp, nên tất cả thị dân đang ở đấy để nghe pháp ngữ của Ngài.

– Ôi, hay quá, chúng ta cũng đến đó để nghe Ngài thuyết giảng. Chàng trai nói.

Vì thế, trong vẻ rực rỡ xa hoa của đồ trang sức, cùng với đông đảo những người hầu của mình vây quanh, chàng đi đến và đứng ở viền ngoài của hội chúng. Khi nghe đức Thế Tôn thuyết pháp, chàng gột bỏ tất cả những lậu hoặc và đắc được quả vị A-la-hán.

Đức Thế Tôn nói với trưởng giả Bạt-đà-la:

– Này cư sĩ, con trai của cư sĩ, với vẻ rực rỡ xa hoa của mình, trong khi nghe pháp ngữ của ta đã trở thành một vị A-la-hán. Chính ngày hôm nay, cậu ấy hoặc sẽ xuất gia, hoặc sẽ nhập Niết-bàn.

Trưởng giả thưa:

– Bạch Thế Tôn, con không muốn con trai của con nhập Niết-bàn. Xin Thế Tôn hãy nhận cháu vào Tăng đoàn. Khi cháu xuất gia rồi, con thỉnh Thế Tôn cùng với cháu ngày mai đến nhà con.

Đức Thế Tôn chấp nhận lời thỉnh cầu này. Ngài đưa chàng trai vào tịnh xá, làm lễ xuất gia cho chàng, rồi sau đấy cho thọ Sa-di giới và đại giới. Trong một tuần liền, cha mẹ của thầy tân Tỳ-kheo này đã tiếp đãi thầy rất nồng hậu.

Thời gia bảy ngày trôi qua, đức Thế Tôn đưa thầy cùng đi khất thực với mình, và đi đến một ngôi làng có tên là Câu-lợi (Koi). Dân làng Câu-lợi rộng rải cúng dường cho đức Phật và Tăng chúng. Vào lúc thọ thực xong, đức Thế Tôn hồi hướng công đức cho dân làng. Trong khi đức Thế Tôn hồi hướng công đức, Bạt-đà-la đi ra khỏi làng và đến ngồi dưới một gốc cây cận bên bến sông Hằng, trú sâu trong thiền định, nghĩ rằng sẽ đứng dậy khi đức Thế Tôn đến. Khi những vị Thượng tọa lớn tuổi nhất đi đến, thầy không đứng dậy, nhưng thầy đứng dậy ngay khi đức Thế Tôn đến. Những người chưa khai ngộ lấy làm tức giận bởi vì thầy đã cư xử như thể thầy là một Tỳ kheo thuộc hàng Trưởng lão, không đứng dậy dù khi nhìn thấy những Tỳ-kheo Trưởng lão đi đến.

Dân làng kết những chiếc bè để đưa đức Phật cùng các Tỳ-kheo qua sông. Hồi hướng công đức xong, đức Thế Tôn đi đến nơi ấy và hỏi Bạt-đà-la đang ở đâu.

– Bạch Thế Tôn, ông ta ở tại chỗ kia.

– Này Bạt-đà-la, hãy bước lên bè của ta.

Tôn giả đứng dậy và theo Thế Tôn bước lên bè. Khi họ ra giữa dòng sông, đức Thế Tôn hỏi thầy.

– Này Bạt-đà-la, cung điện mà nơi thầy đã ở vào thời vua Ma-ha-ba-la-na (Mahapanāda) ở đâu?

Tôn giả trả lời:

– Bạch Thế Tôn, ở dưới mặt nước này.

Một thầy chưa chứng ngộ nói với những thầy khác:

– Tôn giả Bạt-đà-la đang tỏ ra mình là một vị A-la-hán đấy!

Khi ấy, đức Thế Tôn bảo thầy này hãy xua tan đi mối nghi ngờ về pháp hữu của mình.

Trong giây lát, Tôn giả đảnh lễ đức Thế Tôn, di chuyển bằng thần thông lực, mang toàn thể toà cung điện trên ngón tay của mình và nhảy lên không trung (Toà cung điện che phủ không gian hai mươi lăm do tuần). Sau đó, Tôn giả khoét một lỗ trống nơi cung điện và hiện ra trước mặt những chúng sanh đang có mặt trong cung điện dưới nước, và tung cả tòa lâu đài lên khỏi mặt nước một do tuần, hai do tuần, rồi ba do tuần. Lúc đó, những người từng là họ hàng thân thích với Tôn giả vào kiếp trước, do vì quá say đắm hoàng cung nên bây giờ thọ sanh làm cá, rùa, rắn nước, ếch.., sống tại chính nơi ấy, đã ngoe nguẩy bò ra khi cung điện được tung lên, và lần lượt nhào cổ xuống nước. Khi đức Thế Tôn trông thấy điều này, Ngài nói:

– Này Bạt-đà-la, họ hang thân thích của thầy đang bị phiền luỵ đấy.

Nghe Thế Tôn nói vậy, Tôn giả thả cung điện xuống và cho nó chìm vào chỗ cũ.

Đức Thế Tôn đi qua bờ bên kia sông Hằng. Khi ấy, dân chúng chuẩn bị cho Ngài một chỗ ngồi ngay ở trên bờ sông. Đức Thế Tôn ngồi lên chỗ ngồi được soạn sẵn đó, rực rỡ như mặt trời ban mai chiếu những tia nắng đầu ngày. Sau đó, các Tỳ-kheo hỏi Ngài rằng Tôn giả Bạt-đà-la đã sống trong cung điện đó vào thuở nào. Đức Thế Tôn trả lời:

– Vào thời vua Ma-ha-ba-la-na.

Và kế tiếp, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời trước.

