CHƯƠNG III
PHẨM KHU RỪNG
Số 271
CHUYỆN CÁI GIẾNG BỊ LÀM BẨN
(Tiền thân Udapāna-Dūsaka)
Ẩn sĩ khổ hạnh sống nơi đây...
Trong khi trú tại Y-tây-mạt-tha-na (Isipatana),
đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một con Sói đã làm dơ bẩn một cái
giếng.
Nghe kể rằng, có một con Sói thường làm dơ bẩn
giếng nước mà các Tỳ-kheo thường kéo nước ở đấy rồi sau đó bỏ trốn. Một
hôm, những Sa-di đã dùng đất cục ném nó túi bụi, khiến cho nó hoảng sợ.
Từ đó về sau, nó không bao giờ dám bén mảng đến nơi này nữa.
Những Tỳ-kheo nghe việc này và bắt đầu bàn luận
trong Chánh pháp đường.
– Thưa các Pháp hữu, con Sói thường làm dơ bẩn
giếng nước của chúng ta từ khi bị những Sa-di ném đất đá xua đuổi đã
không bao giờ dám đến gần giếng nước nữa!
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang bàn luận điều
gì khi ngồi lại với nhau. Họ bạch sự việc với Ngài. Nghe thế, Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên
con Sói này làm xú uế cái giếng thôi đâu, mà trước đây nó cũng đã từng
làm như thế.
Rồi Ngài kể một câu chuyện đời trước.
* * *
Thuở xưa, tại Y-tây-mạt-tha-na gần Ba-la-nại này cũng có một cái giếng
như vậy. Vào thuở đó, Bồ-tát sinh vào trong một gia đình hào phú. Khi
đến tuổi trưởng thành, Ngài xuất gia học đạo và sống ở Y-tây-mạt-tha-na
cùng với hội chúng những vị đệ tử. Có một con Sói đã làm dơ uế cái giếng
như đã được miêu tả, rồi bỏ chạy. Một ngày nọ, những vị ẩn sĩ vây lấy
nó. Và sau khi dùng cách bắt được nó, họ đưa nó đến trước Bồ-tát. Ngài
nói với Sói bằng những dòng kệ đầu tiên:
Ẩn sĩ khổ hạnh sống nơi đây
Người đã làm ra cái giếng này
Sau bao khó khăn và vất vả
Tại sao ngươi phá giếng như vầy?
Khi nghe hỏi vậy, Sói đáp lại bằng bài kệ thứ
hai:
Đây là luật lệ loài sói ta
Làm bẩn mọi nơi khi uống qua.
Tổ tiên của ta luôn như vậy
Chẳng có lý gì ông rầy la.
Thế rồi Bồ-tát đọc lên bài kệ thứ ba:
Nếu đây là luật loại sói ông
Phi luật mất thôi, ta nghĩ lòng!
Mong đây lần cuối ta gặp mặt
Dù có đúng luật hay là không.
Bậc Đại Sĩ đã khiển trách Sói như vậy và nói:
– Ngươi không bao giờ được đến đây nữa.
Từ đó về sau, nó không bao giờ dám đứng lại nhìn
giếng nữa.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế và nhận
diện Tiền thân:
– Con Sói làm dơ bẩn giếng trong cả hai trường
hợp đều giống nhau, còn ta chính là người đứng đầu nhóm những vị ẩn sĩ.
Số 272
CHUYỆN CON CỌP
(Tiền thân Vyaggaha)
Mỗi khi ở gần người bạn thân...
Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về Câu-ca-lợi (Kokālika). Những tình huống của
câu chuyện sẽ được trình bày trong Tập Mười ba, và Tiền thân Takkāriya,
số 481. Ở đấy, Câu-ca-lợi nói:
– Tôi sẽ đưa Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên cùng đi
với tôi.
Vì thế, sau khi rời khỏi nước Câu-ca-lợi, thầy đi
đến Kỳ Viên, đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi sau đó đi đến hai Tôn giả và nói:
– Thưa các hiền hữu, dân chúng ở nước Câu-ca-lợi
thỉnh các hiền hữu đến. Vậy chúng ta hãy đi đến đó!
– Thưa hiền hữu, hiền hữu hãy đi một mình, chúng
tôi không đi. Hai vị trả lời.
Sau lời từ chối này, Câu-ca-lợi ra đi một mình.
Các Tỳ-kheo đang bàn luận việc này trong Chánh
pháp đường.
– Thưa các hiền hữu, Câu-ca-lợi không thể sống
chung với Tôn giả Xa-lợi-phất và Mục-kiền-liên, cũng không thể cùng đi
với họ! Thầy ấy không thể sống chung được với những pháp hữu của mình!
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang cùng bàn luận
điều gì. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:
– Cũng như bây giờ vậy, vào đời quá khứ,
Câu-ca-lợi không thể sống chung với Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, cũng
không thể đi cùng với họ.
Nói rồi, Ngài kể một câu chuyện.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại, Bồ-tát là một
vị thần cây sống trong một cánh rừng nhỏ. Cách không xa nơi Ngài sống,
có một vị thần cây khác sống trong một khu rừng già. Trong khu rừng ấy,
có một con Sư tử và một con Cọp sống. Vì sợ nó nên không có người nào
dám đi đến khu rừng đó để đốn cây, thậm chí không có người nào dám đứng
lại nhìn. Sư tử và Cọp thường giết các loại thú để ăn thịt, và những gì
còn lại sau khi ăn, chúng vứt lại và bỏ đi, làm cho khu rừng đầy mùi xú
uế của thịt thối.
Vị thần kia xuẩn ngốc, không biết gì phải trái
nên một ngày nọ đã nói với Bồ-tát:
– Này anh bạn, khu rừng này đầy mùi xú uế của
thịt thối, tất cả đều do con Sư tử và con Cọp kia gây ra. Tôi sẽ đuổi cổ
nó đi.
Bồ-tát nói:
– Này bạn, chính hai sinh vật này đã bảo vệ trú
xứ của chúng ta. Một khi chúng bị đuổi đi, trú xứ của chúng ta sẽ bị tàn
phá. Nếu con người không nhìn thấy bóng dáng của Sư tử và Cọp, họ sẽ đốn
hết khu rừng này, biến nó trở thành một nơi hoang tàn, cho đến khi nó
hoá thành đồng bãi. Xin đừng làm việc đó!
Và Ngài đọc lên hai bài kệ đầu tiên:
Mỗi khi ở gần người bạn thân
Bình yên của bạn nguy cơ mất,
Nếu bạn có trí xin bảo vệ
Uy thế của mình như tròng mắt.
Nhưng khi bạn sống gần bạn thân
Được gia tăng thêm sự an lành,
Hãy để bạn mình được yên ổn
Quý bạn giống như là bản thân.
Tuy Bồ-tát giải thích vấn đề như vậy, nhưng vị
thần cây ngu xuẩn kia vẫn không cần ghi nhận điều đó, mà một ngày kia đã
hoá hiện thành một hình dáng kinh dị dễ sợ để đuổi Sư tử và Cọp đi. Con
người không nhìn thấy dấu chân của hai sinh vật này, đoán rằng Sư tử và
Cọp đã đi đến một khu rừng khác, nên đã đến đốn hết một bìa rừng. Thấy
thế, vị thần cây đi đến Bồ-tát và nói với Ngài:
– Ôi, bạn ơi, tôi không làm theo những gì bạn
khuyên mà đã đuổi những sinh vật đó đi. Bây giờ con người thấy chúng đã
đi nên đang đốn phá rừng! Phải làm gì bây giờ?
Bồ-tát trả lời rằng, hai con vật đó đã đến sống ở
một khu rừng có tên như vậy, thần cây nên đi đến đó đưa chúng về lại.
Thần cây này đã làm lời khuyên, đi đến đứng trước mặt chúng, cung kính
chào hỏi và đọc lên bài kệ thứ ba:
Cọp hỡi xin trở lại rừng thôi
Đừng để rừng kia san thành đồng
Không bạn, rìu sẽ hạ rừng xuống
Không rừng, nhà cửa bạn cũng không.
Chúng khước từ lời yêu cầu này và nói:
– Ông hãy đi đi! Chúng tôi sẽ không bao giờ đến
đó.
Vị thần cây một mình quay trở lại khu rừng. Và
con người, sau một vài ngày đã đốn sạch khu rừng, biến nó thành những
cánh đồng để cày xới.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế và nhận
diện Tiền thân:
– Thuở đó, Câu-ca-lợi là vị thần cây ngu xuẩn,
Xá-lợi-phất là con Sư tử, Mục-kiền-liên là con Cọp, còn vị thần cây hiền
trí đó chính là ta.
Số 273
CHUYỆN CON RÙA
(Tiền thân Kacchapa)
Như Bà-la-môn tay mang đầy…
Trong khi trú tại Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn
kể câu chuyện này về sự tranh cãi giữa hai vị đại thần của vua nước
Câu-tát-la (Kosala). Những tình huống của câu chuyện đã được kể ở Tập
hai (chuyện số 154 và 165).
* * *
Thưở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) là vua trị vì Ba-la-nại
(Benares), Bồ-tát thọ sanh vào trong một gia đình Bà-la-môn ở nước
Ca-thi (Kāsi). Khi đến tuổi trưởng thành, Ngài đi đến Xoa-thi-la
(Takkasilā), học tập các ngành nghề rồi quay trở về. Sau đó, Ngài từ bỏ
mọi dục lạc, vào vùng Tuyết Sơn xuất gia làm ẩn sĩ, dựng am thất sống
bên bờ sông Hằng, tu tập và chứng đắc được Thần thông cùng Thiền định,
hàng ngày an vui trong đời sống thiền định. Trong câu chuyện Tiền thân
này, Bồ-tát đắc được Thiền định tối thượng, viên mãn hành xả Ba-la-mật.
Ngài ngồi thiền nơi cửa thảo am, nhất tâm chuyên chú nên không thấy con
khỉ nghịch ngợm ở trước đi lại. Con khỉ đi đến, nhằm tai Bồ-tát mà chọc
nam căn của nó vào. Bồ-tát đã đắc được thiền định nên đối với việc ấy
Ngài an nhiên, không có gì trở ngại.
