ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
Ai cũng biết Phật giáo xây dựng học thuyết trên căn bản
trí huệ bát nhã. Vì vậy, quan niệm giải thoát của Phật giáo là thuần túy tư
tưởng và cứu cánh giải thoát của Phật giáo chỉ có thể đạt được nhờ sự sáng suốt
vô biên của Trí Huệ.
Có trí huệ là có tất cả. Không trí huệ là vĩnh kiếp bị
đọa lạc. Không trí huệ, không một quyền năng nào giải thoát được khổ đau. Giải
thoát không do quyền lực bên ngoài đem lại mà phải sở cậy vào tự lực un đúc đạo
đức và phát triển lý trí bên trong.
Là vì bóng tối mê mờ do tự tâm ngu si tác động, thêu dệt.
Cho nên, giải thoát, theo quan niệm Phật giáo, tức là giải thoát khỏi cái bóng
tối ngu si mê mờ kia.
Trong cuộc tranh chấp với bóng tối, duy chỉ có ánh sáng
mới đóng được vai trò quyết định. Cũng thế, muốn giải thoát con người khỏi bóng
tối ngu si, nếu không có trí huệ thì không một quyền năng nào có thể tiêu trừ
nổi. Những lực lượng nào ở bên ngoài giúp con người phát sanh được trí huệ là
những trợ duyên tốt và lành. Ngược lại, tức là những trợ duyên xấu và ác.
Như bấc và dầu hay như dây điện và máy điện giúp cây đèn,
bóng đèn phát sinh ánh sáng. Không ai không nhận rằng các trợ duyên kia là không
tốt không lành. Muốn thắp cây đèn trí tuệ trong mỗi người, hẳn cũng phải nhờ một
số trợ duyên thích nghi. Trợ duyên đây tức là những phương pháp tu luyện vậy.
Nhờ phương pháp tu luyện đúng đắn mà thắp được cây đèn trí huệ. Cây đèn trí huệ
một khi đã thắp lên được tức là đạt được chơn giải thoát.
Vì vậy, Phật giáo lấy việc phát triển tư duy, xây dựng
trí giác chơn thật làm trọng tâm tu chứng.
Con đường giải thoát từ khi khởi công cho đến lúc hoàn
tất tuy chỉ có một, nhưng kế hoạch thực hiện phải trải qua hai giai đoạn: giai
đoạn khởi phát để mở đường và giai đoạn un đúc để hoàn tất. Giai đoạn đầu nhằm
mục đích tìm sào huyệt của mê lầm để khai thông lý trí. Giai đoạn sau nhằm mục
đích khắc phục mê lầm tận gốc để thể hiện lý trí, đưa lý trí trực nhập chơn trí.
Vì vậy, cùng trên một con đường là con đường giải thoát
Phật giáo có một lúc hai bộ mặt: bộ mặt triết học ở giai đoạn đầu và bộ mặt tôn
giáo ở giai đoạn sau. Hoặc như giáo sư Richard A. Gard trong một bài diễn thuyết
trình bày về "Lối sống theo đạo Phật" đã nói đại khái như sau:
"Chính vì phải giác ngộ cả hai phương diện nhận thức (trí
huệ) và siêu hình (thực tại tuyệt đối bất khả tư nghì) mà các vị bồ tát tự hạ
mình, đưa mình từ cảnh giới trí huệ siêu phàm xuống cõi thế gian rối ren ràng
buộc và thiếu kém này, ngay nơi giải thoát của các ngài, để giải thoát những
chúng sanh đang bị trầm luân. Khi hướng thượng, sự tiến lên của các ngài có tính
cách triết lý bao nhiêu thì lúc hạ hóa, sự lùi xuống của các ngài có tính cách
tôn giáo bấy nhiêu. Các ngài tự nguyện xuống trần là chỉ vì muốn san sẻ cái kiến
thức sáng suốt và đời sống giác ngộ của mình với tất cả chúng sanh đau khổ. Sự
nhập thế của các ngài là Trí Huệ biểu thị bằng Trung đạo."
