CHƯƠNG V
PHẨM CÁI BÁT
Số 291
CHUYỆN CÁI BÌNH BÁU
(Tiền thân Bhadra-Ghaṭa)
Kẻ vô tích sự khi được bình…
Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về một người cháu trai của Trưởng giả Cấp Cô Độc
(Anāthapiṇḍka). Người này đã
hoang phí một gia sản thừa kế bốn mươi triệu đồng tiền vàng và sau đó
tìm đến chú của mình. Người chú cho anh ta một ngàn đồng và bảo anh ta
dùng nó để buôn bán. Anh ta hoang phí số tiền này và sau đó lại tìm đến
chú mình. Lần này, người chú cho anh ta năm trăm đồng. Sau khi hoang phí
hết số tiền này, giống như trước, anh ta lại tìm đến chú mình và được
chú cho hai chiếc áo vải thô. Và khi anh ta làm rách hai chiếc áo này,
anh ta lại một lần nữa đến cầu xin chú mình. Người chú túm cổ anh ta và
đuổi ra khỏi nhà. Anh ta không còn được giúp đỡ, gục ngã xuống bên một
bờ tường và bỏ mang. Người ta kéo anh ta ra ngoài và ném anh ta ở đấy.
Trưởng giả Cấp Cô Độc đến bạch với đức Thế Tôn những gì đã xảy ra với
cháu của mình. Đức Thế Tôn nói:
– Làm sao cư sĩ có thể làm thỏa mãn được một
người mà trước đây ta cũng không thể nào làm thỏa mãn được, ngay cả khi
ta cho anh ta một cái Bát Ước?
Và theo lời thỉnh cầu của trưởng giả, đức Thế Tôn
kể cho ông một câu chuyện đời trước.
* * * Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con trai một vị thương nhân
giàu có. Sau khi thân phụ qua đời, Ngài kế thừa cương vị này. Trong nhà
Ngài, có chôn một kho báu bốn triệu đồng tiền. Ngài chỉ có một người con
trai. Bồ-tát bố thí và làm việc thiện mãi cho đến khi qua đời, rồi sau
đó tái sanh làm vua trời Đế Thích. Con trai của Ngài làm một hàng quán
lớn bên đường và ngồi uống rượu ở đấy cùng với đám bạn bè vây quanh. Anh
ta trả một ngàn đồng cho những người nhào lộn, ca sĩ, vũ nữ; và để hết
thời giờ của mình vào việc ăn uống, rượu chè trụy lạc. Anh ta lang thang
khắp nơi, chỉ đòi hỏi ca nhạc và nhảy múa, sốt sắng với những người bạn
vui chơi của mình và chìm đắm trong lười biếng. Vì thế, chỉ trong một
thời gian ngắn, anh ta đã hoang phí hết cả kho báu bốn triệu đồng lẫn
tài sản của cải. Anh ta trở nên nghèo khổ đến độ phải bận áo quần rất
rưới và đi lang thang khắp nơi.
Vua trời Đế Thích, khi thiền quán đã biết được
anh ta trở thành nghèo khổ như thế nào. Quá thương con, Ngài đã cho anh
ta một cái Bát Ước, cùng với những lời này:
– Này con, cẩn thận đừng làm vỡ cái bát này. Bao
giờ con còn giữ nó, thì sự giàu sang của con sẽ còn đấy, không hề chấm
dứt. Vì thế, hãy khéo gìn giữ nó!
Nói rồi, Ngài trở lại thiên giới.
Sau đó, chàng trai này không dùng cái bát làm gì
cả ngoài việc dùng nó uống rượu. Một ngày nọ, anh ta uống rượu say và
ném cái bát lên không, sau đó bắt lấy khi cái bát rơi xuống. Nhưng có
một lần, anh ta bắt hổng, thế là cái bát rơi xuống đất và vỡ vụn ra! Do
đó, anh ta lại trở nên nghèo khổ, áo quần rách rưới, lang thang ôm bát
xin ăn khắp nơi, mãi đến cuối cùng nằm xuống bên bờ tường và bỏ mạng ở
đấy.
* * * Kết thúc pháp thoại này, với trí tuệ viên mãn,
đức Thế Tôn tiếp tục nói:
Kẻ vô tích sự khi được bát,
Bát đem cho y mọi ước ao.
Chừng nào bát này y còn giữ
Của cải của y mãi dồi dào.
Một lần kiêu căng, say tuý luý
Làm vỡ chiếc Bát cho quyền năng.
Trần truồng, nghèo khổ, đồ rách nát
Đau khổ vô cùng, chết ngã lăn.
Người nào làm chủ gia tài lớn,
Thế nhưng hưởng thụ, không liệu lường
Thoáng chóc phá sạch, như gã ngốc
Làm vỡ Bát Ước, chết bên đường!
Đọc xong ba bài kệ này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, cháu trai của Trưởng giả Cấp Cô
Độc là kẻ bất lương đã phá vỡ Bát Ước, còn ta chính là vua trời Đế
Thích.
Số 292
CHUYỆN VUA QUẠ MỸ DỰC
(Tiền thân Supatta)
Thành Ba-la-nại nơi này đây…
Tại tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về việc Trưởng lão Xá-lợi-phất (Sāriputta) đã cúng dường
cho Da-thâu-đà-la (Bimbādevī) một bữa cơm được nấu trộn với sữa trâu mới
vắt cùng với cá đỏ làm gia vị. Những tình huống của câu chuyện giống như
những gì được trình bày ở Tiền thân Abbhantara, số 281. Ở đây, Thánh nữ
Tỳ kheo ni bị đau bụng. Sa-di La-hầu-la bạch với Trưởng lão việc đó.