Thế rồi một ngày nọ, có một con rùa đen, do vì
nước sông Hằng tràn bờ nên đã bò lên bờ hả miệng về phía mặt trời mà
ngủ. Con khỉ đa dục đi đến nhằm miệng con rùa mà chọc nam căn của nó
vào. Lúc ấy, con rùa tỉnh ngủ và cắn chặt lấy nam căn giống như của báu
được bỏ vào rương cột chặt nắp không mở. Con khỉ cảm thấy đau đớn tột
cùng, không thể chịu nỗi. Nó nghĩ, “Ai là người có thể giải trừ được nỗi
đớn đau này cho ta đây? Ta phải đi đến nơi nào đề cầu cứu đây? Ngoài vị
ẩn sĩ ra, không có người nào có thể giải trừ được nỗi thống khổ này. Ta
phải đến trú xứ của vị ẩn sĩ thôi.”
Thế rồi, con khỉ hai tay ôm lấy rùa và đi đến chỗ
Bồ-tát. Bồ-tát trông thấy vậy thì rất buồn cười nên đọc lên bài kệ đầu
tiên:
Như Bà-la-môn tay mang đầy
Xách mang thức ăn đến ai đây?
Ngươi hành khất thức ở đâu vậy
Cớ sao lại đến ở nơi này?
Con khỉ nghịch ngợm nghe điều đó, đọc lên bài kệ
thứ hai:
Tôi con khỉ ngu si
Đã làm điều tà quấy
Xi giúp tôi về rừng
Được an vui nơi ấy
Bồ-tát nói với Rùa qua bài kệ thứ ba:
Con Rùa họ Ca-diếp
Khỉ họ Kiều Trần Như
Khỉ này phạm tà hạnh
Rùa nên thả Khỉ ra.
Con rùa khi nghe Bồ-tát nói, tâm lập tức được an
tịnh, bèn thả nam căn con khỉ ra. Con khỉ sau khi được thả ra, hướng mặt
về Bồ-tát đảnh lễ rồi chạy biến, từ đó không còn dám trở lại trú xứ của
Ngài nữa. Còn rùa, sau khi hướng đến Bồ-tát vấn an, cũng quay trở về chỗ
ở của mình. Rồi Bồ-tát tu tập thiền định không chút thối thất, sau khi
mạng chung đã sanh về Phạm thiên giới.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế, và nhận
diện Tiền thân:
– Thuở ấy, hai vị đại thần là con Khỉ và con Rùa,
còn ta là vị ẩn sĩ.
Số 274
CHUYỆN NGƯỜI THAM DỤC
(Tiền thân Lola)
Sếu có mào lông ai thế này…
Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo tham ăn. Thầy này cũng được đưa đến
Thính đường và đức Thế Tôn nói:
– Đây không phải là lần đầu tiên thấy này tham ăn
thôi đâu, mà đời trước thấy này cũng đã như vậy. Và chính việc tham ăn
của thầy này đã cướp đi sinh mạng của thầy, và cũng do vậy mà những
người hiền trí đời xưa đã bị đuổi ra khỏi nhà.
Thế rồi, Ngài kể một câu chuyện.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua nước Ba-la-nại (Benares), một
người đầu bếp của một vị trưởng giả giàu có ở kinh thành đã treo một cái
giỏ làm tổ cho những con chim ở để nhờ đó kiếm phước đức. Bấy giờ,
Bồ-tát thọ sanh làm một con chim Bồ câu. Chim bay đến sống trong cái giỏ
ấy.
Bấy giờ, có một con Qụa tham ăn, khi bay qua nhà
bếp đã bị lôi cuốn bởi số lượng cá rất nhiều được bày đặt khắp nơi. Thế
rồi, nó thấy thèm ăn và nghĩ: “Làm sao ta có thể kiếm được một vài con
cá ở cõi đời này?” Thế rồi nó nhìn thấy Bồ-tát và nghĩ: “Ta phải có cá.
Ta sẽ bắt sinh vật kia làm tay sai cho ta.” Và đây là cách thức để nó
tiến hành quyết định của mình.
Khi Bồ câu đi ra ngoài để tìm thức ăn, con Qụa cứ
bay mãi theo sau Bồ câu cho đến khi gặp mặt.
– Này bạn Quạ, bạn muốn đi cùng tôi làm gì? Bạn
và tôi ăn thức ăn không giống nhau. Bồ câu nói.
– Ồ, nhưng mà tôi thích bạn. Cho tôi được làm
người hầu hèn mọn của bạn, và cùng kiếm ăn với bạn. Qụa nói.
Bồ câu đồng ý. Nhưng khi chúng đi kiếm thức ăn
cùng với nhau, Qụa chỉ giả vờ ăn cùng với Bồ câu. Thỉnh thoảng nó quay
đầu lại, mổ vài cục phân bò, bắt một hai con giun. Khi đã ăn no bụng, nó
bay lên và nói:
– Này Bồ câu! Bạn tiếp tục bửa ăn của mình cho
đến bào giờ! Bạn thật không biết nơi đâu để dừng lại. Về thôi, chúng ta
hãy trở về kẻo muộn mất.
Rồi chúng quay trở về. Khi chúng cùng quay trở
về, người Đầu bếp nhìn thấy Bồ câu của mình mang về thêm một người bạn
nữa thì treo thêm một cai giỏ khác.
Sự việc tiếp tục bốn năm ngày như vậy. Sau đó,
người nhà của vị trưởng giả giàu có mua một lượng lớn cá và đem vào nhà
bếp. Con Qụa muốn ăn vô cùng! Nó nằm ở đấy từ mờ sáng và rên rỉ ồn ào.
Vào buổi sáng, Bồ câu nói với Qụa:
– Này anh bạn, chúng ta hãy đi ăn thôi!
– Bạn hãy đi đi. Tôi đang bị bệnh khó tiêu đây!
Qụa nói.
Bồ câu nói:
– Một con Qụa bị chứng bệnh khó tiêu hoá ư?
Chuyện vô lý! Ngay cả một cái bấc đèn cũng khó tồn tại được lâu trong
cái dạ dày của bạn; còn những thứ khác trong nháy mắt đã được tiêu hoá,
ngay khi bạn vừa ăn xong. Bây giờ bạn hãy làm theo điều tôi bảo, đừng
giả bộ như vậy chỉ vì thấy một vài con cá!
– Sao! Này bạn, bạn đang nói gì vậy? Tôi đã nói
với bạn là tôi bị đau bụng mà!
– Thôi được, thôi được, vậy thì nên cẩn thận. Bồ
câu nói và bay đi.
Người đầu bếp dọn mâm sẵn, và sau đó đứng nơi cửa
bếp lau mồ môi. “Đây là thời điểm của ta đây!” Qụa nghĩ và bay xuống đậu
trên cái đĩa đựng đầy thức ăn ngon. Lác cách …lách cách! Người đầu bếp
nghe thấy tiếng động nên nhìn quanh. Trong nháy mắt, ông ta tóm lấy con
Qụa và vặt hết lông, chỉ để lại một chùm lông trên đầu. Sau đó ông giã
gừng và quế, trộn nó với bơ sữa rồi chà kỹ lên khắp mình chim.
– Đây là để trừng phạt mày vì tội làm hỏng bữa ăn
tối của chủ tao, khiến tao phải đổ bỏ nó!
Ông ta nói và ném con chim vào trong giỏ. Ôi!
thật quá đau đớn!
Khi Bồ câu đi kiếm ăn trở về, điều đầu tiên chú
nhìn thấy là con Qụa đang rên rĩ ầm ỉ. Cố nhiên nó rất buồn cười! Bồ câu
thốt lên vần kệ như sau:
Sếu có mào lông, ai thế này?
Nó có quyền gì ở nơi đây?
Hãy đi! bạn Qụa sắp về đấy,
Tôi sợ anh ta hại bạn ngay!
Nghe lời này, Qụa trả lời bằng bài kệ khác:
Tôi không phải sếu có mào lông!
Mà Qụa tham làm đã dối lòng.
Tôi đã không làm như bạn bảo
Nên lông bị vặt, như bạn trông.
Và Bồ câu đáp lại bằng bài kệ thứ ba:
Bạn sẽ gặp họa trở lại thôi,
Bản chất của bạn là thế rồi
Con người nếu làm một đĩa thịt,
Nó không phải dành cho chim xơi.
Sau đó, Bồ câu nói:
– Ta không thể sống cùng với sinh vật này được.
Nói rồi, Bồ câu bay đi. Còn con Qụa, nằm ở đấy
rên rỉ mãi cho đến khi chết.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc
kết thúc thời pháp, thầy Tỳ-kheo tham dục chứng được quả Bất lai. Sau đó
Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, Tỳ-kheo tham dục này là con Qụa
tham ăn, còn ta chính là Bồ câu.
Số 275
Sếu xinh đẹp này là ai đây…
Trong khi ở tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo tham dục. Câu chuyện này
giống như câu chuyện vừa rồi. Và đây là những bài kệ:
* * *
Sếu xinh đẹp này là ai đây?
Sao nằm trong giỏ bạn ta vầy?
Chim Qụa bạn ta người nống giận!
Đây là tổ nó, nói bạn hay!
Này bạn, thật không biết tôi sao?
Chúng ta đã từng ăn với nhau!
Tôi đã không làm như được bảo,
Nên bị vặt lông, chịu đớn đau.
Bạn sẽ gặp họa trở lại thôi
Bản chất của bạn là thế rồi
Con người nếu làm một đĩa thịt
Nó không phải dành cho chim xơi.
Như trước, Bồ-tát nói:
– Ta không thể sống ở đây được nữa.
Rồi bay đến một nơi khác.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc
kết thúc các Thánh đế, thầy Tỳ-kheo tham dục này chứng được quả Bất lai.
Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, Tỳ-kheo tham dục là con Qụa, còn
ta là Bồ câu.
Số 276
CHUYỆN CHÍNH PHÁP NƯỚC CÂU LÂU
(Tiền thân Kurudhamma)
Hoàng thượng, biết ngài có tín hạnh…
Trong khi trú ở tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức
Thế Tôn kể câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo giết chết một con ngỗng
trời.
