PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ
LỜI NÓI ĐẦU
Giáo pháp của đức Bổn Sư hiện được lưu truyền khắp thế
giới gồm có nhiều Pháp môn. Ở nước Việt Nam ta pháp môn phổ biến nhất là pháp
môn Tịnh độ. Pháp môn này cơ hồ như lấn át luôn cả pháp môn Thuyền tông là pháp
môn chính truyền từ phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi cho đến Tổ Thiệt Diệu Liễu Quán.
Hiện nay, trong từ các Đại đức Tăng Ni, ngoài đến Tín đồ
Hội viên các hội Phật giáo Cư sĩ, không ai là không thực hành Pháp môn này. Thậm
chí các đơn vị Phật giáo ở cấp xã, thôn tại Trung Việt đều lấy hai chữ Tịnh độ
gọi tên chung cho đơn vị.
Nhận thấy nơi nơi đều thực hành Pháp môn Tịnh độ, để cho
ý nghĩa và phương pháp hành trì Pháp môn này được thêm sâu rộng và để góp phần
công đức thêm cao dày, tôi phỏng theo quyển Tịnh Pháp Khái Thuật soạn ra sách
này hầu mong giúp quý Phật tử sơ cơ hiểu rõ thêm cái pháp môn vi diệu mà mình
đang thực hành.
Sách này gồm tóm yếu nghĩa ba bộ kinh: Thập lục quán,
Quán vô lượng thọ, Phật thuyết A Di Đà do chính kim ngôn Đức Thích Tôn dạy ra,
và một bộ luận là luận Vãng sanh do Ngài Bồ tát Vô Trước soạn. Về đời nhà Tùy,
có ngài Lô Sơn tức Tổ sư Huệ Viễn dựa vào ba kinh và luận nói trên mà sáng lập
tôn Tịnh độ. Từ bấy giờ tôn này không ngớt bành trướng và lan khắp các nước Phật
giáo ở miền Đông Á.
Vậy trong tòa nhà Tịnh độ mà quý Phật tử hiện đang kiến
tạo, họa đồ là của Đức Bổn Sư, gạch ngói và công xây là của quý Phật tử, tôi chỉ
xin nguyện góp thêm vào đó một chút ít đường mật cho vôi gạch chóng ăn nhau hầu
mong tòa nhà sớm thành tựu.
Có đạt được sở nguyện cỏn con ấy không là tùy lượng quý
Phật tử hưởng ứng nhiều hay ít. Riêng soạn giả thì tự cho là đã làm xong một
việc đáng làm.
Soạn giả Cẩn Chí
THÍCH TRÍ THỦ, 1961
CHƯƠNG I
Ý NGHĨA TỊNH ĐỘ
A- SAO GỌI LÀ TỊNH ĐỘ ?
Tịnh độ là chỉ cho quốc độ trang nghiêm thanh tịnh
khiết an tịnh quốc, độ ấy tối thiểu phải có những điều kiện về nhân dân và thổ
địa như sau:
a) Về nhân dân (Chánh báo)
1) An lạc vô bệnh.
2) Thọ mạng lâu dài.
3) Thân tướng đẹp đẽ.
4) Không có sự bất bình đẳng về giàu nghèo, sang hèn.
5) Tâm tánh nhu hòa, đạo đức cao thượng.
6) Đạo tâm kiên cố.
7) Mọi người đều do hóa sanh mà có, không do thai sanh là
kết quả của dâm dục ô trược.
8) Không có sự sai khác về nhỏ lớn, già trẻ, mạnh yếu.
9) Không dơ bẩn ô uế.
10) Tâm trí phóng thoáng, thông đạt.
11) Hết luân hồi trong lục đạo.
12) Đủ sáu món thần thông.
13) Đầy đủ huệ nhãn, chánh kiến.
Mười ba món trang nghiêm thanh tịnh trên đây thuộc phần
chúng sanh thế gian (chánh báo).
b) Về thổ địa (y báo)
1) Đất đai bằng phẳng đầy châu ngọc trong suốt; không có
khe hố núi gò lởm chởm và ao rãnh sông ngòi hủng hê.
2) Không có các nạn thiên tai như lụt bão, sấm sét, đại
hạn, địa chấn, gây ra mất mùa đói rét.
3) Bầu trời luôn luôn quang đãng, không cần ánh sáng mặt
trời mặt trăng hay đèn nến.
4) Tất cả vật dụng luôn luôn mới mẻ, không vỡ, không hư,
không mục nát, không cũ nhớp.
5) Phong cảnh xinh tươi, cây hoa đẹp đẽ lầu gác mỹ lệ,
không cần nhọc công kiến trúc trang hoàng mà tự nhiên hiện thành.
6) Khí trời luôn luôn mát mẻ.
7) Âm nhạc nhiệm màu hòa tấu tự nhiên hay ngưng dứt tùy
theo sở thích người nghe.
8) Không có động vật nào khác, ngoài loài người, trừ sự
biến hóa của Phật.
9) Hồ nước trong thơm ngọt ngào; cạn sâu ấm mát tùy từng
sở thích.
10) Cảnh vật tiếp xúc gây được khoái cảm nhẹ nhàng mà
không làm chao động đạo niệm.
11) Bảy báu và vật dụng tự nhiên thành tựu để cung ứng
đầy đủ mà không cần đến sức người.
12) Không có các sự trần lao phiền não.
13) Không có nạn nhân mãn, mặc dù dân số vãng sanh mỗi
ngày mỗi tăng.
14) Nhân dân sống trong thái bình an lạc, không có tà ma
ngoại đạo bức hiếp.
Mười bốn món trang nghiêm thanh tịnh thứ hai này thuộc
phần "Khí thế gian" (y báo).
Có đầy đủ cả hai phần "chúng sanh thế gian" và "khí thế
gian" trang nghiêm thanh tịnh như thế mới được gọi là Tịnh độ.
B- CÁC CÕI TỊNH ĐỘ TRONG MƯỜI PHƯƠNG
Trong mười phương hư không có vô lượng vô số quốc độ với
những trạng huống khổ vui ngàn sai muôn khác. Nguyên nhân thành tựu các quốc độ
sai khác ấy tuyệt đối không do một sức thần thánh nào hoặc một sự ngẫu nhiên nào
tạo thành.
Quốc độ tuy nhiều, nhưng khái quát có thể chia thành hai
loại:
1) Quốc độ do cộng nghiệp của chúng sanh duyên khởi. Cộng
nghiệp ấy cảm thành quốc độ y báo chung, để chúng sanh tùy từng biệt nghiệp
thiện hay ác mà thọ quả báo hoặc vui hoặc khổ.
2) Quốc độ do Phật và Bồ tát hóa hiện để dùng làm chốn
đạo tràng độ sanh.
Loại trước gọi là uế độ. Vì nguyên nhân trong quá khứ,
chúng sanh làm điều phước đức ít, mà gây điều tội ác nhiều nên cảm báo thành
quốc độ vui ít khổ nhiều.
Loại sau gọi là Tịnh độ. Vì nguyên nhân tạo nên quốc độ
này là do sức phước huệ của Chư Phật Bồ tát, sức gia trì của bốn tâm vô lượng:
Từ, bi, hỷ, xả. Thêm vào các nguyên nhân ấy lại có tăng thượng duyên là công đức
tu tập của chúng sanh hồi hướng nguyện sanh về các cõi ấy. có sự cảm ứng đạo
giao giữa nội nhơn và ngoại duyên ấy liên hệ với nhau nên mới duyên khởi được
quốc độ trang nghiêm thanh tịnh thuần vui không có khổ nhơn tội báo xen vào.
Trong mười phương thế giới có vô số uế độ nhưng cũng có
vô số Tịnh độ. Trong các uế độ, thế giới Ta bà của chúng ta mới chỉ là một. Nếu
ta tưởng rằng chỉ có một uế độ này thôi thì đó là một sự đại lầm lẫn. Cũng như
trong các Tịnh độ, thế giới Cực lạc của Đức A Di Đà cũng mới chỉ là một. Nếu
không hiểu rằng giữa hư không vô tận còn có vô lượng Tịnh độ khác của Chư Phật,
đó lại cũng là một sự đại lầm lẫn khác nữa.
Trong ba bộ kinh nói về Tịnh độ sở dĩ Đức Phật chỉ chuyên
nói về thế giới Cực lạc là chỉ vì một lý do sẽ nói ở sau. Ngoài ra, trong kinh
"Dược sư lưu ly bản nguyện công đức." Ngài còn nói đến cõi Tịnh độ Tịnh lưu ly
của Đức Dược sư Như Lai; trong kinh "Đại Bửu tích Ngài còn nói đến cõi Tịnh độ
Diệu hỷ của Đức Bất Động Như Lai; hay trong kinh "Di Lặc thượng sanh" Ngài còn
nói đến cõi Tịnh độ Đâu Suất của Đức Di Lặc Bồ tát. Tuy nhiên, đó cũng chỉ mới
sơ lược kể qua vài ba cõi mà thôi. Kỳ thật, trong mười phương thế giới có hằng
hà sa số chư Phật thì cũng có hằng hà sa số cõi Tịnh độ. Những chúng sanh nào
được sanh về các Tịnh độ ấy đều do nhơn duyên riêng và tại mỗi cõi đều có phương
pháp tu hành khác nhau, phù hợp với từng nhơn duyên. Tu hành y theo phương pháp
nào thì đến khi thuần thục sẽ được vãng sanh về cõi Tịnh độ đó. Phương pháp tu
hành cầu quả vãng sanh Tịnh độ thì gọi là phép tu Tịnh độ.
Các cõi Tịnh độ trong mười phương có nhiều vô lượng mà
pháp tu cũng có nhiều vô số. Vậy ai theo phương pháp của cõi nào cũng đều có thể
tùy nguyện được vãng sanh ở cõi ấy.
Ở đây riêng đối với thế giới Cực lạc Tây phương, Đức Phật
đặc biệt tán thán và giới thiệu một cách tường tận hơn cả là vì chúng sanh ở cõi
này, lòng tham dục quá nặng, đức tin quá yếu nên tâm chí loạn động; trong tình
trạng đó, nếu giới thiệu nhiều cõi Tịnh độ quá thì sợ khó thành tựu, Cho nên,
chỉ đặc biệt nói nhiều về một cõi Tây phương Cực lạc, khiến nghe chuyên nhất tập
trung ý chí hướng về một mối, mới ghi nhớ dễ dàng và thâu hoạch có hiệu quả.
C- CÁC LOẠI TỊNH ĐỘ SAI KHÁC
Tịnh độ hay uế độ tuy hình như thuộc ngoại cảnh nhưng
sự thật thì đều do nhứt tâm biến hiện. Chư Phật khi lấy diệu dụng của tịnh thức
biến hiện ra Tịnh độ, vì tác dụng có sai khác nên danh nghĩa Tịnh độ cũng tùy đó
mà có sai khác.
Căn cứ vào Tây phương Hiệp luận đã chép thì Tịnh độ có 10
loại không đồng nhau.
1) TỶ LÔ GIÁ NA TỊNH ĐỘ
Tỷ lô giá na tức là pháp thân của Chư Phật, Hán dịch là
biến nhứt thế xứ (nghĩa là cùng khắp nơi chốn). Cõi Tịnh độ này bất luận ở đâu
cũng hóa hiện được, vì ở đâu cũng có vô lượng hóa Phật. Đây cũng tức là báo độ
của chư Phật.
2) DUY TÂM TỊNH ĐỘ
Loại Tịnh độ này tùy tâm biến hiện. Tâm uế thì quốc độ
uế, tâm tịnh thì quốc độ tịnh. Như trong kinh Duy Ma Cật dạy: "Trực tâm là Tịnh
độ của Bồ tát; khi Bồ tát thành Phật những chúng sanh trung trực đều vãng sanh
về cõi ấy ... Nếu Bồ tát muốn được quả Tịnh độ phải tịnh lòng mình; tùy lòng
mình tịnh thì cõi Phật tịnh."
Đó là nghĩa của Duy tâm Tịnh độ.
3) HẰNG CHƠN TỊNH ĐỘ
Hằng chơn Tịnh độ tức như cảnh giới mà Đức Phật đã thị
hiện trên hội Linh Sơn để hướng dẫn hàng tam thừa quyền giáo Bồ tát, cho họ biết
rằng ở cõi này tuy ô uế nhưng cũng chính đó là cõi thanh tịnh vậy. Trong kinh
chép rằng trên hội Linh Sơn, các đệ tử hỏi Phật vì sao cảnh giới của Ngài hiện
đương sống lúc bấy giờ (núi Linh Thứu) lại cũng ô uế bất tịnh, thế thì nhơn địa
tu hành của Ngài cũng bất tịnh chăng? Phật liền lấy ngón chân ấn xuống đất, cảnh
uế độ liền biến thành trang nghiêm thanh tịnh.
Như vậy cảnh hằng chơn Tịnh độ này là một cảnh hằng
thường, nhưng biến hiện tùy theo nghiệp nhơn của chúng sanh mà thấy có tịnh hay
có uế.
4) BIẾN HIỆN TỊNH ĐỘ
Biến hiện Tịnh độ là do sức gia cảm của Phật mà có biến
hiện. Như trong kinh bát nhã nói đức Phật dùng thần lực biến thế giới này thành
một thế giới như ngọc lưu ly, có đủ bảy báu trang nghiêm và hoa sen rải khắp mặt
đất. Cảnh giới ấy tức là cảnh giới mà Đức Phật tạm thời biến hiện để cho chúng
ta thấy rằng bản lai diện mục của uế độ tức cũng chính là Tịnh độ vậy.
5) KÝ BÁO TỊNH ĐỘ
Luận Khởi Tín chép rằng: "Khi Bồ tát hoàn mãn công đức,
sanh lên cung trời Sắc Cứu Kính thì hiện ra thân tướng rất cao lớn. Trước khi bổ
xứ kế vị thành Phật, Bồ tát tạm ký thác báo thân ở đó một thời gian, nên gọi
cung trời ấy là ký báo Tịnh độ", như cung trời Đâu Suất của đức Bồ tát Di Lặc
hiện an trú trước khi sẽ bổ xứ thành Phật.
6) PHÂN THÂN TỊNH ĐỘ
Theo kinh Niết Bàn, Phật bảo Ương Quật rằng: "Ngươi không
biết rằng ta đã an trú trong thực tại vô sanh. Nếu ngươi không tin, cứ qua Đông
phương hỏi Đức Phật ở đấy tên gì thì sẽ nghe Ngài tự giới thiệu: "Thích Ca là
ta"!
Không có gì đáng ngạc nhiên cả, vì nên biết rằng pháp
thân của Phật đã an trú trong thực tại vô sanh thì đức Phật ở Đông phương hay ở
cùng khắp mười phương đều cũng chỉ là phân thân của một đức Phật mà thôi vậy.
7) Y THA TỊNH ĐỘ
Kinh Phạm Võng: "Nay ta là Lô Xá Na ngồi trên đài sen gồm
có ngàn hoa. Trên ngàn hoa ấy lại thị hiện ngàn thân Thích Ca. Mỗi hoa lại biến
thành trăm ức cõi Phật và trong mỗi cõi lại hiện ra một thích Ca."
Các cõi được thị hiện như vậy gọi là báo thân tha thọ
dụng (hiện báo thân cho người khác thọ dụng) mà chỉ có Đăng địa Bồ tát mới
trông thấy. (Đăng địa nghĩa là đã lên từ nhứt địa tới thập địa).
8) THẬP PHƯƠNG TỊNH ĐỘ
Thập phương Tịnh độ là các cõi Tịnh độ trong mười phương.
Như ở Đông phương thì có các cõi Tịnh độ của đức Phật A súc, đức Phật Dược sư,
đức Phật Tu Di Đăng Vương ... Nam phương có cõi Tịnh độ của đức Phật Nhật Nguyệt
Đáng ..., Thượng phương có cõi Tịnh độ của đức Phật Hương tích v.v...
Mỗi đức Phật đều an trú tại một cõi Tịnh độ thanh tịnh
trang nghiêm không còn có trần cấu.
9) NHỨT TÂM TỊNH ĐỘ
Loại Tịnh độ này nương nơi tâm mà biến hiện và tùy theo
công năng tu chứng cao thấp nên có phân ra bốn bực không đồng.
a) Phàm Thánh đồng cư Tịnh độ
Đây là quốc độ của hàng nhị thừa và nhơn thiên. Nhị thừa
là Thánh; nhơn thiên là phàm. Thánh phàm cùng ở chung nên gọi là Phàm Thánh đồng
cư, lại vì tính chất tịnh uế không đồng mà có chia thành hai thứ. Như cõi Ta bà
là đồng cư uế độ; cõi Cực lực là đồng cư Tịnh độ.
b) Phương tiện hữu dư Tịnh độ
Đây là cảnh giới an trú của hàng tiểu thừa. Hàng tiểu
thừa nhờ đoạn được phiền não của kiến hoặc và tư hoặc nên thoát ra khỏi tam
giới. Kiến hoặc là sự mê lầm về kiến thức, tư hoặc là sự mê lầm về tư tưởng.
Trên con đường tu chứng, đoạn trừ kiến hoặc và tư hoặc chỉ là mới đạt được
phương tiện chứ chưa đạt được cứu cánh. Còn cần phải tiến lên nữa và phải đoạn
hai món mê lầm là trần sa hoặc (mê lầm nhỏ như cát bụi) và vô minh hoặc (mê lầm
căn bản) mới thật gọi là chứng quả. Trần sa hoặc là sự mê lầm nhỏ nhặt như vi
trần; vô minh hoặc là sự mê lầm cội gốc do căn bản vô minh gây nên. Đoạn kiến
hoặc và tư hoặc chỉ là mới đạt được phương tiện, nên hành giả còn phải tu tiến
thêm nữa; vì vậy gọi là phương tiện hữu dư. Hữu dư nghĩa là còn sót, chưa tốt
ráo.
c) Thật báo vô chướng ngại Tịnh độ
Đây là cảnh giới an trú của các vị đại Bồ tát. Các vị đại
Bồ tát nương theo phương pháp chơn thật mà tu hành cảm được quả báo thù thắng
chơn thật; sắc giới (vật chất) cũng như tâm giới (tinh thần) không còn gây
chướng ngại đối với Bồ tát nên gọi là thật báo vô chướng ngại. Cảnh giới của các
vị Bồ tát đã tu chứng.
d) Thường tịch quang Tịnh độ
Đây cũng tức là cảnh giới đại Niết bàn của Chư Phật an
trú. Thể tánh của cảnh giới này thường vắng lặng mà vẫn thường quang minh vì do
trí huệ của Phật hằng thường tỏa chiếu cùng khắp. Vì thế nên gọi là thường tịch
quang độ. Thường tịch nghĩa là thường vắng lặng, thường quang nghĩa là thường
soi sáng.
10) BẤT KHẢ TƯ NGHÌ TỊNH ĐỘ
Bất khả tư nghì Tịnh độ tức là cảnh giới Cực lạc của đức
Phật A Di Đà để thâu nhiếp, tiếp nhận chúng sanh trong mười phương. Sức thâu
nhiếp ấy không thể nghĩ bàn, vì ngoài sức tư tưởng và luận bàn của chúng sanh.
Đây là chỉ đứng về nghĩa thù thắng của cảnh giới Cực lạc
mà nói, chứ sự thật thì tất cả các cõi Tịnh độ trong mười phương đều có công
năng thâu nhiếp tiếp nhận và đều có tác dụng bất khả tư nghì như thế.