Trưởng lão cho La-hầu-la ngồi ở phong đợi và đi đến nhà vua xin gạo, cá
đỏ và một ít sữa trâu mới vắt. La-hầu-la trao những thứ này cho Thánh nữ
Tỳ kheo ni, mẹ của thầy. Khi bà ăn xong thức ăn này thì cơn đau liền đó
được giảm. Nhà vua đưa những sứ giả đi thăm dò, và sau đó thường gửi cho
bà thứ thức ăn ngon đó. Một ngày nọ, chư Tỳ-kheo bắt đầu bàn luận việc
đó trong Chánh pháp đường:
– Thưa các Hiền hữu, bậc Tướng Quân Chánh Pháp
đã làm hài lòng Tỳ kheo ni với thứ thức ăn nọ.
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang bàn luận về
việc gì. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:
– Này các Tỳ kheo, đây không phải là lần đầu
tiên Xá-lợi-phất cúng dường thức ăn cho mẹ của La-hầu-la thôi đâu, mà
trước đây Thầy ấy cũng đã làm như thế.
Nói vậy rồi, Ngài kể một câu chuyện đời trước.
* * * Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một chú Qụa. Khi lớn lên, Quạ
trở thành vua của một đàn quạ tám mươi ngàn con. Vua Quạ có tên là Mỹ
Dực (Supatta). Vợ chánh của vua Quạ có tên là Hảo Xúc (Suphassā). Và
Tướng quân của vua Quạ có tên là Hảo Chuỷ (Sumukho). Vua Quạ sống gần
Ba-la-nại cùng với tám mươi ngàn thần dân của mình.
Một ngày nọ, Trong khi đi kiếm thức ăn, vua Quạ
cùng với vợ của mình bay ngang qua nhà bếp của vua. Người đầu bếp của
vua dọn sẵn một số đĩa đựng đầy các loại cá và mở các đĩa ra một lúc để
cho cá nguội. Hoàng hậu Quạ ngửi thấy mùi thơm của thức ăn và muốn ăn
một ít. Nhưng ngày hôm đó nó không nói gì cả.
Nhưng ngày hôm sau, khi vua Quạ rủ nó đi kiếm ăn,
nó nói:
– Chàng hãy đi một mình. Có thứ này thiếp mong
muốn vô cùng!
– Thứ gì vậy? Vua Quạ hỏi.
– Thiếp muốn ăn một ít thức ăn của nhà vua, và
vì không ăn được nên thiếp sắp chết đây.
Vua Quạ ngồi xuống suy nghĩ. Hảo Chủy đi đến hỏi
rằng phải chăng có điều gì làm vua Quạ không hài lòng. Vua Quạ nói với
ông sự việc. Tướng quân nói:
– Điều đó không có gì đáng ngại.
Rồi ông nói thêm để an ủi hai người:
– Hôm nay Ngài và hoàng hậu cứ ở đây, tôi sẽ đi
đem thịt về.
Thế rồi, ông tập hợp đàn quạ lại và kể cho chúng
nghe sự việc. Ông nói:
– Bây giờ chúng ta hãy đi kiếm thứ ấy!
Và rồi, cả đàn bay đến Ba-la-nại. Quanh đấy, ông
bố trí chúng vào những vị trí gần nhà bếp để canh chừng, còn ông cùng
với tám tên lính thiện nghệ đậu trên nóc nhà bếp. Trong khi chờ thức ăn
của nhà vua được dọn lên, ông chỉ thị cho những con quạ:
– Khi nào thức ăn được mang lên, ta sẽ làm cho
người kia thả rơi các đĩa thức ăn xuống. Một khi ta làm điều đó là ta
biết mình phải bỏ mạng. Vì thế, bốn vị trong các ông hãy ngậm đầy cơm
vào miệng, còn bốn vị khác thì gắp cá, sau đó mang chúng về cho đức vua
và hoàng hậu của chúng ta ăn. Nếu họ có hỏi ta ở đâu thì các vị hãy nói
ta sắp về đến.
Thế rồi, người đầu bếp lấy tất cả những đĩa thức
ăn khác nhau đã được chuẩn bị sẵn, treo chúng trên một đòn gánh và mang
đến hoàng cung. Khi ông ta đi ngang qua sân, Quạ Tướng ra hiệu cho những
thuộc hạ của mình rồi bay đến đậu lên trên ngực người mang thức ăn,
dương vuốt đá vào ông ta, dùng cái mỏ sắc như mũi mác mổ vào chóp mũi
ông ta, và cùng với hai chân kẹp lấy hai bên hàm.
Nhà vua đang tản bộ trên thượng lầu. Khi ở cửa sổ
lớn nhìn ra, ông nhìn thấy điều con quạ đang làm. Ông bảo người mang
thức ăn:
– Này khanh, hãy bỏ những cái đĩa xuống và bắt
lấy con quạ!
Vì thế, người kia thả những chiếc đĩa xuống và
bắt lấy con quạ.
– Mang nó đến đây! Nhà vua bảo.
Thế là những con quạ ăn tất cả những gì chúng
muốn, rồi nhặt lấy phần còn lại như chúng đã được bảo và mang đi. Kế
đến, tất cả những con khác lũ lượt bay đến ăn những gì còn lại. Tám tên
lính thiện nghệ dâng thức ăn cho vua Quạ và hoàng hậu quạ. Như vậy, cơn
thèm khát của Hảo Xúc được thoả mãn.