* * *

Thuở xưa, có một vị vua tên là Tu-la-chi (Suruci); ông cai trị xứ Di-hi-la (Mithilā), là kinh thành của vương quốc Tỳ-đề-hi (Videha). Ông ta có một người con trai cũng có tên tương tự là Tu-la-chi, và người này có một người con tên là Ma-ha-ba-la-na (Mahapanāda). Họ sở hữu tòa lâu đài đó. Họ có được tòa lâu đài này là nhờ một thiện nghiệp đã được gieo vào một kiếp trước. Một người cha và một người con đã làm một am thất bằng lá cùng với tre mây và nhành cây sung, rồi sau đó cho một vị Phật Độc Giác (Paccekabuddha) trú ở đấy.

* * *

Phần còn lại của câu chuyện sẽ được kể ở Tiền thân Suruci, số 489.

Sau khi kết thúc câu chuyện này, đức Thế Tôn hiển bày trí tuệ viên mãn, đọc lên những bài kệ sau:

Vua Ba-la-na có cung này,

Cao đến một ngàn tầm tên bay.

Rộng mười sáu tầm; cờ che phủ

Trăm lầu xanh ngọc ngút tầng mây.

Sáu ngàn ca vũ đi tới lui

Ở trong bảy ban, cùng múa vui

Như Bạt-đà-la đã nói vậy:

Tâu vua Đế Thích, chờ lệnh người.

* * *

Bấy giờ, những ai chưa khai ngộ phá đi được mối nghi của mình.

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Thuở đó, Bạt-đà-là là Ma-ha-ba-la-na, còn ta chính là Đế Thích.

Số 265
CHUYỆN MŨI TÊN
(Tiền thân Khurappa)

Khi nhiều cung tên bắn…

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo thối thất tinh tấn. Đức Thế Tôn hỏi:

– Này Tỳ-kheo, có thật thầy thối thất tinh tấn không?

– Bạch Thế Tôn, thật có như vậy. Thầy trả lời.

– Tại sao thầy lại thối thất nghị lực sau khi đã xuầt gia theo đạo giải thoát này? Vào kiếp trước, những bậc Hiền trí đã có đủ nghị lực mãnh liệt ngay cả trong những vấn đề mà nó không đưa đến sự giải thoát.

Rồi Thế Tôn kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào trong một gia đình sống bằng nghề rừng. Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát hướng dẫn một toán năm trăm người sống nghề rừng, và sống trong một ngôi làng ở tại đường vào rừng. Bồ-tát thường được những người đi qua đường đó thuê dẫn đường.

Một hôm nọ, có một người ở Ba-la-nại, con trai của một thương gia, đi đến ngôi làng đó cùng với đoàn lái buôn có năm trăm cỗ xe. Cho mời Bồ-tát đến, ông ta trả cho Ngài một ngàn đồng tiền để nhờ Ngài dẫn đường băng qua khu rừng. Ngài đồng ý và nhận lấy số tiền từ tay người thương nhân. Và khi Ngài nhận tiền, Ngài nghĩ sẽ hy sinh cả sinh mệnh mình để giúp vị thương nhân đi qua rừng. Sau đó, Ngài hướng dẫn vị này đi vào rừng.

Vào đến giữa rừng, năm trăm tên cướp xuất hiện. Về phần những người lái buôn, ngay khi nhìn thấy những tên cướp này, liền nằm sấp bụng xuống đất. Chỉ một mình người thợ rừng dẫn đường la hét, lao vào và đánh đập, làm cho năm trăm tên cướp phải tháo chạy, sau đó đưa đoàn thương nhân băng qua rừng an toàn. Khi băng qua rừng rồi, người thương nhân cho đoàn lái buôn cắm trại. Ông cho người thợ rừng thủ lĩnh chọn lựa mọi thứ thức ăn, rồi sau ông mời dùng điểm tâm. Ngồi cận người thợ rừng, ông trò chuyện vui vẻ và nói với Ngài thế này:

– Thưa ông, hãy nói cho tôi biết, làm cách nào mà ngay cả khi năm trăm tên cướp với vũ khí trong tay, dàn quanh bốn phía, ông lại không biểu lộ một chút sợ hãi nào?

Và vị thương nhân đọc lên bài kệ:

Khi nhiều cung tên bắn

Với tốc lực rất nhanh

Tay nắm những lưỡi kiếm

Luyện cứng, đưa đến gần.

Khi thần chết sắp đặt

Cả đội quân kinh hoàng

Giữa sự hãi kinh ấy

Sao không mất can đảm?

Nghe vậy, người thợ rừng đọc lên hai bài kệ sau:

Khi nhiều cung tên bắn

Với tốc lực rất nhanh

Tay nắm những lưỡi kiếm

Luyện cứng, đưa đến gần.

Khi thần chết sắp đặt

Đội quân kinh hoàng này

Tôi cảm thấy niềm vui

Rất mực ngày hôm nay.

Và niềm vui của tôi

Đã cho tôi thắng lợi

Tôi quyết tâm đến chết

Khi cần không chờ đợi

Ai xem thường mạng sống

Người ấy sẽ hoàn thành

Những hành động quả cảm

Anh hùng được vinh danh.

Ngài đưa ra lời lẽ giống như một trận mưa tên. Rồi sau khi giải thích rằng sở dĩ mình hành động oanh liệt như vậy là do đã thoát khỏi sự ham muốn, Ngài cáo từ vị thương nhân trẻ và quay trở về làng mình. Ở đó, Ngài bố thí và thực hành thiện nghiệp, rồi đến khi mạng chung đã tái sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo thối thất tinh tấn này đắc được quả vị A-la-hán.

Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, ta chính là vị thủ lĩnh của những người sống ở rừng.

Số 266
CHUYỆN CON NGỰA TẬT PHONG ĐẦU
(Tiền thân Vātagga- Sindhava)

Bởi mẹ vàng vọt và gầy hao...

Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một người điền chủ.