Tóm lại, 10 cảnh Tịnh độ trên này tuy có sai khác về
danh từ, nhưng cùng đồng nhất tâm biến hiện, vì cõi Tịnh độ nào cũng đều lấy sự
thâu tiếp nhận chúng sanh bất khả tư nghì làm căn bản, Cho nên, nói một cõi tức
gồm đủ cả bốn cõi: đồng cư, phương tiện, thật báo và tịch quang. Sự lập danh sai
khác chẳng qua là tùy theo mỗi phương tiện mà thôi.
Ở đây chỉ riêng chú trọng về cõi Tịnh độ Cực lạc của đức
Phật A Di Đà là vì cõi ấy rất có quan hệ mật thiết với chúng ta, như Đức Thích
Ca đã dạy.
Vì vậy cõi Cực lạc Tịnh độ là mục tiêu chính để cho chúng
ta tập trung tất cả lực lượng tư tưởng vào đó. Nếu thật chứng được một cõi Tịnh
độ ấy thì bao nhiêu cõi Tịnh độ khác cũng đều chứng được.
CHƯƠNG II
PHẠM VI CÕI CỰC LẠC ( )
TIẾT MỘT: Y BÁO VÀ CHÁNH BÁO TRANG NGHIÊM
Kinh Vô lượng thọ chép rằng: Đức Phật A Di Đà khi đương
còn làm Tỳ kheo, tên là Pháp Tạng. Tỳ kheo Pháp Tạng nhắm mục đích trang nghiêm
cõi Tịnh độ để dễ giáo hóa các loài hữu tình, nên đã từng xin với Đức Phật Thế
Tự Tại dạy cho biết tướng trạng (hình thức) vào nội dung 210 ức quốc độ của Chư
Phật. Nghe xong, Ngài lại yêu cầu biến hiện cho thấy để y cứ vào đó mà tham khảo
làm ấn tượng trong khi tu hành.
Sau khi thấy nghe tường tận bao nhiêu cảnh giới quốc độ
của Chư Phật, Tỳ kheo Pháp Tạng mới bắt đầu vận hết tinh thần tu nhơn "tạo quốc
độ." Trải 5 kiếp tư duy nhiếp thủ. Ngài mới thành tựu thế giới Cực lạc.
Xét kỹ về mặt kiến lập, các thế giới trong mười phương
đều do cộng nghiệp của chúng sanh tạo thành và đều chỉ do thức biến hiện. Trong
sự tạo tác biến hiện, tất cả đều nương vào nhơn duyên, gá mướn nhau mà sanh
khởi, Cảnh giới biến hiện bên ngoài in tuồng như có, nhưng sự thật thì chỉ do
nội thức biến chuyển, nghĩa là đều quy về nhứt tâm cả. Ở đây, chư Phật là những
bậc đã tịnh hóa được tâm thức, dùng tâm thức thanh tịnh ấy mà biến hiện thì tạo
thành Tịnh độ. Nếu chúng sanh nhứt tâm niệm Phật tức là gieo chánh niệm vào tịnh
thức của Phật, như đổ một chậu nước vào biển cả. Nước chậu dung hòa với nước
biển, cùng chung một hương vị. Cũng thế, khi chúng sanh đã sanh vào quốc độ của
chư Phật, y báo và chánh báo của chúng sanh cũng trở thành trang nghiêm như Phật
và cũng sẽ được dung thông vô tận vậy.
Bây giờ, chúng ta thử tìm hiểu vì sao Ngài Tỳ kheo Pháp
tạng phải trải qua năm kiếp tư duy nhiếp thủ mới hoàn thành được cảnh giới Cực
lạc. Ta hãy cử một thí dụ cho rõ nghĩa: thí dụ về cách tạo nhơn để thành tựu một
cây bửu thọ.
Ngài Pháp Tạng tỳ kheo trong lúc tu quán, tập trung tư
tưởng vào một khoảng hư không. Trong khoảng hư không ấy vốn không có gì hết,
nhưng Ngài tưởng tượng ra một cây bửu thọ gốc vàng, cành bạc, nhánh lưu ly, chồi
thủy tinh, lá san hô, hoa mã não, trái xa cừ. Sự tưởng tượng như thế gọi là tư
duy. Khi tư duy đã thuần thục, cây bửu thọ đã hoàn thành, Ngài nắm giữ lấy tư
tưởng ấy không phóng xả; cây bửu thọ ấy cũng sẽ do đó mà vĩnh viễn tồn tại!
Bấy giờ Ngài mới mong ý muốn cho cây bửu thọ "chết" ấy
thoát khỏi trạng thái tỉnh để trở nên sống động: Muốn nó nở hoa kết quả, nó liền
nở hoa kết quả; muốn nó phát ra thanh âm, nó liền phát ra thanh âm v.v... Cứ y
như thế mà hành trì thì gọi là nhiếp thủ nghĩa là thu hoạch và giữ lấy.
Đối với cây bửu thọ kia, chỉ có Phật nhãn mới biết cây
bửu thọ nó là hư huyễn không thật, kỳ dư chúng sanh trong chín cảnh giới khác,
kể từ địa ngục sắp lên và Bồ tát sắp xuống, hết thảy đều thấy cây bửu thọ là
thật có. Chúng sanh dùng mắt mà trông thì nó có sắc thật; dùng tai mà nghe thì
nó có tiếng thật; dùng mũi mà ngửi thì nó có mùi thật; dùng lưỡi mà nếm thì nó
có vị thật; dùng thân mà sờ thì nó có chất thật; dùng ý mà suy nghĩ thì nó có
hình dáng thật. Sở dĩ có các cảm giác như thật ấy vì sự cấu tạo cây bửu thọ đã
hoàn thành rồi.
Lấy sự tạo thành của một cây bửu thọ đơn cử ra đây, chẳng
qua là để làm thí dụ cho ta hiểu rằng sự hoàn thành cả cõi Tịnh độ đòi hỏi công
phu và thời gian lâu dài đến bực nào. Ở thế giới Cực lạc không riêng gì một cây
này mà tất cả sự vật, hình hình sắc sắc ngàn sai muôn khác, thảy đều có một
nguồn gốc tạo thành giống như thế cả.
Còn lý do khiến Ngài pháp Tạng Tỳ kheo phát tâm tu tập tư
duy nhiếp thủ để tạo thành cảnh giới Tịnh độ là cốt nhằm xây dựng một chốn đạo
tràng thanh tịnh trang nghiêm để tiếp độ chúng sanh. Ngài đã vận hết tinh thần
trải qua năm đại kiếp mới thành tựu xong. Đến nay, thế giới Cực lạc là nơi quy
túc ( ) của chúng ta về sau. Sanh về đó là nấc thang thoát ly sanh tử luân hồi
để cho chúng ta bước lên đường cứu kính giải thoát. Vậy xem đó, chúng ta có thể
ý niệm được lòng từ bi vô hạn của đức Phật A Di Đà đối với chúng sanh là nhường
nào vậy.
Phật học chia quả báo làm hai loại: quả báo hiện trong tự
thân là chánh báo: quả báo hiện ngoài tự thân, như hoàn cảnh, quốc độ và tất cả
sự vật chung quanh, là y báo.
Sự tôn nghiêm của y báo và chánh báo ở cõi Cực lạc đại
khái đều có chép trong ba bộ kinh dạy về pháp môn Tịnh độ ( ) Nhưng trong ba bộ
kinh ấy cũng chỉ mới giải bày một cách khái quát mà thôi, và những điều của ba
bộ kinh ấy trình bày chẳng qua cũng chỉ như một giọt nước so với bể cả mênh
mông! Nếu nói cho rõ ràng đầy đủ, tưởng e cùng kiếp mãn đời cũng không bao giờ
nói hết được.
Tuy không tài nào diễn tả được hết, nhưng đại phàm "trăm
nghe không bằng một thấy", người tu hành nếu kiên cố nhất tàm niệm Phật, trong
tương lai được vãng sanh Tịnh độ rồi, khi tự thân mình đã an trú trong cảnh giới
đó, tất nhiên tự mình trông thấy rõ ràng khỏi cần ai thuyết giáo nhiều lời.
Trong khi chờ đợi một sự thân chứng đích xác hơn, bây giờ
ta hãy tạm y cứ vào kinh điển để biết một cách khái lược về trạng thái trang
nghiêm của thế giới Cực lạc.
a) Chánh báo trang nghiêm ( )
Chánh báo trang nghiêm gồm có các chi tiết lược kê như
sau:
1) Thân tướng trang nghiêm. Nhân dân trong cõi Tịnh độ,
thân toàn sắc vàng, có đủ 32 tướng tốt, hình mạo giống nhau, không kẻ đẹp người
xấu, dung sắc vi diệu, cao lớn khôi ngô, vô cùng xinh đẹp.
2) Thọ mạng vô hạn. Sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ
kiếp (a tăng kỳ = vô số), tự chủ hoàn toàn, tùy theo bản nguyện.
3) Có phép thần thông. Từ thiên nhãn thông (thấy suốt tất
cả) đến thiên nhĩ thông (nghe suốt tất cả), tha tâm thông (biết suốt tâm niệm kẻ
khác), túc mạng thông (biết rõ kiếp trước), thần túc thông (đi lại tự tại); nếu
chứng được quả vị A la hán thì còn được thêm lậu tận thông (dứt sạch nghiệp luân
hồi)
4) Thường an trú chánh định. Tâm trí luôn luôn an định,
không bị hoàn cảnh chi phối tán động.
5) Không còn đọa ác đạo. Đã sanh Tịnh độ thì không bao
giờ còn bị sa đọa vào ba đường dữ tại: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
6) Hoa sen hóa sanh. Nhân dân ở Tịnh độ đều hóa sanh từ
hoa sen mọc trong hồ bảy báu; tuyệt nhiên không do ái dục giữa nam nữ mà thành.
7) An vui thanh tịnh. Thân tâm được an lạc như các vị Tỳ
kheo đã chứng quả A la hán (lậu tận thông).
8) Không còn có tên bất thiện. Ở cõi Tịnh độ không còn có
gì được gọi là bất thiện; danh từ bất thiện cũng không có, huống nữa là sự thật
bất thiện.
9) Đạo tâm bất thoái. Được sanh về cõi Tịnh độ, tâm niệm
luôn luôn dũng mãnh tinh tấn, một mạch thẳng tiến đến đạo quả vô thượng Bồ đề,
không còn thoái chuyển.
10) Trí huệ biện tài. Đọc tụng kinh văn thọ trì giáo pháp
một cách tinh tế và có đủ tài biện luận vô ngại.
11) Được vô sanh nhẫn. Chứng quả vô sanh pháp nhẫn tức là
phá trừ hết ngã chấp và pháp chấp, đạt được chơn trí, và chơn trí ấy xứng hợp
với chơn lý; lý và trí không hai.
12) Oai lực tự tại. Có đủ năng lực lớn lao và thần thông
tự tại như các bậc Thanh văn và Bồ tát đủ năng lực nắm tất cả thế giới vào trong
lòng bàn tay.
13) Thân sáng chói lọi. Hàng Thanh vân thân thì chiếu
sáng được một tầm; hàng Bồ tát thì thân chiếu sáng được từ một trăm do tuần cho
đến tam thiên đại thiên thế giới.
14) Vô số Thanh văn. Trong hội đầu tiên của Đức Phật A Di
Đà đã giáo hóa, số chúng sanh chứng quả Thanh văn không thể kể xiết. Số Bồ tát
cũng vậy. Về số lượng Thanh văn và Bồ tát chứng quả này. Đức Thích Ca đã bảo cho
Ngài A Nan hay rằng: "Có sức thần như Mục Kiều Liên và dùng sức thần thông ấy
trải qua trăm ngàn muôn ức vô số kiếp, cũng không thể biết được số lượng Thanh
văn Bồ tát chứng quả trong đại hội đầu tiên của Đức A Di Đà giáo hóa; dù cho có
biết được một phần nào mà nếu đem so với số chưa biết được thì cũng không khác
nào một giọt nước so với biển cả."
15) Vô số bổ xứ Bồ tát. Ở quốc độ Cực lạc, chúng sanh đều
bất thoái chuyển; trong số bất thoái chuyển đó, số người sẽ bổ xứ "bổ xứ = sắp
thành Phật" không thể đếm hết được.
b) Y báo trang nghiêm( )
Y báo trang nghiêm gồm có các chi tiết lược kê như sau:
1) Quốc độ bằng phẳng thanh tịnh: Toàn quốc không có bụi
nhơ, không có núi Tu Di và các núi non gò đống khác; cũng không có biển lớn biển
nhỏ mênh mông hoặc khe ngòi hang hố trập trùng.
2) Mặt đất do bảy báu tạo thành: Ở quốc độ Cực lạc, ngọc
lưu ly rải khắp mặt đất, xen lộn với bảy báu, trong suốt từ trong ra ngoài. Dưới
đáy đất có đế bằng vàng, kim cang và thất bảo chống đỡ đất lưu ly. Xung quanh
đế, trong tám phương có tám góc; mỗi góc khảm bằng thất bảo; mỗi thứ trong thất
bảo chiếu ra trăm ngàn ánh sáng có tám vạn bốn ngàn màu sắc chói sáng rực rỡ lên
mặt đất lưu ly có dây chuyền vàng bủa giăng, xen lộn với thất bảo, tạo thành
những ranh giới ngay thẳng phân minh, rộng rãi bao la, mênh mông bát ngát, tráng
lệ thanh kỳ, trang nghiêm tuyệt diệu!
3) Khí hậu ôn hòa: Khí hậu không lạnh không nóng, mát mẻ
quanh năm, không phân chia bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông.
4) Lưới báu bủa giăng: Vô lượng lưới báu giăng khắp cõi
Phật. Dây giăng toàn bằng vàng, kết tủa bằng ngọc trân châu, xen lẫn với trăm
ngàn thứ ngọc báu khác xinh đẹp lạ lùng. Chung quanh bốn phía lưới có treo các
linh báu sáng ngời chói lọi vô cùng tráng lệ. Mỗi khi gió dịu thổi qua, linh báu
phát ra vô lượng phát âm khiến chúng sanh ở đấy, hễ nghe tiếng linh thì tự nhiên
sanh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
5) Sáu thời mưa hoa: Ngày đêm chia sáu thời có gió dịu
phảng phất; đồng thời từ trên trời, hoa mạn đà la rơi xuống cùng khắp bờ cõi
thơm tho mát dịu. Mỗi lần mưa hoa, chân bước xuống lún bốn tấc, như đi trên nệm
gấm nhưng theo bước chân dở lên, lớp hoa lại hợp liền lại như cũ. Tuần tự trước
sau, hoa ấy héo dần rồi biến mất, mặt đất trở lại sạch sẽ. Ngày đêm có sáu lần
cảnh tượng ấy diễn đi diễn lại như thế.
6) Sen báu đầy dẫy: Các thứ hoa sen báu mọc lên cùng khắp
cả cõi Phật. Mỗi một hoa sen báu lại có trăm ngàn ức cạnh. Từ các cạnh, sức chói
sáng của hoa ánh ra vô lượng màu sắc. Sắc xanh phóng ra hào quang xanh; sắc
trắng phóng ra hào quang trắng; các sắc huyền, vàng, đỏ, tiá, mỗi mỗi đều phóng
một loại hào quang riêng vô cùng rực rỡ chói lọi, lấn áp cả ánh sáng mặt trăng
mặt trời.
7) Hóa Phật thuyết pháp: Từ mỗi hoa sen báu tuôn ra ba
mươi sáu trăm ngàn ức hào quang; trong mỗi hào quang hiện ra ba mươi sáu trăm
ngàn ức đức Phật, với thân vàng sáng chói, tướng tốt trang nghiêm mỗi một đức
Phật, lại phóng ra vô số hào quang chiếu sáng khắp mười phương và nói pháp nhiệm
mầu cho mười phương nghe.
8) Cây đạo tràng của Phật: Cây đạo tràng của Đức Phật A
Di Đà là do các báu hợp thành. Ngài lại dùng trân châu mã não trang sức thêm.
Chung quanh cây, trên các nhánh lớn cành con, các thứ chuỗi ngọc treo lõng
thõng, tỏa ra trăm ngàn vạn sắc tân kỳ. Trên cây đạo tràng, lưới báu xinh đẹp
bủa giăng; hết thảy đều trang nghiêm và tùy ý ứng hiện.
9) Cây báu phát âm thanh: Vô số cây báu mọc cùng khắp cõi
Tịnh độ. Có cây chỉ do một ngọc báu tạo thành; có cây do hai, ba cho đến bảy
loại ngọc báu xen lẫn nhau mà đúc lên. Các loại cây báu ấy mọc từng hàng ngang
nhau, trổ từng cành đối nhau, đâm từng nhánh so nhau lá lá hướng với nhau hoa
hoa giao với nhau, trái trái tương đương nhau, xanh tươi xinh đẹp không thể tả
xiết. Khi một làn gió nhẹ thoảng qua, từ cành từ lá, từ hoa, từ quả mỗi mỗi đều
phát ra năm thứ thanh âm hòa nhã như trăm ngàn điệu nhạc hòa tấu một cách tự
nhiên. Nhạc điệu du dương tuyệt diệu hơn gấp trăm ngàn muôn ức lần tiếng nhạc
của cung trời Lục dục và phát ra vô lượng thanh âm mầu nhiệm. Nghe tiếng nhạc ấy
rồi chúng sanh liền lần lượt chứng nhập giáo pháp sâu xa, tiến lên bậc bất
thoái, tiến mãi cho đến khi thành tựu quả Phật. Nghe tiếng nhạc ấy rồi thì tai
trở nên thanh tịnh không còn các khổ hoạn, mắt trông thấy được sắc cây, mũi ngửi
được hương cây, miệng nếm được vị cây, thân tiếp xúc được ánh sáng của cây tỏa
ra, ý suy nghĩ hình dáng của cây. Sáu căn đã lãnh hội được hoàn toàn cây báu rồi
thì liền đó ngộ được thậm thâm pháp nhẫn mà lên bậc bất thoái. Từ đó mãi cho đến
khi thành đạo quả, không còn có sự não hại và lực căn luôn luôn được thanh tịnh.
10) Muôn vật nghiêm lệ: Hết thảy muôn vật đều trang
nghiêm thanh tịnh, sáng suốt xinh đẹp. Hình sắc đặc biệt và lộng lẫy một cách vi
diệu, không thể tả xiết.
11) Không có ba đường dữ: Không có các khổ nạn của ba
cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh
12) Cung điện trang nghiêm: Hết thảy nhà cửa như giảng
đường tịnh xá, cung điện, lầu gác đều tự nhiên thành tựu và đều trang hoàng bằng
bảy thứ báu. Trên nhà cửa cung điện còn có giăng phủ một lớp mặt võng làm bằng
các thứ báu trân châu, ma ni, minh nguyệt. Lại nữa nhà cửa cao thấp, rộng hẹp,
lớn nhỏ và được xây cất bằng một, hoặc hai, hoặc vô lượng thứ báu, hết thảy đều
tùy sở nguyện mà liền có ứng hiện.
13) Quốc độ thanh tịnh: Quốc độ thanh tịnh trong suốt như
một thế giới pha lê, chiếu tỏa khắp mười phương, khiến từ đó có thể trông thấy
được vô lượng vô biên vô số thế giới của Chư Phật bất khả tư nghì.