Có hai Tỳ-kheo là bạn thân của nhau sống ở thành
Xá-vệ (Sāvatthi). Sau khi xuất gia và thọ đại giới, họ thường đi đây đó
với nhau. Một ngày nọ, họ đi đến sông A-trí-la-phiệt (Aciravatī). Sau
khi tắm xong, họ đứng trên cát phơi nắng và cùng trò chuyện vui vẻ. Vào
lúc ấy, có hai con ngỗng trời bay ngang qua không trung. Một thầy nhặt
lên một hòn đá và nói:
– Tôi sẽ ném trúng mắt con ngỗng kia!
– Thầy không thể làm được điều đó. Thầy kia nói.
Thầy thứ nhất đáp lại:
– Tôi có thể làm được điều đó, và không những tôi
có thể làm được như vậy mà tôi có thể ném trúng con mắt này hay mắt kia
theo ý tôi.
– Thầy không làm được. Thầy kia nói.
– Thế thì hãy nhìn đây!
Thầy thứ nhất nói và nhặt lấy một hòn đá có ba
cạnh, ném nó theo con chim. Con chim ngoảnh đầu lại khi nghe tiếng rít
của hòn đá xuyên qua không khí. Sau đó thầy nhặt lên một viên đá tròn,
ném nó trúng ngay vào con mắt bên trái và xuyên qua mắt bên kia. Con
ngỗng cất lên một tiếng kêu lớn rồi lộn nhào, lộn nhào và rơi xuống ngay
nơi chân họ.
Những Tỳ-kheo đứng quanh đó nhìn thấy những gì đã
xảy ra nên chạy đến quở trách thầy này. Họ nói:
– Thật hổ thẹn cho thầy, người đã xuất gia thọ
trì giáo pháp giống như chúng tôi, vậy mà lại đi tược mất mạng sống của
một sinh vật!
– Họ đưa thầy đến trước đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn
hỏi:
– Có thật là thầy đã tước đi mạng sống của một
sinh vật không?
– Bạch Thế Tôn, có thật như vậy. Thầy trả lời.
Đức Thế Tôn nói:
– Này Tỳ-kheo, sao thầy có thể đi làm một việc
như vậy khi đã xuất gia cầu tìm giải thoát? Những bậc Hiền trí thuở
trước, trước khi đức Phật ra đời, mặc dù sống trong cõi thế tục ô nhiễm,
vậy mà họ cảm thấy ăn năn hối hận về những chuyện rất nhỏ. Còn thầy,
người đã xuất gia theo theo giáo pháp này lại không có đắn đo gì cả. Một
người Tỳ-kheo phải nên biết kìm hãm và kiểm soát bản thân trong mọi việc
làm, lời nói và ý nghĩ.
Rồi Ngài kể câu chuyện đời quá khứ.
* * *
Thuở xưa, khi Đàn-na-xa-da (Dhanañjaya) là vua của kinh thành
Nhân-đa-la-tát-đa (Indapatta), thuộc vương quốc Câu-lâu (Kuru). Bấy giờ,
Bồ-tát thọ sanh làm con trai của Hoàng hậu. Khi đến tuổi trưởng thành,
Ngài được giáo dục tại Xoa-thi-la (Takkasilā). Khi trở về, Ngài được phụ
vương cho làm Phó Vương. Rồi về sau, khi phụ vương băng hà, Ngài lên
ngôi vua và trưởng thành trong chính pháp nước Câu-lâu, tuân giữ mười
vương pháp. Chính pháp nước Câu-lâu có nghĩa là Ngũ giới. Bồ-tát tôn
trọng và thọ trì nghiêm mật những giới này. Khi thấy Bồ-tát làm như vậy,
cả thái hậu, hoàng hậu, vương đệ, phó vương, quan tư tế, Bà-la-môn,
người đánh xe, triều thần, quan thủ khố, quan quản lý, trưởng giả, người
gác cổng, kỹ nữ, nô tì – tất cả đều làm theo như vậy.
Nhà vua, thái hậu, cùng hoàng hậu
Phó vương, tư tế, người đánh xe
Người nài, kỹ nữ, quan thủ khố,
Người gác cổng thành, quản lý quan
Tất cả gồm có mười một vị
Tuân theo chính pháp nước Câu-lâu.
Tất cả những người này tôn trọng và thọ trì tinh
chuyên Ngũ giới. Nhà vua dựng sáu nhà bố thí. Bốn nhà ở bốn cổng thành,
một nhà ở giữa kinh đô, và một nhà ở ngay trước cửa hoàng cung. Ngài bố
thí sáu trăm ngàn đồng tiền mỗi ngày. Bởi việc làm này, Ngài đã làm chấn
động khắp cõi Ấn Độ. Khắp cõi Ấn Độ được thấm nhuần từ tâm và việc làm
bố thí của Ngài.
Bấy giờ, ở kinh thành Nại-đa-bố-la (Dantapura),
thuộc vương quốc Ca-lăng-nga (Kālinga), có một vị vua tên là
Ca-lăng-nga. Ở vương quốc của ông đã lâu trời không mưa, và bởi vì hạn
hán nên nạn đói xảy ra ở xứ này. Dân chúng nghĩ rằng thiếu thực phẩm có
thể gây ra dịch bệnh, và họ lo sợ hạn hán, đói kém. Ba nỗi sợ hãi này,
hạn hán, dịch bệnh, đói kém luôn ám ảnh họ. Dân chúng cơ cực, bồng bế
con cái lang thang trôi dạt khắp nơi. Rồi tất cả dân chúng tụ tập lại và
đi đến kinh thành Nại-đa-bố-la (Dantapura), đứng trước hoàng cung và la
hét.
Lúc ấy, nhà vua đang đứng bên cửa sổ, nghe tiếng
tiếng ồn và hỏi cận thận tại sao dân chúng lại gây huyên náo như vậy.
– Tâu đại vương, ba mối sợ hãi đã bao trùm vương
quốc của ngài. Trời không mưa, mất mùa, và nạn đói phát sinh. Dân chúng
đói rách, bệnh tật và cơ cực, bồng bế con nhỏ lang thang trôi dạt khắp
nơi. Tâu đại vương! Xin ngài làm sao cho thần dân có mưa.
Nhà vua hỏi:
– Những vị tiên vương thường làm gì nếu khi trời
không mưa?
– Tâu đại vương, nếu khi trời không mưa, những vị
tiên vương thường bố thí, trai tịnh, giữ giới và nằm suốt bảy ngày trên
nệm cỏ ở trong phòng. Sau đó, trời sẽ mưa.
– Được lắm. Nhà vua nói.
Rồi ông làm giống như vậy. Tuy thế, trời vẫn
không mưa. Nhà vua nói với các cận thần:
– Trẫm đã làm theo những gì các khanh bảo, nhưng
trời vẫn không mưa. Trẫm phải làm gì bây giờ?
– Tâu đại vương, ở kình thành Nhân-đà-ba-tát-đa,
có một con quốc tượng tên là Hắc Ngưu (Añjana-vasabho). Nó thuộc sở hữu
của vua Đàn-na-xa-da, nước Câu-lâu. Chúng ta đưa được nó về đây thì trời
sẽ mưa.
– Nhưng làm sao chúng ta có thể làm được việc đó?
Nhà vua và đạo quân của ông ta không phải dễ đánh bại.
– Tâu đại vương, không cần đánh nhau với ông ta.
Vị vua ấy thích làm việc bố thí. Nếu có ai cầu xin gì, vua liền bố thí
cho thứ ấy. Thậm chí ông ta có thể cắt chiếc đầu uy nghiêm, mốc đôi mắt
nhân từ, hay mang chính cả vương quốc của mình để bố thí. Không cần phải
năn nỉ gì. Ông ta chắc chăn sẽ cho con voi ấy.
– Nhưng ai là người có thể đến xin ông ta? Nhà
vua hỏi.
– Những vị Bà-la-môn, tâu đại vương!
Nhà vua cho mời tám vị Bà-la-môn từ một ngôi làng
Ba-la-môn đến. Bằng một nghi thức long trọng, ông đưa họ đến đó xin voi.
Họ nhận lấy tiền cho cuộc hành trình, mặc áo đi đường, không nghỉ qua
đêm ở một nơi nào, đi nhanh cho đến một vài ngày sau thì đến kinh thành.
Ở đấy, họ dùng bửa tại một nhà bố thí ở cổng thành. Khi thỏa mãn được
những nhu cầu của cơ thể, họ hỏi:
– Khi nào nhà vua sẽ đến nhà bố thí này?
Người ta trả lời:
– Vào ba ngày trong nửa tháng: ngày mồng tám,
ngày mười bốn và ngày rằm. Ngày mai là ngày rằm trăng tròn, vì thế ngày
mai vua sẽ đến.
Do đó, tờ mờ sáng ngày hôm sau, những người
Bà-la-môn đi đến và vào cổng thành phía đông. Bồ-tát tắm rửa, xức dầu,
ăn bận và trang điểm tất cả những đồ trang sức quý hiếm, ngự trên lưng
con voi quý được trang sức lộng lẫy, rồi cùng với đoàn tuỳ tùng đông đảo
đi đến Bố Thí đường ở cổng thành phía đông. Ngài xuống ở đấy, tự tay bố
thí thức ăn cho bảy tám người. Ngài nói: “Các người hãy bố thí theo cách
này.” Nói rồi, Ngài cỡi lên lưng voi và đi đến cổng thành phía nam.
Những vị Bà-la-môn ở cổng thành phía đông do gặp sự cản trở của những
người cận vệ nên không có cơ may gặp được Ngài. Vì vậy, họ đi đến cổng
thành phía nam, chờ đợi nhà vua đi đến. Khi nhà vua đi đến một khu đất
cao không xa cổng thành, họ đưa tay lên và tung hô vạn tuế. Nhà vua dùng
gậy nhọn hướng dẫn con voi đến nơi họ. Ngài hỏi:
– Thưa các Bà-la-môn, các vị muốn gì?
Thế rồi những Bà-la-môn đã tán dương đức hạnh của
vua qua bài kệ thứ nhất:
Hoàng thượng! biết ngài có tín hạnh
Vì thế chúng tôi đến nơi đây
Chúng tôi tiêu hết nguồn gia sản
Vì muốn cầu xin chú voi này.
Nghe vậy, Bồ-tát trả lời:
– Thưa các vị Bà-la-môn, nếu tất cả giả sản của
các vị cạn kiệt hết vì việc tìm kiếm con voi này thì điều đó không hề
chi! Ta sẽ cho các vị con voi này cùng với tất cả những đồ trang sức
lộng lẫy.