Chuyện kể rằng, có một thiếu nữ xịnh đẹp ở thành Xá-vệ (Sāvatthi) khi nhìn thấy người điền chủ, cũng là một người đẹp trai, thì liền đem lòng yêu thương. Tình yêu trong lòng cô giống như một ngọn lửa đang thiều đốt toàn thể thân cô. Cô hôn mê tâm thần, không màng đến việc ăn uống, nằm gục đầu vào khung giường sầu thương.

Bạn bè và những tỳ nữ hỏi cô rằng điều gì đã làm cho cô phiền muộn quá đỗi để rồi nằm gục đầu vào khung giường sầu bi như vậy. Họ muốn biết nguyên nhân gì. Một vài lần đầu, cô nín thinh không trả lời, nhưng khi họ nài ép mãi, cô mới nói cho họ biết nguyên nhân vì sao.

– Tiểu thư đừng quá ưu phiền, chúng tôi sẽ đưa chàng ấy đến với tiểu thư.

Họ nói như vậy và đi đến thưa chuyện với chàng trai. Lúc đầu, chàng trai từ chối, nhưng do họ khẩn cầu mãi nên cuối cùng chàng ta bằng lòng. Họ được chàng hứa sẽ đến vào một ngày giờ ấn định. Họ trở về báo lại chuyện này với cô chủ.

Cô nàng sửa soan buồng ngủ của mình và ăn bận lộng lẫy, ngồi trên giường chờ đợi cho đến khi chàng trai đến. Chàng trai ngồi xuống bên cạnh cô. Rồi một ý nghĩ thoáng qua đầu cô: “Nếu ta chấp nhận lời tỏ tình của anh ta ngay và chịu nhường mình thì niềm kiêu hãnh của ta sẽ bị hạ thấp. Không để cho anh ta đạt được ý muốn vào chính ngày đầu tiên anh ta đến đây được. Hôm này ta sẽ từ chối, rồi về sau ta sẽ nhượng bộ.” Vì thế, khi chàng trai vừa đụng vào cô và bắt đầu tỏ tình, cô nắm lấy tay chàng và nói với chàng một cách thô lỗ, bảo chàng hãy xéo đi, làm như cô không cần đến chàng vậy. Chàng trai bước lùi lại một cách giận dữ và ra khỏi nhà.

Khi nhìn thấy điều cô chủ làm và việc chàng trai bỏ đi, những nô tỳ đi đến và nói với nàng:

– Tiểu thư ở đây mòn mõi yêu thương người ta, nằm dài không màng cả việc ăn uống. Chúng tôi cực khổ hết sức để thuyết phục chàng ta, sau cùng mới đưa được chàng ta đến đây. Vậy mà giờ đây, tiểu thư không nói một lời nào với chàng ta cả!

Cô nói cho họ biết lý do tại sao cô làm như thế. Nghe thế, họ bỏ đi, sau khi khuyên cô ta rằng cô ta nên bắt đầu nói chuyện đi.

Chàng trai không bao giờ đến gặp cô trở lại. Khi nhận biết rằng mình đã đánh mất chàng, cô bỏ ăn uống và chẳng bao lâu thì qua đời. Khi nghe cô ta qua đời, chàng trai điền chủ mang một số hoa, dầu thơm đi đến tinh xá Kỳ Viên, đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

Đức Thế Tôn hỏi chàng:

– Này cư sĩ, có việc gì mà độ này chúng tôi không hề thấy cư sĩ đến đây?

Chàng kể cho Thế Tôn nghe toàn bộ câu chuyện, và nói thêm rằng chàng đã tránh diện kiến đức Thế Tôn trong suốt thời gian này vì cảm thấy hổ thẹn. Thế rồi, đức Thế Tôn nói:

– Này cư sĩ, không phải chỉ bây giờ thiếu nữ đó vì yêu thương cư sĩ nên mời cư sĩ đến, nhưng sau đó chối từ và giận dữ đuổi cư sĩ đi. Mà vào đời trước cô ta cũng đã từng như vậy: đời trước, cô ta yêu thương những người hiền trí, cho mời họ đến, và khi họ đến lại từ chối không giao tiếp với họ, làm phiền và đuổi họ đi.

Rồi theo lời thỉnh cầu của chàng trai, đức Thế Tôn kể câu chuyện đời trước.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua nước Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một chú ngựa Hạnh Đầu (Sindh), và người ta đặt tên cho chú là Tật Phong Hạnh Đầu Mã. Chú là con ngựa nghi lễ của nhà vua. Những người giữ ngựa thường đưa chú đến tắm ở sông Hằng. Có một con lừa cái nhìn thấy chú và sanh lòng yêu thương. Xao động bởi tình yêu, cô lừa bỏ ăn bỏ uống, mòn mõi và trở nên gầy yếu, mãi cho đến khi thân hình của cô không còn thứ gì ngoài bộ da bọc xương. Chú lừa con nhìn thấy mẹ mòn mõi như vậy thì nói:

– Mẹ ơi, tại sao mẹ không ăn cỏ và không uống nước. Tại sao mẹ lại mõi mòn, nằm run rẫy hết chỗ này đến chỗ kia như vậy? Mẹ có gặp rắc rối gì không?

Khi nghe lừa con hỏi thế, cô ta không nói gì .Nhưng do vì lừa con cứ hỏi đi hỏi lại mãi, cô ta mới chịu nói ra vấn đề với chú. Thế rồi, chú lừa con an ủi mẹ. Nó nói:

– Thưa mẹ, mẹ đừng ưu phiền nữa, con sẽ đưa ông ấy về cho mẹ.

Vì thế, khi Tật Hạnh Đầu Mã đi xuống sông tắm, lừa con bước đến gần và nói với Ngựa:

– Thưa ông, mẹ của con vì yêu thương ông nên không chịu ăn uống, nằm mõi mòn và sắp chết. Xin ông hãy cứu lấy mạng bà!