14) Hồ tắm trong thơm: Nước trong các hồ tắm yên lặng
trong suốt, bản chất thanh tịnh mùi vị thơm tho như nước cam lồ và có đầy đủ tám
tính chất gọi là "bát công đức thủy." Nếu là hồ hoàng kim thì dưới đáy là cát
bạch ngân; nếu là hồ bạch ngân thì dưới đáy là cát vàng; nếu là hồ thủy tinh thì
dưới đáy là cát lưu ly; nếu là hồ lưu ly: thì dưới đáy là cát thủy tinh; nếu là
hồ san hô thì dưới đáy là cát hổ phách; nếu là hồ hổ phách thì dưới đáy là cát
san hô; nếu là hồ xa cừ thì dưới đáy là cát lưu ly; nếu là hồ lưu ly thì dưới
đáy là cát xa cừ; nếu là hồ bạch ngọc thì dưới đáy là cát vàng tiá; nếu là hồ
vàng tiá thì dưới đáy là cát bạch ngọc. Các nhóm báu ấy còn thay đổi tùy theo ý
người muốn: hoặc do hai thứ báu, hoặc do ba, bốn cho đến bảy thứ báu mà hợp
thành hồ.
15) Nước hồ lên xuống tùy nguyện: Nhân dân ở quốc độ Cực
lạc, một khi bước chân xuống hồ, mực nước lên xuống cao thấp đều tùy theo ý
nguyện. Cũng tùy theo ý nguyện mà nước hồ có ấm lạnh một cách tự nhiên. Tắm
xong, tinh thần thấy sảng khoái và tẩy trừ hết tâm cấu nhiễm. Mỗi khi bước xuống
tắm bốn phiá bờ hồ có tiếng sóng vỗ lao xao như một điệu nhạc, phát ra tiếng
niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng tiếng tịch tịnh xa vắng, tiếng vô ngã, tiếng đại
từ đại bi, tiếng ba la mật. Những tiếng phát ra như vậy rất xứng hợp với người
nghe và khiến người nghe sanh tâm hoan hỷ vô lượng
16) Hương xông ngào ngạt: Từ mặt đất lên đến hư không,
hết thảy cung điện, lầu gác hồ sen, cây hoa v..v... Cho đến tất cả vạn vật đều
xông ướp trong trăm ngàn thứ hương thơm, kết hợp do vô lượng tạp bảo đặc biệt.
Hương ấy tỏa khắp mười phương thế giới; Bồ tát ngửi thấy mùi hương liễu dũng
mãnh tu theo hạnh Phật.
17) Thức ăn tinh khiết: Thức ăn gồm các thứ hương hoa vô
cùng tinh khiết và thù thắng hơn ở cả cảnh trời. Khi muốn ăn, chén bát thất bảo
tự nhiên hiện ra với trăm thức ăn uống đầy đủ. Cách ăn không như ở cảnh giới
chúng ta, mà chỉ bằng tác ý và bằng mắt thấy tai nghe, tức thời tự nhiên bảo
mãn. Ăn xong, thức ăn tiêu hóa; đến giờ ăn sau, những thức ăn mới lại tự nhiên
hiện ra như trước.
18) Y phục tùy niệm: Y phục của nhân dân tùy niệm tùy
hiện, không cần may, cắt, giặt, nhuộm.
19) Chim biết thuyết pháp: Các thứ chim ở cõi này đều là
hóa thân của đức A Di Đà. Ngài biến hóa ra các thứ chim tạp sắc kỳ diệu như bạch
hạc, khổng tước, anh võ, xá lợi, ca lăng tầng già, cọng mạng, chim phù, chim
nhạn, chim oan ương v..v... ngày đêm sáu thời, kêu tiếng hòa nhã. Tiếng ấy giảng
giải pháp ngũ căn, ngũ lực, bảy phẩm bồ đề, tám pháp chánh đạo v..v... Khiến
người nghe đều phát tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
TIẾT HAI: 48 LỜI NGUYỆN
Như trong một đoạn trước đã nói. Đức Phật A Di Đà, trong
thời làm thầy Tỳ kheo, lấy pháp danh là Pháp Tạng. Pháp Tạng Tỳ kheo, sau khi đã
được nghe giảng về quốc độ thanh tịnh của Chư Phật, liền đến quỳ trước đức Phật
Thế Tự Tại Vương, phát 48 lời đại nguyện cứu độ chúng sanh. Bốn mươi tám lời đại
nguyện ấy có ghi chép trong kinh Quán Vô lượng Thọ. Tinh thần các lời thề nguyện
thật là bao la bát ngát. Ở đây chỉ riêng trích những lời có liên hệ mật thiết
với sự tu hành của chúng ta, hầu giúp chúng ta có sự quan cảm và sách lệ trên
bước đường tu tập. Một khi chúng ta đã rõ được phần nào ân đức rộng rãi bao la
của Phật, chúng ta há lại không nỗ lực tinh tấn để khỏi phụ lòng từ bi vô hạn
của Phật ư ?
Nguyện thứ nhất: Trong nước không có ba ác đạo.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác nếu khi
tôi thành Phật mà trong quốc độ còn có ba ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh."
Nguyện thứ 2: Người trong nước khi thọ chung không còn
đọa ba ác đạo
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật mà thiên nhơn trong quốc độ sau khi thọ chung còn đọa lạc ba
ác đạo."
Nguyện thứ 3: Người trong nước đều toàn sắc vàng.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật mà thiên nhơn trong quốc độ không được sắc vàng như chơn
kim."
Nguyện thứ 4: Người trong nước đều có hình tướng xinh đẹp
giống nhau.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật mà thiên nhơn trong quốc độ còn có hình tướng kẻ đẹp người
xấu không đồng."
Nguyện thứ 5: Người trong nước đều được túc mạng thông.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật mà nhân dân trong quốc độ không chứng được túc mạng thông,
không biết suốt trăm ngàn ức kiếp về trước."
Nguyện thứ 6: Người trong nước đều được thiên nhãn thông.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật mà nhân dân trong quốc độ không chứng được thiên nhãn thông,
không thấy suốt trăm ngàn muôn ức quốc độ Chư Phật trong 10 phương."
Nguyện thứ 7: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật mà thiên nhơn trong quốc độ không chứng được thiên nhĩ thông,
không nghe suốt trăm ngàn muôn ức lời thuyết pháp của chư Phật trong mười phương
và không thọ trì được tất cả lời thuyết pháp ấy."
Nguyện thứ 8: Người trong nước đều được tha tâm thông.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật mà thiên nhơn trong quốc độ không chứng được tha tâm thông,
không hiểu suốt tâm trí kẻ khác cùng là tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn
muôn ức quốc độ của chư Phật."
Nguyện thứ 9: Người trong nước đều được thần túc thông.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật mà nhân dân trong quốc độ không chứng được thần túc thông,
không bay khắp trăm ngàn muôn ức thế giới chư Phật trong khoảng một niệm."
Nguyện thứ 15: Người trong nước thọ mạng vô lượng và đều
tự tại trong sự sống chết
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật mà nhân dân trong quôc độ không được sống lâu vô lượng và
không được sống chết tự tại tùy theo bản nguyện riêng."
Nguyện thứ 18: Chúng sanh trong mười phương chỉ tu phép
thập niệm cũng đủ được vãng sanh.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật, có chúng sanh trong mười phương một lòng tin tưởng tôi, hằng
ngày niệm được 10 lần tên hiệu tôi để cầu vãng sanh Cực lạc mà đến khi lâm chung
chẳng đặng như nguyện."
Nguyện thứ 19: Chúng sanh trong mười phương phát nguyện
vãng sanh Cực lạc đều được tiếp đón.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật, có chúng sanh trong mười phương phát tâm bồ đề, tu hành các
món công đức, cầu được vãng sanh Cực lạc mà đến khi họ lâm chung, tôi và đại
chúng Bồ tát không phóng quang hiển hiện ra trước mắt để tiếp dẫn họ về nước Cực
lạc"
Nguyện thứ 20: Chúng sanh trong mười phương hồi hướng
công đức đều được vãng sanh Tịnh độ.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương, nghe đến danh hiệu tôi, tưởng
nghĩ đến quốc độ tôi, làm các việc công đức để hồi hướng nguyện vãng sanh về
nước Cực lạc mà không được như nguyện."
Nguyện thứ 21: Người trong nước đều có đủ 32 tướng tốt.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật mà nhân dân trong quốc độ không có đủ 32 tướng tốt của
trượng phu."
Nguyện thứ 27: Vạn vật trong nước đều trang nghiêm, thanh
tịnh, sáng suốt, đẹp đẽ vô lượng vô biên
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật mà tất cả vạn vật trong quốc độ, thân tướng không trang
nghiêm thanh tịnh, không sáng suốt đẹp đẽ và hình sắc không thù thắng đặc biệt,
không tinh vi huyền diệu. Giá có chúng sanh dù đã chứng được thiên nhãn đi nữa,
vẫn không thể biện biệt hết số lượng của vạn vật trang nghiêm ấy."
Nguyện thứ 31: Quốc độ thanh tịnh chiếu khắp các thế
giới.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật mà quốc độ không thanh tịnh không soi suốt mười phương vô
lượng vô số bất khả tư nghì thế giới chư Phật như gương sáng trông suốt mọi
vật."
Nguyện thứ 32: Tạp bảo cung điện ngào ngạt hương xông.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật mà cung điện, lầu gác, cây hoa, cũng như tất cả vạn vật trong
quốc độ không ngào ngạt trăm ngàn hương thơm do vô lượng tạp bảo chung cộng hợp
thành, xông ngát từ mặt đất lên đến hư không. Hương thơm ấy phải kỳ diệu hơn tất
cả hương trời, tỏa khắp mười phương thế giới và sẽ khiến Bồ tát ngửi thấy đều
dũng mãnh tu theo hạnh Phật."
Nguyện thứ 34: Chúng sanh trong mười phương nghe được
danh tự Phật đều chứng được vô sanh pháp nhẫn.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác nếu khi
tôi thành Phật, mà các loại chúng sanh trong mười phương vô lượng bất khả tư
nghì thế giới của chư Phật nghe đến danh tự tôi, mà không chứng được vô sanh
pháp nhẫn của Bồ tát cùng là các phép tổng trì thâm diệu."
Nguyện thứ 35: Nữ chuyển thành Nam
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật, có những người nữ trong mười phương vô lượng bất khả tư nghì
thế giới chư Phật, chán ghét thân phụ nữ nghe đến hiệu tôi, phát tâm Bồ đề, hoan
hỷ tin tưởng, cầu xả bỏ thân phụ nữ mà đến lúc thọ chung vẫn không xả bỏ được
thân phụ nữ."
Nguyện thứ 38: Y phục của nhân dân tùy niệm liền hiện,
khỏi cần phải cắt may giặt nhuộm.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật mà nhân dân còn có người cần phải cắt may giặt nhuộm mới có
áo quần, chứ không được tùy niệm liền hiện như lời Phật tán thán: Diệu phục đúng
pháp, tự nhiên đắp lên trên mình."
Nguyện thứ 39: Người trong nước an lạc như hàng lậu tận.
Nguyện rằng: "Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác, nếu
khi tôi thành Phật mà nhân dân trong quốc độ không hưởng thọ an lạc như các hàng
lậu tận Tỳ kheo."
Hai mươi mốt lời nguyện trọng yếu trong số 48 đại nguyện
lược trích trên đây quan hệ mật thiết vô cùng đối với chúng ta. Hai mươi bảy lời
nguyện còn lại chỉ riêng liên quan với các hàng đại Bồ tát, nên đối với chúng ta
chưa phải là nhu cầu cần thiết. Vì vậy nên ở đây miễn nói đến. Ai muốn biết
tường tận xin hãy xem trong kinh Quán Vô Lượng Thọ.
Trong mỗi lời nguyện đều có câu "Thề quyết không thủ ngôi
Chánh giác." Xin lưu ý rằng đó là một điều quan trọng. Không thủ ngôi Chánh giác
tức là từ chối quả vị Phật, không chịu làm Phật để riêng an hưởng thường, lạc,
ngã, tịnh một mình, trong khi chúng sanh trong quốc độ còn đau khổ. Lời nguyện
vừa hợp tình, vừa xứng lý, vừa quảng đại bao la, thể hiện hoàn toàn được cả một
trời đại từ đại bi thăm thẳm, khó thể nghĩ bàn.
Trong kinh "Phật thuyết A Di Đà", đức Thích Ca dạy rằng:
Đức Phật A Di Đà thành Phật đã từ mười kiếp rồi và 48 lời đại nguyện của Ngài
đều đã được thực hiện hoàn toàn viên mãn. Nếu không như thế, Ngài quyết không
chịu thành Phật.
Đọc lại các lời đại nguyện của đức Phật A Di Đà trên đây,
ngay trong hàng tín đồ rất có thể có kẻ móng tâm bán tín bán nghi. Mà bán tin
bán nghi là lẽ thường tình, vì chính ngay đức Phật Thích Ca cũng đã tiên đoán
như vậy khi Ngài dạy rằng đây là một "nan tín chi pháp", khó thể nghĩ nghì.
Nhưng chúng ta hãy xét rằng người quân tử ở thế gian còn không bao giờ dám nói
sai lời, huống hồ là đức Phật, đấng đầy đủ phước đức trí huệ, muôn hạnh vẹn
toàn. Vì vậy, chúng ta phải thật lòng chí thành thâm tín. Có thâm tín mới quyết
nghi và chỉ khi nào quyết nghi được, thì muôn hạnh muôn đức mới phát sanh ra.
Kinh dạy: "Nghi tắc hoa bất khai" nghĩa là hễ còn ngờ vực thì hoa không nở. Dù
công hạnh nhiều đến đâu mà lòng thâm tín chưa kiên cố thiết tha thì rất khó có
kết quả.
Ta cũng nên lưu ý thêm rằng các đại nguyện trên đây đều
thuộc trách nhiệm riêng của Phật. Duy có ba điểm 18, 19 và 20 thì cả đôi bên,
Đức Phật và người tu cùng liên đới chịu trách nhiệm. Đại nguyện thứ 18 nói rằng
người tu hành dù chỉ đều đều xưng danh hiệu Ngài mười lần mỗi ngày (tu phép thập
niệm), cũng được vãng sanh. Nếu không được vãng sanh, ấy là trách nhiệm của
Ngài. Nhưng nếu ta không chí tâm tin tưởng và không giữ được phép thập niệm đều
đặn mỗi ngày thì đó là lỗi của ta. Hai đại nguyện 19 và 20 kế tiếp liền đó cũng
bao hàm cái ý liên đới trên trách nhiệm như thế cả.
Nếu chúng ta nhứt tâm tin tưởng, dũng mãnh thực hành ba
sự kiện: niệm danh hiệu, nguyện vãng sanh và hồi hướng tất cả công đức để cầu
sanh Tịnh độ, tức là chúng ta đã làm xong nhiệm vụ. Việc đáng làm, cần làm,
chúng ta đã làm. Kỳ dư bao nhiêu điều khác hoàn toàn do trách nhiệm của đức Phật
A Di Đà tất cả.
Nói tóm lại, pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh độ đặt
căn cứ trên hai yếu tố cơ bản: đức từ bi quảng đại của chư Phật và lòng ưa muốn
thiết tha của chúng sanh, trên dưới giao cảm nhau, nương tựa nhau mà có khai hoa
kết trái. Khi sự giao cảm tương duyên đã thấm thiết đậm đà đến mức không còn
ranh giới của giao cảm nữa tức nhiên trong nhơn tướng, quả thể đã hiện bày một
cách cụ thể. Đến lúc ấy, nhân cũng tức là quả, mà quả cũng tức là nhân. Hiện
tiền, kết quả đã có thể chứng nghiệm được, lo gì lúc lâm chung không vãng sanh
lạc quốc! Sự quan trọng chỉ cốt ở chỗ đức tin có vững không. Lòng tin đã thấm
thiết chưa và sự thực hành có thường xuyên và đúng đắn không ? Tất cả chánh yếu
của vấn đề là tại chỗ đó mà thôi.
Hơn nữa, pháp môn niệm Phật còn hàm súc một đạo lý rất vi
diệu thậm thâm và còn có nhiều tác dụng bất khả tư nghì, chứ không phải đơn giản
như người thường hay lầm tưởng. Chính đức Thích Ca đã than rằng đây là một pháp
"nan tín" mà đây cũng là một pháp có diệu dụng bất khả tư nghì nhất.
TIẾT BA: BA BẬC VÀ CHÍN PHẨM VÃNG SANH
Với pháp môn niệm Phật, bất luận là bậc Đại đức bác thông
tam tạng hay là hạng độn căn tối dạ một chữ không học, hễ cứ nhất tâm chuyên
niệm, dứt trừ được các mối nghi thì thảy đều được vãng sanh, không bỏ sót một
ai. Sở dĩ thành tựu được toàn vẹn như thế là vì sự vãng sanh không chỉ riêng do
tự lực mà đơn độc thành tựu. Phải còn nhờ Phật lực nhiếp thọ. Phần này là phần
quan trọng có ảnh hưởng đều, ai cũng như ai. Nhưng tuy cùng vãng sanh như nhau,
song vì sự bất tề về trí thức và công hạnh nên phẩm vị cao thấp bất đồng có khác
biệt nhau.
Sự bất đồng về phẩm vị theo kinh Đại Bổn nói có ba, theo
Quán kinh nói có chín. Ba hay chín, tuy có khác nhau ở con số, nhưng so về ý
nghĩa thì không có gì là chênh lệch. Một bên nói phớt về đại cương, một bên đi
sâu vào chi tiết chẳng qua là sự sai biệt vì tường tận hay khái lược mà thôi.
Sự phân chia ra ba bậc chín phẩm đại khái được quy định
như sau:
Ba phẩm bậc trên dành riêng cho hàng xuất gia ly dục
thanh tịnh, nhờ đọc tụng Đại thừa, thâm giải đệ nhất nghĩa đế (chơn lý tuyệt
đối), rộng tu các công đức.
Ba phẩm bậc trung dành cho hàng chúng sanh phụng trì trai
giới, hồi hướng công đức, hiếu dưỡng cha mẹ, tu các nhơn lành ở đời, chuyên niệm
danh hiệu Phật.
Ba phẩm bậc dưới dành cho hàng chúng sanh biết sám hối
tội lỗi sau khi đã lỡ lầm, biết tinh tấn tu theo phép thập niệm. Cả ba đều cùng
lấy sự phát Bồ đề tâm làm động cơ căn bản.