Bồ tát khi đạt được đại trí huệ, tức cũng là đạt được đại
từ bi. Vì trí huệ và từ bi là hai diệu tánh của một chơn tâm (hay Phật tánh) nên
không thể chỉ thành tựu diệu tánh nọ mà không thành tựu diệu tánh kia, hay ngược
lại. Do đó, hễ có thành Phật tức là độ sanh; hễ có độ sanh tức là thành Phật.
Thành Phật tức là hoàn thành hai đức Bi Trí đến mức viên
mãn cùng tột. Trên con đường viên mãn hóa hai đức bi trí, các đức bồ tát hòa
mình với chúng sanh và tùy theo từng cơ duyên mà hóa độ. Vì vậy, có ngài lấy
Hạnh làm phương sở y cứ, như đức Phổ Hiền; có ngài lấy Nguyện làm phương châm
soi sáng, như đức Địa Tạng; có ngài lấy Dũng làm động cơ thúc đẩy, như đức Thế
Chí; có ngài lấy Trí làm yếu chỉ thực hiện như đức Văn Thù v.v... Nhưng dù là
Đại hạnh, đại nguyện , đại lực, hay đại trí, đức nào trong bốn đức ấy cũng phải
đặt căn bản trên đức Đại Bi.
Đại Bi là nòng cốt, đại Bi là lẽ sống, đại Bi là sự
nghiệp của người tu hành. Không có Bi tâm thì không một hạnh nguyện nào đạt được
kết quả hoàn mãn.
Chính vì thế mà trong các đức Bồ tát, đức Đại bi Quán thế
âm có nhiều oai quyền thần lực hơn hết và có nhiều nhân duyên cơ cảm hơn hết đối
với loài hữu tình trong thế giới chúng ta.
Kinh dạy rằng "Chúng sanh do nghiệp mà sanh, Bồ tát do
nguyện mà hiện". Nguyện lực vĩ đại của các đức Bồ tát trong mười phương, trải
qua nhiều đời nhiều kiếp tu hành, un đúc hai đức bi trí đến lúc gần viên mãn nên
không còn bị nghiệp lực chi phối dìu kéo. Nghiệp lực đã dứt nên Trí huệ của các
ngài bừng sáng chói lọi. Với bi tâm và trí huệ un đúc tu luyện qua hằng sa kiếp,
các ngài có đủ tự tại chèo thuyền từ qua bể khổ mà thị hiện độ sanh khắp nơi.
Các việc hạ hóa ấy không có gì là thần bí. Đó chỉ là hành động tự do của những
người tự do, biết sử dụng lý trí của mình một cách hợp lý mà thôi vậy. Việc làm
hợp lý ấy là làm điều thiện mà lý trí tự do bảo phải làm. Không lúng túng, không
mâu thuẫn, như lý trí của những kẻ nô dịch, làm điều ác mà lý trí mình không
muốn.
Có lý trí mà không có tự do, chung quy chỉ tại thiếu từ
bi mà ra cả.
Thần lực và Trí lực tự tại của đức Đại bi Quán thế âm
thường được hình dung bằng một pho tượng có ngàn tay, ngàn mắt. Ngàn tay ngàn
mắt ở đây chỉ để hiển cái dụng tướng vô biên của chơn thể đại bi và đại trí qua
muôn ngàn hóa thân của Ngài mà thôi. Một thể đại bi và đại trí ấy uyển chuyển
tùy nguyện phát khởi nhiều ứng dụng sai khác trong nhiều hóa thân sai khác, lẽ
dĩ nhiên không thể dùng hình tướng thông thường mà hội được hết ý nghĩa đại bi
và đại trí, vì ý nghĩa ấy quá sức vi diệu và bất khả tư nghì.