An ủi họ như vậy rồi, nhà vua đọc lên hai bài kệ:
Gia sản còn không, không cần biết
Nhưng ai đã bước đến nơi này,
Tất cả sẽ luôn được chào đón
Như thầy của ta dạy trước đây.
Nay cho các ông chú voi này
Là vật quý già của đế vương!
Nhận cùng xích vàng, đồ trang sức
Người nài, mọi thứ; rồi hồi hương.
Nói xong, bậc Đại Sĩ cỡi lên lưng voi, sau đó
trụt xuống và nói với họ:
– Nếu có một chỗ nào trên mình nó chưa được trang
sức, tôi sẽ trang sức chỗ ấy và sau đó trao nó cho các vị.
Ngài đi vòng quanh con vật ba lần, vòng theo
hướng phải để kiềm tra, những Ngài không tìm thấy chỗ nào trên mình nó
không có đồ trang sức. Sau đó, Ngài đặt cái vòi của nó vào tay những vị
Bà-la-môn, rắc nước hoa từ một cái bình bằng vàng lên mình nó, rồi giao
nó cho họ. Những Bà-la-môn nhận lấy con voi cùng với những đồ dùng dành
cho nó, rồi ngồi lên lưng voi và cưỡi về Nại-đa-bố-la (Dantapura), sau
đó trao voi cho vua của họ. Nhưng dù con voi được đưa về thì trời vẫn
không mưa.
Thế rồi nhà vua lại hỏi:
– Lý do tại sao vậy?
Họ trả lời:
– Đàn-na-xa-da, vua nước Câu Lâu, là người thọ
trì chính pháp nước Câu-lâu, do đó trong quốc vương của ông ấy, cứ mười
hoặc mười lăm ngày thì trời mưa một lần. Đấy là nhờ sức mạnh công đức
của vua. Nếu trong con voi này có được điểm tốt nào, thì nó hẳn quá nhỏ!
Thế rồi nhà vua nói:
– Hãy mang con voi này, trang sức như nó được
trang sức trước đây, rồi cùng với những đồ dùng dành cho nó, đem nó gởi
trả lại cho nhà vua. Hãy viết lên một tấm bảng bằng vàng chính pháp nước
Câu-lâu mà ông ấy thọ trì, rồi mang nó về đây cho trẫm.
Ông phái những Bà-la-môn và các triều thần đi đến
đó cùng với những lời như vậy.
Những người này đi đến yết kiến nhà vua và hoàn
trả lại con voi cho Ngài. Họ nói:
– Tâu đại vương, dẫu khi con voi của Ngài được
đưa về thì ở vương quốc của chúng tôi trời vẫn không mưa. Người ta nói
rằng Ngài tuân giữ chính pháp của nước Câu-lâu. Bản thân hoàng thượng
chúng tôi cũng muốn tuân giữ điều đó nên đã gửi chúng tôi đến đây, bảo
chúng tôi chép chính pháp đó lên một tấm bảng bằng vàng và mang nó về
cho ông ấy. Xin Ngài nói cho chúng tôi chính pháp này!
Nhà vua nói:
– Này các hiền hữu, trước đây ta thực sự tuân giữ
chính pháp này, nhưng bây giờ ta đang nghi ngại về chính điều này. Chính
pháp này giờ đây không làm cho ta an lạc. Do đó, ta không thể trao nó
cho các vị được.
Các vị có thể hỏi, tại sao giới luật này không
còn làm cho nhà vua an lạc nữa? Chuyện là thế này: Cứ mỗi ba năm, vào
tháng Kattika (tháng mười đến thàng mười một), nhà vua thường tổ chức
một lễ hội, gọi là Lễ hội Kattika. Khi dự lễ hội này, các vị đế vương
thường trang sức vô cùng lộng lẫy và ăn bận giống như chư thiên. Họ đứng
trước một vị thần có tên là Đa Sắc Vương (Cittarāja), và bắn đi những
mũi tên được quấn bằng những bông hoa được sơn bằng nhiều màu sắc đến
bốn điểm xung quanh. Thế rồi vị vua này, trong khi dự tế lễ đã đứng trên
bờ hồ, trước thần Cittarāja, và bắn những mũi tên đến bốn hướng. Người
ta nhìn thấy ba mũi tên đi đến đích, còn mũi tên thứ tư bị bắn rơi xuống
mặt nước nên người ta không nhìn thấy mũi tên này. Nhà vua nghĩ, “Có thể
mũi tên ta bắn đã rơi trúng vào một con cá nào đó!” Nghi ngờ về tội sát
sanh đã tạo ra một vết nhơ trong việc giữ giới của vua. Đó là lý do tại
sao việc giữ giới không làm cho Ngài an lạc như trước đây. Nhà vua kể
cho họ điều này, rồi nói thêm:
– Này các hiền hữu, bản thân ta đang nghi ngờ về
chính mình là không biết mình có tuân giữ chính pháp của nước Câu Lâu
hay không. Tuy thế, mẫu hậu của ta tuân giữ nó rất cẩn mật. Các vị có
thể nhận lấy chính pháp đó nơi bà.
Nghe thế, họ nói:
– Nhưng, tâu đại vương, Ngài không cố ý tước đoạt
mạng sống. Xin trao cho chúng tôi chính pháp của nước Câu Lâu mà Ngài đã
tuân giữ!
– Vậy thì hãy ghi. Ngài nói.
Rồi Ngài đọc cho họ ghi lên một tấm bảng bằng
vàng.
– Không được sát sanh, không được trộm cắp, không
được ta dâm, không được nói dối và không được uống rượu.
Sau đó, Ngài nói thêm:
– Tuy thế, chính pháp này không làm cho ta an
lạc. Tốt hơn các vị nên đến mẫu hậu của ta mà học hỏi điều này.
Những vị sứ giả bái tạ nhà vua và đi đến Thái
hậu. Họ nói:
– Thưa Thái hậu, người ta nói Thái hậu tuân giữ
chính pháp nước Câu Lâu. Xin trao cho chúng tôi chính pháp đó!
Thái hậu nói:
– Này các vị, trước đây ta thực có tuân giữ chính
pháp này, nhưng bây giờ ta có những mối nghi ngờ của mình. Chính pháp
này không làm cho ta an lạc, vì thế ta không thể trao nó cho các vị
được.
Chuyện kể rằng, bấy giờ bà có hai người con trai,
người anh làm vua và người em làm phó vương. Một vị vua nọ gởi cho
Bồ-tát dầu thơm gỗ đàn hương quý trị giá một trăm ngàn đồng, và một
chiếc vòng cổ trị giá một trăm ngàn đồng. Và Ngài, muốn tỏ lòng kính
trọng mẫu hậu, đã dâng hết cho bà. Bà nghĩ: “Bản thân ta không dùng nước
hương gỗ hương đàn, cũng không mang vòng cổ. Ta sẽ gởi chúng cho những
con dâu của ta.” Thế rồi, ý nghĩ này khởi lên trong bà, “Vợ con trai
trưởng của ta là Hoàng hậu cao quý. Ta sẽ cho cô này chiếc vòng cổ bằng
vàng. Còn vợ của con trai thứ là một người thấp kém, ta sẽ cho cô này
dầu thơm gỗ hương đàn.” Và vì thế, bà cho người này chiếc vòng cổ, và
người kia dầu thơm. Về sau, bà nghĩ lại, “Ta tuân giữ chính pháp nước
Câu-lâu, dù chúng thấp kém hay quý phái thì đâu có vấn đề gì quan trọng.
Ta lấy lòng người con trưởng như thế thật là không thích đáng. Có lẽ
bằng việc làm này, ta đã tạo ra một vết ố trong đức hạnh của ta!” Và bà
bắt đầu nghi ngờ. Đó là lý do tại sao bà nói chính pháp nước Câu-lâu
không đem lại cho bà an lạc.
Những vị sứ giả nói:
– Khi một vật ở trong tay bà, thì bà muốn cho ai
chẳng được. Nếu một điều nhỏ như vậy mà bà dằn vặt thì những lỗi lầm
khác đời nào bà làm chứ? Đức hạnh không bị phá vỡ bởi một điều như thế.
Xin trao cho chúng tôi chính pháp của nước Câu-lâu!”
Rồi họ cũng nhận được chính pháp này ở bà, và
viết điều đó lên một tấm bảng bằng vàng.
Sau đó, Thái hậu nói:
– Tuy nhiên, này các vị, ta không an lạc trong
trong chính pháp này, nhưng con dâu của ta tuân giữ chính pháp đó cẩn
mật. Các vị hãy cầu xin cô ấy điều này
Thế rồi họ kính cẩn từ biệt Thái hậu. Cùng cách
như trước, họ cầu xin người con dâu. Và cũng thế, bà này trả lời:
– Ta không thể, vì ta không còn tuân giữ chính
pháp này nữa!
Chuyện thế này, một ngày nọ, khi bà ngồi nơi rèm
cửa nhìn xuống phố, bà nhìn thấy nhà vua đang thực hiện một cuộc diễu
hành long trọng quanh kinh thành cùng với vị phó vương ngồi trên lưng
voi ở phía sau. Bà khởi tâm yêu thương phó vương và nghĩ, “Nếu ta kết
tình thân với phó vương, thì sau khi anh của ông ấy băng hà, ông ấy sẽ
lên làm vua và lấy ta làm vợ!” Thế rồi, điều này khởi lên trong tâm bà ,
“Ta là người tuân giữ chính pháp nước Câu-lâu, là người đã có chồng, vậy
mà ta lại ngắm nhìn rồi thương yêu một người đàn ông khác! Đây là một
vết ố trong đức hạnh của ta!” Sự ăn năn hối hận này dằn vặt bà. Bà kể
điều này cho những vị sứ giả.
Nghe thế, họ nói:
– Việc sanh khởi một ý nghĩ không phải là tội
lỗi. Đối với một điều quá nhỏ nhặt như điều này mà bà cảm thấy ăn năn
hối hận, thì bà có thể phạm tội lỗi gì được chứ? Đức hạnh không bị phá
vỡ bởi một vấn đề nhỏ như vậy. Xin bà hãy truyền trao cho chúng tôi
chính pháp này!