Ngựa nói:

– Được thôi cháu ạ. Khi ta tắm xong, những người giữ ngựa sẽ dẫn ta đi tập luyện chốc lát trên bờ sông. Khi ấy, cháu hãy đưa mẹ của cháu đến nơi đó.

Thế là lừa con đưa mẹ của mình đến và để cho cô ta ở đấy, còn mình thì ẩn nấp gần đó.

Người giữ ngựa để cho Tật Phong Hạnh Đầu đi dạo. Ngựa nhìn thấy cô lừa và đi đến gần.

Bấy giờ, khi Ngựa đi đến gần và bắt đầu ngửi vào người cô ta, lừa cái nghĩ thầm: “Nếu ta chịu nhượng bộ và để cho chàng ta đạt được ước muốn của mình ngày khi vừa mới đến đây, thì thanh danh và niềm kiêu hãnh của ta sẽ tiêu tan hết. Ta phải làm như thể ta không muốn chàng ta mới được.” Vì thế, cô ta đá vào hàm dưới của Ngựa, rồi bỏ chạy. Cú đá làm vỡ hàm dưới của ngựa, khiến cho Ngựa suýt chết. Tật Phong Hạnh Đầu nghĩ: “Cô ta muốn làm gì với mình thế?” Ngựa cảm thấy hổ thẹn và bỏ đi.

Sau đó, cô lừa cảm thấy hối tiếc, rồi nắm xuống đấy trong nỗi đớn đau. Thế rồi, con của cô ta đi đến và hỏi cô ta bằng những dòng sau:

Bởi mẹ vàng vọt và gầy hao

Không uống, không ăn được miếng nào

Người thương vì mẹ đến với mẹ

Mẹ lại bỏ chạy cớ vì sao?

Nghe lừa con nói vậy, lừa mẹ đọc lên vần kệ thứ hai:

Nếu lần đầu tiên chàng đứng gần

Nữ nhân không cản lại hiến thân

Thì thanh danh sẽ tiêu mất hết,

Dó đó, mẹ phải chay xa nhanh.

Bằng những lời này, cô lừa giải thích bản chất của nữ giới cho con trai mình.

* * *

Đức thế Tôn hiển thị đẳng giác, đọc lên bài kệ thứ ba:

Nếu nàng từ chối kẻ cao sang

Là người cầu mong sống cận nàng

Thì như Khôn-đạt (Kundalī) tiếc Đầu Mã,

Nàng ta hẳn thương tiếc vô vàn.

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các Thánh Đế, người điền chủ đắc được quả Dự lưu. Rồi đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Người phụ nữ này vào thuở đó là cô lừa cái, còn ta chính là Tật Phong Hạnh Đầu Mã.

Số 267
CHUYỆN CON CUA
(Tiền thân Kakkatā)

Sinh vật có càng mắt lồi ra…

Trong khi sống tại Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một thiếu phụ.

Nghe nói rằng, có một vị điền chủ ở thành Xá-vệ (Sāvatthi), đang cùng với vợ của mình trên đường đi về miền quê để thâu nợ thì bị rơi vào tay những tên cướp. Bấy giờ, vợ của ông là một phụ nữ rất xinh đẹp và quyến rũ. Tên tướng cướp quá choáng ngợp trước vẻ đẹp của nàng nên dự định giết chết người chồng để đoạt lấy cô vợ. Nhưng thiếu phụ này là một người đức hạnh, một người vợ tận tụy thủy chung. Cô sụp xuống dưới chân tên cướp kêu khóc:

– Thưa ông, nếu ông giết chồng tôi vì yêu tôi, thì tôi sẽ uống thuốc độc, hoặc nín thở để tự sát! Tôi sẽ không đi với ông. Xin đừng giết chồng tôi một cách vô ích như vậy!

Bằng cách này, cô đã cầu xin được tên cướp tha mạng cho chồng mình.

Cả hai trở lại Xá-vệ an toàn. Sau đó, khi đi ngang qua tịnh xá Kỳ Viên, họ chợt nảy lên ý nghĩ là sẽ viếng thăm tịnh xá và đảnh lễ Đức Thế Tôn. Vì thế, họ đi đến hương thất, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn hỏi họ đã ở đâu về. Họ trả lời:

– Bạch Thế Tôn, chúng con đi thu nợ về.

– Hai vị đi không gặp rủi ro gì chứ? Ngài hỏi tiếp.

Người chồng trả lời:

– Trên đường đi, chúng con bị những tên cướp bắt giữ. Tên thủ lĩnh toán cướp định sát hại con, nhưng vợ của con đã xin y tha mạng cho con. Con sống được là nhờ cô ấy.

Nghe thế, đức Thế Tôn nói:

– Này cư sĩ, cư sĩ không phải là người duy nhất được cô ấy cứu mạng đâu. Vào đời trước, cô ấy cũng đã cứu mạng những bậc hiền trí khác.

Rồi theo lời thỉnh cầu của ông, đức Thế Tôn kể một câu chuyện đời trước.

* * *

Một thuở, Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares). Ở vùng Tuyết sơn có một hồ nước rộng và ở trong đó có một con Cua vàng lớn sống, bởi vì nó sống ở đấy nên cái hồ được gán tên là hồ Cua. Cua rất lớn, tròn to như cái sân đập lúa. Nó có thể bắt những con voi, giết chết và ăn thịt chúng. Do sợ hãi nó mà không có một con voi nào dám đi xuống hồ gặm chồi non.

Bấy giờ, Bồ-tát đầu thai vào lòng một con voi cái, vợ của con voi đầu đàn sống gần Hồ Cua này. Voi mẹ, để an toàn cho đến lúc sinh nở, đã kiếm một nơi khác trên núi, và ở đấy bà sanh được một chú voi. Chú voi đúng thời đã phát triển đầy đủ trí tuệ, to lớn, hùng mạnh và sung mãn. Chú giống như một ngọn núi màu tía.