Nói thế, không có nghĩa rằng tuyệt nhiên không có phương
pháp nào giúp ta ức đạt những gì cao siêu rộng lớn, hầu mong hiểu được trong
muôn một, cái trí huệ vô biên và cái từ bi vô thượng của các đấng Giải Thoát để
noi theo và học tập. Phương pháp vốn sẵn có và pháp môn vốn vô lượng. Nhưng vấn
đề tiên quyết là con người đã nhàm chán với cái trí điêu ngoa, tay sai của dục
vọng chưa?
Phật dạy: "Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn" (Bể khổ tuy
mênh mông nhưng quay đầu là thấy bờ). Biết quay đầu tức là đã có ý thức chống
đối lại dục vọng. Có ý thức ấy tức là đã nhiếp được căn bản trí rồi vậy. Đó là
dấu hiệu của bi tâm đã dấy khởi. Bi tâm đã móng, lo gì cứu cánh giải thoát không
thành!
Một phen biết hồi đầu, việc lý giải để liễu ngộ vốn có
sẵn trước mắt.
Trước khi đi sâu vào để tìm hiểu thế nào là nhị trí, tam
trí, tứ trí, nhứt thế trí, đạo chủng trí, nhứt thế chủng trí, như lượng trí, như
lý trí, hậu đắc trí, căn bản trí v.v... và v.v... để lý giải đến chỗ triệt để,
chúng ta hãy bắt đầu từ năm lượng, một phương tiện lý giải nhập môn.
ĐỨC QUÁN THẾ ÂM
HIỆN THÂN CỦA BI TRÍ
A. SỰ TÍCH VÀ NHƠN ĐỊA
Muốn tìm hiểu lịch sử đức Quán thế âm, ta hãy ngược dòng
thời gian, hướng về một đời quá khứ cách đây vô lượng kiếp ...
Cách đây vô lượng kiếp về trước, Ngài là con vua Vô Tránh
Niệm, tên là Bất Huyền Thái tử. Buổi bấy giờ có đức Bảo Tạng Như lai ra đời hóa
độ chúng sanh.
Giáo lý của Đức Bảo Tạng cao siêu huyền diệu, vì vậy ảnh
hưởng của Ngài lan truyền cùng khắp, khiến cho Vua Vô Tránh Niệm vô cùng cảm
phục. Vua liền sắm đủ mọi thức lễ vật quý giá, đem cúng dường Phật và chúng tăng
trong ba tháng, đồng thời vua cũng khuyên nhủ hết thảy vương tử, đại thần noi
theo gương vua để cầu phước báo.
Bất Huyền Thái tử vâng lệnh vua cha, đem mọi thứ trân
bảo, mọi thức mỹ vị, hết lòng thành kính dâng cúng Phật và chúng Tăng suốt trong
ba tháng, không hôm nào trễ nải, không món gì thiếu thốn.
Trong đám đại thần có một vị tên là Bảo Hải, phụ thân của
đức Phật Bảo Tạng, khuyên thái tử rằng:
"Điện hạ đã sẵn lòng thành kính cúng dường Phật và chúng
Tăng, xin Điện hạ hãy đem công đức ấy hướng về quả Vô thượng bồ đề chứ không nên
bắt chước cầu phước báo nhỏ mọn ở cõi trời làm gì. Được phước báo cõi trời, tuy
Điện hạ có được một căn thân đẹp đẽ, một thọ mạng lâu nghìn năm, một sức thần
thông quảng đại, dù cuộc đời Điện hạ ở đấy có vui sướng đến đâu, song các sự vui
sướng ấy có một ngày sẽ chấm dứt, vì phước báo ấy là phước báo hữu lậu nằm trong
vòng sanh tử luân hồi và chịu luật vô thường chi phối. Như vậy, Điện hạ sẽ không
bao giờ được tiêu diêu tự tại. Với Điện hạ, chỉ có một loại phước báo đáng cầu,
ấy là phước báo vô lậu khiến lìa khỏi sanh tử luân hồi. Loại phước báo này không
bao giờ bị hư diệt, tồn tại đời đời kiếp kiếp và đem lại an vui vĩnh cửu vô tận.