Tương tự như thế, bà này cũng truyền trao chính
pháp cho họ, và họ viết nó lên một tấm bảng bằng vàng. Nhưng bà ta nói:
– Tuy nhiên, này các vị, đức hạnh của ta không
được trọn vẹn, mà có vị phó vương tuân giữ những giới luật này rất cẩn
mật. Các vị hãy đến đó và thọ nhận những giới luật này nơi ông ấy.
Thế rồi, họ lại đi đến vị phó vương. Và giống như
trước, họ cầu xin ông chính pháp nước Câu-lâu.
Bấy giờ, phó vương thường đến yết kiến nhà vua
vào buổi tối. Và mỗi khi cùng đoàn tuỳ tùng đến sân hoàng cung, nếu ông
muốn ăn cùng với nhà vua và nghỉ qua đêm ở đấy thì ông sẽ đặt giây cương
và roi lên ách, đó là dấu hiệu nhằm cho người hầu cận biết để ra về, và
sáng sớm hôm sau họ sẽ trở lại và chờ phó vương trở về. Còn người đánh
xe ngựa sẽ trông nom chiếc xe và cùng trở lại với nó vào sáng sớm, chờ
bên cạnh cửa hoàng cung. Nhưng nếu phó vương sẽ ra về vào cùng thời gian
ấy, ông sẽ để dây cương cùng gậy nhọn vào trong xe ngựa và đi vào yết
kiến nhà vua. Những người hầu thấy dấu hiệu này biết rằng ông sẽ trở về
ngay sau đó, nên phải đứng chờ trước cửa hoàng cung. Một hôm, ông đã làm
như vậy và đi vào yết kiến nhà vua. Nhưng khi ông vào trong, trời bắt
đầu mưa. Nhà vua thấy trời mưa nên không để cho ông ra về, vì thế ông ăn
uống và ngủ lại ở đấy. Còn đám người hầu cận, vì chờ ông ra về nên đã ở
lại đấy suốt đêm trong mưa. Ngày hôm sau, phó vương đi ra và nhìn thấy
đám người hầu cận đang đứng ướt sũng ở đấy. Ông nghĩ, “Ta là người tuân
giữ chính pháp nước Câu-lâu, thế mà ta đã làm cho đám người này phải
chịu phiền nhiễu! Chắc chắn đây là một vế ố trong đức hạnh của ta rồi!”
Ăn năn, hối hận dằn vặt ông. Vì thế, ông nói với các sứ giả:
– Bây giờ nghi ngờ đang đè nặng ta. Ta không biết
là mình có thật sự tuân giữ chính pháp này hay không. Do đó, ta không
thể truyền trao nó cho các vị được.
Và ông kể cho họ sự việc.
Họ nói:
– Nhưng ngài không hề có ý muốn làm phiền những
người đó. Điều gì không cố ý thì không thể gọi là tỳ vết được. Nếu ngài
cảm thấy ăn năn hối hận chỉ vì một điều quá nhỏ như vậy, thì đời nào
ngài phạm phải tội lỗi gì chứ?
Do đó, họ cũng nhận được chính pháp này nơi ông
và viết điều đó lên tấm bảng vàng của họ. Sau đó, phó vương nói:
– Tuy nhiên, chính pháp này không được trọn vẹn
nơi ta. Nhưng quan tư tế của ta tuân giữ nó cẩn mật, các vị hãy đến và
cầu xin ông ấy điều đó.
Thế rồi, họ lại đi đến quan tư tế.
Bấy giờ, một ngày nọ, quan tư tế đang đi đến yết
kiến nhà vua. Trên đường đi, ông nhìn thấy một chiếc xe ngựa mà một vị
vua khác gửi đến tặng cho nhà vua. Chiếc xe được sơn màu giống như mặt
trời ban mai. Ông hỏi:
– Xe ngựa này là của ai vậy?
– Gửi dâng cho nhà vua đấy. Người ta trả lời.
Thế là ông nghĩ: “Ta nay đã già cả, nếu nhà vua
cho ta chiếc xe đó để đi lại thì thật là tuyệt vời!” Rồi ông đến yết
kiến nhà vua, sau khi chào hỏi vua cùng với lời cầu chúc thịnh vượng,
ông đứng qua một bên. Người ta đưa cho nhà vua xem chiếc xe ngựa. Nhà
vua nói:
– Đó là một chiếc xe đẹp nhất, hãy trao nó cho tế
sư của ta.
Nhưng quan tư tế không muốn nhận nó, nhất định
không, mặc dầu ông được cầu xin nhiều lần. Điều đó lý do tại sao? Bởi vì
ý nghĩ thế này hiện khởi trong tâm trí ông, “Ta là người thực hành chính
pháp nước Câu-lâu, vậy mà ta lại thèm muốn tài sản của người khác. Đây
chắc chắn là một vết ố trong đức hạnh của ta rồi!” Ông kể câu chuyện này
cho những vị sứ giả, rồi nói thêm:
– Này các vị, ta đang nghi ngờ về chính pháp nước
Câu-lâu. Chính pháp này bây giờ không làm cho ta an lạc. Do đó, ta không
thể dạy điều đó cho các vị được.
Nhưng các sứ giả nói:
– Chỉ sanh khởi ý thèm muốn thì không thể phá
giới được. Đối với một vấn đề nhỏ nhặt mà ngài cảm thấy ái ngại như vậy,
thì đời nào ngài đi làm điều tội lỗi chứ?
Rồi họ cũng nhận được chính pháp và viết nó lên
tấm bảng vàng của họ. Sau đó quan tư tế nói:
– Tuy thế, chính pháp này giờ đây không làm cho
ta an lạc. Nhưng có người nài thú của hoàng gia thực hành chính pháp này
rất tinh chuyên. Các vị hãy đến cầu xin ông ấy.
Vì thế, họ tìm đến người nài thú hoàng gia và cầu
xin ông ta.
Bấy giờ một ngày nọ, người nài thú đang đo đạc
một cánh đồng. Cột một sợi dây vào một cây cọc, ông trao một đầu dây cho
người chủ đồng nắm, còn mình nắm một đầu khác. Cây cọc được buộc vào đầu
sợi dây mà ông nắm được kéo đến ngay hang một con cua. Ông nghĩ, “Nếu ta
cắm cây cọc này vào trong hang thì con cua ở trong hang sẽ bị tổn
thương. Nếu ta cắm nó vào phía bên kia, thì đất của nhà vua sẽ bị thiệt,
còn nếu ta cắm vào mặt bên này thì đất của người nông phu sẽ bị thiệt.
Ta nên làm gì bây giờ?” Rồi ông lại nghĩ: “Con cua hẳn là đang ở trong
hang, nhưng nếu nó ở trong đó thì nó sẽ ló mặt ra chứ.” Vì thế, ông cắm
cái cọc vào trong hang. Con cua phát ra một tiếng “cạch” bên trong. Nghe
thế, ông nghĩ, “Cái cọc chắc đã cắm trúng vào con cua và giết chết nó!
Ta là người tuân giữ chính pháp nước Câu-lâu, vậy đây là một vết ố trong
việc giữ giới của ta rồi!”
Ông kể lại điều như vậy cho các sứ giả, rồi nói
thêm:
– Do vì bây giờ ta đang nghi ngờ về chính pháp,
nên ta không thể truyền trao nó cho các vị được.
Các sứ giả nói:
– Ngài không có ý muốn giết hại con cua. Việc gì
làm mà không cố ý thì không thể coi là vết ố được. Nếu một vấn đề nhỏ mà
ngài cảm thấy ăn năn như vậy thì điều tội lỗi thật sự đời nào ngài làm?
Và tương tự, họ nhận được chính pháp từ nơi miệng
ông và viết nó lên tấm bảng vàng của họ. Sau đó ông nói:
– Tuy vậy, chính pháp này không làm cho ta an
lạc. Có người đánh xe thực hành chính pháp cẩn mật. Các vị hãy đến cầu
xin ông ấy.
Vì thế, họ cáo từ và tìm đến người đánh xe.
Bấy giờ một hôm nọ, người đánh xe ngựa đang đánh
xe chở nhà vua đi vào ngự viên. Nhà vua vui chơi ở đấy suốt ngày. Vào
buổi chiều, ông quay ra và ngồi vào xe ngựa. Nhưng trước khi ông có thể
về đến kinh thành, một trận mây giông đã nỗi lên. Người đánh xe sợ nhà
vua bị ướt nên đã quất roi vào đôi ngựa, làm cho những con ngựa tăng tốc
nhanh về nhà. Kể từ đó, mỗi khi đi đến ngự viên hay đi ra khỏi ngự viên,
ngang qua nơi đó, những con ngựa luôn chạy với tốc độ nhanh. Điều này lý
do tại sao? Bởi vì chúng nghĩ, chắc có mối nguy hiểm gì đó ở chỗ này nên
người đánh xe ngựa mới quất roi vào chúng. Và người đánh xe ngựa nghĩ,
“Nhà vua ướt hay khô điều đó không phải là lỗi của ta, nhưng ta quất roi
vào những con ngựa được huấn luyện thuần thục này vào một thời điểm như
thế, khiến cho chúng phải chạy nhanh khi đi qua đó cho đến khi mệt lữ
thì tất cả đều do việc làm của ta. Ta là người tuân giữ chính pháp nước
Câu Lâu! Giờ đây chắc chắn có một vết ố trong việc tuân giữ chính pháp!”
Ông kể điều này cho những vị sứ giả, rồi nói:
– Do vì tôi còn đang nghi ngờ về chính pháp, nên
tôi không thể trao nó cho các vị được.
Các sứ giả nói:
– Nhưng ngài không có ý muốn làm kiệt sức những
con ngựa. Những việc làm vô ý thì không được xem là vết ố được. Nếu một
vấn đề nhỏ nhặt mà ngài cảm thấy hối hận như vậy, thì điều tội lỗi thực
sự đời nào ngài phạm phải chứ?
Thế rồi họ cũng học được chính pháp từ nơi ông và
viết điều đó lên tấm bảng vàng của họ. Nhưng người đánh xe ngựa gửi họ
đến một vị trưởng giả. Ông nói:
– Tuy vậy, chính pháp này không làm cho tôi an
lạc. Có vị trưởng giả thọ trì nó rất tinh chuyên. Các vị hãy đến đấy.
Vì thế, họ đi đến vị trưởng giả này và cầu xin
ông.