Chú chọn một con voi khác làm vợ, và quyết định bắt con Cua này. Vì thế, cùng với mẹ và vợ, chú đi đến đàn voi tìm cha mình và đưa ra vấn đề đi bắt Cua.

Voi cha nói:

– Con ạ, con không thể nào làm được điều đó.

Nhưng vì chú cứ năn nỉ cầu xin voi cha mãi nên cuối cùng voi cha nói:

– Thôi được, con phải cố gắng.

Vì thế, chàng voi trẻ tập hợp tất cả những con voi lại bên cận hồ Cua, dẫn chúng đến gần hồ và hỏi:

– Con Cua này thương bắt lấy những con voi khi chúng đi xuống, khi chúng đang ăn, hay khi chúng đi lên lại?

– Khi chúng đi lên lại. Những con voi trả lời.

– Được, thế thì tất cả các vị hãy đi xuống hồ nước và ăn bất cứ những gì các vị gặp, rồi sau đó các vị hãy lên trước, tôi sẽ theo sau các vị.

Chú nói như vậy và họ đã làm theo.

Thế rồi, khi thấy Bồ-tát đi lên sau cùng, con Cua đã kẹp chặt càng của mình vào chân chú, giống như một người thợ rèn kẹp chặt thanh sắt trong cái kềm lớn. Vợ của Bồ-tát không rời bỏ chàng, mà đứng ở đấy cận chàng. Bồ-tát cố kéo con Cua, nhưng không thể làm nhúc nhíc được nó. Sau đó, con Cua kéo chú lại phía nó. Vào lúc quá sợ hãi, Voi đã rống lên liên tục. Nghe tiếng rống, tất cả những con voi khác, vì quá kinh hoàng nên đã chạy rống lên và vãi phân ra. Ngay cả vợ voi cũng không thể đứng yên, cô ta định bỏ chạy. Do đó, để nói với vợ rằng mình đang bị con Cua bắt giữ làm tù nhân và mong cô ta ở lại đừng bỏ chạy, Voi đọc lên bài kệ đầu tiên:

Sinh vật có càng mắt lồi ra,

Sinh hồ, không lông, mai phủ da

Hắn bắt lấy ta! Ta gào thét!

Nàng yêu ta nhiều, đừng bỏ ta.

Do đó, vợ của Voi quay trở lại và đọc lên bài kệ thứ hai để an ủi Voi:

Thiếp không bào giờ bỏ chàng đâu!

Sáu mươi năm trời sống cùng nhau,

Khắp cả bốn phương không trông thấy

Người nào cao quý giống chàng đây.

Cô voi động viên chồng như vậy và nói:

– Chàng hỡi, bây giờ thiếp sẽ nói với con Cua, cầu xin nó để cho chàng đi.

Rồi vợ Voi nói với con Cua bằng bài kệ thứ ba:

Tất cả loại cua ở biển cả

Sông Hằng hay sông Nai-mạt-đà (Nerbudda)

Tôi biết ngài là bậc chúa tể:

Nghe tôi, xin thả chồng tôi ra.

Khi nghe cô voi nói như vậy, con Cua bị mê hoặc bởi âm thanh của tiếng nói phụ nữ nên quên hết tất cả sợ hãi. Thế rồi nó thả càng của mình ra khỏi chân Voi, không nghi ngờ điều mà nó sẽ ghánh chịu khi thả Voi ra. Sau đó, Voi nhắc chân của mình lên và dẫm lên lưng con Cua, làm cho mắt của nó lồi ngay ra. Rồi voi rống lên tiếng kêu vui sướng. Tất cả những con voi khác chạy đến, kéo con Cua lên đặt trên đất khô và dẫm bẹp nó ra. Hai cái càng của nó gãy ra khỏi thân.

Hồ Cua này nằm cận sông Hằng, nên khi có một trận lụt ở sông Hằng thì nước sông Hằng tràn đầy vào hồ, và khi nước rút xuống thì nước từ hồ lại chảy ra sông Hằng. Do đó, hai cái càng này bị cuốn đi và trôi bồng bềnh theo dòng sông Hằng. Một cái trôi đến biển. Còn một cái khác được mười anh em vương gia trong khi đang đùa giỡn dưới nước tìm thấy, mang nó về và làm thành một cái trống nhỏ đặt tên là A-năng-ha (Ānaka). Những người khổng lồ nhìn thấy cái càng trôi ra biển, đã lấy nó làm thành cái trống và đặt tên là A-lan-bạt-lạp (Āambara). Những người này khi bị đánh bại trong trận chiến với thiên chủ Đế Thích, đã tháo chạy và bỏ lại nó. Thế rồi, Đế Thích cho người giữ lấy nó để sử dụng. Và chính vì cái trống này mà người ta thường nói: “Tiếng sấm như mây A-lan-bạt-lạp!”

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc kết thúc thời pháp, hai vợ chồng người này đắc được quả Dự lưu.

Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Vào thuở đó, nữ cư sĩ này là cô voi cái, còn ta chính là chồng của cô.

Số 268
CHUYỆN CÁI VƯỜN BỊ PHÁ HỔNG
(Tiền thân Ārāma-Dūsa)

Đây kẻ khôn nhất trong cả bầy…

Trong khi trú ở miền quê gần Đặc-kỳ-na-kì-lê (Dakkhiāgiri), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về con trai một người làm vườn.

Sau an cư mùa mưa, đức Thế Tôn rời Kỳ Viên để đi đến xứ Đặc-kỳ-na-kì-lê khất thực. Một nam cư sĩ thỉnh đức Phật và chúng Tăng đến ngồi ở vườn của mình rồi cúng dường cơm và bánh. Sau đó ông nói:

– Thưa chư Tôn giả, nếu có Tôn giả nào muốn đi xem vườn thì có thể cùng đi với người làm vườn.