Người đầu bếp mang con quạ đến cho nhà vua. Vua
nói:
– Này Quạ! Ngươi tỏ ra không kính trọng ta!
Ngươi đã làm vỡ mũi người nô bộc của ta! Ngươi làm vỡ nát những cái đĩa
của ta! Ngươi liều lĩnh dám bỏ đi mạng sống của mình! Điều gì khiến
ngươi làm những việc như vậy?
Quạ trả lời:
– Tâu đại vương! Đức vua của tôi sống gần
Ba-la-nại, và tôi là tướng quân của ông. Hoàng hậu của vua tôi tên là
Hảo Xúc thèm muốn thức ăn của đại vương vô cùng. Đức vua của tôi nói cho
tôi biết điều bà ấy muốn và lập tức tôi nguyện hy sinh đời mình. Giờ
đây, tôi đã gởi thức ăn về cho bà, và ước nguyện của tôi đã trọn. Đó là
lý do tại sao tôi đã hành động như vậy.
Và để giải thích vấn đề, Quạ tướng nói:
Thành Ba-la-nại nơi này đây
Có vị vua quạ, tâu đại vương
Tên là Hảo Dực, được chăm sóc
Bởi một đàn Quạ tám ngàn con.
Hảo Xúc hoàng hậu thật thèm muốn
Được dùng bữa cá của nhà vua
Thứ được bắt tươi, nấu trong bếp
Và mang đến bàn của nhà vua .
Xin ngài xem tôi như sứ giả
Được vua sai đến ở nơi đây
Vì đối vua tôi, tôi tôn kính
Nên làm tổn thương mũi người này.
Khi nghe vậy, Nhà vua nói:
– Ta đã ban danh vọng cao quý cho nhiều người
nhưng tuy thế vẫn không thể kết bạn với họ được. Thậm chí ta đã ban tặng
những thứ như cả một ngôi làng thì ta cũng không thể tìm đâu ra một
người có ý hy sinh mạng sống cho ta. Nhưng con vật này chỉ là con quạ,
lại dám hy sinh mạng sống cho vua của nó. Nó thật cao quý, ái ngữ và tốt
lành.
Quá hài lòng với những phẩm tính tốt của con quạ
này, nhà vua cung kính tặng cho nó một chiếc lộng trắng. Quạ đón nhận
món quà nhà vua ban tặng riêng mình, rồi ca ngợi những đức hạnh của Mỹ
Dực. Nhà vua cho mời vua quạ đến và nghe vua Quạ giảng thuyết, sau đó
gởi cho hai vợ chồng vua quạ thức ăn giống như của mình. Còn đối với
những con quạ còn lại, mỗi ngày ông nấu một lượng cơm lớn cho chúng. Ông
thực hành theo những lời khuyên bảo của Bồ-tát, bảo vệ muôn loại sinh
vật và làm việc thiện. Những lời khuyên bảo của vua quạ Mỹ Dực được ghi
nhớ bảy trăm năm.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, A-nan là nhà vua, Xá-lợi-phất là
quạ Tướng, còn ta chính là Hảo Dực (Supatta).
Số 293
CHUYỆN YỂM LY THÂN THỂ
(Tiền thân Kāya-Vicchinda)
Bệnh tật trầm kha hoành hành mãi…
Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về một người đàn ông nọ. Chuyện kể rằng, có một người đàn
ông sống tại thành Xá-vệ, bị đau đớn bởi bệnh vàng da mà các lương y cho
đó là một ca bệnh vô phương cứu chữa. Vợ và con trai ông muốn tìm người
có thể chữa trị cho ông. Người này nghĩ: “Nếu căn bệnh này được trị
lành, ta sẽ đi xuất gia.” Thế rồi một vài ngày sau đó, ông tình cờ uống
trúng một thứ gì đó mà nó làm cho sức khoẻ của ông được tốt lên, và rồi
căn bệnh qua khỏi. Sau đó, ông đi đến tinh xá Kỳ Viên và xin gia nhập
vào Tăng đoàn. Đức Thế Tôn truyền trao tiểu giới và đại giới cho ông, và
không bao lâu sau ông đắc được thánh quả. Một ngày nọ, chư Tỳ-kheo cùng
bàn luận sự kiện này trong Chánh pháp đường:
– Thưa các Hiền hữu, người đàn ông kia bị bệnh
vàng da và nguyện rằng nếu căn bệnh qua khỏi ông ta sẽ xuất gia. Ông ta
đã làm như vậy và bây giờ đã đắc được thánh quả.
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang bàn luận điều
gì mà ngồi lại với nhau ở đó. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là người duy
nhất đã làm như vậy. Những bậc hiền trí đời trước, khi khỏi bệnh cũng đã
xuất gia và đạt được điều ích lợi.