Bấy giờ một ngày nọ, vị trưởng giả ra đồng thăm
lúa. Nhìn thấy những bông lúa nỡ tung vỏ ra, ông đi đến lấy một nắm lúa
và cột nó vào đầu cây gậy. Thế rối ông nảy lên ý nghĩ, “Ta phải dâng cho
nhà vua cái quyền được hưởng của ông từ cánh đồng lúa này, vậy mà ta đã
lấy một nắm lúa đầy từ một cánh đồng không nộp thuế! Ta là người tuân
giữ chính pháp nước Câu-lâu! Chắc chắn ta đã phá vỡ nó rồi!” Ông kể lại
điều này với những vị sứ giả, và sau đó nói tiếp:
– Giờ đây, tôi đang nghi ngờ là mình không giữ
trọn chính pháp này. Vì thế, tôi không thể trao điều đó cho các vị được.
Họ nói:
– Nhưng ngài không có ý ăn cắp, điều này không
thể nói là phạm tội ăn cắp được. Nếu một vấn đề nhỏ mà ngài cắn rứt hối
hận như vậy, thì đời nào ngài đi lấy cắp những gì của người khác chứ?
Rồi họ cũng nhận được chính pháp này từ nơi ông
và viết lên tấm bảng vàng của họ. Sau đó, vị trưởng giả nói thêm:
– Mặc dầu thế, tôi vẫn không thấy an lạc trong
vấn đề này. Có quan giữ kho thóc của hoàng gia tuân giữ những giới luật
này rất tinh chuyên. Các vị hãy đến và cầu xin ông ấy những giới luật
này.
Vì thế, họ đi đến Quan giữ kho lúa.
Bấy giờ vị này, một ngày nọ khi đang ngồi trước
cửa kho lúa, đong lường lúa thuế của nhà vua. Lấy một hạt lúa từ đống
lúa chưa được đong, ông đặt nó làm vật ghi số lượng. Vào lúc ấy, trời
bắt đầu đổ mưa. Vị quan đếm những hạt thóc làm vật ghi số lượng, sau đó
quét hết chúng lại với nhau và bỏ vào đống lúa chưa được đong rồi chạy
nhanh vào ngồi trong nhà kho. “Không biết là ta đã bỏ những hạt lúa làm
vật tính số lượng vào đống lúa đã được đong hay đống lúa chưa được
đong?” Ông phân vân. Và ý nghĩ này khởi lên trong tâm trí ông, “Nếu ta
bỏ nó vào đống lúa đã đong rồi, thì tài sản của nhà vua được tăng thêm,
còn những người điền chủ lại bị thiệt. Ta tuân giữ chính pháp nước
Câu-lâu, và giờ đây điều này là một vết ố.” Ông kể lại sự việc như vậy
cho những sứ giả, rồi nói thêm rằng:
– Do đó, tôi nghi ngờ là mình không giữ trọn
chính pháp, và vì thế tôi không thể trao chính pháp cho các vị được.
Nhưng những sứ giả nói:
– Ngài không có ý ăn cắp, và một điều vô ý thì
không thể gọi là phạm tội gian dối. Nếu một điều nhỏ nhặt mà ngài cảm
thấy ray rứt hối hận như vậy, thì đối với những tài sản gì của người
khác đời nào ngài lại lấy cắp?
Rồi họ cũng nhận được chính pháp nơi ông và viết
lên tấm bảng vàng của họ. Sau đó, người giữ kho lúa nói:
– Mặc dầu vậy, chính pháp này không còn trọn vẹn
nơi ta. Nhưng có người gác cổng, ông ấy là người nghiêm trì chính pháp
tinh chuyên. Các vị hãy đến nhận lấy chính pháp ở nơi ông ấy.
Vì thế, họ đi đến và cầu xin người gác cổng.
Bấy giờ một hôm nọ, vào lúc đống cổng thành,
người gác cổng hô lớn ba lần. Một người nghèo khó cùng với em gái út của
mình đi vào rừng lấy củi và lá cây, khi nghe tiêng hô đã cùng với cô em
gái chạy nhanh đến cổng. Người gác cổng nói:
– Gì! Ngươi không biết rằng nhà vua ở trong kinh
thành này hả? Ngươi không biết rằng cổng thành này được đống vào giờ đi
ngủ hả? Có phải là ngươi đi vào rừng làm chuyện tình ái không?
Người kia nói:
– Không phải thưa ông, đây không phải là vợ tôi,
mà là em gái tôi.
Thế rồi người gác cổng nghĩ, “Thật bất lịch sự
làm sao khi gọi em gái người ta là một người vợ! Ta là người thọ trì
chính pháp nước Câu-lâu. Giờ đây chắc chắn ta đã phá giới rồi!”
Ông kể điều này cho họ, rồi nói thêm:
– Vì lẽ đó, tôi nghi ngờ là không biết mình có
thật sự tuân giữ chính pháp nước Câu Lâu hay không. Thế nên, tôi không
thể trao điều đó cho các vị được.
Nhưng họ nói:
– Ngài nói điều đó bởi vì ngài hiểu lầm. Điều đó
không phá vỡ giới hạnh của ngài. Nếu một lý do không đáng kể mà ngài cảm
thấy ăn năn hối hận như vậy, thì có thể nào ngài cố ý nói dối chứ?
Và do đó, họ cũng nhận được những giới luật này
từ nơi ông và viết chúng lên tấm bảng bằng vàng của họ.
Sau đó, người gác cổng nói:
– Mặc dầu vậy, giời luật này không làm ta an lạc,
nhưng có người kỹ nữ tuân giữ giới luật rất tinh chuyên. Các vị hãy đến
cầu xin cô ấy.
Và họ đã làm như vậy. Nhưng cô kỹ nữ đã từ chối
khi những người kia cầu xin chính pháp, vì lý do như sau:
Đế thích vua của chư thiên muốn thử đức hạnh của
cô. Vì thế, hoá hiện thành một thanh niên, ông cho cô một ngàn đồng và
nói, “Ta sẽ đến ngay.” Thế rồi ông quay lại thiên giới, và trong suốt ba
năm không hề viếng thăm cô. Và cô, vì danh dự, suốt ba năm không nhận
lấy dù một đồng tiền trầu nào ở nơi một người đàn ông khác. Dần dần, cô
trở nên nghèo khó, và rồi cô nghĩ, “Người đàn ông trao cho ta một ngàn
đồng đã ba năm rồi không trở lại đây, và giờ đây ta trở nên nghèo khó
túng quẩn. Ta không thể giữ trong sạch cả thân xác và tâm hồn cùng một
lúc được. Bây giờ ta phải đi đến nói cho quan Chánh án biết, và sẽ kiếm
tiền nuôi thân như trước đây.” Vì thế, cô đi đến quan Chánh án và nói:
– Thưa ngài, cách đây ba năm, có một người đàn
ông đã trao cho tôi một ngàn đồng, rồi không hề trở lại. Tôi không biết
anh ta sống chết thế nào. Tôi không thể giữ trong sạch cả thân xác và
tâm hồn cùng một lúc được. Thưa ngài, tôi phải làm gì bây giờ?
Vị quan nói:
– Nếu đã ba năm mà anh ta không đến, thì cô phải
làm gì ư? Hãy kiếm tiền như trước đây đi.
Sau khi nhận lấy lời phán quyết và rời khỏi pháp
đường, một người đàn ông đi đến cô và trao cho cô một ngàn đồng. Khi cô
đưa tay ra để nhận nó thì vua trời Đế Thích hiện ra lại chàng trai trước
đây.
– Đây là người cách đây ba năm đã trao cho tôi
một ngàn đồng. Tôi không thể nhận tiền của anh.
Cô nói và rút tay lại.
Thế rồi, vua trời Đế Thích hiện lại nguyên hình
của mình, bay vào không trung, tỏa sáng giống như mặt trời ban mai. Rồi
tập hợp tất cả dân chúng kinh thành lại, Đế Thích ở giữa đám đông đã
nói:
– Để thử lòng tốt của cô này, cách đây ba năm tôi
có cho cô một ngàn đồng. Cô ấy đã giữ gìn thanh danh của mình. Các người
nên giữ gìn thanh danh giống như cô ấy đã làm.
Cùng với lời nói này, ông đã làm đầy chỗ ở của cô
đủ bảy loại báu, rồi khuyên nhủ:
– Từ này về sau hãy thận trọng.
Ông khuyên nhủ cô rồi trở về thiên giới.
Do vì nguyên nhân này mà cô này từ chối. Cô nói:
– Trước đây tôi đã nhận tiền của một người, vậy
mà đưa tay ra cho một người khác. Do đó đức hạnh của tôi không được trọn
vẹn, và vì thế tôi không thể trao điều đó cho các vị được.
Nghe vậy, những sứ giả nói:
– Chỉ đưa tay ra thì không phải là một hành vi
sai phạm đạo đức. Đức hạnh của cô thì viên mãn bậc nhất!
Và cô là người sau cùng đã trao truyền giới luật
cho họ. Họ viết nó lên tấm bảng rồi mang về Danapura, tâu lại cho nhà
vua cách thức mà họ đã làm.
Thế rồi, vua của họ thực hành giới luật nước Câu
Lâu, hành trì trọn vẹn Ngũ giới. Sau đó, trời đã mưa xuống khắp cả vương
quốc Ca-lăng-nga. Ba mối sợ hãi giảm xuống, đất nước được phồn vinh và
thịnh vượng. Còn Bồ-tát suốt đời làm việc bố thí và thực hành thiện
nghiệp, sau đó cùng với thần dân của mình sanh về đầy cả thiên giới.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Vào lúc
kết thúc các Thánh đế, một số người đắc được quả Dự lưu, một số người
đắc được Nhất lai, một số người đắc được Bất lai, và một số người đắc
được A-la-hán. Và Tiền thân được giảng giải như sau:
– Kỹ nữ là Liên Hoa Sắc (Uppalavaṇṇā),
người gác cổng là Phú-lâu-na (Puṇṇa),
người nài thú là Câu-luật-đà (Kuccāna), quan quản lý là Ca-chiên-diên
(Kotila), vị trưởng giả là Xá-lợi-phất (Sāriputta), người đánh xe là
A-nậu-lâu-đà (Anuruddha), quan tư tế là Trưỡng lão Ca-diếp (Kassapa),
phó vương bấy giờ là Nan-đà Hiền giả (Nandapaṇḍita),
mẹ của La-hầu-la (Rāhula) là Thái hậu, hoàng hậu là Ma-ya (Māyā), và ta
là vị vua Bồ-tát – Tiền thân như vậy là rõ ràng.