Rồi ông bảo người làm vườn cúng dường cho họ những thứ trái cây mà họ thích.

Khi họ đi đến một khu đất trống, họ hỏi:

– Thưa ông, tại sao khu đất này trơ trụi không có cây cối gì hết vậy?

Người làm vườn trả lời:

– Nguyên nhân do bởi con trai của một người làm vườn đấy. Cậu ta phải tưới cây non và nghĩ rằng tốt hơn hết hãy tưới lượng nước tương xứng với chiều dài của những chiếc rễ. Vì thế, cậu ta nhổ tất cả những chiếc rễ lên để xem, và tưới nước phù hợp với độ dài của chúng. Kết quả là khu đất này trở thành trơ trụi.

Chư Tỳ-kheo trở về và bạch lại với đức Thế Tôn chuyện đó. Ngài nói:

– Không phải chỉ bây giờ cậu trai này mới phá hoại khu cây trồng đâu, mà trước đây cậu ta cũng đã từng làm thế.

Và nhân đó, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời trước.

* * *

Thuở xưa, khi Uy-tát-tái-na (Vissasena) là vị vua trị vì xứ Ba-la-nại (Benares), một lễ hội được công bố. Người giữ vườn nghĩ rằng ông ta sẽ đi dự lễ, nên gọi những con khỉ sống ở trong vườn đến và nói:

– Khu vườn này là nguồn lợi lớn cho các con. Ta muốn đi xem lễ hội một tuần, vậy các con thay ta tưới những cây non vào ngày thứ bảy được chứ?

– Vâng được, thưa ông. Chúng trả lời.

Ông giao cho chúng túi da tưới nước và ra đi.

Những con khỉ kéo nước và bắt đầu tưới cây.

Con khỉ già nhất xướng lên:

– Nào, hãy chờ! Cứ kéo nước mãi thế này thì thật vất vã, phải tiếc kiệm nước mới được. Chúng ta hãy nhổ những cây này lên và xem những chiếc rễ của chúng. Nếu chúng có rễ dài, chúng cần nhiều nước, nhưng nếu rễ của chúng ngắn thì chúng sẽ cần ít nước.

– Chí lý, chí lý. Những con khỉ đồng ý.

Do đó, một số con khỉ nhổ cây lên, sau đó một số khác trồng chúng lại và tưới chúng.

Bồ-tát bấy giờ là một chàng trai sống ở Ba-la-nại, vì có một vài công việc nên đi đến khu vườn này và trông thấy những gì những con khỉ đang làm.

Ngài hỏi:

– Ai bảo các ngươi làm điều đó?

Thủ lĩnh của chúng tôi. Chúng trả lời.

– Nếu trí tuệ của kẻ thủ lĩnh đã như thế, thì số các ngươi còn lại đây còn ra thế nào! Ngài nói.

Và để giải thích vấn đề, Ngài đọc lên bài kệ đầu tiên:

Đây kẻ khôn nhất trong cả bầy

Thông minh đến mức thế này đây!

Nếu y được chọn là giỏi nhất,

Thế nào với số còn lại này!

Nghe lời nhận xét này, những con khỉ đáp lại bằng bài kệ thứ hai:

Bà-la-môn hỡi, ông không hay

Nên trách chúng tôi như thế này!

Nếu không biết được rễ dài ngắn

Cây lớn thế nào sao biết đây?

Bồ-tát trả lời nó qua bài kệ thứ ba như sau:

Khỉ hỡi, ta đâu trách các ông

Kẻ đi khắp rừng ta cũng không.

Ta trách gã chủ sao ngớ ngẫn

Đi xa giao cây các ngươi trông.

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Cậu trai phá hổng công viên là khỉ chúa, còn ta chính là người hiền trí.

Số 269
CHUYỆN NÀNG THIỆN SINH
(Tiền thân Sujāka)

Người thiếu nhân từ, tâm xấu xa...

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về nàng Thiện Sinh (Sujāka), là con dâu của trưởng giả Cấp Cô Độc (Anātha-piṇḍika), con gái của đại phú thương Văn Đồ (Dhanañjaya), và là em gái út của nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư (Visākhā).

Nghe kể, cô ta vào làm dâu nhà trưởng giả Cấp Cô Độc với một thái độ đầy kiêu ngạo. Cô ta bướng bỉnh, hung bạo, cáu giận và thô lỗ vì nghĩ rằng mình xuất thân từ một gia đình danh giá. Cô từ chối làm phận sự của một người con dâu đối với cha mẹ chồng, của một người vợ đối với chồng. Cô đi quanh nhà luôn miệng mắng nhiếc thô bỉ và nặng tay đánh đập mọi người.

Một ngày nọ, đức Thế Tôn cùng với năm trăm Tỳ-kheo viếng nhà trưởng giả Cấp Cô Độc và ngồi ở đấy. Đại trưởng giả ngồi xuống một bên đức Thế Tôn và nghe Ngài thuyết pháp. Tình cờ vào lúc đó, Thiện Sinh đang lớn tiếng chửi rủa những người nô bộc.

Đức Thế Tôn ngưng thuyết giảng và hỏi tiếng la lối ồn ào đó là gì. Trưởng giả giải thích rằng đó là tiếng người con dâu thô lỗ của ông. Cô ta không cư xử phải phép đối với chồng và cha mẹ chồng. Cô không biết bố thí, cũng không có được điểm tốt nào. Cô ta vô đạo và bất tín, đi quanh nhà chửi rủa suốt ngày đêm. Đức Thế Tôn nghe vậy và cho gọi cô ta đến.

Cô đi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế rồi đức Thế Tôn hỏi cô như thế này:

– Này Thiện Sinh, có bảy hạng vợ mà một người đàn ông phải có. Không biết cô thuộc hạng vợ nào đây?