Vì các lẽ ấy, Điện hạ nên hồi hướng công đức về chánh quả Vô thượng bồ đề".
Nghe lời quan Đại thần, Thái tử liền đến trước Phật bạch
rằng:
"Trước Phật và chúng Tăng, con xin nguyện đem tất cả công
đức đã cúng dường Tam bảo và đem bao nhiêu thiện căn con đã trồng được, thảy đều
xin hồi hướng về quả Vô thượng chánh giác.
"Con nguyện rằng trong lúc con tu hành hạnh bồ tát, nếu
có chúng sanh nào bị tai nạn nguy khốn không thể tự thoát được và không biết
nương tựa vào đâu, hễ niệm đến danh hiệu con thì con phải có đủ sức hiện đến cứu
độ ra khỏi tai nạn. Nếu không được như lời nguyện đó, con thề không thành Phật.
"Kính bạch Đức Thế Tôn! Con nay xin vì tất cả chúng sanh
phát lòng đại nguyện làm các hạnh tự giác tự lợi, nguyện sau khi phụ vương con
là Vô Tránh Niệm trải hằng hà sa kiếp tu hành, được thành Phật hiệu là A di đà
Như lai ở thế giới Cực lạc như lời Thế Tôn đã thọ ký, con sẽ làm thị giả phụ tá
Ngài cho đến khi Chánh pháp gần diệt; nếu diệt hôm trước thì ngay hôm sau con
chứng đạo Bồ đề.
"Con xin Đức Thế Tôn từ bi thọ ký cho con như vậy. Con
cũng đem hết tâm thành cầu xin các đức Phật hiện tiền ở hằng hà sa số thế giới
trong khắp mười phương đều thọ ký cho con như vậy."
Đức Bảo Tạng Như lai liền thọ ký cho Thái tử và dạy rằng:
"Vì ngươi quán sát chúng sanh trong thế giới thảy đều vì
tội báo mà chịu đau khổ nên phát sanh bi tâm; ngươi lại nguyện quán sát được
tiếng đau thương kia để đến cứu độ nên nay ta đặt hiệu cho ngươi là Quán thế âm.
"Trong khi tu hành hạnh bồ tát, ngươi sẽ giáo hóa cả vô
lượng chúng sanh được thoát khỏi mọi khổ não và làm đủ mọi Phật sự.
"Sau khi đức A di đà nhập diệt rồi, cõi Cực lạc sẽ đổi là
"Nhất thế trân bảo sở thành tựu" càng thêm tốt đẹp hơn trước bội phần.
"Đến chừng đó, đang lúc ban đêm, chỉ trong giây phút,
hiện ra đủ các thứ trang nghiêm, ngươi sẽ ngồi trên tòa Kim cang dưới gốc Bồ đề
mà chứng quả Chánh giác hiệu là"Biến xuất nhứt thế quang minh công đức san vương
Như lai", sống lâu đến chín mươi sáu ức na do tha kiếp, phước tròn hạnh đủ, đạo
pháp cao siêu, thần thông rộng lớn, được mọi người tôn quý. Khi ngươi nhập diệt
thì Chánh pháp của ngươi còn lưu truyền lại sáu mươi ba ức kiếp nữa."
Thái tử nghe Phật thọ ký rồi thì vô cùng hoan hỷ và bạch
Phật rằng:
"Kính bạch Đức Thế Tôn! Nếu lời nguyện của con được hoàn
toàn viên mãn thì đối với con còn có gì vui sướng hơn nữa. Nay con xin Ngài làm
thế nào để Chư Phật trong khắp các thế giới đều thọ ký cho con như thế, khiến
cho tất cả các thế giới đều vang lên tiếng âm nhạc mà ai nghe cũng thảy đều được
thân tâm thanh tịnh, xa lìa mọi sự dục vọng trên đời".