Sau đây xin căn cứ theo kinh Quán Vô lượng thọ, lược giải
chín phẩm vãng sanh:
A- SANH VỀ 3 PHẨM BẬC TRÊN (thượng)
1. PHẨM THƯỢNG THƯỢNG
a) Hành động trong lúc sanh tiền
Dấy động từ tâm không sát hại sanh vật, cụ túc các giới
hạnh, đọc tụng kinh điển Đại thừa, tưởng niệm 6 phép tu hành (tưởng niệm Phật,
tưởng niệm Pháp, tưởng niệm Tăng, tưởng niệm bố thí, tưởng niệm giới hạnh, tưởng
niệm phước đức) hồi hướng công đức, phát nguyện cầu sanh Tịnh độ. Tròn đầy các
công đức ấy rồi thì từ 1 ngày đến 7 ngày sẽ được vãng sanh.
b) Trạng huống lúc lâm chung
Đức Phật A Di Đà, đức Quán Thế Âm, đức Đại Thế Chí cùng
các đấng Hóa Phật và Thánh chúng, tay nâng đài kim cang đến trước người hành
giả. Phật và Bồ tát đều phóng hào quang chiếu sáng khắp thân hình hành giả, đưa
tay tiếp dẫn tán thán công đức và khuyến khích tinh tấn. Hành giả hoan hỷ bước
lên đài kim cang, tùy hành theo Phật và Thánh chúng. Trong khoảnh khắc, vãng
sanh Cực lạc.
c) Kết quả sau khi vãng sanh
Sau khi sanh về cõi Tịnh độ rồi, thấy được rừng cây ao
báu, khắp nơi Phật và Bồ tát, sắc tướng trang nghiêm hiện ra diễn thuyết pháp
mầu. Nghe xong, liền ngộ vô sanh pháp nhẫn. Trong chốc lát, dạo khắp mười
phương, phụng sự hằng sa chư Phật. Theo thứ lớp được thọ ký, chứng đặng vô lượng
pháp môn tổng trì rồi trở về quốc độ mình tùy nguyện hóa độ chúng sanh
2. PHẨM THƯỢNG TRUNG
a) Hành động trong lúc sanh tiền
Chưa thọ trì đọc tụng kinh điển Đại thừa, chưa hiểu rõ
thâm nghĩa, nhưng đối với chơn lý đệ nhất nghĩa đế, lòng không kinh động. Đã
thâm tín nhơn quả, không hủy báng Đại thừa, đem công đức ấy hồi hướng cầu sanh
Cực lạc.
b) Trạng huống lúc lâm chung
Đức Phật A Di Đà và toàn thể Thánh chúng, tay nâng đài
vàng đến trước hành giả, tỏ lời tán thán công đức khuyên tu học lý đệ nhất nghĩa
của Đại thừa. Hành giả ngồi lên đài vàng chắp tay tán Phật, trong khoảnh khắc
liền sanh Tịnh độ.
c) Kết quả sau khi vãng sanh
Ở trên đài vàng như hoa sen lớn một đêm hoa nở để lộ ra
một thân tướng sắc vàng. Hành giả nghe các âm thanh thuần nói pháp đệ nhất nghĩa
rất sâu xa. Trải qua bảy ngày, không thoái chuyển Bồ đề tâm, liền sau đó bay đi
khắp mười phương, lễ bái chư Phật, tu các pháp tam muội. Qua một kiếp, chứng
được vô sanh pháp nhẫn và được thọ ký thành Phật.
3. PHẨM THƯỢNG HẠ
a) Hành động trong lúc sanh tiền
Tin nhân quả, không hủy báng Đại thừa. Có phát đạo tâm vô
thượng, đem công đức ấy hồi hướng cầu sanh Tịnh độ.
b) Trạng huống lúc lâm chung
Thấy đức Phật A Di Đà, đức Quán Âm, đức Thế Chí cùng 500
hóa Phật đến rước, đồng thanh tán rằng: "Pháp tử! người đã phát đạo tâm vô
thượng nên nay chúng ta đến rước ngươi." Hành giả thấy mình ngồi trên đài hoa
sen vàng. Ngồi xong, hoa búp lại, theo Phật và Bồ tát vãng sanh trong ao sen
thất bảo ...
c) Kết quả sau khi vãng sanh
Ngồi trong hoa sen được một ngày một đêm thì sen nở. Sau
7 ngày mới thấy tướng tốt của Phật nhưng chưa rõ lắm. Sau 21 ngày, mắt mới thấy
tỏ tường đồng thời tai cũng nghe tiếng thuyết pháp. Rồi cũng chu du khắp mười
phương để nghe chư Phật nói các pháp nhiệm mầu. Trải qua 3 tiểu kiếp, chứng được
bách pháp minh môn an trú ở địa vị Hoan hỷ (tức sơ địa Bồ tát).
B- SANH VỀ BA PHẨM BẬC GIỮA (Trung)
4. PHẨM TRUNG THƯỢNG
a) Hành động lúc sanh tiền
Thọ trì ngũ giới, tu bát quan trai giới, giới đức Thanh
tịnh, không tạo nghiệp ngũ nghịch, không phạm các lỗi lầm, đem các công đức ấy
nguyện vãng sanh Cực lạc.
b) Trạng huống lúc lâm chung
Khi gần lâm chung, thấy đức Phật A Di Đà cùng Thánh chúng
phóng hào quang sắc vàng đến trước mặt hành giả. Tai nghe Phật thuyết bốn chơn
lý: vô thường, khổ, không, vô ngã và tán thán hạnh Xuất gia. Hành giả rất hoan
hỷ, ngồi trên hoa sen chắp tay lễ Phật, trong chốc lát liền vãng sanh.
c) Kết quả sau khi vãng sanh
Hoa sen liền nở và liền nghe thuyết pháp tán thán 4 chơn
đế: Khổ, tập, diệt, đạo. Chứng quả A la hán, có đủ tam minh, lục thông và tám
môn giải thoát đầy đủ.
5. PHẨM TRUNG TRUNG
a) Hành động lúc sanh tiền
Hoặc đã từng tu giới bát quán trai, hoặc đã từng thọ giới
sa di, hoặc đã từng thọ giới cụ túc, mỗi công hạnh trong một ngày một đêm với
đầy đủ oai nghi. Đem công đức ấy hồi hướng, cầu nguyện vãng sanh Cực lạc.
b) Trạng huống lúc lâm chung
Lúc gần lâm chung, thấy đức Phật A Di Đà phóng hào quang
sắc vàng, tay nâng đài sen thất bảo, cùng với Thánh chúng đến trước mắt hành
giả, tán thán rằng: "Thiện nam tử! Vì nhà ngươi tùy thuận theo lời Phật dạy nên
ta đến rước ngươi." Hành giả ngồi lên hoa sen. Hoa sen búp lại rồi sanh về Cực
lạc.
c) Kết quả sau khi vãng sanh
Ở trong hồ thất bảo bảy ngày, hoa sen mới nở. Mở mắt chắp
tay tán thán đức Phật, nghe pháp hoan hỷ rồi chứng được quả Tu đà hoàn. Qua nửa
kiếp liền chứng quả A la hán.
6. PHẨM TRUNG HẠ
a) Hành động lúc sanh tiền
Hiếu dưỡng cha mẹ, làm các việc nhân từ ở đời.
b) Trạng huống lúc lâm chung
Khi sắp lâm chung, được gặp Thiện tri thức, được nghe các
việc an vui của thế giới đức Phật A Di Đà và được nghe 48 lời đại nguyện của
Ngài Pháp Tạng Tỳ kheo. Nghe xong rồi thì mạng chung. Trong chốc lát, liền vãng
sanh Cực lạc.
c) Kết quả sau khi vãng sanh
Trải qua 7 ngày, gặp đức Quán Thế Âm và đức Đại Thế Chi,
nghe pháp hoan hỷ, chứng quả Tu đà hoàn. qua một tiểu kiếp, chứng quả A la hán.
C- SANH VỀ BA PHẨM BẬC DƯỚI (Hạ)
7. PHẨM HẠ THƯỢNG
a) Hành động lúc sanh tiền
Tuy không phỉ báng kinh điển Đại thừa, nhưng gây rất
nhiều tội lỗi, làm nhiều điều ác ngu si không biết tự hổ.
b) Trạng huống lúc lâm chung
Lúc gần lâm chung, may mắn được gặp bậc đại Thiện tri
thức nói cho nghe danh tự và đề mục 12 bộ kinh Đại thừa. Nhờ nghe tên 12 bộ
kinh, trừ diệt được ác nghiệp nặng nề. Theo lời chỉ bảo của vị đại Thiện tri
thức, chắp tay niệm danh hiệu Phật. Nhờ sự xưng danh ấy, trừ diệt được nhiều
kiếp tội lỗi trong đường sanh tử luân hồi. Bấy giờ hóa Phật và hóa Bồ tát Quán
Thế Âm và Đại Thế Chí đến trước người gần chết, tán thán rằng: "Thiện nam tử!
Nhà ngươi nhờ có xưng danh hiệu chư Phật, tội lỗi được tiêu trừ, nên ta đến rước
ngươi."
Thấy nghe xong, sanh lòng hoan hỷ, tức thời mạng chung.
Liền cưỡi hoa sen theo Phật sanh về hồ thất bảo.
c) Kết quả sau khi vãng sanh
Trải qua 49 ngày, hoa sen mới nở. Trong lúc hoa đương nở,
đức Quán Thế Âm và đức Đại Thế Chí phóng hào quang sáng, đứng ở trước mặt, nói
cho nghe giáo lý thậm thâm của 12 bộ kinh. Nghe rồi tín hiểu phát lòng vô
thượng. Trải qua 10 tiểu kiếp, thông hiểu đầy đủ các pháp và thể chứng quả Sơ
địa Bồ tát.
8. PHẨM HẠ TRUNG
a) Hành động lúc sanh tiền
Nghiệp chướng nặng nề. Hủy phạm ngũ giới, bát giới hay cụ
túc giới. Ăn cắp vật dụng của Thường trú, của hiện tiền Tăng. Thuyết pháp không
thanh tịnh, không biết hổ với mình thẹn với người. Tạo các tội như đã kể trên,
đáng lẽ phải đọa địa ngục.
b) Trạng huống lúc lâm chung
Lúc gần lâm chung, tướng địa ngục hiện bày trước mắt. May
mắn gặp được Thiện tri thức nói cho nghe oai đức quang minh, thần lực quảng đại
của đức Phật A Di Đà và tán thán công năng của ngũ hương là giới hương, định
hương, huệ hương, giải thoát hương và giải thoát tri kiến hương. Nghe xong liền
tiêu trừ được tội nặng trong nhiều kiếp sanh tử, lửa dữ địa ngục liền chuyển hóa
thành gió mát. Liền đó có mưa hoa rải rác, trên hoa có Phật và Bồ tát hóa hiện
ra để tiếp dẫn. Trong chốc lác, liền được vãng sanh vào hồ sen thất bảo.
c) Kết quả sau khi vãng sanh
Trải qua sáu kiếp, sen nở, đức Quán Thế Âm, đức Đại Thế
Chí dùng pháp âm an ủi và nói cho nghe nghĩa lý sâu xa của kinh điển Đại thừa,
nghe xong liền phát tâm vô thượng Bồ đề.
9. PHẨM HẠ HẠ
a) Hành động lúc sanh tiền
Làm các nghiệp bất thiện, gây đủ mọi tội lỗi như phạm tội
ngũ nghịch, thập ác. Đã gây các nghiệp ác ấy là phải đọa địa ngục trải qua nhiều
kiếp để chịu mọi khổ não.
b) Trạng huống lúc lâm chung
Lúc gần lâm chung, may gặp được Thiện tri thức nói cho
nghe pháp mầu và bảo niệm danh hiệu Phật. Kẻ kia bị khổ não bức bách không thể
niệm được. Thiện hữu thương xót khuyến khích và nhất tâm hộ niệm. Tiếng niệm
Phật liên tục bất tuyệt, khiến kẻ kia có thể họa theo. Nếu họa niệm theo đủ 10
lần "Nam mô A Di Đà Phật" tức thời nhờ niệm lực ấy mà tội lỗi trong nhiều kiếp
được tiêu tan. Lúc mạng chung liền thấy hoa sen vàng như vầng mặt nhựt hiện ra
trước mắt. Trong khoảnh khắc liền vãng sanh thế giới Cực lạc.
c) Kết quả sau khi vãng sanh
Nằm trong hoa sen đủ 12 đại kiếp, sen mới nở đức Quán Thế
Âm và đức Đại Thế Chí nói cho nghe thật tướng của các pháp và dạy cho phép diệt
trừ tội chướng. Nghe xong, sanh tâm hoan hỷ, phát tâm vô thượng Bồ đề.
Như trên là tóm tắt trạng huống theo nhơn quả của chín
phẩm vãng sanh thuộc ba bậc: Thượng, Trung, Hạ.
Trong chín phẩm ấy, năm phẩm trước là kết quả của sự tu
tập hồi hướng công đức nguyện cầu sanh về thế giới Cực lạc. Phẩm vị sở dĩ có cao
thấp bất đồng là căn cứ nơi công tu tập sâu cạn mà có sai biệt.
Chí như bốn phẩm sau thì lại không cùng có nguyên nhân
như trên. Những kẻ được vãng sanh thuộc 4 phẩm này chưa từng tu pháp xuất thế
gian. Như phẩm thứ 6 (Trung hạ) chẳng hạn, thì chỉ có nguyên nhân là hiếu thuận
với cha mẹ, nhơn từ với làng xóm, nghĩa là chỉ cần tu theo thiện pháp thông
thường của thế gian mà thôi. Ba phẩm chót thuộc bậc Hạ sanh thì không những chưa
tu thiện pháp thế gian mà lại còn tạo nhiều trọng tội nữa. Theo luật quả báo,
lúc lâm chung, ác tướng hiện bày, lẽ đáng phải đọa ba đường dữ là địa ngục, ngã
quỷ hay súc sanh. Thế mà, nhờ gặp thiện tri thức, phát được tín tâm trong lúc
ấy, cũng được vãng sanh. Các trường hợp này, trong kinh mệnh danh là "đới nghiệp
vãng sanh." Đới nghiệp vãng sanh toàn là nhờ nguyện lực rộng lớn của đức Phật A
Di Đà vô cùng vô tận vậy. Vì lẽ đó, tôn Tịnh độ này đem so với các pháp môn tu
trì khác, không pháp môn nào bì kịp. Cho nên, trong "Phật giáo Sơ học Khóa bổn"
nói rằng: "Những điều trong Quán kinh dạy thật rất kinh dị: Tạo tội ngũ nghịch
mà vẫn được vãng sanh. Nguyện lực Phật quả khó lường. Trong tam tạng giáo điển,
trừ Quán kinh ra, không thấy có chỗ nào nói như thế", thật là một pháp môn đặc
biệt hy hữu.
Điểm thứ hai cần chú ý về Tịnh độ tôn là sức hộ niệm của
thiện hữu tri thức phối hợp với nguyện lực bất khả tư nghì của Đức Phật A Di Đà,
điểm đặc biệt này cũng choán hết 4 phẩm sau. Quả vậy, những kẻ được vãng sanh
thuộc 4 phẩm sau lúc sanh tiền, chưa từng nghe đến vấn đề sanh Tịnh độ, chưa hề
lưu ý đến Phật pháp, thế mà khi sắp lâm chung được gặp thiện tri thức khuyến
khích tán thán xưng niệm danh hiệu, kết quả cũng được ngồi lên đài sen sanh về
nước Phật, như thế, chúng ta thấy công năng gia trì hộ niệm của thiện tri thức
vô cùng quý báu, quý báu cơ hồ như ngang với Phật lực!
Đồng thời, ta cũng nên ý thức sự quan trọng của giờ phút
lâm chung là như thế nào ? Mặc dù bình sanh có tu hay không tu, căn cứ vào trạng
huống lúc lâm chung, người ta có thể quyết đoán rằng: "Hễ trong giờ phút lâm
chung mà được thanh tịnh thì bất luận là ai, cũng đều được vãng sanh tất cả."
Trái lại, giả sử cả đời tu hành, nhưng đến giờ phút lâm chung mà còn luyến tiếc,
nghi ngờ, rối loạn, thì không thể nào vãng sanh được. Cho nên, những bậc thiện
tri thức và ban hộ niệm không thể vắng mặt trong giờ phút "thiên thu vĩnh biệt"
mà dù là Phật tử hay không Phật tử, nếu người ấy muốn có một cuộc đời hạnh phúc
vĩnh cửu sau khi bỏ đời này qua đời khác.
Điểm thứ ba cần chú ý nữa là: không nên lầm lẫn giữa kết
quả tất nhiên là 5 phẩm trước và kết quả hy hữu là 4 phẩm sau.
Khi nghe nói rằng chúng sanh trong 4 phẩm sau, lúc sanh
tiền chưa từng niệm Phật, ngược lại còn làm các điều dữ, miễn lúc lâm chung gặp
được Thiện tri thức chỉ điểm khai đạo, niệm được 10 lần danh hiệu Phật cũng vãng
sanh; nghe nói như vậy rồi cho rằng lúc sanh tiền cần gì tu hành niệm Phật và
làm các điều phước thiện cho nhọc sức, đợi lúc gần lâm chung nhờ người niệm hộ
và tự mình chỉ cần niệm mười lần là đủ rồi. Quan niệm như thế, thật là vô cùng
lầm lạc. Như vậy tỏ ra không hiểu ý nghĩa và tác dụng của pháp niệm Phật.
Bình thời, niệm Phật là gây cho mình một thói quen. Nhờ
thói quen ấy nên lúc lâm chung, dù gặp hoàn cảnh nào cũng không quên niệm Phật.
Có như thế mới có cảm ứng. Đó là hiện tượng chánh thường. Chứ như bình thời
không niệm Phật vì không biết Phật, nhưng (lúc lâm chung, nhờ cơ duyên tốt, gặp
được thiện trì thức hộ niệm dạy bảo), nhơn đó phát sanh chánh niệm, liền được
vãng sanh. Đây là hiện tượng đặc biệt
Cả hai trường hợp đều xuất ở lòng thành thật. Có khác
chăng là hiện tượng chánh thường, chúng ta nên nương tựa vì ta là chủ động. Hiện
tượng đặc biệt khó mà ỷ lại vì ta không chủ động được và trong muôn người chưa
có được một thừa hưởng đặng cơ duyên hy hữu ấy.
Hơn nữa, biết mà không làm, đợi đến phút lâm chung mới
chịu phát tâm, sự phát tâm ấy làm sao gọi được là chơn chánh ? Với một bộ óc
tính toán và vụ lợi như thế thì chỉ có thể phát sanh ra tà niệm mà thôi!
Tình cảnh chết chóc của loài người thật là thiên hình vạn
trạng. Có kẻ chết không được an lành như chết trong lao tù, chết trên chiến địa,
chết bên đường ngoại nội, chết trên bàn mổ ở dưỡng đường v..v... và v..v...
Những cảnh chết như thế thì làm thế nào gặp được thiên tri thức hộ niệm ? Không
phải ai cũng chết an lành và chung quanh có kẻ thân thuộc hết ? Đó là chưa kể
trường hợp gia nhơn vì bối rối hoặc vì không tin nên không mời kịp hay không
chịu mời Thiện tri thức hộ niệm! Lại có kẻ chết bất thần không thể nào mời kịp,
hoặc có mời kịp nhưng tâm thần bệnh nhân hỗn loạn không thể nghe và không thể
niệm theo thì biết làm thế nào? Biết bao nhiêu là vấn đề nan giải trong lúc bối
rối ấy.
Trong lời đại nguyện thứ 19 của Đức A Di Đà chỉ nói khi
thân mạng gần lúc lâm chung có Phật và Bồ tát đến đoanh vây, chứ không nói trạng
huống lúc lâm chung như thế nào. Vì thế kẻ hành giả đã từng phát nguyện cầu vãng
sanh thì bất luận chết cách nào, hoặc bằng pháo đạn gươm dao, thuốc độc, huyết
dư, dịch tả, hoặc bị đánh đòn, bị cọp bắt, bị điện giật, bị lửa cháy, bị nước
trôi v..v... Hoặc kịp niệm Phật, hoặc không kịp niệm Phật, trong giờ phút lâm
chung thảy đều được Phật và Thánh chúng đoanh vây tiếp dẫn.