Rồi Ngài kể một câu chuyện đời trước:
* * * Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh vào một gia đình Bà-la-môn. Ngài
trưởng thành và bắt đầu tích luỹ tài sản. Thế nhưng, Ngài bị bệnh vàng
da mà ngay cả các các lương y cũng không thể giúp gì được cho Ngài. Vợ
và gia đình vô cùng tuyệt vọng. Ngài quyết định rằng nếu căn bệnh qua
khỏi, Ngài sẽ xuất gia. Thế rồi, Ngài uống trúng một thứ gì đó mà nó đã
làm cho sức khoẻ của Ngài tốt hơn và sau đó khỏi bệnh. Sau đó, Ngài đi
đến Tuyết Sơn (Himalaya) và trở thành một tu sĩ. Ngài tu tập Thiền định
và Thần thông, trú trong hỷ lạc thiền định. Ngài nghĩ, “Cả đời này, ta
không sao có được sự hỷ lạc lớn lao này!” Và Ngài thốt lên nguồn cảm
hứng này:
Bệnh tật trầm kha hoành hành mãi
Nằm trong ưu phiền khổ mãi thôi
Thân thể chống héo như hoa nọ
Nằm khô trên đất dưới mặt trời.
Cao quý cũng giống như hèn hạ
Trong sạnh cũng dường như bất tịnh
Người bị đui mù cứ lầm tưởng
Vũng nước dơ bẩn là đẹp xinh.
Thân thể bệnh tật, thật ô nhục
Ghể tởm, ô uế, đầy thối tha!
Người ngu lười biếng, đi lạc lối,
Thiên giới chẳng hề được sanh qua.
Như vậy, bằng những cách thức khác nhau, bậc Đại
Sĩ đã mô tả bản chất bất tịnh và bệnh tật liên miên của thân thể. Chán
ghét thân thể và những chi phần của nó, Ngài tu tập trọn đời bốn Vô
lượng tâm mãi cho đến khi sanh về Phạm thiên giới.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết
các Thánh đế. Khi kết thúc các Thánh đế, nhiều người đắc được quả Dự lưu
và những quả vị khác.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
– Vào thuở đó, ta chính là vị ẩn sĩ.
Số 294
CHUYỆN TRÁI CÂY HỒNG TÁO
(Tiền thân Jambu-khādaka)
Ai đang ngồi trên cây hồng táo…
Tại tinh xá Trúc Lâm, đức Thế Tôn kể câu chuyện
này về Đề-ba-đạt-đa (Devadatta) và Câu-ca-lợi (Kokālika). Khi
Đề-bà-đạt-ba bắt đầu đánh mất đi những lợi lộc và thanh danh của mình,
thì Câu-ca-lợi đi từ nhà này đến nhà khác nói:
– Trưởng lão Đề-bà-đạt-đa xuất thân từ dòng dõi
đại Sát-đế-lợi, dòng họ vua Okkāka, một dòng dõi cao quý xưa nay. Trưởng
lão thông thạo tất cả kinh điển, đầy đủ thiền định, lời nói nhu hoà, một
bậc giảng pháp xuất chúng. Xin cúng dường cho Trưởng lão, hãy giúp đở
cho ngài!
Ông tán thán Đề-bà-đạt-đa bằng lời lẽ như vậy.
Trong khi đó, Đề-bà-đạt-đa lại tán dương Câu-ca-lợi bằng những lời này:
– Câu-ca-lợi xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn
ở phương Bắc. Thầy ấy xuất gia tầm nghiên kinh điển, là một bậc giảng
pháp đa văn. Hãy cúng dường cho Câu-ca-lợi, hãy giúp đở thầy ấy!
Như thế, họ đi khắp nơi tán dương lẫn nhau và
nhận được sự cúng dường ở những nhà khác nhau. Một ngày nọ, chư Tỳ-kheo
bắt đầu bàn luận điều đó trong Chánh pháp đường:
– Thưa các Hiền hữu, Đề-bà-đạt-đa và Câu-ca-lợi
đi khắp nơi để tán dương lẫn nhau về đức hạnh mà sự thực họ không có, và
nhờ thế họ nhận được thực phẩm.
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi chư vị đang bàn luận
điều gì khi ngồi lại ở đấy. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên hai người này nhận được thực phẩm bằng cách tán dương lẫn nhau, mà
đời trước họ cũng đã từng làm vậy.
Nói vậy xong, Ngài kể cho họ một câu chuyện đời
trước.
* * * Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua nước
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một vị thần cây ở trong một một
khu rừng hồng táo. Một con Quạ đậu trên nhành cây của Ngài và bắt đầu ăn
trái cây. Sau đó, một con Chó rừng đi đến, nhìn lên và thấy con Quạ. Nó
nghĩ, “Nếu ta nịnh hót con vật này thì ta có thể kiếm được một vài trái
cây để ăn!” Vì thế bằng cách dua nịnh, nó đọc lên bài kệ đầu tiên:
Ai đang ngồi trên cây hồng táo
Giọng hót ngọt ngào rót vào tôi?
Duyên dáng mềm mại như công ấy
Và vẫn ngồi yên mãi một nơi.
Bằng cách khen ngợi, con quạ đáp lại bài kệ thứ
hai:
Ai thuộc dòng dõi thật cao quý
Mới khen kẻ khác dòng cao sang.
Ngài trông dường như một chàng hổ
Xin đến ăn thứ tôi tặng ban!
Nói vậy xong, nó rung cành cây làm cho một vài
trái cây rơi xuống. Khi trông thấy hai con vật này cùng ăn sau khi đã
nịnh hót lẫn nhau, thần cây đã đọc lên bài kệ thứ ba:
Những kẻ nói dối, ta rõ biết.
Con quạ thối tha chính là đây
Và đây chó rừng ăn xác chết,
Nịnh hót lẫn nhau, huyên náo thay!
Sau khi đọc lên bài kệ này, thần cây hoá ra một
hình thù đáng sợ để đuổi hai con vật đi.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, chó rừng là Đề-bà-đạt-đa, con quạ
là Câu-ca-lợi, còn ta chính là Thần Cây.