Thái tử bạch rồi liền cúi đầu lễ Phật.
Bấy giờ các thế giới tự nhiên rung chuyển, phát ra các
tiếng nhạc hòa nhã ai nghe cũng đều sinh lòng hoan hỷ và dục vọng tiêu tan. Tiếp
theo đó các đức Phật trong mười phương thế giới đều đồng thanh thọ ký cho đức
Quán thế âm rằng:
"Trong thời kiếp Thiện trụ, ở cõi Tán đề lam thế giới,
gặp thời kỳ đức Bảo Tạng Như lai ra đời cứu độ chúng sanh, có con vua Vô Tránh
Niệm tên là Bát Huyền thái tử phát tâm cúng dường Phật và Bồ tát trong ba tháng;
do công đức ấy nên hằng hà sa số kiếp về sau sẽ được thành Phật hiệu là Biến
Xuất Nhứt Thế Công Đức San Vương Như Lai, ở thế giới Trân Bảo Sở Thành tựu".
Nghe chư Phật thọ ký xong, thái tử vô cùng hoan hỷ. Từ
đó, trải không biết bao nhiêu kiếp về sau, Ngài luôn luôn cố công tu tập cầu đạo
Bồ đề, hằng giữ bản nguyện không bao giờ quên cái niệm Đại bi Đại nguyện kia.
B. HẠNH NGUYỆN ĐẠI BI CỦA ĐỨC BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM
Trong kinh Pháp Hoa mà phẩm Phổ Môn được trích lục và
phiên dịch ra quốc văn sau đây, Đức Phật Thích ca nói cho hàng tứ chúng nghe về
hạnh nguyện đức Bồ tát Quán thế âm như sau:
"Quán thế âm nghĩa là quán sát các âm thanh giữa thế gian
mà hiểu suốt hết thảy nỗi thống khổ của chúng sanh. Nếu có chúng sanh nào trong
lúc lâm nạn, thiết tha kêu cầu vị Bồ tát này, tức thời Ngài quán được tiếng kêu
cầu kia mà đến cứu độ". Động cơ thúc đẩy khiến có sự linh cảm giữa một bên "hô"
và một bên "ứng" như thế là lòng đại bi rộng lớn của Ngài. Vì vậy, Ngài thường
được tôn xưng là đức Bồ tát Đại bi Linh cảm ứng Quán thế âm.
Bồ tát là tiếng nói tắt của danh từ Bồ đề tát đỏa
(boddisatva), Tàu dịch là Giác hữu tình. Bồ tát là bậc tu hành hạnh lợi tha cứu
độ các loài hữu tình. Nghĩa của danh từ "giác hữu tình" là nghĩa đứng về khía
cạnh công hạnh mà nói. Nếu đứng về khía cạnh trí giác, Bồ tát là những bậc đã
đạt được trình độ trí tuệ rất cao siêu, duy chỉ chưa viên mãn bằng Phật mà thôi.
Đến địa vị thập địa, Bồ tát đã đoạn được vô minh căn bản, chỉ còn một phần nhỏ
vi tế sở tri ngu, tức vô minh vi tế, là đương trong thời kỳ gạn lọc. Đến địa vị
diệu giác thì đoạn sạch vi tế tối sơ vô minh và chứng quả Vô thượng bồ đề để
thành bậc Chánh biến giác Phật đà.