Cô trả lời:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nói vắn tắt quá nên con không hiểu, xin Thế Tôn giảng giải điều đó rõ hơn.

– Lành thay, vậy thì hãy chú tâm lắng nghe.

Đức Thế tôn nói và đọc lên những vần kệ sau:

Người thiếu nhân từ, tâm xấu xa

Chồng mình gét bỏ, yêu người ta

Phá nát gia sản chồng kiếm được

Nhận lấy danh xưng vợ Phá nhà.

Những gì chồng có nhờ kinh doanh,

Hoặc bằng việc nông, hoặc nghề lành

Cô ta cố cắp một số ít.

Người vợ Trộm cắp thật xứng danh.

Lơ là bổn phận, đầy dục tham,

Phẩn nộ, ác ngôn, thích sống nhàn,

Bạo ngược đối với hàng tôi tớ.

Danh xưng Kiêu mạn người này mang.

Người nhiều thương cảm, lắm lòng nhân

Chăm chồng bằng tình của mẫu thân

Giữ gìn gia sản chồng kiếm được.

Người vợ Từ mẫu được xưng danh.

Người kính trọng chồng bằng tình thân

Như cô em gái kính người anh

Nhún nhường, vâng theo ý chồng muốn.

Người vợ Em gái được vinh danh.

Người luôn mừng vui khi gặp chồng

Như gặp bạn cũ bấy lâu trông,

Đức hạnh, nghiêm từ và dâng hiến.

Người vợ Bạn hữu được tặng phong.

Làm lặng cãi tranh, sợ bạo hành

Kiên trì, nhẫn nhịn, không dục sân

Chiều chồng, giữ tâm luôn chận thực

Người vợ Nàng hầu được xưng danh.

– Này thiện sinh, có bảy hạng vợ mà một người đàn ông phải có như vậy. Ba hạng người đầu, vợ Phá nhà, Trộm cắp, và Kiêu mạn sau khi mạng chung sẽ sanh vào địa ngục; bốn hạng người sau được sanh vào cõi trời Hóa Lạc.

Những người đời này được gọi là:

Kiếu mạn, Trộm cắp, vợ Phá nhà

Phẫn nộ, xấu xa, tâm bất kính

Bỏ thân, địa ngục hẳn bị sa.

Đời này được gọi vợ Mẫu thân,

Bằng hữu, Em gái, hay Hầu nhân

Đức hạnh, bản thân luôn tự chủ.

Mạng chung chắc chắn cõi thiên sanh.

Trong khi đức Thế Tôn giảng giải bảy hạng vợ này, Thiện Sinh đắc được quả Dự Lưu. Sau đó, Ngài hỏi cô thuộc hạng vợ nào. Cô trả lời:

– Bạch Thế Tôn! con là một người hầu.

Thế rồi, cô cung kính đảnh lễ đức Thế Tôn và được Ngài hoan hỷ.

Bằng một lời khuyên nhủ như vậy, đức Thế Tôn đã thuần phục được cô nàng kiêu mạn này. Sau bửa ăn, khi chỉ giáo xong những bổn phận phải làm của người Tỳ-kheo ở trong Tăng đoàn, đức Thế Tôn đi vào hương thất.

Bấy giờ, chư Tỳ-kheo tập trung lại trong Chánh pháp đường và tán dương đức Thế Tôn.

– Thưa các Pháp hữu, chỉ bằng một lời khuyên nhủ như vậy, đức Thế Tôn của chúng ta đã thuần phục được một người phụ nữ kiêu mạn và khiến cho cô ta đắc được quả Dự lưu!

Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang bàn luận về điều gì khi cùng ngồi lại với nhau. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:

– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên chỉ bằng một lời khuyên nhủ ta đã thuần phục được Thiện Sinh thôi đâu.

Rồi Ngài bắt đầu kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì vương quốc Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con trai bà Chánh cung. Khi đến tuổi trưởng thành, Ngài nhận sự giáo dục ở Xoa-thi-la (Takkasilā). Rồi sau khi phụ vương băng hà, Ngài lên ngôi vua và trị vì bằng sự công chính.

Mẫu hậu là người đàn bà hay cáu giận, thô bạo, cay nghiệt, gắt gỏng và ác ngôn. Ngài muốn khuyên nhủ mẹ, nhưng Ngài nghĩ là mình không được phép làm bất cứ điều gì quá bất bất kính. Vì thế, Ngài cứ canh chừng cơ hội để gián tiếp gợi ý với mẹ.

Một ngày nọ, Ngài cùng với mẫu hậu đi dạo ngự viên. Trên đường đi, họ nghe một con chim giẻ cùi kêu. Nghe tiếng chim, tất cả các cận thần đều bịt tai lại và kêu lên:

– Một tiếng kêu khó nghe làm sao! một tiếng kêu inh tai làm sao! Thôi chớ kêu nữa!

Trong khi Bồ-tát đi ngang qua công viên cùng với mẹ và đoàn tùy tùng, một con chim cu, đậu giữa những tàn lá dày của một cây Bà-la (sāl), cất tiếng hót êm dịu. Tất cả những người xung quanh thích thú tiếng kêu của nó, vỗ tay mãi và cầu xin con chim:

– Ôi! một tiếng kêu thật dịu dàng, một tiếng kêu thật hay, một tiếng kêu thật hoà nhã làm sao! Hỡi chim, hót nữa đi, hót nữa đi!

Họ đứng ở đấy, ngước cổ thích thú lắng nghe.

Bồ-tát ghi nhận hai hình ảnh này, nghĩ đây là cơ hội để Ngài gián tiếp nói với mẫu hậu. Ngài nói:

– Thưa mẫu hậu, khi người ta nghe tiếng chim giẻ cùi kêu trên đường, tất cả họ đều bịt tai lại và kêu lên: Thôi chớ kêu nữa! chớ kêu nữa! Vì không một ai thích âm thanh chói tai khó nghe.