Tóm lại, ỷ lại vào Thiện tri thức không bằng tự trông cậy
vào mình, cầu Phật lúc lâm chung không bằng cầu Phật thường xuyên hằng ngày. Sở
dĩ hành giả bình thời xưng niệm danh hiệu Phật chính là ứng hợp với đại nguyện
thứ 18: "Mỗi ngày mười niệm, quyết được vãng sanh"; bình thời phát nguyện cầu
vãng sanh tức là ứng hợp với đại nguyện thứ 19: "Kẻ nào phát nguyện vãng sanh
Cực lạc, lúc lâm chung sẽ có Phật đến rước"; và bình thời làm các công đức hồi
hướng công đức về quả Cực lạc tức là ứng hợp với đại nguyện thứ 20: "Kẻ nào hồi
hướng công đức, nhất định được vãng sanh."
Hằng ngày, tu phép thập niệm, phát nguyện vãng sanh và
hồi hướng công đức cũng như người có đóng bảo hiểm nhơn thọ. Một bên là đóng bảo
hiểm vật chất, một bên là đóng bảo hiểm tinh thần; cả hai đều nhất định toại
nguyện như nhau.
Như trên, ta thấy quả vãng sanh là một quả có bảo đảm
chắc chắn. Mà nhơn vãng sanh lại là một nhơn dễ tu tập. Điều cốt yếu là phải
thật hiểu nhơn tinh thần của Pháp môn niệm Phật mới sanh được chánh niệm. Đừng
có như anh chàng nào đó thấy người sa chân xuống hố sâu, gặp may không chết lại
lượm được vàng, rồi cũng tham lam bắt chước chúm chân nhảy xuống hố sâu để được
lượm vàng, nào dè vàng tìm không gặp mà chỉ gặp Tử thần đương mừng rỡ đón chào.
Bị tan xương nát thịt một cách oan uổng như thế, thật đáng thương thay!
CHƯƠNG III
ĐƯỜNG LỐI TU TỊNH ĐỘ
TIẾT MỘT: BA TƯ LƯƠNG: TÍN, NGUYỆN, HẠNH
Pháp môn Tịnh độ dễ tu nhưng khó tin. Trong kinh "Phật
thuyết A Di Đà", đức Thích Tôn cũng thừa nhận như thế.
Đã thế rồi, pháp môn này lại còn nương tựa hoàn toàn vào
lòng tin để thành tập, nương tựa vào lòng tin để duy trì; có lòng tin rồi mới
sanh khởi hành động, rồi mới đạt được nguyện vọng nhơn viên quả mãn. Nếu không
có lòng tin vững chắc thì tuy cửa Phật rộng mở, cũng không thể vào được. Vì vậy
nên Tín, Nguyện, Hạnh gọi là ba món tư lương về Tịnh độ
Nói tư lương cũng ví như nói người muốn đi xa cần phải có
tiền của (tư) và lương thực (lương). Nếu thiếu một trong hai thứ đó thì khó mà
đạt mục đích mình muốn đến. Cũng thế, ba món tư lương cần có để lên đường về
Tịnh độ cũng không thể thiếu một. Hơn nữa, ba món này liên hệ mật thiết với nhau
theo thứ tự trước sau tiếp nối sanh khởi. Trước hết phải do có lòng tin thấm
thiết mới có phát sanh nguyện cầu; do nguyện cầu thành khẩn mới hăng hái hành
động. Nếu lòng tin không có thì quyết nhiên nguyện và hạnh không thể thành lập
được.
TÍN là căn bản của người tu hành pháp môn Tịnh độ, phải:
Thứ nhứt, phải tin rằng ba bộ kinh nói về Tịnh độ là do
Đức Thích Tôn vì lòng từ bi chân thật mà dạy cho chúng ta, quyết không phải như
sách ngụ ngôn giả thiết để khuyến tu.
Thứ hai, phải tin rằng ngoài thế giới ô uế mà chúng ta
hiện sống, chắc thật có thế giới Tịnh độ trang nghiêm.
Thứ ba, phải tin rằng 48 lời đại nguyện của đức Phật A Di
Đà cùng là những công hạnh kiến lập cõi Tịnh độ của Ngài là chơn thật, cũng như
việc Ngài đang ứng hóa độ sanh tại cảnh giới Tịnh độ ấy là chơn thật.
Thứ tư, phải tin rằng sanh Tịnh độ hay uế độ là do trồng
nhơn tịnh thì hoàn quả tịnh, trồng nhơn uế thì quả uế, tuyệt nhiên toàn do tự
tâm ứng hiện. Hễ trồng nhơn tịnh thì được tịnh không liên quan gì đến vấn đề
thưởng phạt
Thứ năm, phải tin rằng chánh niệm của ta cùng tâm niệm
của đức Phật A Di Đà chắc chắn cảm ứng với nhau, lâm chung thế nào cũng được
Ngài tiếp dẫn vãng sanh.
Thứ sáu, phải tin rằng tuy ác nghiệp của chúng ta có
nhiều, nhưng một khi sanh về Tịnh độ, nhờ có hoàn cảnh tốt đẹp thuận tiện, nhờ
ơn giáo huấn thường xuyên của Phật và Bồ tát, ác niệm không thể sanh khởi lại và
ác báo do đó sẽ lần lần tiêu trừ.
Thứ bảy, phải tin rằng sức mình và sức Phật, cả hai đều
bất khả tư nghì. Trong hai sức cùng bất khả tư nghì ấy, sức Phật lại bất khả tư
nghì, gấp trăm ngàn muôn ức lần hơn, Cho nên, một khi được tiếp dẫn, sức mình
còn kém cỏi thì với sức Phật cũng đủ giúp ta vãng sanh.
Thứ tám, phải tin rằng Phật có vô số Pháp môn giải thoát,
Phật có công năng kiến lập thế giới trong một mảy trần. Giá như chúng sanh trong
mười phương đều sanh ở trong mảy trần ấy, hết thảy phòng ốc dụng cụ đều trang
nghiêm đầy đủ, không thiếu một thức gì.
Thứ chín, phải tin rằng khi mình niệm một tiếng niệm Phật
là tức thời đức Phật liền nghe và liền thâu nhiếp.
Thứ mười, phải tin rằng hễ mình niệm Phật thì chắc chắc
lúc lâm chung được Phật và Thánh chúng đến tiếp dẫn vãng sanh về thế giới Cực
lạc, quyết không còn đọa lạc luân hồi trong sáu đường nữa.
Tóm lại, phải tin chắc chắn rằng những lời Phật dạy trong
kinh đều chơn thật, cần phải thâm tín, tuyệt đối không nên sanh tâm ngờ vực.
Lòng ngờ vực là chướng ngại vật không thể vượt qua trên con đường dẫn đến đạo
quả. Có lòng ngờ vực rồi thì tất nhiên nguyện và hạnh sẽ không có cứ điểm để
sanh khởi. Nếu lòng tin kiên cố, tự nhiên phát nguyện cầu sanh Cực lạc và đã
phát tâm nguyện cầu, tự nhiên chuyên tâm tinh tấn, y pháp hành trì, không đợi
ngoại duyên thúc đẩy.
Người đời nhơn vì căn khí bất đồng, Cho nên, kiến thức
cũng bất đồng. Có người cho rằng Tịnh độ là cõi hư vô không thật, nên không tin.
Có người cho rằng chết là mất hẳn, không có đời sau, nên không tin. Có người cho
rằng sanh đông sanh tây, chịu khổ hưởng vui đều là việc ngẫu nhiên, không có
việc gây nhơn hưởng quả, nên không tin. Có người cho rằng niệm Phật cầu sanh Tây
phương là lối giả thiết để khuyên người làm lành tránh dữ, chứ không có cảnh Tây
phương Tịnh độ, giả sử có thật thì quyết không thể chỉ niệm ít lần danh hiệu
Phật mà được vãng sanh, nên không tin. Có người cho rằng con người vốn đã nặng
nghiệp tham, sân, si và ích kỷ, dù có sanh về Tịnh độ thì thói cũ vẫn khó trừ,
quyết không thể trong khoảnh khắc biến thành người hiền thiện được, nên không
tin. Có người cho rằng con người ở thế gian này tạo nghiệp ác quá nhiều, đương
nhiên phải theo từng nghiệp mà thọ quả báo, không thể nhờ vãng sanh mà tiêu trừ
tất cả nghiệp dữ trong một lúc, như thế thì không hợp nhân quả, nên không tin.
Có người cho rằng mỗi ngày chỉ cần niệm 10 lần danh hiệu Phật mà cũng được vãng
sanh, đó là lời nói mơ hồ, giả như tất cả chúng sanh ai nấy đều làm y như thế
thì địa ngục hẳn sẽ trống không, thế giới này hẳn không còn người ở, không thể
có việc dễ dàng như thế, nên không tin. Có người cho rằng tại quốc độ Cực lạc,
dù cho số phòng ốc dụng cụ có nhiều đến đâu vẫn có số lượng, trong khi ấy thì số
chúng sanh được vãng sanh từ vô thủy đến giờ, theo lời Phật dạy là vô lượng, thế
mà không bị nạn nhân mãn thì thật là mâu thuẫn, vì thế mà không tin. Có người
cho rằng sanh về Tịnh độ, nghĩ gì có nấy, muốn áo có áo, muốn ăn có ăn, khỏi
nhọc công người tạo tác, thật không khác nào lời nói trong mộng, nói như thế chỉ
phỉnh phờ được kẻ ngu phu, thất phụ, vì vậy nên không tin. Có người cho rằng tại
thế giới Cực lạc, đất vàng, hồ sen, lâu đài thảy đều bằng thất bảo, không cần
kiến tạo mà tự nhiên thành tựu, đó là chuyện thần thoại của đời thượng cổ còn
sót lại, không hợp với khoa học hiện đại, vì vậy nên không tin. v.v... và v.v...
Vì vậy, chúng ta chỉ nên tin lời Phật mà thực hành theo,
quyết không bị lầm lạc và để khỏi bỏ phí thì giờ luống trôi qua không hí đàm.
Nếu tự phụ là thông minh trí tuệ không chịu tin theo, chung quy sẽ trở lại thua
những người thật thà chất phát mà có tín tâm mạnh mẽ. Sở dĩ sanh tâm tự phụ kiêu
căng như thế, chẳng qua là vì phước đức thiểu bạc nên mới không thọ nạp được một
pháp môn giản dị và rất khó gặp như pháp môn Tịnh độ. Thật cũng đáng tiếc lắm
thay!
Trên đây, hoàn toàn đứng về phương diện Tín mà nói, chứ
chưa đề cập đến hai phương diện Nguyện và Hạnh. Nhưng hễ Tín đã vững chắc thì
Nguyện và Hạnh tự nhiên thành tựu, khỏi cần phải nhắc nhủ, khuyến hóa. Vì như
khi đã tin chắc rằng trước sân nhà có hầm vàng thì tự nhiên không ai sai bảo,
vẫn hăng hái đào bới tìm tòi. Còn nếu nghe nói có hầm vàng mà chưa chịu đi đào
là vì lòng tin chưa vững chắc vậy.
TIẾT HAI: THẬP THIỆN LÀ CƠ BẢN TU HÀNH
Thập thiện là mười điều thiện, thuộc ba nghiệp thân,
khẩu, ý.
Thuộc thân nghiệp có 3 điều: không sát sanh, không trộm
cắp, không dâm dục (nếu là tại gia thì không tà dâm)
Thuộc khẩu nghiệp có 4 điều: không nói láo, không nói lời
thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói lời thô bạo.
Thuộc ý nghiệp có 3 điều: không tham lam, không sân nhuế,
không ngu si.
Mười điều thiện này là căn bản phát sanh tất cả các điều
thiện khác. Đó cũng là nền tảng xây dựng mọi cảnh giới an vui.
Người tu hành mà không tu mười điều thiện này thì không
khác kẻ xây lầu đài cao ngàn thước trên vũng bùn, quyết không hy vọng thành
công.
Đức Phật trong lúc nói kinh Thập thiện nghiệp đạo, đã dạy
cho Long Vương rằng: "Mười thiện nghiệp này có công năng làm cho các pháp như
thập lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng, tất cả các pháp mà Phật đã chứng, thảy
đều được viên mãn. Vì vậy nên các người cần phải tu học thập thiện. Này Long
Vương! Ví như tất cả thành ấp xóm làm đều y vào đại địa mà an trú, tất cả cỏ cây
rừng rú đều y vào đại địa mà sanh trưởng, thì mười điều thiện này cũng lại như
vậy. Tất cả thiên nhơn đều y vào "đại địa" thập thiện mà thành lập, tất cả Thanh
văn, Duyên giác. Bồ tát và tất cả Phật pháp cũng đều y vào "đại địa" thập thiện
mà thành tựu được các hạnh Bồ đề."
Trong kinh Quán Vô lượng thọ, Phật bảo bà Vi Đề Hy rằng:
"Muốn sanh về nước Cực lạc, phải tu ba phước. Trong ba phước ấy, phước thứ nhứt
là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu mười nghiệp thiện."
Vì thế, người tu pháp môn niệm Phật cần phải tu mười điều
thiện để làm cơ bản cho tịnh nghiệp. Nếu đạo niệm không tha thiết, mười thiện
nghiệp không tu, thời thật e khó vãng cảnh giới chư Phật.
Tóm lại, muốn chắc chắn vãng sanh, một mặt cần phải luôn
luôn gìn giữ ba nghiệp, thân, khẩu, ý, chớ để phạm các điều ác: mặt khác lại
phải luôn luôn chuyên cầu niệm Phật thường xuyên.
TIẾT BA: ĐÔN ĐỐC HẾT BỔN PHẬN
Đời và đạo có tương quan mật thiết với nhau và giúp ích
lẫn nhau, nhất là đối với hàng Phật tử tại gia chưa thoát ly được gia đình xã
hội. Ai trong nhiệm vụ nào phải lo tròn nhiệm vụ ấy. Là trưởng quan, phải nhất
tâm vì dân, vì nước. Là liêu thuộc, phải hết bổn phận của liêu thuộc, trung
thành với chức vụ. Là người buôn bán, phải giữ đúng hàng thật giả, đừng lừa trẻ
dối già. Là thầy thuốc, phải biết thương xót con bệnh, nâng đỡ kẻ nghèo hèn, và
hết lòng điều trị v.v... Nói tóm lại, trong bách công kỹ nghệ, mỗi mỗi đều phải
làm tròn bổn phận tận tâm với chức vụ, lại vừa lo tích công dồn đức, tu học Phật
pháp thì nhất định có ngày giải thoát. Đó là ngoài xã hội.
Trong gia đình lại còn những bổn phận khác. Là cha mẹ,
phải nuôi nấng dạy dỗ con cái thành người. Là con cái, phải biết lòng hiếu thảo
với cha mẹ. Là vợ chồng, anh em, thầy trò, bầu bạn, phải đôn đốc hết bổn phận vợ
chồng, anh em, thầy trò, bầu bạn, hợp với lẽ đời. Có làm tròn hết các bổn phận
ấy bấy giờ mới nói đến lẽ đạo. Nếu trái lại, việc đời bấy như tương, tự thân
mình chỉ là "y quan cầm thú" (cầm thú mang áo đội mũ) thì làm sao có thể nói đến
lẽ Đạo được ? Với các sự kiện khách quan và chủ quan thiếu tốt đẹp ấy mà mong
thành Phật hoặc mong cầu sanh nước Phật thời sợ e tịnh nghiệp chưa kịp thành mà
nghiệp quả đã chín trước. Tưởng khó tránh khỏi quỷ vô thường dắt dẫn vào địa
ngục, ngạ quỷ súc sanh!
Vì thế, hy vọng rằng toàn thể Phật tử, khi muốn thoát ly
sanh tử, tu theo pháp xuất thế, không những không nên xa bỏ việc đời, lấy việc
đời làm cơ bản cho đạo, khiến cho đời trở nên tốt đẹp hơn và khiến cho đạo sáng
tỏa trong lòng đời. Có như thế, Phật tử tại gia mới mong thành công chắc chắn và
mau chóng.
Thảng hoặc, có người trước kia trót lỡ tạo các ác nghiệp,
thì hôm nay nên chí thành ăn năn hối cải, nguyện không tái phạm. Cửa Phật rộng
mở chờ đón người biết sám hối. Một phen đã sám hối rồi, thề quyết không bao giờ
tái phạm trở lại. Hơn nữa, phải cố gắng đền bù tội lỗi trước bằng cách làm nhiều
việc thiện mới. Được như thế thì ác báo sẽ tiêu tan và phước đức sẽ tăng trưởng.
Ví như cái chai trước kia đựng thuốc độc nhưng giờ đây sức chùi sạch sẽ rồi, tự
nhiên độc không còn nữa
TIẾT BỐN: RỘNG TU CÔNG ĐỨC,
HỒI HƯỚNG QUẢ VÃNG SANH
Trong kinh Quán Vô lượng thọ chép: "Phật bảo ngài A Nan
và bà Vi đề Hy rằng nếu có chúng sanh nào nguyện cầu sanh về Tây phương Tịnh độ,
nên phát khởi 3 tâm thì liền đặng vãng sanh. Ba tâm ấy là:
1. Chí thành tâm, 2. Thâm tâm, 3. Hồi hướng phát nguyện
tâm. Có đủ ba tâm ấy, quyết được vãng sanh về cõi nước kia."
Danh từ "thâm tâm" trong kinh, chỉ cho cái tâm tu hành
các công đức và thích làm các điều lành.
Danh từ "Hồi hướng phát nguyện tâm" chỉ cho cái tâm muốn
đem các công đức đã tu hoặc đem các việc lành đã làm, hướng về quả Cực lạc để
nguyện cầu vãng sanh.
Trong Phật pháp, việc hồi hướng công đức có một giá trị
trọng yếu. Đại nguyện thứ 20 của Đức Phật A Di Đà đã có nói đến. Vậy xin sơ lược
giải thích ý nghĩa của việc hồi hướng công đức như sau:
1) Đức và hiệu của Phật có công năng bất khả tư nghì:
2) Tâm thức thanh tịnh của chúng sanh có công năng bất
khả tư nghì;
3) Tâm niệm của chúng sanh cũng có công năng bất khả tư
nghì. Họp cả ba công năng bất khả tư nghì ấy tạo thành phương pháp Tịnh độ. Cho
nên, pháp môn Tịnh độ cũng bất khả tư nghì.
Trên lý thì hành giả chỉ niệm hiệu Phật là đã đủ vãng
sanh, nhưng trong thân tâm hành giả khi tu pháp môn Tịnh độ, ngoài sức niệm Phật
ra, còn cần phải rộng tu các công đức, hồi hướng quả vãng sanh, là vì:
1) Cần cúng dường đức Phật A Di Đà để trang nghiêm Phật
độ.
2) Cần làm các trợ duyên tăng thượng cho đạo quả.
3) Cần phát tâm Đại thừa học theo hạnh Bồ tát.
Vì các lẽ trên nên không những chỉ niệm hiệu Phật mà đã
cho là đủ được. Bất cứ việc gì cũng không ly được nhơn quả; dù là pháp thế gian
hay pháp xuất thế gian. Bất luận tâm niệm thiện hay ác hoặc hành động thiện hay
ác đều có hậu quả về sau. Căn cứ vào lẽ ấy, ta có thể biết hành giả tu tập thiện
pháp, trong tương lai quyết phải được phước báo. Giả sử điều thiện ấy thuộc loại
nhơn hữu lậu nhơn thiên, thì trong tương lai sẽ hưởng phước báo nhơn thiên, chứ
chưa phải cứu cánh an lạc, vì còn đọa lạc luân hồi. Giả sử điều thiện ấy thuộc
loại nhơn vô lậu xuất thế gian thì trong tương lai sẽ sanh về Ngũ bất hoàn thiên
(cảnh giới của 4 quả thánh: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán) hoặc mười
phương Tịnh độ.