Số 295
CHUYỆN KẺ THẤP KÉM
(Tiền thân Anta)
Thân ngài giống như thân bò mọng…
Đây là một câu chuyện khác mà đức Thế Tôn đã kể
tại cùng một nơi và cùng về những người như vây. Những tình huống của
câu chuyện đều giống như những tình huống ở câu chuyện trên.
* * * Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh làm Thần một cây thầu dầu mọc gần một ngôi
làng nọ. Có một con bò già chết trong làng, và người ta lôi xác nó ném
vào rừng cây gần cổng làng. Một con chó rừng đi đến và bắt đầu ăn thịt.
Sau đó, một con quạ bay đến và đậu trên cây. Khi nhìn thấy chó rừng, quạ
ta tìm cách nịnh hót, xem có thể kiếm được một ít thịt con bò chết này
để ăn hay không. Vì thế, nó đọc lên bài kệ đầu tiên:
Thân ngài giống như thân bò mọng
Nhanh nhẹn giống như sư tử vương
Ôi vinh quang thay vua loài thú!
Chớ quên tặng tôi miếng thịt xương!
Khi nghe lời này, Chó rừng đọc lên bài kệ thứ
hai:
Những ai dòng dõi có cao quý
Mới biết khen kẻ hàng trâm anh
Cổ cô như cổ chim công ấy
Quạ hỡi! Mời cô xuống dùng phần!
Khi nhìn thấy điều này, Thần cây đọc lên bài kệ
thứ ba:
Chó rừng hèn nhất trong loài thú
Loài chim thấp nhất thứ quạ đen
Loài cây, thầu dầu là hạ đẳng
Ba thứ này đây tối thấp hèn!
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là chó rừng,
Câu-ca-lợi là con quạ, còn ta chính là Thần cây.
Số 296
CHUYỆN BIỂN CẢ
(Tiền thân Samudda)
Ai bay qua đại dương…
Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về Trưởng lão Ưu-ba-nan-đà (Upananda).
Vị này là một người ăn uống rất nhiều, bao nhiêu
cũng không đủ, dù có nhiều xe thực phẩm cũng không làm thoả mãn được
ông. Trong suốt thời gian an cư mùa mưa, ông thường sống ở hai ba trú xứ
khác nhau. Ở trú xứ này, ông để giày dép; trú xứ kia, ông để gậy đi
đường; trú xứ nọ, ông để bình đựng nước; còn bản thân ông lại sống ở một
trú xứ khác. Khi viếng thăm một tịnh xá miền quê và trông thấy các
Tỳ-kheo ở đó có sẵn tứ sự, ông bắt đầu giảng về bốn hàng Sa môn biết tri
túc, và sau đó lấy hết y áo của họ, khiến họ phải nhặt đồ rách từ đống
rác mà bận; khiến họ phải dùng bình bát bằng đất và trao cho ông những
bình bát bằng kim loại hay bất cứ thứ bình bát nào mà ông thích. Sau đó,
ông chất đầy những thứ này vào xe và chở về Kỳ Viên. Một hôm, chư
Tỳ-kheo bắt đầu bàn luận chuyện này trong Chánh pháp đường.
– Thưa các Pháp hữu, Ưu-ba-nan-đà dòng họ
Thích-ca là một người ăn nhiều, một kẻ tham lam. Ông ta đã giảng đạo cho
người khác và trở về đây cùng với một xe đầy những đồ dùng của Tỳ-kheo!
Đức Thế Tôn đi vào và muốn biết họ đang bàn luận
điều gì khi ngồi nơi đấy. Họ bạch sự việc với Ngài, Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, Ưu-ba-nan-đà trước đây cũng
đã sai lầm khi thuyết giảng về về hạnh tri túc này. Trước hết, ta nên
tiết độ đối với tất cả những tham muốn của mình rồi sau đó mới thuyết
giảng cho người khác.
Trước tiết độ mình sau giảng dạy
Người trí không nên lợi riêng mình.
Sau khi trích dẫn lời kệ từ kinh Pháp Cú (số
158) và khiển trách Ưu-ba-nan-đà xong, đức Thế Tôn nói tiếp:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên Ưu-ba-nan-đà tham lam thôi đâu. Vào đời trước, ông ta còn nghĩ rằng
ngay cả nước biển cũng cần nên phải tiếc kiệm.
Rồi Ngài kể một câu chuyện đời trước.
* * * Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh làm một vị thần biển. Bấy giờ, có một con quạ
nước bay qua biển. Nó bay khắp nơi và la hét cố ngăn cản những đàn cá và
những bầy chim:
– Đừng uống quá nhiều nước biển như thế! Phải
giữ gìn nước biển chứ!
Khi nghe con quạ nói điều ấy, thần biển đọc lên
bài kệ đầu tiên:
Ai bay qua đại dương
Cố ngăn cản đàn cá?
Phải chăng muốn ngăn cản
Vì sợ uống biển cạn?
Quạ nước nghe vậy đã trả lời bằng bài kệ thứ hai:
Cõi đời người gọi tôi
Kẻ uống không hề thoả
Biển kia cố uống hết
Cạn vua biển giang hà.
Nghe vậy, thần biển đọc lên bài kệ thứ ba:
Đại dương dầu khô cạn
Trong ngày lại đầy thôi.
Chưa thấy ai uống cạn?
Ích gì uống cạn vơi!