Và Ngài đọc lên những bài kệ sau:

Người được phú cho vẻ mỹ miều

Nhìn vào khả ái, thật yêu kiều

Nhưng tiếng họ nói nghe thô tháo

Đời này, đời sau chẳng ai yêu.

Mẹ thường trông thấy một con chim

Xấu xi, lông đen, đốm khắp mình

Tuy thế tiếng hót nghe êm dịu

Chim cu yêu quý nhiều người thích!

Do đó mẹ nên nói dịu dàng

Bỏ đi kiêu mạn; nói khôn ngoan.

Lời nói như thế thật dễ mến!

Giảng giải lý Kinh thật rõ ràng.

Khi Bồ-tát khuyên nhủ mẹ như vậy cùng với ba bài kệ này, Ngài đã làm cho bà thay đổi đi tính tình, và không lâu sau đó, bà đã sống theo một lối sống đúng đắn. Như vậy, chỉ bằng một lời nói, Ngài đã khiến cho mẹ của mình trở thành một người phụ nữ biết sống quên mình. Rồi sau khi mạng chung, bà đã tái sanh theo hành nghiệp của mình.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

– Thiện sinh vào thuở đó là người mẹ của vua Ba-la-nại, còn ta chính là nhà vua.

Số 270
CHUYỆN CON CÚ
(Tiền thân Ulūka)

Ông chọn cú làm vua...

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một cuộc tranh cãi giữa những con Quạ và những con Cú.

Bấy giờ, những con Quạ vào ban ngày thường ăn những con Cú. Và vào ban đêm, những con Cú bay lùng sục khắp nơi, cắn đứt đầu những con quạ khi chúng đang ngủ, giết chết chúng bằng cách như vậy. Có một thầy Tỳ-kheo nọ sống trong một căn phòng ở ngoài Kỳ Viên. Vào lúc đi ngủ, thầy thường thấy một số đầu quạ từ trên cây rơi vãi xuống đấy, đủ chất đầy bảy tám chiếc giỏ mây. Thầy kể lại chuyện này với chư Tỳ-kheo. Trong Chánh pháp đường, các Tỳ-kheo bắt đầu bàn luận điều đó.

– Thưa các Pháp hữu, thầy Tỳ-kheo kia thấy có rất nhiều đầu quạ rơi vãi mỗi ngày ở nơi thấy ấy sống!

Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang bàn luận điều gì khi cùng ngồi lại với nhau. Họ bạch sự việc với Ngài và hỏi thêm rằng, những con quạ và những con cú đã tranh cải với nhau từ khi nào.

Đức Thế Tôn trả lời:

– Từ kiếp sống đầu tiên.

Nói rồi, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời xưa.

* * *

– Thuở xưa, những người sống cùng với nhau trong kiếp sống đầu tiên đã chọn một người có sắc đẹp, tài năng, oai vệ, hoàn hảo làm vua của họ. Loài thú bốn chân cũng tập hợp lại và chọn một con Sư tử làm vua. Và loài cá ở trong đại dương chọn cho chúng một con cá có tên là Hoan Hỷ (Ānanda) làm vua. Do đó, những con chim sống ở Tuyết Sơn tập hợp lại trên một tảng đá phẳng, kêu lên:

– Loại người có một vị vua, loài thú có một vị vua, và loại cá cũng có một vị vua, nhưng loài chim chúng ta không có được một vị vua. Chúng ta không nên sống trong tình trạng hổn loạn, chúng ta nên chọn ra một vị vua. Hãy chọn một con chim thích hợp làm vua!

Chúng lục tìm một con chim như vậy và sau đó chọn lấy một con cú. Chúng nói:

– Đây là con chim chúng ta muốn.

Một con chim tuyên bố cho tất cả rằng, việc biểu quyết chọn lựa này sẽ được thực hiện ba lần. Sau khi kiên nhẫn lắng nghe lời công bố này đến lần thứ hai; đến lần thứ ba, một con quạ đứng lên và nói lớn:

– Hãy khoan đã! Ông ta đang khi được tôn phong làm vua mà bộ dáng trông như thế ấy, thì ông ta sẽ trông ra làm sao khi giận dữ! Nếu ông ta chỉ xem xét chúng ta bằng sự phẫn nộ thì chúng ta sẽ bị tung rãi giống như những hạt mè bị vứt bỏ trên một phiến đá nóng. Tôi không muốn chọn ông này làm vua!

Và bàn thêm về việc này, nó đọc lên bài kệ đầu tiên:

Ông chọn Cú làm vua

Đứng trên cả loài chim:

Các ông hãy cho phép

Tôi bày tỏ tâm mình?

Những con chim đọc lên bài kệ thứ hai, chấp nhận cho nó được phép nói:

Ngươi cứ phép nói ra,

Đó là điều hữu ích

Chúng tôi tuổi còn trẻ

Sáng suốt và thông minh.

Được phép thế, nó đọc lên bài kệ thứ ba:

Tôi không muốn chấp nhận

Điều các vị đưa ra

Phong Cú kia làm chúa

Người đứng đầu chúng ta.

Trông mặt mày thế kia!

Vào lúc còn vui thú,

Ông ta sẽ làm gì

Khi mặt mày giận dữ?

Đọc xong, nó bay vào không trung và kêu lên:

– Tôi không muốn con chim đó! Tôi không muốn con chim đó!

Con cú vỗ cánh và rượt đuổi theo nó. Từ đó, hai con chim này ấp ủ mối thù với nhau. Sau đó, những con chim đã chọn một con Ngỗng Vàng làm vua của chúng, rồi giải tán hội chúng.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế và nhận diện Tiền thần:

– Vào thuở đó, ta chính là con Ngỗng trời được chọn làm vua.

 


Ban Tu Thư Phật Học

Cập nhật: 03/22/2006