Nếu vì lý do không muốn thọ hưởng quả báo nhơn thiên vì
sợ còn luân hồi đọa lạc mà hành giả tự nguyện hồi hướng tất cả công đức của mình
hoặc công đức hữu lậu hoặc công đức vô lậu, làm trợ duyên tăng thượng để cầu
vãng sanh Cực lạc của đức A Di Đà. Như thế thì bao nhiên nhơn gây phước báo nhơn
thiên hữu lậu hoặc vô lậu trước kia sẽ không thành thục được mà địa điểm thành
thục sẽ chỉ ở thế giới Cực lạc. Đã quy tụ được về một nơi rồi thì dù tịnh nghiệp
chưa hoàn toàn nhưng phước quả vẫn thành tựu. Vì rằng hết thảy các pháp đều do
tâm đạo. Tâm lực đã có công năng trồng nghiệp quả thì cũng có công năng chuyển
nghiệp quả. Vì thế, khi hành giả hướng tất cả thiện nghiệp về quả Cực lạc, tâm
niệm ấy không những có công năng điều hòa các chủng tử vô lậu đã huân tập trong
đệ bát thức, nó lại còn khiến cho các chủng tử ấy biết chất thành chủng tử tịnh
pháp hoàn toàn vô lậu, Chủng tử đã quyết định được rồi, như vậy địa điểm tương
lai sẽ hưởng thọ quả báo cũng có thể biết trước một cách chắc chắn rồi vậy. Đây
là giải thích theo học lý duy thức, một nền học lý rất thâm diệu trong Phật
pháp.
Trong pháp môn Tịnh độ, hồi hướng chiếm một địa vị rất
trọng yếu. Hành giả quyết phải thâm tín mới có hiệu lực.
Vạn nhất, nếu còn nhứt điểm hồ nghi ở trong lòng thì tâm
lực sẽ mất công dụng, không làm sao chuyển biến được chủng tử trong bát thức.
Nếu tâm hồn còn hồ nghi, pháp môn Tịnh độ sẽ không đem lại hiệu quả nào cho hành
giả hết. Kinh dạy: "Còn nghi thì hoa không nở" là chỉ cho duyên cớ ấy.
Đức Phật A Di Đà biết rõ chủng tử có thể biến từ hữu lậu
sang vô lậu, công đức có thể từ cõi này di dịch qua cõi khác, nên mới phát đại
nguyện thứ 20. Trăm ngàn năm trở lại đây, các vị Đại đức cũng hiểu rõ lý đó, nên
mới soạn ra các bài văn phát nguyện hồi hướng, cực lạc khuyên ta đem công đức tu
hành hồi hướng về quả vãng sanh thế giới Cực lạc.
Hành giả bất luận làm công đức gì, dù chỉ giúp kẻ khó một
đồng tiền hay chỉ cứu mạng sống cho một con kiến, sau khi làm xong, cũng phải
quán tưởng đức Phật A Di Đà như đương đứng trước mặt mà chắp tay cung kính đọc
bài kệ hồi hướng sau đây:
Nguyện đem công đức này
Trang nghiêm chốn Phật độ
Trên đền bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Nếu có kẻ thấy nghe
Đồng phát tâm Bồ đề
Khi mãn báo thân này
Nước Cực lạc cùng về
Sau khi đọc bài kệ ấy rồi, bao nhiêu công đức đã làm liền
cảm ngay tâm lực của Phật ứng với tâm ta. Sức cảm ứng của hai bên tức là "tư
lương" vãng sanh Cực lạc về sau này.
Tất cả công đức hồi hướng, bất luận công đức thuộc loại
hữu lậu hay vô lậu, đều trở thành tư lương vãng sanh, ứng hợp với đại nguyện thứ
20 của đức Phật A Di Đà. Chắc chắn về sau sẽ được toại nguyện không sai
TIẾT 5: CẨN THẬN LÚC LÂM CHUNG
Trong sự chuyển tiếp từ kiếp nọ sang kiếp kia, cái niệm
chót (nhất niệm tối hậu) có một lực lượng mãnh liệt quyết định cho việc chuyển
sanh. Vì lý do đó nên lúc lâm chung, người tu hành phải làm thế nào để chỉ còn
nhớ Phật niệm Phật thì chắc chắn sẽ sanh về cõi Phật.
Kinh "Phật thuyết A Di Đà" dạy rằng: "Nếu người nào niệm
Phật trong bảy ngày được nhất tâm bất loạn, lúc lâm chung, có Phật và Thánh
chúng hiện ra trước mặt: người ấy, tâm không còn điên đảo và liền được vãng
sanh." Nhất tâm bất loạn nghĩa là ngoài sự nhớ Phật, tưởng Phật, không có một
vọng niệm nào xen lẫn ở trong lòng: lòng mình và lòng Phật đã xứng hợp làm một.
Kinh văn đã dạy rõ ràng như thế, đương nhiên tuyệt đối chúng ta phải tin. Có e
ngại chăng là e ngại tịnh nghiệp tu chưa tinh tấn nên phút lâm chung, tâm còn
điên đảo khiến khó thấy được Phật tiếp dẫn. Tâm còn điên đảo thì cũng khó mà
vãng sanh. Vì vậy, trong khi gần lâm chung rất cần có người hai bên trợ niệm. Có
kẻ trợ niệm mới dẫn phát được tâm người bệnh niệm Phật, lý do cần thiết lập các
ban hộ niệm là thế.
Hiện tại ở các khuôn hội đều có thiết lập ban Hộ niệm.
Bất luận trai gái già trẻ, là Phật tử, ai ai cũng nên gia nhập vào ban ấy càng
đông càng tốt. Hễ khi nào gặp một bệnh nhân lâm nguy, trong ban nên cắt phiên
thay nhau đến nơi phòng người bệnh, đốt hương niệm Phật. Như vậy, mắt trông thấy
tượng Phật, tai nghe tiếng niệm Phật, mũi ngửi mùi hương thơm từ bàn Phật xông
ra, người bệnh có đủ duyên sanh khởi tịnh niệm, rất hữu ích cho sự vãng sanh
Tịnh độ.
Nay xin đem những biện pháp của người tu hành cần gìn giữ
trong phút lâm chung, sơ lược giải bày như sau, để các ban hộ niệm y cứ hành
trì. Mong rằng các đạo hữu lưu ý, công đức sẽ vô lượng, vì nó quyết định cho
tương lai của cả một đời tu hành.
a) Lúc bệnh nặng sắp lâm chung
Khi có một đạo hữu bệnh nặng sắp lâm chung, thân thuộc
nên tin cho ban hộ niệm và mời đến nhà hộ niệm. Nếu tinh thần người bệnh còn
tỉnh táo, ban hộ niệm nên nhất thiết khuyên thân thuộc đừng khóc lóc và cũng
đừng đem việc nhà ra nói với người bệnh làm gì nữa. Khóc lóc hay hỏi về việc nhà
lúc ấy không giải quyết được gì hết mà chỉ khiến cho người bệnh sanh khởi niệm
luyến tiếc việc đời một cách vô ích.
Nên khuyến khích bệnh nhân đem tâm phóng xả tất cả, chỉ
nhớ Phật và niệm Phật mà thôi. Nên nói với bệnh nhân rằng: "Thế giới Cực lạc rất
là an vui sung sướng. Nay ngươi nên xả bỏ tất cả, nguyện sanh về thế giới kia.
Được sanh về đấy sẽ không còn có hạnh phúc nào bằng. Hiện tại sở dĩ bị bệnh hoạn
đau đớn là do ác nghiệp nhiều kiếp tích lũy gây nên. Tạm thời nên chịu khó nhẫn
nại."
Nếu thản hoặc bệnh nhân có việc gì khổ tâm lắm, nhứt đáng
không thể xả bỏ được, nên tìm mọi phương tiện thuyết pháp giải trừ. Hoặc dùng
lời dịu ngọt vui vẻ để khuyến khích an ủi; hoặc đem bao nhiêu điều hay việc tốt
hay công đức tu hành mà bình sanh người ấy đã làm để tán thán ngợi khen. Các
phương tiện ấy sẽ có công năng khiến bệnh nhân hoan hỷ và tin tưởng rồi nhờ đó
mà sẽ được vãng sanh Tịnh độ.
Nếu gặp phải bệnh nhân thần trí hôn mê không còn biết gì
nữa, ban hộ niệm đứng bên cạnh trợ niệm hoặc đánh chuông mõ hết sức nhẹ nhàng,
đừng cho tiếng xẳng và ồn, khiến gây nên trạng huống lộn xộn trong thần thức của
bệnh nhân. Nếu như phút lâm chung kéo dài quá lâu, nên luân phiên tụng niệm, thế
nào cho tiếng niệm Phật đừng dứt đoạn. Niệm đến khi nào bệnh nhân hết thở và
toàn thể châu thân lạnh đều mới thôi.
b) Sau khi lâm chung
Khi bệnh nhân đã hết thở rồi, ban hộ niệm vẫn tiếp tục
niệm Phật và tuyệt đối không nên cho bà con khóc lóc. Cũng không nên đụng đến
thi thể hoặc vội tắm rửa thay áo quần. Tránh đừng nên đụng chạm gây ra huyên náo
hay nói to tiếng cho vong giả kinh loạn.
Sở dĩ phải tuyệt đối giữ thanh tịnh là vì dù ngực hết
thở, quả tim hết đập, nhưng thần thức (thức thứ 8) của người chết vẫn chưa lìa
khỏi xác. Nếu xung quanh có tiếng khóc lóc hoặc ồn ào va chạm, thi thể còn cảm
giác sẽ sanh lòng sân hận, rồi có thể vì đó mà bị đọa lạc. Kinh chép khi vua A
Kỳ Đạt chết, vì người giữ thây dùng quạt đuổi ruồi, rủi đụng nhằm mặt nhà vua,
khiến nhà vua phẫn nộ do đó nhà vua đọa làm thân con rắn!
Vì những lẽ trên nên cần phải thận trọng trong giờ phút
trước và sau khi lâm chung. Tốt hơn hết là nên luôn luôn có người ngồi bên cạnh
tiếp tục niệm Phật không hở, khiến cho chánh niệm được liên tục. Nếu không làm
được như vậy thì nên đuổi hết mèo chó, cấm hẳn người ra vào và đóng kín cửa
phòng lại. Chí như muốn tắm rửa, thay quần áo và uốn nắn tay chân cho người chết
để nhập liệm thì nên đợi sau tám tiếng đồng hồ mới chắc chắn không làm hại cho
người chết.
Trong Duy thức học có dạy rằng muốn biết một người chết
sẽ thác sanh về thế giới nào, hãy xem thần thức người đó lìa khỏi xác tại điểm
nào. Điểm mà thần thức xuất tức là điểm còn hơi nóng cuối cùng, sau khi toàn thể
châu thân đã lạnh buốt. Bài kệ sau đây sẽ cho ta biết cảnh giới tương lai của
người chết sắp đầu thai:
Đảnh Thánh, nhản sanh thiên
Nhơn tâm, ngạ quỷ phúc
Bàn sanh túc hạ hành
Địa ngục khước đề xuất
Nghĩa là: Thân thức xuất ở đảnh đầu là sanh về cõi Thánh,
xuất ở chặng con mắt thì sanh về cõi trời, xuất ở trên chấn thủy thì sanh về cõi
người, xuất ở dưới bụng thì sanh về cảnh giới ngạ quỷ; xuất ở đầu gối thì sanh
về cảnh giới súc sanh, xuất ở dưới bàn chân thì sanh về cảnh giới địa ngục. Vì
thế, trong khi thần thức sắp rời khỏi xác, mà ví như sẽ được sanh về cõi trời
thì chỗ còn nóng sau cùng là ngang khoảng con mắt. Nếu không khéo, để cho thi
thể va chạm hoặc để cho tiếng ồn ào kinh động khiến thần thức tán loạn sanh
phiền não, phải bị đọa lạc thì thật là oan uổng cho người chết biết chừng nào!
Thiết tha mong toàn thể tín đồ Phật tử hãy lưu tâm điểm
này để cứu giúp nhau trong giờ phút lâm chung, giờ phút nghiêm trọng có ảnh
hưởng cho cả một kiếp sau. Mong thay!
c) Cứu độ thân trung ấm
Thân thể con người do năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành,
thức tạo thành. Năm uẩn lại cũng gọi là năm ấm. Vì thế thân thể hiện còn gọi là
tiền ấm sau khi chết rồi và đã thác sanh gọi là hậu ấm, nằm ở khoảng giữa tiền
ấm và hậu ấm (chết rồi mà chưa đầu thai lại) gọi là trung ấm.
Thân trung ấm bắt đầu từ giây phút thức thứ 8 mới lìa
khỏi thể xác người chết. Theo luận Cu xá thì thân trung ấm của người ở dục giới
lớn bằng em bé, 5, 6 tuổi, nhanh sáng, có sức thông đạt, có sức ký ức nhậy hơn
chín phần, so với lúc sanh tiền.
Sau khi người chết, tuy thần thức ly khai thân xác chuyển
thành thân trung ấm, nhưng thân trung ấm ấy trừ trường hợp quá dày phúc đức hay
quá nhiều tội ác thì trong giây phút hoặc được sanh nhơn thiên hoặc bị đọa ác
thú liền, ký dư trong các trường hợp bình thường thì thần thức vẫn còn loanh
quanh lưu luyến bên cạnh thây cũ. Cho nên, nếu quyến thuộc khóc lóc hoặc tắm
rửa, thay áo quần cho người chết v.v... thần thức đều biết cả. Bấy giờ thần thức
tưởng như mình còn sống nên nó vẫn đến hỏi việc này việc khác, nhưng ngặt vì
không ai thấy nghe mà đáp lại, vì vậy vô cùng bực tức, sợ hãi, bối rối, rồi giận
dữ bỏ ra đi. Vì thế đối với người chết rồi, thân thể tuy đã lạnh cứng, nhưng
người sống không nên nói điều gì hay làm việc gì có tánh cách khêu gợi lòng
tham, sân si, khêu gợi sự luyến tiếc cho người chết. Như là người sắp chết thì
chỉ nên thuyết pháp, an ủi, khuyến khích nhất tâm cầu nguyện vãng sanh Cực lạc;
nếu người ấy đã chết rồi thì nên tụng kinh niệm Phật cho thân trung ấm nghe.
Nếu người chết lúc sanh tiền chưa từng niệm Phật, trong
giờ phút gần lâm chung, lòng không chốn nương tựa, thân không còn là chủ tể,
hoàn cảnh thật là hết sức thê lương ảm đạm. Trong giờ phút ấy, nếu được nghe một
tiếng niệm Phật, một lời thuyết pháp, người chết nhờ nhất niệm đó mà có thể vãng
sanh Tịnh độ. Cho nên, đối với vong nhân, không kể sanh tiền có tin Phật hay
không tin Phật, có tu Tịnh độ hay không tu Tịnh độ ban hộ niệm đều nhất thiết
nên đến giúp đỡ và cao tiếng niệm danh hiệu Phật. Đó là phương pháp cứu độ thân
trung ấm, hết sức hữu ích và cần phải thi hành.
d) Cúng vong, cầu siêu
Đám tiệc nên tùy nghi phương tiện. Cốt nhất phải thanh
tịnh, không nên bày vẽ rộn ràng, sát sanh cúng tế một cách linh đình. Trong kinh
Phật dạy: "hình thức người chết (thân trung ấm) chỉ dùng mùi hương làm thức ăn."
Vì thế ta chỉ nên dùng hương thơm, hoa đẹp đèn sáng mà cúng là đủ. Nhất là tiếng
niệm Phật và lời thuyết pháp thì rất bổ ích cho vong linh
Sau khi đám tiệc xong xuôi, người con hiếu thảo nên vì
vong linh làm các Phật sự để cầu siêu độ, bất luận vong giả đã vãng sanh hay
chưa. Nếu đã vãng sanh rồi thì lại càng được tăng thêm phước huệ, nếu chưa vãng
sanh thì có thể nhờ đó mà túc nghiệp tiêu trừ, sanh về các cõi thiện. Đó là cách
báo ân hay nhất của người con hiếu thảo.
Làm Phật sự thì không gì hơn là chuyên tụng kinh bái sám
và trì niệm danh hiệu Phật. Có thể tự trong gia thuộc mình tụng lấy, hoặc mời
đạo hữu tụng thêm. Các kinh thường tụng là Di Đà. Kim cang hoặc Đại bi thần chú
v.v... Tụng niệm xong, nên hồi hướng công đức cho vong giả làm tư lương cầu sanh
Cực lạc. Gián hoặc như trong gia thuộc mình không ai tụng kinh được thì chuyên
niệm hiệu Phật cũng đủ rồi.
Còn như di sản của vong giả để lại, nếu là của cải thì
nên đem làm việc phước thiện như; bố thí, giúp đỡ kẻ nghèo khó, giúp đỡ người
tàn phế, cấp dưỡng cô nhi quả phụ hay phụ nữ sanh đẻ, hoặc làm chùa chú tượng,
ấn tống kinh điển, cúng dường chúng tăng v.v... Làm các việc phước thiện ấy rồi
đem công đức hồi hướng cầu cho vong giả tội diệt phước sanh vãng sanh Cực lạc.
Như thế thì người còn kẻ mất, thảy đều công đức lớn lao không thể kể siết. Kinh
địa tạng nói: "Trong khi vì người chết mà làm việc công đức thì người sống đã
hưởng hết sáu phần mà người chết chỉ nhờ được một phần thôi."
CHƯƠNG IV:
TRÌ DANH NIỆM PHẬT
TIẾT MỘT: SO SÁNH BA PHÁP
THẬT TƯỚNG NIỆM PHẬT,
QUÁN TƯỞNG NIỆM PHẬT
VÀ TRÌ DANH NIỆM PHẬT
Nói niệm Phật không phải chỉ niệm nơi niệng mà thôi. Theo
nghĩa đen, niệm nghĩa là nhớ, nghĩ. Cho nên, khi tâm ta nhớ nghĩ đến Phật tức là
niệm Phật. Vì vậy, phương pháp niệm Phật gồm có 3 loại:
a) Trì danh niệm Phật tức là chuyên trì tụng danh hiệu
Phật nơi niệm.
b) Thật tướng niệm Phật tức là thâm nhập nghĩa lý chơn
thật của Phật dạy (đệ nhất nghĩa đế).
c) Quán tưởng niệm Phật tức là quán tưởng cảnh giới Cực
lạc của đức Phật A Di Đà.
Thật tướng niệm Phật cũng tức là quán tưởng thật tướng
của Phật. Kết quả sở đắc của phương pháp này là Chơn như tam muội, cũng gọi là
Nhứt hạnh Tam muội nghĩa là chánh định, chỉ cho cảnh giới đạt được trong định
khi sự tu tập đã thành tựu. Pháp môn này vốn thuộc về Thuyền tông, nhưng cảnh
giới hiển hiện sau khi công hạnh tu thuyền thành tựu chính là cảnh giới Tịnh độ,
nên cũng nhiếp vào trong Pháp môn Tịnh độ. Với Pháp môn này, nếu không phải là
bậc căn khí tối thượng thì không thể ngộ nhập, Cho nên, những hàng trung, hạ trí
không thể tu tập được. Trong Pháp môn Tịnh độ vì thế ít khi đề cập đến phương
pháp này mà riêng nhường cho Thuyền tông đề xướng.