Nói vậy xong, thần biển hoá hiện ra một hình hài
dễ sợ, làm cho quạ nước sợ hãi bay xa.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, Ưu-ba-nan-đà là Quạ nước, còn vị
thần biển là chính ta.
Số 297
CHUYỆN THAN VÃN ÁI TÌNH
(Tiền thân Kāma-Vilāpa)
Hỡi chim bay ở trên trời rộng…
Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo mòn mõi nhớ mong người vợ cũ của
mình. Những tình huống đưa đến cây chuyện đã được giảng giải trong Tiền
thân Puppharatta, số 147, và câu chuyện quá khứ sẽ được kể trong Tiền
thân Indriya, số 423.
* * * Cũng như vậy, người ấy bị đâm sống trên cộc. Khi
bị treo ở đấy, ông ta ngước lên và nhìn thấy một con qua đang bay ngang
qua trên không. Không còn nghĩ đến đớn đau, ông ta gọi con quạ và đọc
lên những bài kệ sau, nhờ nó nhắn lời cho người vợ yêu quý của mình.
Hỡi chim bay ở trên trời rộng!
Hỡi chim có cánh bay trên cao!
Xin nhắn vợ tôi người chân đẹp
Thời gian xa cách lâu biết bao.
Gươm giáo đặt ra nàng không biết
Giận hờn khiến nàng lắm khổ đau.
Chính vì điều đó tôi lo sợ
Không phải vì sợ treo đây đâu.
Thư sen của tôi, tôi dành dụm
Và cùng ngọc vàng trong gối tôi
Lại thêm lụa mịn Ba-la-nại
Bảo nàng dùng lấy, thỏa nguyện đời.
Ông ta than vãn như vậy rồi chết.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết
các Thánh đế. Vào lúc kết thúc các lý Thánh đế, thầy Tỳ kheo si tình kia
đắc được quả Dự lưu. Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
– Người vợ thuở đó cũng là người vợ bây giờ, còn
vị thần nhìn thấy sự việc này là chính ta.
Số 298
CHUYỆN CÂY SUNG
(Tiền thân Udumbara)
Trên cây tươi tốt sung đã chính…
Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về một thầy Tỳ-kheo nọ. Thầy này làm một am thất để ở tại
một ngôi làng biên giới. Tịnh thất này nằm trên một tảng đá phẳng, tại
một đám đất nhỏ được quét sạch sẽ, có đầy đủ nước đem lại sự thoải mái,
có một ngôi làng gần đó để đi khất thực, và có những người thân thiện
cúng dường thức ăn.
Một Tỳ-kheo trên đường đi khất thực đã đến đấy.
Vị Trưởng lão sống nơi ấy đã làm những bổn phận của người chủ đối với
người mới đến, và ngày hôm sau thầy dẫn vị này cùng đi khất thực với
mình. Dân chúng cúng dường cho thầy và thỉnh thầy đến lại nhà họ vào
ngày kế. Vị mới đến đã sống như vậy một vài ngày, sau đó ông suy nghĩ
cách đuổi thầy kia đi để chiếm lấy trú xứ này. Một ngày nọ, khi đến
viếng thăm Trưởng lão, ông hỏi:
– Hiền giả, thầy có bao giờ tham bái đức Phật
chưa?
– Ồ, chưa thầy ạ, không có ai ở đây trông nom am
thất cho tôi, nếu có thì tôi đã đi rồi.
– Được rồi, tôi sẽ trông nom am thất cho thầy
khi thầy đi tham bái đức Phật. Vị mới đến nói.
Thế rồi thầy chủ thất ra đi, sau khi chỉ bảo cho
dân làng hãy chăm sóc vị Tỳ-kheo mới đến cho đến khi nào thầy trở về. Vị
Tỳ-kheo mới đến bắt đầu nói xấu người chủ. Ông nói bóng gió cho dân làng
biết tất cả những lỗi lầm của vị Trưởng lão. Thầy Tỳ-kheo kia tham bái
đức Thế Tôn xong và quay trở về, thế nhưng vị mới đến cự tuyệt, không
cho thầy cư trú. Thầy tìm một nơi khác để ở, và ngày hôm sau thì vào
làng khất thực, nhưng dân làng không cúng dường cho thầy. Quá chán nãn,
thầy quay trở lại Kỳ Viên và kể cho các Tỳ-kheo tất cả sự việc. Các
Tỳ-kheo bắt đầu bàn tán trong Chánh pháp đường:
– Thưa các Pháp hữu, Tỳ-kheo có tên như vậy đã
đuổi Tỳ-kheo có tên như vậy ra khỏi trú xứ và chiếm lấy nó cho riêng
mình!
Đức Thế Tôn đi vào và muốn biết họ đang bàn luận
việc gì khi ngồi lại nơi ấy. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên người này đã đuổi người kia ra khỏi trú xứ thôi đâu.
Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện đời quá khứ.
* * * Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh làm một vị Thần cây ở trong rừng. Bấy giờ vào
mùa mưa, mưa đã trút xuống bảy ngày liền. Một con khỉ nhỏ có mặt đỏ ở
trong một hang đá để trú mưa. Một ngày nọ, nó đang ngồi nơi cửa hang,
khô ráo và rất sung sướng. Khi nó ngồi ở đấy, một con khỉ lớn có mặt
đen, ướt sũng, khốn khổ vì lạnh, nhìn thấy nó. Con khỉ này suy nghĩ,
“Làm cách nào ta có thể đuổi được gã kia đi để sống trong hang của gã
nhĩ?” Thế là phòng bụng của mình lên, làm như thể vừa ăn xong một bữa ăn
ngon, nó đứng lại trước con khỉ kia và đọc lên bài kệ đầu tiên:
Trên cây tươi tốt sung đã chín
Thức ăn sẵn cho khỉ chúng ta.