Như trên là định nghĩa chung các danh từ bồ tát và sự sai
khác giữa đại bồ tát và Phật. Nhưng riêng về các vị cổ Phật như đức Địa Tạng hay
đức Quán âm nói đây, Bồ tát tức là Phật. Sở dĩ các ngài ấy mang danh từ bồ tát
là chỉ vì hạnh nguyện riêng: Các đức đại bồ tát ấy nguyện trọn đời mãn kiếp làm
công hạnh bồ tát để hóa độ chúng sanh, chẳng hạn như đức Địa Tạng có lời đại
nguyện rằng: "Địa ngục chưa trống không, thề chẳng thành Phật".
Đại bi nghĩa là lòng xót thương bao la rộng lớn. Theo
định nghĩa chung: "Bi năng bạt khổ", bi có công năng tiêu trừ các khổ não. Hạnh
nguyện của đức Quán thế âm là cứu độ hết thảy chúng sanh thoát ly ra khỏi tai
ách khổ nạn: lòng thương xót của ngài rộng lớn bao la như thế nên gọi là đại bi.
Linh cảm ứng nghĩa là tác dụng giao cảm hết sức thiêng
liêng của lòng đại bi. Chúng sanh đau thương rên siết kêu cầu; tiếng rên siết ấy
cảm ngay đến lòng đại bi của đức Quán âm rồi lập tức có sự ứng đáp lại một cách
vô cùng linh nghiệm.
Quán thế âm nghĩa là quán xét âm thanh của thế gian mà
đến cứu độ, như đã giải thích ở trên. Cái diệu trí quán sát âm thanh kia đã được
tóm tắt trong câu kệ:
"Sức diệu trí Quán Âm
Cứu đời thoát ly khổ"
Diệu trí nói đây tức là loại đại trí phương tiện khởi
được diệu dụng lợi tha, sau khi đã chứng được hậu đắc trí. Diệu trí cũng tức là
diệu dụng của căn bản trí, chứ không chi khác hơn. Vì có đủ đại trí này, nên mới
có thần lực cứu khổ cho thế gian.
Giải thích danh hiệu đức Quán thế âm như trên đây, tức là
đứng về phương diện "dụng" mà nói. Trong diệu dụng ấy lại có phân tách ra làm
hai: Quán và Âm.
Quán là dụng của Trí. Âm là dụng của Bi.
Như trong phẩm Phổ môn dạy, đức Quán thế âm dùng diệu trí
quán chơn tánh nên biết thân mình và thân chúng sanh, hết thảy đều bình đẳng
không hai, hết thảy đều do một thể đại bi chung mà có sanh khởi. Quán ấy gọi là
chơn quán.
Dùng diệu trí quán các tịnh pháp, biết các tịnh pháp bản
lai chẳng khi nào tương ưng với nhiễm pháp và luôn luôn xa lìa cả hai chướng do
ngã và ngã sở gây nên. Quán ấy gọi là thanh tịnh quán.
Đã có diệu trí tất nhiên tự tâm thanh tịnh. Dùng tự tâm
thanh tịnh quán hai pháp tục đế (chân lý tương đối) và chơn đế (chân lý tuyệt
đối), nhất nhất đều thấu suốt, rốt ráo, không thiếu sót một tơ hào nào. Nên gọi
quán ấy là quảng đại trí huệ quán.
Diệu trí của Ngài lại còn quán biết được chúng sanh và
Phật đồng thể, duy chỉ có khác nhau là tại chỗ chúng sanh bị nghiệp hoặc thao
túng nên sinh ra điên đảo và phải chịu đau khổ. Vì thấy chúng sanh đau khổ một
cách oan uổng như thế nên bi tâm dấy khởi khiến Ngài hằng thường nghĩ đến việc
cứu độ. Quán ấy gọi là Bi quán.
Đức Quán Âm lấy bi nguyện cứu khổ làm hạnh tu duy nhất
nên thường tưởng nghĩ đến các phương tiện ban vui cho chúng sanh. Tưởng nghĩ đến
việc ban vui tròn đầy để thực hiện việc cứu khổ. Quán ấy gọi là Từ quán.