Quán tưởng niệm Phật là một Phương pháp y theo kinh quán
Vô lượng thọ mà thiết lập. Phương pháp này chia cảnh giới Y báo và Chánh báo
trang nghiêm ở quốc độ Cực lạc của đức Phật A Di Đà thành 16 phép quán qua 16
giai đoạn. Khi quán hạnh đã thành thục, sức quán đã mạnh mẽ thời mở mắt nhắm mắt
đều thấy cảnh giới Cực lạc. Trong hiện tại có thể chuyển biến Thế giới Ta bà
thành Thế giới Cực lạc. Không cần phải đợi đến lúc lâm chung sanh về Cực lạc mới
hưởng thọ cảnh giới ấy mà ngay trong hiện tại đã hưởng thọ rồi. Công hiệu của
Phương pháp Quán tưởng niệm Phật thật là lớn lao. Không thể tả xiết.
Chánh định Tam muội chứng được là do tu theo phương pháp
này nên có tên riêng là "Ban châu Tam muội" hay "Phật lập Tam muội." Phương pháp
quán hạnh này quá Vi tế huyền diệu và có 5 điều khó thành tựu:
1) Căn cơ ám độn, khó thành tựu.
2) Tâm thô tháo, khó thành tựu
3) Thiếu phương tiện thiện xảo, khó thành tựu
4) Nhận thức không sâu, khó thành tựu
5) Tinh lực bất cập, khó thành tựu
Nếu có 5 điều kiện nghịch lại 5 điều kiện trên là căn cơ
thông lợi, tâm niệm tế nhuyễn, phương tiện thiện xảo, nhận thức sâu sắc, gây
được ấn tượng mạnh mẽ, tinh thần cương kiện thì kết quả được xem như được nắm
chắc trong tay. Nhưng có đủ điều kiện như thế, thật là vạn người chưa được một.
Vì thế, Phương pháp này cũng ít phổ cập trong quần chúng.
Phương pháp trì danh niệm Phật, so với hai Phương pháp
trên thì thật là dễ dàng hơn bội phần. Bất luận là trung hay hạ trí, hễ có phát
tâm chuyên niệm danh hiệu Phật, không ai là không làm được. Niệm niệm tích lũy
lâu ngày cho đến khi được "Nhất tâm bất loạn" thì liền chứng Tam muội. Tam muội
này có tên riêng là "Niệm Phật Tam muội." Trải qua hơn 2000 năm, các bậc Đại đức
nối tiếp nhau đề xướng và thực hành Phương pháp này, đã thâu hoạch được nhiều
kết quả ... Hiện tại, phương pháp này thâm nhập nhơn gian, phổ cập khắp quần
chúng và không ai là không biết niệm 6 tiếng "Nam mô A Di Đà Phật." Lý do thâm
nhập và phổ biến của Phương pháp này là hễ có tu là có thành, rất thích hợp cho
mọi căn cơ, bất cứ người nào cũng đều thâu nhiếp được một cách dễ dàng. Số người
nhờ phương pháp này mà được độ thoát, so với các tông phái khác, chiếm đến trên
bảy tám mươi phần trăm.
Cứ xác thực mà nói thì Đạo lý của Pháp môn này hàm chứa
tinh ba của hết thảy các Pháp môn khác một cách sâu xa rộng rãi. Không những so
với các pháp môn khác, nó đã không kém thua, mà trái lại, tinh ba của các pháp
môn khác đều thu trọn vào trong một pháp môn này. Nó có đủ khí độ rộng rãi tập
hợp sự đại thành của các tông phái khác. Vì vậy, nếu bàn đến hiệu quả, bàn đến
học lý, bàn đến khó dễ, không một tông phái nào so sánh kịp!
TIẾT HAI: CÁC PHƯƠNG PHÁP TRÌ DANH
Niệm Phật hay trì danh tức là đọc sáu chữ "Nam mô A Di Đà
Phật." Hoặc chỉ đọc bốn chữ "A Di Đà Phật" cũng được.
Sáu chữ này từ tiếng Phạn phiên âm ra. Nếu cắt nghĩa từng
chữ một theo một Phạn ngữ thì chỉ có bốn chữ mà thôi. Trước hết, chữ "Nam mô" có
sáu nghĩa; kính lễ, quy y, phụng thờ, cứu ngã, độ ngã, quy mạng. Chữ "A" nghĩa
là không, là vô. Chữ "Di Đà" nghĩa là lượng. Chữ "Phật" nghĩa là giác giả. Hợp
cả bốn chữ lại có nghĩa là quy y kính lễ đấng Giác ngộ Vô lượng.
Đức Phật A Di Đà là Giáo chủ Thế giới Cực lạc, Ngài đã
từng phát nguyện rằng ai niệm danh hiệu Ngài, lúc lâm chung sẽ được Ngài tiếp
dẫn sanh về nước Cực lạc (xem lại đại nguyện 18, 19 và 20). Vì thế, về sau căn
cứ về đó mà xưng niệm danh hiệu Ngài.
Lại nữa, trong kinh "Phật thuyết A Di Đà" dạy rằng: "Đức
Phật kia cùng nhân dân đều có thọ mạng vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp Cho nên,
gọi là A Di Đà." Thọ mạng nghĩa là thân mạng sống lâu; A tăng kỳ nghĩa là vô số
không thể đếm được. Vì thế, có chỗ gọi Ngài là đức Phật Vô lượng thọ. Khi xưng
niệm, ta có thể đọc: "Nam mô vô lượng thọ Phật." Nhưng nói vô lượng thọ thì hai
chữ vô lượng bị hạn cuộc trong phạm vi hẹp hòi của sự thọ mạng mà thôi. Kỳ thực
ra, A Di Đà còn bao hàm cả nghĩa vô lượng quang minh, vô lượng công đức v.v...
Bất cứ đức tánh nào của Ngài cũng vô lượng cả. Vì vậy cứ để nguyên âm mà xưng
niệm, ý nghĩa mới rộng rãi, hợp lý và bao quát được mọi khía cạnh khác như: Tôn
nghiêm Vô lượng, Từ bi Vô lượng, Trí tuệ Vô lượng Thần thông Vô lượng, Thiện xảo
Vô lượng v.v...
Vì muốn thích hợp với mọi hoàn cảnh mọi tâm niệm, mọi căn
cơ, nên cùng một việc niệm Phật mà có nhiều phương pháp sai khác nhau, mỗi
phương pháp lại có một tác dụng đặc biệt riêng của nó. Khi niệm Phật, người tu
hành nên y theo các phương pháp nêu ra sau đây, chọn lấy phương pháp nào thích
hợp nhất với căn cơ và hoàn cảnh mình mà hành trì. Nếu tu niệm trong một thời
gian mà thấy rằng phương pháp mình đã chọn lựa không trấn tỉnh được tâm cảnh
vọng động thì nên bỏ phương pháp đó, chọn lại một phương pháp khác, lắm lúc phải
chọn đi chọn lại năm bảy lần mới tìm ra một phương pháp thật thích hợp. Phương
pháp nào trấn định được tâm cảnh, tiêu trừ được mọi vọng niệm thì là phương pháp
hay nhất đối với mình. Cũng như đối với thầy thuốc, phương thang nào chữa đúng
căn bệnh là phương thang hay. Đối với chúng sanh, vọng niệm là căn bệnh, thuốc
là danh hiệu Phật, hễ phương pháp nào trừ được căn bệnh vọng niệm, ấy là phương
pháp thiện xảo nhất, đừng nên câu nệ.
Sau đây, xin giải thích rõ từng phương pháp một để hành
giả y theo mà hành trì cho phải phép. Lại nên nhớ thêm rằng "Trì danh" là phương
pháp tụng niệm của đường lối tu Tịnh độ. Đó là một điểm trọng yếu.
a) Niệm cao tiếng: Đem hết cả tinh lực toàn thân dồn vào
trong một câu niệm Phật khác nào những tiếng đại hồng chung, những tiếng sư tử
rống ác cả trời đất Vũ trụ. Theo phương pháp này bị hao hơi rát cổ nhiều, không
thể trì niệm lâu được. Tuy nhiên, nó có công năng đối trị được bệnh hôn trầm
giải đãi, trừ khử được tạp niệm lăng nhăng. Khi niệm Phật nếu thấy mơ màng muốn
ngủ gục, hoặc thấy tư tưởng bị chao động, hành giả nên mạnh mẽ đề khởi tinh
thần, cất cao vọng niệm to tiếng làm trí não thức tỉnh, chánh niệm khôi phục và
sẽ được linh hoạt như cũ. Niệm Phật cao tiếng có tác dụng rất lớn lao. Hơn nữa
nó còn làm cho người hai bên nghe rõ tiếng niệm và khiến họ lần lần sanh khởi
tâm niệm Phật.
Ngày xưa, lúc Ngài Vĩnh Minh Thọ Thuyền sư niệm Phật tại
chóp núi Nam Bình, tỉnh Hàng Châu, những người qua lại dưới chân núi nghe tiếng
rang rảng như tiếng nhạc trời đánh giữa hư không, khiến cho ai nấy đều rất thâm
cảm. Chính Ngài đã áp dụng phương pháp này vậy.
b) Mặc niệm: Lúc niệm, môi miệng chỉ hơi mấp máy, không
phát ra tiếng; Người ngoài nhìn vào, không biết là đương niệm. Tuy không phát ra
tiếng, nhưng 6 chữ "Nam mô A Di Đà Phật" đương sáng ngời và rang rảng trong tâm
thức hành giả, vô cùng rõ ràng. Nhờ sự sáng ngời và rang rảng ấy mà tâm thần
định tĩnh, chánh niệm ngưng tụ thành một khối, khiến cho hiệu lực của nó không
khác hiệu lực của niệm Phật có tiếng
Phương pháp niệm này có thể áp dụng trong khi nằm nghỉ,
khi tắm rửa, lúc bệnh hoạn, lúc phóng uế, hoặc trong khi đương ở hội trường công
cộng hay khi lữ thứ tha phương v.v... tóm lại là trong những trường hợp không
tiện niệm ra tiếng.
c) Niệm Kim Cang: Niệm thư thả, hòa hoãn tiếng không lớn
quá, không nhỏ quá. Bất luận là niệm 4 chữ, hay 6 chữ, hành giả vừa niệm vừa
lắng tai nghe lại tiếng niệm của mình từng chữ một, thật rõ ràng. Cứ vừa niệm
vừa nghe như thế, trí óc sẽ không bị xao lãng và tâm thần định được.
Phương pháp niệm này hiệu lực rất lớn lao, Cho nên, đem
ví dụ với ngọc kim cang. Kim nghĩa là vàng, thí dụ cho sự cô đọng cẩn mật; cang
nghĩa là cứng, thí dụ cho sự cứng rắn. Vừa cẩn mật vừa cứng rắn thì ngoại cảnh
khó xâm nhập và tạp niệm dễ bị đánh tan.
Trong lúc phương pháp niệm Phật, phương pháp này thường
được dùng hơn hết. Với phương pháp này lại có tên là phản văn niệm Phật nghĩa là
niệm chữ nào trở lại nghe chữ ấy, chữ ra từ miệng lại trở về lại tai.
d) Niệm giác chiếu Một mặt xưng danh hiệu Phật, một mặt
quay tâm trí của mình trở lui soi xét tự tánh. Với phương pháp này, cảnh đối
tượng trước mắt đều bị đẩy lùi hết, chỉ còn một cảm giác linh động trong tâm
thôi. Ấy là cảm giác tâm Phật, thân Phật, cả hai cùng ngưng tụ thành một khối
sáng chói lọi, tròn vành vạnh. Ngoài ra, các cảnh giới bao la trong mười phương
như sơn hà đại địa, nhà cửa khí cụ, nhất nhất thảy đều mất tung tích cho đến
thân tứ đại của hành giả cũng không biết lạc mất chỗ nào. Được như vậy thí báo
thân tuy chưa xả mà cảnh Tịch quang đã chứng. Danh hiệu Phật vừa tuyên lên là
đồng thời hành giả chứng nhập tam muội, đem thân phàm phu dự vào cảnh giới chư
Phật.
Thật không có phương pháp nào so bằng phương pháp này.
Nhưng có điều đáng tiếc là, phi bậc thượng trí, ít ai lãnh hội và thực hành
nổi. Vì vậy mà sức cảm hóa của phương này có hơi hẹp
đ) Niệm quán tưởng: Một mặt xưng danh hiệu Phật, mặt khác
quán tưởng thân Phật và Bồ tát trang nghiêm đang đứng trước mặt ta. Do tự kỷ ám
thị tưởng tượng ra các cảnh như cảnh Phật đương đưa tay thoa đầu ta hoặc lấy áo
phủ lên mình ta, hoặc như cảnh đức Quan Âm và đức Thế Chí đương đứng hầu hai bên
đức Phật, còn Thánh chúng thì đương đoanh vây hai bên thân ta. Lại có thể quán
tưởng cảnh đất vàng, hồ báu của thế giới Cực lạc với lâu đài tráng lệ, lưới báu
bủa giăng, hoa nở chim kêu đương phát ra tiếng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng
v.v...
Nếu quán tưởng này đã thành thục, thì tuy nhục thân đương
ở cõi Ta bà mà thức thần đã dạo chơi trên Cực lạc. Hoặc nếu quán tưởng chưa chơn
thuần thì nó vẫn có thể làm trợ duyên cho sự niệm Phật bằng cách giúp cho tịnh
nghiệp dễ dàng thành tựu.
Phép tu quán tưởng này lâu ngày càng thuần thục càng tạo
được một ấn tượng rõ ràng và sâu sắc trong tầm mắt của hành giả. Một ngày kia,
khi báo thân suy tạ, trần duyên ở cõi đời này dù cám dỗ đến đâu, cũng khó lôi
cuốn khiến phải liên lụy. Như vậy, thắng cảnh Cực lạc nhất thời đã hiển hiện ra
trước mắt rồi.
e) Niệm truy đảnh: Cũng giống như phép niệm Kim cang nói
đoạn trước, nhưng giữa chữ trước và chữ sau, giữa câu trước và câu sau, đừng để
xen hở. Chữ nọ bồi vào chữ kia, câu sau chồng lên câu trước, trung gian không
cho dứt hở, nên gọi truy đảnh. Truy nghĩa là đuổi theo, đảnh nghĩa là đầu.
Nhơn vì chữ truy đảnh, câu câu truy đảnh một cách chặt
chẽ, nên tạp niệm không cách gì xen vào được. Trong lúc niệm, do trong lòng tình
tự khẩn trương, tâm và khẩu cùng xúc tiến một lần, phát sanh được chánh niệm.
Oai lực của chánh niệm càng lớn càng lấn át tất cả, làm cho tâm tưởng vô minh
tạm thời phải chìm lặng.
Phương pháp niệm này có hiệu lực rất lớn, xưa nay thường
được số đông các bậc tu tịnh nghiệp dùng đến.
g) Niệm lễ bái: Đồng thời trong khi miệng niệm thì thân
lạy, hoặc niệm xong một câu lạy một lạy, hoặc bất câu miệng niệm nhiều hay ít,
hễ cứ miệng niệm thì thân lạy, thân lạy thì miệng niệm.
Có niệm có lạy liên tục nên khiến cho thân khẩu hợp nhứt;
đồng thời trong lúc ấy, ý nghĩ đến Phật nên cả tam nghiệp thân, khẩu, ý cũng tập
trung, 6 căn đều thâu nhiếp. Như vậy, toàn bộ thân tâm cùng hết thảy các giác
quan đều quy về một mối, không còn có chỗ hở nào cho trần sự chen vào, cũng
không có một tâm niệm nào khác làm chao động tâm niệm tưởng Phật, nhớ Phật.
Muốn áp dụng phương pháp này, phải đặc biệt tinh tấn.
Hiệu lực của nó cũng đặc biệt lớn lao. Duy chỉ có một điều hại là lễ bái quá
nhiều thì sinh nhọc sức, phí hơi thở; người yếu không làm nổi. Vậy chỉ nên kiêm
dụng với các phương pháp khác, chứ không nên chuyên trì, sợ e mất sức, sanh
bệnh.
h) Niệm từng loạt 10 niệm (sổ thập): Khi niệm dùng chuỗi
hạt để ghi số loạt, cứ mỗi loạt mười câu. Sự ghi số có nhiều cách: hoặc niệm 3
câu một hơi, làm như vậy 3 lần, đến câu tiếp thì lần một hạt chấm câu; hoặc 3
câu một hơi, rồi 2 câu một hơi nữa, như vậy 2 lần rồi lần một hạt. Như vậy là cứ
mỗi khi lần một hạt chuỗi tức là đã niệm xong 10 niệm.
Phương pháp này bắt buộc tâm hành giả vừa niệm Phật, lại
vừa phải nhớ số câu niệm, Cho nên, dù tâm không chuyên, buộc cũng phải chuyên.
Nhờ có sự cưỡng bức ấy mà đối trị được các tạp niệm lăng xăng, tâm trở nên
chuyên nhứt. Thật là một phương pháp hay và rất thích nghi với những kẻ nào tâm
niệm quá chao động.
i) Niệm đếm theo hơi thở (sổ tức): Niệm như pháp truy
đảnh trước kia, không kể số danh hiệu Phật niệm được nhiều hay ít, chỉ dùng hơi
thở làm chừng. Bắt đầu thở ra thì niệm cho đến khi hết hơi thở, nghỉ niệm mà hít
thở vào. Khi thở ra lại, tiếp tục niệm như trước. Cứ 10 lần như vậy, thì gọi là
10 hơi niệm.
Phương pháp này sở dĩ thiết lập ra đặc biệt dành riêng
cho những người quá bận rộn, tiện cho sự thực hành hằng ngày. Chẳng hạn như, mỗi
ngày sáng sớm ngủ dậy, sau khi rửa mặt súc miệng xong, day mặt về hướng Tây hoặc
hướng trước Phật đài, bỏ ra 5 phút là niệm xong 10 hơi. Công việc không khó, như
người tập thể thao làm những cử động hô hấp. Nếu ngày nào cũng chuyên cần như
vậy, thì cũng nhất định được vãng sanh.
Đây là căn cứ theo đại nguyện thứ 18 của đức Phật A Di Đà
(xem trước) mà thiết lập phương này. Các vị Cổ đức nghiên cứu và tu tập phương
pháp thập niệm, chính là phương pháp niệm theo 10 hơi thở này.
k) Niệm theo thời khóa nhất định: Điều tối kỵ nhất trong
phép niệm Phật là lúc bắt đầu thì hăng hái mà về sau lại giải đãi. Sở dĩ có sự
thủy cần chung dải như vậy là vì không có tâm hằng thường. Cho nên, để giữ cho
được thủy chung như nhứt, ngay từ khi sơ phát tâm niệm Phật, hành giả cần phải
tự vạch cho mình một thời khóa biểu nhứt định. Một khi thời khóa biểu đã vạch
sẵn rồi thì ngày ngày cứ y theo đó mà thực hành, tự gây cho mình một thói quen,
và có như thế mới giữ được đạo tâm bất thoái. Trong buổi đầu, niệm nhiều hay ít
chưa phải là điều quan trọng vì nhiều hay ít còn tùy thuộc năng lực và hoàn cảnh
riêng biệt của từng cá nhân; quan trọng là tại chỗ thường thời thực hành, đều
đều và chuyên nhất.