Cùng tôi đến đó để ăn quả!
Cơn đói có gì phải lo xa?
Khỉ mặt đỏ hoàn toàn tin lời. Nó mong có được tất
cả thứ trái cây này để ăn nên ra đi và lùng sục khắp nơi, tuy thế không
thể tìm được một trái cây nào. Thế rồi nó quay trở lại và ở đấy, con khỉ
mặt đen đang ngồi bên trong hang của nó! Nó quyết định đánh lừa con khỉ
kia, nên đứng trước hang đọc lên bài kệ thứ hai:
Hạnh phúc cho ai tỏ lòng kính
Đối với những người tuổi tác cao
Giống như hạnh phúc tôi cảm nhận
Sau khi trái cây đã ăn vào!
Con khỉ lớn lắng nghe và đọc lên bài kệ thứ ba:
Người Hy lạp gặp nhau sinh chiến
Khỉ đánh hơi khỉ biết mưu sâu
Dù cho trẻ con có sắc sảo
Không thể bắt được chim già đâu.
Con khỉ này nghe vậy liền bỏ đi.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân:
– Vào thuở đó, Tỳ-kheo chủ am thất kia là con
khỉ nhỏ, vị chiếm đoạt am thất là con khỉ đen lớn, còn ta chính là Thần
cây.
Số 299
CHUYỆN BÀ-LA-MÔN KHẤU-MÃ-DA-PHỔ-ĐÀ
(Tiền thân Komāya-Putta)
Trước đây bạn thường quen đùa nghịch…
Tại tinh xá Đông Viên (Pubārāma), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về một vài Tỳ-kheo có thái độ cư xử khiếm nhã và thô lỗ.
Các Tỳ-kheo này sống ở trên gác mà dưới gác ấy
đức Thế Tôn ở. Họ nói với nhau những gì họ nghe thấy, rồi gây gỗ và lăng
mạ. Đức Thế Tôn bảo Mục-kiền-liên hãy đến đấy làm cho họ giật mình và
hoảng hốt. Trưởng lão bay lên không và đụng ngón chân to lớn của mình
vào móng nhà, làm rung chuyển đến cả bờ đại dương xa nhất! Những Tỳ-kheo
kia sợ chết nên chạy hết ra đứng bên ngoài. Tăng chúng biết thái độ hành
xử thô lỗ của họ. Một ngày nọ, bắt đầu bàn tán việc đó trong Chánh pháp
đường.
– Thưa các Pháp hữu, có một số Tỳ-kheo sống
trong căn nhà giải thoát này đã hành xử thật khiếm nhã và thô lỗ. Họ
không thấy được sự vô thường, khổ đau và huyển hoá của cuộc đời, cũng
không làm trọn những bổn phận của họ.
Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang bàn tán điều gì
khi ngồi lại nơi ấy. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu
tiên những người này khiếm nhã và thô lỗ thôi đâu, mà đời trước họ cũng
đã như vậy.
Và rồi Ngài kể cho họ nghe một câu chuyên đời
trước.
* * * Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vị vua trị
vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm con trai một vị Bà-la-môn ở
một ngôi làng nọ. Tên của Ngài là Khấu-mã-da-phổ-đà (Komāyaputta). Bấy
giờ, Ngài rời bỏ gia đình và đến Tuyết sơn xuất gia học đạo. Có một vài
vị ẩn sĩ buông lung, dựng am thất ở vùng đó để ở. Nhưng họ không nắm bắt
được phương pháp làm phát khởi thiền định. Họ vào rừng kiếm trái cây về
ăn, sau đó dành hết thời gian để vui cười đùa giởn với nhau. Họ có một
con khỉ, cũng thô lỗ giống như họ vậy. Bằng trò nhăn mặt và hành vi ngốc
nghếch, con khỉ đã đem lại cho họ những trò chơi không bao giờ chán.
Họ sống ở đấy một thời gian dài mãi cho đến khi
họ phải đi xuống dân chúng để kiếm muối và đồ gia vị. Sau khi họ đi rồi,
Bồ-tát đến sống ở trú xứ của họ. Con khỉ đùa nghịch với Ngài như nó đã
làm với những người kia. Bồ-tát búng ngón tay vào nó và thuyết giảng cho
nó. Ngài nói:
– Những ai sống với những ẩn sĩ khéo tu tập thì
nên phải hành xử đúng đắn, hành động phải nên thận trọng, và phải chuyên
tâm thiền định.
Từ đó, con Khỉ luôn sống đức hạnh.
Rồi Bồ-tát ra đi. Những người ẩn sĩ kia mang muối
và gia vị trở về. Nhưng con khỉ không còn đùa nghịch với họ nữa. Họ hỏi:
– Này anh bạn, có điều gì vậy, tại sao bạn không
vui đùa như bạn đã từng làm?
Một người trong họ đọc lên bài kệ đầu tiên:
Trước đây bạn thường quen đùa nghịch
Tại thất ẩn sĩ chúng tôi đây.
Hỡi khỉ! Hãy làm như con khỉ
Chúng tôi không thích bạn tốt hay.
Nghe lời này, con Khỉ đọc lên bài kệ thứ hai:
Nơi Khâu-mã-da, bậc trí tuệ
Tôi đã được nghe pháp diệu vi
Đừng nghĩ tôi nay như trước nữa
Giờ đây thiền định tôi yêu vì.