Số 277
CHUYỆN CHIM BỒ CÂU
(Tiền thân Romaka)
Năm mươi mốt năm sống núi này…
Tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể câu chuyện
này về việc cố sát. Những tình huống của câu chuyện được giảng giải như
sau.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Banares),
Bồ-tát thọ sanh làm một chú chim Bồ câu, sống cùng với một đàn bồ câu
đông đảo trong một hang núi ở giữa rừng. Có một vị ẩn sĩ giới đức, cất
một am thất để ở bên trong một động núi gần một ngôi làng ven rừng,
không xa nơi những con chim bồ cầu sống. Bồ-tát thường viếng thăm ẩn sĩ
và nghe những điều hữu ích ở nơi ông.
Sau khi sống ở đấy một thời gian dài, vị ẩn sĩ ra
đi, và một vị ẩn sĩ giả dối đến sống ở đấy. Bồ-tát cùng với đàn bồ câu
của mình vây quanh, đến viếng thăm và chào hỏi vị ẩn sĩ mới đến này một
cách cung kính. Suốt ngày, đàn chim nhảy nhót quanh chỗ ở của vị ẩn sĩ,
nhặt thức ăn ở trước hang, và quay về nhà vào buổi tối. Vị ẩn sĩ giả dối
sống ở đấy hơn năm mươi năm.
Một ngày nọ, dân làng mang đến cho ông một ít
thịt chim bồ câu đã được nấu chính. Ông ăn thấy ngon nên hỏi đây là thứ
thịt gì. Dân làng nói: “Thịt bồ câu đấy”. Ông nghĩ, “Có những đàn bồ câu
thường bay đến nơi ẩn cư của ta, ta phải giết một vài con để ăn mới
được.”
Vì thế, ông lấy gạo, bơ, sữa, ngò và hạt tiêu,
đặt sẵn tất cả ở đấy; rồi dấu một cây gậy trong chéo y, ngồi xuống nơi
cửa thảo am chờ đàn bồ câu bay đến.
Bồ-tát cùng với đàn chim bay đến, và nhận ra điều
nguy hại mà vị ẩn sĩ giả dối này sắp làm: “Vị ẩn sĩ giả dối kia đang
ngồi ở đấy với bộ dáng dối trá! Có lẽ ông ta đã ăn một số đồng loại của
ta. Ta phải vạch mặt ông ta mới đước!”
Vì thế, Bồ-tát bay xuống phía dưới gió và đánh
mùi vị này: “Đúng rồi, người này muốn giết và ăn thịt chúng ta, chúng ta
không nên đến gần y.”
Thế rồi, Bồ-tát cùng với đàn chim của mình bay ra
xa. Khi thấy Bồ-tát bay ra xa, vị ẩn sĩ nghĩ, “Ta sẽ nói những lời mật
ngọt để kết thân với nó, rồi sau đó ta sẽ giết và ăn thịt nó!” Ông ta
nghĩ thế và đọc lên hai bài kệ đầu:
Năm mươi mốt năm sống núi này,
Chim muông thường đến viếng ta đây
Không điều nghi ngại, không biết sợ
Nhảy nhót bình an và vui vầy!
Chính con cháu họ giờ như là
Nghi ngờ bay đến ngọn núi xa.
Phải chăng quên lòng kính trọng cũ?
Chúng có phải chim tháng ngày qua?
Thế rối, Bồ-tát bay trở lại và đọc lên bài kệ thứ
ba:
Chúng tôi không ngốc, biết ông rồi
Chúng tôi và ông người cũ thôi
Hạnh phúc chúng tôi, ông muốn phá
Ẩn sĩ, chúng tôi sợ quá thôi.
Vị ẩn sĩ nghĩ, “Chúng đã phát hiện ra ta.” liền
ném cây gậy vào con chim và nói:
– Hãy xéo đi! Ta đã để sổng mày!
Bồ-tát nói:
– Ông đã để sổng chúng tôi, nhưng ông sẽ không
sổng khỏi bốn địa ngục! Nếu ông ở đây, tôi sẽ gọi dân làng và bảo họ bắt
ông vì ông là một tên cướp. Hãy nhanh tẩu thoát đi!
Bồ-tát đe dọa vị ẩn sĩ như vậy rồi bay đi. Còn vị
ẩn sĩ cũng không thể sống ở đấy được nữa.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, Đề-ba-đạt-đa (Devadatta) là vị ẩn
sĩ giả dối, người ẩn sĩ giới đức đầu tiên là Xá-lợi-phất (Sāriputta),
còn ta chính là chim Bồ câu đầu đàn.
Số 278
CHUYỆN CON TRÂU
(Tiền thân Mahisa)
Tại sao ngài nhẫn nhục…
Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về một con khỉ xấc láo. Chuyện kể rằng, ở thánh Xá-vệ, có
một con khỉ được thuần hoá sống trong một gia đình nọ, đã chạy vào trong
chuồng voi và nhảy lên ngồi trên lưng voi, đại tiện và bắt đầu chạy nhảy
trên đó. Con voi có đủ đức hạnh và nhẫn nhục nên không phản ứng gì về
điều đó. Nhưng một ngày nọ, chỗ ở của con voi này được dành cho một con
voi hung ác ở. Khỉ ta nghĩ đó là con voi trước đây nên leo lên lưng nó.
Con voi dùng vòi túm lấy nó và quật mạnh xuống đất, dẫm nát nó thành
từng mảnh. Các Tỳ-kheo biết điều này và một ngày nọ bắt đầu bàn luận
điều đó:
– Thưa các hiền hữu, các hiền hữu có nghe con khỉ
xấc láo đã nhầm lẫn một con voi hung ác là một con voi tốt nên đã leo
lên lưng và bị thiệt mạng vì điều đó như thế nào không?
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi:
– Này các Tỳ-kheo, các thầy đang bàn luận điều gì
khi cùng ngồi lại nơi đây?
Và khi họ bạch sự việc với Ngài, Ngài nói:
– Đây không phải là lần đầu tiên con khỉ xấc láo
này cư xử như vậy đâu, mà trước đây nó cũng đã từng làm như vậy.
Rồi Ngài kể cho họ một câu chuyện đời xưa.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares),
Bồ-tát thọ sanh làm một chú Trâu sống trong vùng Tuyết Sơn (Himalaya).
Khi phát triển thành một chú Trâu lớn và tráng kiện, Bồ-tát thường đi
khắp đồi núi, hang động và rừng sâu.
Một lần nọ, khi đang đi, Bồ-tát trông thấy một
cái cây đẹp nên đứng lại ăn cỏ ở dưới đó.
Thế rồi, một con khỉ xấc láo từ trên cây tụt
xuống, nhảy lên trên lưng Bồ-tát và đại tiện ở đấy. Sau đó, nó nắm lấy
sừng, túm lấy đuôi đánh đu qua lại, tự chơi đùa như vậy. Bồ-tát lòng đầy
nhẫn nhục và từ bi nên không để ý gì đến những việc làm không phải của
nó. Con khỉ này làm đi làm lại nhiều lần.
Nhưng một hôm nọ, vị thần của cây đó, khi ngồi
trên thân cây đã hỏi Bồ-tát:
– Thưa Ngưu vương, tại sao lại Ngài nhẫn nhục,
chịu đựng hành vi láo xược của con khỉ hư hổng này? Hãy bắt nó chấm dứt
điều đó đi!
Và để nói rộng thêm vấn đề này, thần cây đọc lên
hai bài kệ đầu như sau:
Tại sao ngài nhẫn nhục
Chịu đựng điều lạ kỳ
Khỉ tinh quái, ích kỷ
Bắt Ngài chịu thế kia?
Hãy dẫm nó dưới chân
Đâm thủng nó bằng sừng!
Ngăn nó, hoặc lũ trẻ
Chấm dứt việc xem thường.
Khi nghe nói vậy, Bồ-tát trả lời:
– Thưa Thần cây, nếu tôi không thể chịu đựng sự
ngược đãi của con khỉ này mà lăng mạ dòng dõi hay tài năng của nó thì
làm thế nào tôi có thể đi đến hoàn thành ý nguyện của mình được chứ?
Nhưng con khỉ này rồi sẽ làm điều như vậy đối với bất cứ con trâu nào mà
nó gặp, vì nghĩ rằng những con trâu kia cũng giống như tôi. Và nếu nó
làm điều đó với những con trâu hung dữ, chúng sẽ giết chết nó. Khi con
trâu nào đó giết chết nó, tôi sẽ được giải thoát cả khổ đau lẫn tội sát
sanh.
Sau khi nói vậy rồi, Bồ-tát đọc lên bài kệ thứ
ba:
Nếu nó đối kẻ khác
Cư xử như với tôi
Chúng sẽ giết chết nó
Tôi sẽ được thảnh thơi.
Một vài ngày sau, Bồ-tát đi đến một nơi khác, và
một con trâu hung dữ đã đi đến đứng ở chỗ ấy. Con khỉ xấc láo nghĩ đó là
con trâu cũ nên leo lên lưng trâu và làm như trước đây. Con trâu hất nó
xuống đất, húc sừng vào ngực nó và dẫm nát nó thành từng mảnh dưới chân
mình.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế và nhận
diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, con trâu hung dữ là con voi hung
dữ bây giờ, con khỉ xấc láo cũng là con khỉ xấc láo bây giờ, còn ta
chính là con Trâu đức hạnh cao quý.
Số 279
CHUYỆN CON HẠC
(Tiền thân Satapatta)
Như chàng trai ở trên đường nọ...
Ở tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về Bán-đậu (Paṇḍuka)
và Lư-sấn-đắc-ca (Lohita).
Hai trong số nhóm Lục Quần là Di-đà-la (Mettiya)
và Phú-ma (Bhummaja) sống gần thành Vương Xá (Rājagaha), hai người là
A-thấp-bối (Assaji) và Phất-da-bà-tu (Punabbasu) sống gần núi Chỉ-trá
(Kīṭāgiri), và hai người còn
lại là Bán-đậu và Lư-sấn-đắc-ca sống gần thành Xá-vệ (Sāvatthi). Họ hỏi
những vấn đề được đề ra trong giáo thuyết. Bất cứ những ai là thân bằng
của họ, họ sẽ khuyến khích và nói:
– Này hiền hữu, hiền hữu không thua kém những
người ở đây về dòng dõi hay phẩm chất, nếu hiền hữu trình bày quan điểm
của mình, họ sẽ được nhiều điều hữu ích.