Năm ánh sáng quán chiếu của diệu trí "quán âm" hằng
thường ở trong thể tịch tịnh vắng lặng, tức là thường tịch. Tuy thường tịch mà
vẫn thường soi sáng hết thảy các chốn tối tăm nên ánh sáng quán chiếu của diệu
trí kia lại cũng thường chiếu. Nhờ thường tịch và thường chiếu nên ánh sáng quán
chiếu của diệu trí Quán Âm không lúc nào không có tác dụng trừ tai ách do bóng
tối ngu si gây nên. Vì vậy, chúng sanh nên thường chiêm ngưỡng để nhiếp tâm và
nên phát nguyện thường thời thực hành.
Năm thanh âm Từ Bi của đức Đại Bi Quán Âm chúng sanh nên
thường trì niệm để huân tập hạt giống từ bi, khiến cho hạt giống ấy thể hội dần
dần nơi tự tâm. Trì niệm nghĩa là xưng niệm danh hiệu ở nơi miệng và ức niệm
công đức trong tự tâm. Đó là phương pháp niệm Quán Âm chơn chánh vậy.
Nói riêng về phần cảm ứng, đức Quán thế âm trong khi thực
hành đại nguyện độ sanh, có đủ oai lực giải thoát bảy nạn lớn bên ngoài là các
nạn: thuỷ ách, hỏa tai, gió bão, gươm đao, ác quỷ, lao tù,giặc cướp và tiêu trừ
ba độc bên trong là: tham lam, sân nhuế, ngu si.
Đại nguyện độ sanh của ngài còn nhằm thỏa mãn hai điều
mong cầu: cầu sanh con trai và cầu sanh con gái, thảy đều đầy đủ phước đức trí
huệ.
Trong sự nghiệp độ sanh thiên sai vạn biệt, Ngài sử dụng
nhiều phương tiện, hóa hiện nhiều thân, qua lại dạo khắp các phương sở. Vì vậy
trong kinh có câu: "Ngài dạo khắp ta bà, Ngài nói pháp cho chúng sanh, Ngài sử
dụng nhiều phương tiện". Phương tiện Ngài dùng nhiều không thể kể xiết. Song
trong vô số phương tiện đại thiện xảo có ba mươi hai ứng thân và mười chín cách
thuyết pháp. Kinh điển mệnh danh các phương tiện ấy là: "tam thập nhị ứng" và
"thập cửu chủng thuyết pháp".
Lược tóm lại là oai lực của Ngài nổi bật nhất trong việc
giải cứu bảy nạn, tiêu trừ ba độc, thỏa mãn hai cầu mong, ứng hóa ba mươi hai
thân tướng và sử dụng mười chín lối thuyết pháp. Cố nhiên đó chỉ là nêu các điểm
chính yếu trong công việc hóa độ của Ngài. Sự thật thệ nguyện của Ngài còn bao
gồm nhiều khía cạnh khác nữa.
Mục đích duy nhất của Ngài: cứu độ chúng sanh bằng bất cứ
phương tiện nào. Động cơ duy nhất của việc cứu độ: Một thể bi tâm tròn đầy rộng
lớn.
Sau phẩm Phổ môn, chúng tôi xin cung lục một số sự tích
nói về hóa thân của Ngài để tín đồ, tùy từng căn cơ và hoàn cảnh riêng mà
"thường nguyện thường chiêm ngưỡng".
NAM MÔ ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT.
Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật (ba lần).
Chánh pháp cao siêu lý nhiệm mầu,
Trăm ngàn vạn kiếp dễ tìm đâu!
Phước duyên nay gặp xin trì tụng
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa lý sâu.
Bể cả triều dâng tiếng Phổ môn,
Chín tầng sen ngát hiện đồng chơn
Cam lồ giọt nước cành dương rải
Nhuần thấm sơn hà cảnh sắc xuân.
Nam mô Đại bi Quán thế âm Bồ tát (ba lần).
|