Ngay đó, ẩn sĩ đọc lên bài kệ thứ ba:
Nếu bạn gieo hạt trên phiến đá
Dù mưa hạt vẫn chẳng thành cây.
Dù bạn có nghe pháp vi diệu
Vẫn không bao giờ định tâm này.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết
Tứ Thánh đế và nhận diện Tiền thân:
– Thời đó, những vị Tỳ-kheo này là những vị ẩn
sĩ buông lung, còn ta chính là Khẩn-mã-da-phổ-đà.
Số 300
CHUYỆN CON SÓI
(Tiền thân Vaka)
Chó sói kẻ bắt sống loài thú…
Tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể
câu chuyện này về tình bạn cũ. Những tình huống chi tiết giống như ở
trong Luật (Đại phẩm). Đây chỉ là phần trích.
Trưởng lão Ô-ba-kỳ-na (Upasena) tu được hai năm
cùng với một thầy cùng tịnh xá tu được một năm đi đến viếng thăm đức Thế
Tôn. Đức Thế Tôn quở trách thầy này và thầy đã ra về. Sau đó, thấy đạt
được tuệ quán và chứng đắc thánh quả, đầy đủ hạnh tri túc và giới đức,
tu tập mười ba hạnh đầu đà và dạy những pháp đó cho những pháp hữu của
mình. Rồi trong khi đức Thế Tôn an cư ba tháng, thầy cùng với các
Tỳ-kheo lần đầu bị đức Thế Tôn khiển trách vì việc giảng thuyết sai trái
và phi pháp đi đến đức Thế Tôn, nhưng lần này đã nhận được sự tán thán
bằng những lời sau:
– Từ này về sau, những Tỳ-kheo nào muốn đến thăm
viếng ta thì để họ đến, miễn là họ hành theo mười ba hạnh đầu đà.
Được khuyến khích như vậy, thầy quay trở về và kể
lại điều đó cho các Tỳ-kheo. Sau đó, các Tỳ-kheo kia đã hành theo những
pháp này trước khi đến gặp đức Thế Tôn. Thế rồi khi Thế Tôn kết thúc
thời kỳ an cư, họ lại vứt bỏ những chiếc y cũ nát của họ và khoác vào
những chiếc y mới sạch. Khi cùng với Tăng chúng đi quanh kiểm tra phòng
ốc, đức Thế Tôn nhận thấy những chiếc y cũ nát của họ nằm rải rác đây đó
và hỏi đấy là những thứ gì. Khi nghe họ bạch sự việc, Ngài nói:
– Này các Tỳ-kheo, những Tỳ-kheo này chỉ tu tập
trong một thời gian ngắn cũng giống như việc giữ ngày trai giới của con
sói vậy.
Rồi Ngài kể một câu chuyện đời trước.
* * * Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì
Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm vua trời Đế Thích. Thời ấy, có
một con chó sói sống trên một tảng đá bên bờ sông Hằng. Những trận lụt
mùa đông dâng lên và bao quanh tảng đá. Sói nằm trên tảng đá đó, không
có thức ăn cũng không có cách gì để kiếm được thức ăn. Nước cứ dâng mãi
lên và con sói suy nghĩ: “Không có thức ăn, cũng không có cách gì để
kiếm được thức ăn. Ta nằm đầy không biết làm gì. Ta có thể giữ trọn trai
giới.” Nghĩ thế, nó quyết định giữ trai giới. Khi nằm đấy, nó long trọng
quyết giữ các giới luật. Đế Thích quán sát và nhận thấy quyết tâm yếu
đuối của sói. Ngài nghĩ, “Ta sẽ quấy rầy con sói này mới được!” Và rồi,
hoá thành hình dáng một con dê rừng, Ngài đứng gần để cho con sói nhìn
thấy.
“Ta sẽ giữ trai giới vào một ngày khác!” Sói nghĩ
khi nhìn thấy dê. Thế rồi, nó đứng dậy và nhảy vồ vào con thú. Nhưng dê
nhảy tránh ra để sói không thể băt được. Khi sói thấy rằng nó không thể
bắt được dê, nó dừng lại và quay trở về. Sau khi nằm xuống lại, nó tự
nghĩ, “May quá, cuối cùng thì ngày trai giới của ta không bị phá vỡ.”
Thế rồi, bằng thần lực của mình, Đế Thích bay lên
trên không và nói:
– Không chút kiên định như ngươi thì làm gì giữ
được ngày trai giới chứ? Ngươi muốn một bữa thịt dê mà không biết rằng
ta là vua trời Đế Thích!
Quấy rầy và khiển trách nó như vậy xong, Ngài
quay trở về thiên giới.
Chó sói kẻ bắt sống loài thú
Dùng máu thịt thú làm bữa ăn
Mỗi khi hiểu thấu, phát thánh nguyện
Phát tâm gìn giữ ngày giới trai.
Khi Đế Thích biết việc của sói
Hóa làm dê rừng đến thử xem
Kẻ khát máu kia vồ chụp lấy
Quên hết lời nguyện, hạnh tiêu tan.
Người trên đời này cũng như vậy
Quyết định những việc vượt quá sức.
Mục đích của họ đi chệch hướng
Như sói đã làm khi thấy dê.
* * * Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn nhận diện
Tiền thân như sau:
– Thuở đó, ta chính là vua trời Đế Thích.
|