Nhưng một đằng họ nói như thế, một đằng khác họ
lại ngăn cản người khác trình bày quan điểm của mình, và do đó xung đột,
tranh cãi nảy sinh. Các Tỳ-kheo bạch việc này với đức Thế Tôn. Đức Thế
Tôn tập họp các Tỳ-kheo lại để giảng giải về nguyên nhân đó. Và sau khi
cho mời Bán-đậu và Lư-sấn-đắc-ca đến, đức Thế Tôn hỏi họ:
– Này Tỳ-kheo, có thực là hai thầy tự hỏi một vài
vấn đề, và ngăn cản người khác trình bày quan điểm của họ?
– Bạch Thế Tôn, thực đúng thế. Họ trả lời.
Ngài nói:
– Thế Thì hành vi của các thầy giống như hành vi
của chàng Trai và con Hạc.
Và Ngài kể cho họ một câu chuyện đời quá khứ.
* * *
Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Bramadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares),
Bồ-tát thọ sanh vào trong một gia đình ở tại một ngồi làng thuộc dòng
tộc Ca-thi (Kāsi). Khi đến tuổi trưởng thành, thay vì kiếm sống bằng
nghề nông hay buôn bán, Ngài lại tập hợp năm trăm tên cướp và trở thành
thủ lĩnh của chúng, sống bằng nghề cướp đường và đột nhập nhà.
Một hôm, một người điền chủ cho một người nọ mượn
một ngàn đồng tiền và đã qua đời trước khi nhận lại số tiền. Một thời
gian sau, vợ của ông lúc sắp lâm chung đã nói với con trai của mình:
– Này con, cha của con có cho người kia mượn một
ngàn đồng tiền, nay qua đời mà chưa nhận lại. Nếu mẹ cũng nhắm mắt thì
người kia sẽ không trả số tiền đó cho con. Trong khi mẹ còn sống, con
hãy đến gặp ông ta, bảo ông ta kiếm tiền về trả lại.
Sau đó, chàng trai ra đi và lấy được tiền.
Nhưng khi chàng trai ra đi thì người mẹ qua đời.
Vì quá thương yêu con, bà đã hoá hiện thành một con chó đứng ở nơi con
đường mà chàng trai đang đi. Vào lúc ấy, vị tướng cướp cùng với băng
đảng của mình nằm cận con đường chờ đợi cướp của hành khách. Và khi
người con trai của bà đi đến lối vào rừng, con Chó quanh quẩn lui tới
tìm cách ngăn cản chàng trai. Chó nói:
– Con trai của ta, đừng đi vào rừng! Có những tên
cướp ở đấy, chúng sẽ giết con và lấy số tiến đó!
Nhưng chàng trai không hiểu điều bà ta muốn nói.
Chàng nói:
– Thật không may! Con chó này đang cố ngăn chặn
đường ta!
Nói rồi, chàng lấy gậy gộc và đất đá đuổi Chó,
rồi sau đó đi vào rừng.
Rồi một con Hạc bay đến những tên cướp, kêu lớn:
– Có một người cầm một ngàn đồng nơi tay! Hãy
giết nó và lấy tiền!
Chàng trai không biết điều gì đang xảy ra, vì thế
chàng nghĩ, “Thật may mắn! đây là một con chim báo điềm lành! Giờ có
điềm lành cho ta rồi!
Chàng chào nó một cách cung kính và nói lớn lên:
– Hỡi chim, hãy hót lên đi, hãy hót lên đi!
Bồ-tát biết nghĩa tất cả các lời nói, nên quán
sát những gì mà hai con vật này làm. Ngài nghĩ, “Con chó kia là mẹ của
chàng trai, vì thế nó cố ngăn chặn chàng ta, nói với chàng ta rằng chàng
ta sẽ bị giết và bị cướp của. Nhưng con Hạc là kẻ thù của chàng ta, và
đó là lý do tại sao nó bảo: Hãy giết nó và lấy tiền. Chàng trai không
biết những gì đang xảy ra nên xua đuổi mẹ của mình, người mong cho chàng
ta được an lành. Trong khi con Hạc muốn làm hại chàng ta, chàng ta lại
sùng bái, tin tưởng rằng đó là một kẻ báo điềm lành. Người này thật ngu
ngốc.
(Bấy giờ, chư Bồ-tát, mặc dù họ là những bậc Đại
Sĩ, đôi khi do thọ sinh làm người xấu ác nên cũng đoạt lấy tài sản của
người khác. Người ta nói số mệnh đôi khi cũng sai lầm.)
Vì thế chàng trai tiếp tục đi. Và khi rơi vào
vòng những tên cướp, Bồ-tát túm lấy chàng ta và hỏi:
– Anh sống ở đâu?
– Thưa ông, tôi sống ở Ba-la-nại.
– Anh đã ở đâu về?
– Ở một ngôi làng nọ có một gia đình nợ tôi một
ngàn đồng, và tôi đến đó về.
– Anh có lấy được tiền không?
– Thưa được.
– Ai bảo anh đi lấy tiền?
– Thưa ông, cha của tôi đã qua đời, còn mẹ của
tôi bị bệnh, vì vậy bà bảo tôi đi, bởi vì bà nghĩ nếu bà qua đời thì tôi
sẽ không lấy được số tiền.
– Và bây giờ, anh có biết điều gì đã xảy ra với
mẹ của anh không?
– Không, thưa ông.
Bà ấy đã chết sau khi anh đi, Nhưng vì quá thương
anh, bà đã hoá thành một con chó và cố ngăn cản anh vì sợ anh sẽ bị
giết. Chính bà là người bị anh xua đuổi. Còn con hạc là kẻ thù của anh,
kẻ bảo chúng tôi hãy giết anh đi để lấy tiền. Anh là một kẻ thật ngu
ngốc, nghĩ mẹ của mình là một điềm xấu, trong khi bà ấy muốn anh được an
lành; còn nghĩ rằng con hạc là một điềm lành, trong khi nó lại muốn hại
anh. Con hạc không đối xử tốt với anh, nhưng mẹ của anh thì rất tốt với
anh. Hãy giữ lấy tiền và đi đi!
Nói xong, Ngài để cho chàng trai đi.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn đọc lên những bài kệ sau:
Như chàng trai ở trên đường nọ
Nghĩ chó rừng kẻ thù xấu xa
Ngăn cản đường; trong khi chó ấy
Cố làm điều tốt cho anh ta.
Lại nghĩ Hạc dối kia bạn thật
Trong khi Hạc muốn hại chàng ta.
Ở nơi đây có người như vậy
Đã hiểu sai bằng hữu thân tình.
Không thể nghe lời bạn khuyên bảo
Khi họ muốn điều tốt cho mình.
Người tin tưởng khi được khen ngợi
Là báo trước kinh hãi, u sầu.
Như chàng trai trên đường thuở ấy
Yêu con Hạc bay ở trên đầu.
Khi giảng rộng xong vấn đề này, đức Thế Tôn nhận
diện Tiền thân:
- Vào thuở đó, vị tướng cướp chính là ta.
Số 280
CHUYỆN KẺ PHÁ GIỎ
(Tiền thân Puṭa-Dūsaka)
Chắc khỉ vương khéo tài làm giỏ...
Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về một người phá hư những chiếc giỏ. Nghe nói, ở thành
Xá-vệ (Sāvatthi), có một vị đại thần đã thỉnh đức Phật cùng Tăng chúng
đến nhà và sắp xếp cho chư vị ngồi nơi vườn của mình. Trong khi chư vị
đang thọ thực, ông phân phát đồ cúng dường và nói:
– Những thầy nào muốn đi dạo vườn thì hãy đi.
Sau đó, những Tỳ-kheo đi dạo vườn. Vào lúc ấy,
người làm vườn trèo lên một cây có nhiều lá, hái một số lá lớn và nói:
– Số lá này sẽ làm giỏ đựng hoa, số lá này sẽ làm
giỏ đựng quả.
Và sau khi kết chúng thành những chiếc giỏ, ông
ta thả chúng xuống dưới gốc cây. Cậu con trai nhỏ của ông đã phá hư từng
chiếc giỏ một ngay khi nó vừa được thả xuống. Các Tỳ-kheo bạch điều này
với đức Thế Tôn, Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên
cậu bé này phả hư những chiếc giỏ thôi đâu, mà trước đây câu ta cũng đã
từng làm điều đó.
Nói xong, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời
trước.
* * *
Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ Ba-la-nại (Benares),
Bồ-tát thọ sanh vào trong một gia đình nọ ở Ba-la-nại (Benares). Ngài
trưởng thành và trở thành một gia chủ. Một hôm, nhân vì công việc, Ngài
đi vào vườn, nơi có một vài con khỉ sống. Người làm vườn đang thả những
cái giỏ lá của mình xuống như vừa được mô tả. Và con khỉ chúa đã phá hư
hết khi chúng vừa được thả xuống, vì nó nghĩ rằng xét nát giỏ như vậy là
làm hài lòng chủ. Bồ-tát thấy vậy bèn đọc lên bài kệ đầu tiên:
Chắc khỉ vương khéo tài làm giỏ
Không bao giờ phá hổng những gì
Được làm với nhiều nỗi vất vã.
Trừ phi muốn làm giỏ khác thêm.
Khi nghe vậy, Khỉ đọc lên bài kệ thứ hai:
Không phải cha, cũng không phải mẹ
Không phải ta làm thêm giỏ ra.
Những gì ai làm, ta xét nát
Đây là cách đúng loài khỉ ta.
Bồ-tát đọc lên bài kệ thứ ba:
Nếu đây bản tính đúng của khỉ
Thì cách thức sai sẽ là gì?
Dù người đúng cách hay không đúng
Cút đi - điều ấy quan trọng chi!
Nói lời khiển trách này xong, Bồ-tát bỏ đi.
* * *
Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, cậu bé là con khỉ đã phá hư những
chiếc giỏ, còn ta chính là vị hiền trí.
|