Người xưa có vị mỗi ngày niệm đến 10 vạn hiệu. Vị nào ít
lắm cũng 5 vạn. Công hạnh tu hành của họ thật là tinh tấn dũng mãnh! Ngày nay,
hoàn cảnh thay đổi khác xưa rất xa mà lực lượng của tự thân ta cũng không bằng,
vậy ta nên châm chước hoạch định một công khóa, thật sát với hoàn cảnh và vừa
sức của ta, để thực hành cho đúng mức. Sau khi đã hoạch định rồi thì dù gặp phải
công việc bận rộn đến đâu, cũng phải cố gắng hoàn thành công khóa. Vạn nhất, vì
một lẽ nào đó mà không hoàn tất được ngày ấy thì qua hôm sau phải bổ khuyết kịp
thời, chớ nên để rày lần mai lửa, tạo thành cho ta một thói xấu rất có hại về
sau.
Trong khi vạch khóa trình, nên tránh hai cực đoan. Cực
đoan thứ nhứt là vì sự hăng hái trong buổi đầu, tự định cho mình một khóa trình
quá nhiều, về sau đuối sức theo không kịp, rồi vì vậy bỏ luôn. Cực đoan thứ hai
là vì sự e ngại về sau theo không kịp, nên dè đặt tự định cho mình một khóa
trình quá ít, không thấm vào đâu, rồi cũng dễ sinh ra giải đãi. Cả hai cực đoan
đều đến kết quả như nhau. Cho nên, trong khi quyết định khóa trình, cần phải tế
nhị châm chước dung hòa giữa hoàn cảnh và năng lực thế nào thích trung mới được
lâu dài và hữu hiệu
l) Niệm bất cứ lúc nào: Với những hành giả đã huân tập
được tịnh chủng khá thành thục thì tự nhiên phát ra những tiếng niệm Phật bất cứ
lúc nào, cơ hồ như có một sức lực dũng mãnh nào bên trong thúc đẩy, khiến cho
hành giả hằng tiến không lùi. Vì vậy mà dù công khóa đã hoàn tất, các vị này vẫn
chưa cho là đủ, nên trừ ngoài giấc ngủ, bất luận ngày đêm, trong bốn oai nghi là
đi, đứng, nằm, ngồi, không lúc nào, không chốn nào, là không niệm Phật. Như vậy
câu "Nam mô A Di Đà Phật" không lúc nào rời khỏi miệng, lâu ngày thành tập quán.
Truyện vãng sanh của người xưa còn ghi chép lại rất nhiều
trường hợp vãng sanh do pháp môn niệm Phật này đem lại. Như có ông thợ rèn, tay
đập búa miệng niệm Phật; bà làm nghề đậu hủ, tay xay đậu miệng niệm Phật; về
sau, khi vừa dứt tiếng niệm Phật, cả hai đều được đức Phật phóng hào quang tiếp
dẫn và đều được tọa hóa vãng sanh Cực lạc.
Chúng ta nên lấy đó làm gương. Nếu niệm được đến trình độ
ấy thì dù có định khóa trình, hay không còn định khóa trình, không còn là vấn đề
nữa.
m) Niệm hay không niệm vẫn là niệm: Phép niệm Phật nói ở
đoạn trên là chỉ sự niệm thành tiếng, phát ra nơi cửa miệng, trong 4 oai nghi
đi, đứng, nằm, ngồi. Chữ NIỆM trong đoạn này là chỉ tâm niệm (tâm niệm nhớ nghĩ
đến Phật). Nói "niệm hay không niệm vẫn là niệm" có nghĩa là bất kể niệm thành
lời hay không, luôn luôn trong tâm vẫn tưởng nhớ đến Phật, tức là vẫn có niệm
Phật.
Sở dĩ miệng phải niệm Phật là cốt nhắc cho trong tâm
tưởng nhớ đến Phật. Giờ đây, dù cho khi miệng không niệm mà tâm vẫn có tưởng
nhớ, như thế cứu cánh của phép trì danh niệm Phật đã đạt được rồi vậy.
Nếu hành giả thực hiện được phép "không niệm mà niệm" thì
bất luận thời gian nào, bất luận miệng có trì danh hay không trì danh, tâm lý
lúc nào cũng vẫn để vào Phật. Như vậy, tịnh niệm đã kiên cường liên tục không
hở, lòng như rào sắt vách đồng, gió thổi cũng không lọt, ai muốn đập phá cũng
không xuể, quyết không còn một trần niệm ô nhiễm nào có thể đột nhập, khiến cho
tâm chao động được. Lúc ấy, phép niệm Phật tam muội tự nhiên thành tựu, quả vãng
sanh không cầu mà tự đến.
Người xưa nói "niệm mà không niệm, không niệm mà niệm"
tức là chỉ cho cảnh giới này vậy. Nếu không phải là người niệm Phật đã lâu năm,
và do đó, công hạnh đã thuần thục, thì quyết không thực hành được pháp môn này.
Hàng sơ cơ quả thật khó mà noi theo.
CHƯƠNG V:
PHÁT NGUYỆN VÃNG SANH CỰC LẠC
TIẾT MỘT: TÍNH CÁCH TRỌNG YẾU CỦA SỰ PHÁT NGUYỆN
Trong một chương đã nói sự quan trọng của lòng tin. Nay
xin giải rõ tính cách trọng yếu của sự phát nguyện.
Ngài Ngẫu ích Đại sư nói: "Được vãng sanh hay không là do
Tín Nguyện có hay không; còn phẩm vị vãng sanh cao hay thấp là tùy việc trì danh
sâu hay cạn"
Ở đây, chưa bàn đến phẩm vị cao thấp sau khi vãng sanh.
Vấn đề cấp thiết cần phải giải quyết là có được vãng sanh hay không đã. Vì vậy
mà chưa bàn đến vấn đề hành trì sâu hay cạn, mà chỉ nên bàn đến tín nguyện có
hay không mà thôi.
Tín, Nguyện, Hạnh là ba tư lương sanh về Tịnh độ. Nếu tư
lương không đủ, quyết không được vãng sanh. Sở dĩ vì thế mà sự phát nguyện chiếm
một địa vị tối quan trọng trong pháp môn tu Tịnh độ.
Đức Phật A Di Đà ngày xưa phát 48 lời nguyện làm duyên
khởi tạo thành Thế giới Cực lạc. Từ đó về sau, chúng sanh trong mười phương đều
lấy sự phát nguyện vãng sanh làm căn cứ tu hành của tông Tịnh độ. Một đằng Phật
nguyện tiếp dẫn, một đằng chúng sanh nguyện vãng sanh, hai nguyện gặp nhau, hai
lực lượng tự, tha, hỗ trợ nhau mới đủ sức kết thành quả vãng sanh. Vì thế, người
tu tịnh nghiệp quyết phải phát nguyện dũng mãnh.
Trong 48 lời đại nguyện của đức A Di Đà, lời đại nguyện
thứ 19 nói một cách rõ ràng, rằng nếu có người chí tâm phát nguyện muốn sanh về
nước Ngài, lúc lâm chung nhất định Ngài sẽ đến tiếp dẫn. Cho nên, hễ có phát
nguyện là quyết định phải được vãng sanh.
Lại nữa, trong kinh "Phật thuyết A Di Đà" đức Phật Thích
Ca bảo ngài Xá Lợi Phất: "Nếu có người đã phát nguyện, đương phát nguyện, sắp
phát nguyện, nguyện sanh về thế giới đức Phật A Di Đà, các người ấy tất đã sanh,
hoặc đương sanh hoặc sắp sanh tại thế giới kia, và, hết thảy đều được quả bất
thoái chuyển vô lượng Chánh đẳng Chánh giác." Đoạn trích dẫn đây cũng thuyết
minh rằng phàm hễ có nguyện tức có vãng sanh vậy.
Lại nữa, trong kinh Hoa nghiêm cũng từng dạy rằng: "Người
ấy khi gần lâm chung, trong sát na tối hậu, tất cả các căn thảy đều bại hoại,
tất cả thân thuộc thảy đều xa rời, tất cả uy thế đều tan rã ... chỉ còn nguyện
vương là hằng cùng theo dõi, hướng dẫn trước mắt; trong một khoảnh khắc, liền
được vãng sanh thế giới Cực lạc." Căn cứ vào các kinh văn trích dẫn trên đây, ta
thấy công dụng của phát nguyện là như thế nào rồi vậy.
Bây giờ, trên thực tế, đây là câu chuyện mà thầy Bạch Sa
ở Quy Nhơn đã kể cho tôi nghe:
Bà Thái Xương, vợ một Hoa kiều nguyên buôn bán ở Quy
Nhơn, là một đàn việt chùa Bạch Sa và đã giúp thầy ấy kiến tạo ngôi chùa Bạch Sa
hiện nay. Bà chuyên tu pháp môn niệm Phật và chỉ phát nguyện khi thọ chung được
gặp ngày vía đức A Di Đà (tức là ngày 17 tháng 11 âm lịch) và được biết trước
giờ phút thọ chung ấy. Năm bà mất, đã 80 tuổi mà vẫn khỏe mạnh. Đầu tháng 11 năm
ấy, bà đến xin thầy Bạch Sa tụng cho một bộ kinh Thủy Sám và một bộ kinh Pháp
Hoa để kịp đến ngày 17 tháng ấy bà về chầu Phật. Thầy Bạch Sa lấy làm kinh ngạc
vô cùng, nhưng vì bà là bổn đạo thuần thành đã lâu năm nên thầy cũng phải chiều
theo. Cái tin ấy đã làm cho bà con và đạo hữu kinh ngạc. Đến ngày 17, họ tu tập
đến nhà bà rất đông để thỏa mãn tánh hiếu kỳ. Suốt buổi sáng hôm ấy, bà vẫn khỏe
mạnh và bình tĩnh như thường ngày, khiến thầy Bạch Sa trong thâm tâm e sợ, không
khéo phen này làm trò cười cho thiên hạ. Bỗng đâu đến khoảng quá 10 giờ sáng, bà
bảo người giúp việc in một in cơm đem lên nhờ thầy cúng Phật rồi đem xuống cho
bà, bà chắn in cơm làm hai phần, tự mình ăn một nửa, còn một nửa bảo người giúp
việc ăn mà từ tạ rằng: "Gọi là đền đáp công ơn mụ giúp đỡ tôi trong mười mấy năm
trường, nay đến ngày vĩnh biệt, xin biếu mụ ăn nữa phần cơm này để sau nhờ Phật
tiếp dẫn mụ về Tây phương." Nói xong, rửa mặt súc miệng và thay áo quần thì đúng
12 giờ trưa, bà chào tất cả mọi người, ngồi xếp bằng, hai tay chấp trước ngực mà
hóa một cách vui vẻ trước sự kinh ngạc của tất cả mọi người trong nhà. Năm ấy ở
Quy Nhơn, thiên hạ xôn xao bàn tán rất nhiều về cái chết của bà Thái Xương,
tiếng đồn bà thành Phật lan ra khắp các tỉnh.
Xem đó đủ biết sự phát nguyện vãng sanh Cực lạc là một
điều tối cần thiết cho người tu theo pháp môn Tịnh độ. Phát nguyện là một nhu
kiện không thể không có, ta không nên suất lượt để phải mất công hiệu và lợi ích
rất đồng, nhưng lớn về sau.
Từ xưa nay, người tu theo pháp môn Tịnh độ đã làm ra rất
nhiều bài văn phát nguyện vãng sanh Cực lạc. Mỗi bài đều có một ý nghĩa hoặc sâu
hoặc cạn nhưng mục đích chung vẫn là: "Nguyện khi thân mạng gần chung, biết
trước giờ chết mà thân tâm vẫn được an vui, được thấy Phật và Bồ tát đến tiếp
dẫn."
Trong các bài phát nguyện, nổi tiếng nhất là bài "Khể thủ
Tây phương" của ngài Liên Trì đại sư, bài "Nhứt tâm quy mạng" của ngài Từ Vân
Sám chủ, bài "Thập phương tam thế Phật" của ngài Đại Từ Bồ Tát. Bài nào bài nấy,
lời văn rất hay, ý nghĩa rất đầy đủ và hàm xúc. Trong quốc văn ta thì có bài "Đệ
tử chúng con tư vô thủy" và bài "Đệ tử kinh lạy." Sau một thời kinh và trì niệm
danh hiệu Phật, ta nên vận hết thành tâm đọc một trong những bài ấy, hoặc đọc
tiếp hai ba lần cũng được. Đọc như thế tức là mượn lời văn để tự mình phát lời
nguyện rồi vậy. Lúc lâm chung, nhất định sẽ được nhờ Phật tiếp dẫn vãng sanh Thế
giới Cực lạc
Nếu không muốn lắp theo khuôn cơ sẵn, ta có thể tự mình
viết lấy bài phát nguyện riêng cho thích hợp cũng được. Đại cương lời phát
nguyện không ngoài việc cầu vãng sanh, cầu Phật tiếp dẫn, cầu chứng quả, để trở
lui tam giới cứu độ chúng sanh đồng sanh Lạc quốc. Còn nếu muốn thêm những chi
tiết nào thâm thiết khác, ấy là tùy hoàn cảnh và sở nguyện riêng từng người.
Trong văn phát nguyện bao giờ cũng có câu cầu Phật và
chúng Bồ tát đến tiếp dẫn là vì lẽ gì ? Xin thưa: Người tu Tịnh độ, nếu công phu
chưa được thuần thục, thường hay bị hãm vào trong những trạng thái sau đây, nên
khi lâm chung không niệm được, hoặc lắm khi cũng không kịp mời người khác hộ
niệm giùm. Các trạng thái ấy có thể là: hoặc vì bệnh khổ bức bách nên sinh hôn
mê, hoặc bị bà con thương tiếc khó bề xả bỏ nên sinh si luyến, hoặc vì sự nghiệp
của tiền khó đứt lòng tham đắm nên sinh bi ai, hoặc vì thù hận đầy dẫy khó giải
nỗi lòng nên sinh sân hận v.v... Đó là chưa kể cả trường hợp hoạnh tử, miệng
chưa kịp niệm đã vong.
Nếu lúc gần lâm chung mà không được Phật hiện đến tiếp
dẫn thì không được vãng sanh, lại còn vì các sự đau khổ tham sân luyến tiếc mà
bị đọa lạc ba đường dữ nữa là khác. Vì các lý do ấy nên trong văn phát nguyện,
bao giờ cũng phải cầu Phật đến rước để tiếp dẫn mới là chu đáo. Sự phát nguyện
hằng ngày có thể ở tại chùa vào bất luận giờ nào cũng được, miễn là sau khi lễ
Phật xong thì quỳ ngay trước điện Phật mà đọc lời phát nguyện. Nếu ở nhà có bàn
thờ Phật thì hằng ngày nên đốt hương lạy Phật rồi phát nguyện. Hoặc giả, nếu
không tiện thờ Phật thì viết câu: "Nam mô Thập phương Tam thế Phật Bồ tát" dán
lên trên vách, hằng đêm trước khi đi ngủ, đối mặt vào vách mà đốt hương phát
nguyện. Gặp khi đi đường, chưa kịp trở về thì nên xây mặt về hướng tây chắp tay
niệm năm, mười hiệu Phật rồi lâm râm đọc lời phát nguyện. Ta lại có thể phát
nguyện mỗi khi làm được một việc thiện nào, bất luận lớn nhỏ v.v...
Trong nghi lễ phát nguyện, điều tuyệt đối cấm hẳn là
không được đối trước đền tháp thờ thần thánh ma quỷ mà phát nguyện.
TIẾT HAI: GIỚI THIỆU VÀI BÀI PHÁT NGUYỆN CỦA NGƯỜI XƯA VÀ NGHI THỨC PHÁT
NGUYỆN
a) NỘI DUNG PHÁT NGUYỆN
Bài của Ngài Từ Vân sám chủ:
NGUYÊN VĂN
Nhứt tâm quy mạng!
Cực lạc Thế giới
A Di Đà Phật
Nguyện dĩ tịnh quang chiếu ngã
Từ thệ nhiếp ngã
Ngã kim chánh niệm
Xưng Như Lai danh
Vị Bồ đề đạo
Cầu sanh Tịnh độ
Phật tích bổn thệ:
"Nhược hữu chúng sanh,
Dục sanh ngã quốc
Chí tâm tín nhạo,
Nãi chí thập niệm,
Ngược bất sanh giả.
Bất thủ chánh giác";
Dĩ thữ niệm Phật nhân duyên,
Đắc nhập Như Lai
Đại thệ hải trung.
Thừa Phật từ lực,
Chúng tội tiêu diệt,
Thiện căn tăng trưởng,
Nhược lâm dục mạng chung
Dự tri thời chí,
Thân vô bệnh khổ,
Tâm bất tham luyến,
Ý bất điên đảo,
Như nhập thiền định.
Phật cập thánh chúng,
Thủ chấp kim đài.
Lai nghinh tiếp ngã,
Ư nhứt niệm khoảnh
Sanh Cực lạc quốc.
Hoa khai kiến Phật,
Tức văn Phật thừa,
Đốn khai Phật huệ,
Quảng độ chúng sanh
Mãn Bồ đề nguyện.
DỊCH
Một lòng quy kính
Phật A di đà
Thế giới Cực lạc
Nguyện lấy tịnh quang
chiếu con
Từ thệ nhiếp con,
Con nay chánh niệm
Xưng hiệu Như Lai,
Vị đạo Bồ đề
Cầu sanh Tịnh độ
Phật xưa có thề:
"Nếu có chúng sanh,
Muốn sanh nước ta
Hết lòng tín niệm,
Dù chỉ mười niệm,
Mà chẳng đặng sanh.
Thề chẳng làm Phật";
Nhờ nhơn duyên niệm
Phật này
Được vào trong biển đại thệ
Của Đức Như Lai
Nhờ từ lực Phật
Các tội tiêu diệt,
Căn lành tăng trưởng,
Khi thân mạng gần chung
Biết trước giờ chết
Thân không bệnh khổ,
Tâm không tham luyến,
Ý không điên đảo,
Như vào thuyền định,
Phật và Thánh chúng,
Tay nâng kim đài.
Đến nghinh tiếp con,
Trong khoảng một niệm
Sanh về Cực lạc
Sen nở thấy Phật.
Liền nghe Phật thừa.
Bừng tỏ Phật huệ,
Lui về độ sanh,
Tròn nguyện Bồ đề
Bài của Ngài Đại từ Bồ tát:
NGUYÊN VĂN DỊCH
Thập Phương Tam thế Phật, Trong ba đời mười
phương.
A Di Đà đệ nhứt. Phật Di Đà thứ nhất,
Cửu phẩm độ chúng sanh Chín phẩm độ chúng
sanh.
Oai đức vô cùng cực. Oai đức cao tột bậc.
Ngã kim đại quy y. Con nay nguyện quy y.
Sám hối tam nghiệp tội. Sám hối tội ba nghiệp.
Phàm hữu chư phước thiện Phàm làm được phước
thiện,
Chí tâm dụng hồi hướng, Thảy nhứt tâm hồi
hướng.
Nguyện đồng niệm Phật nhơn. Nguyện cùng người niệm
Phật,
Cảm ứng tùy thời hiện; Tùy thời hiện cảm ứng;
Làm chung Tây phương cảnh Khi làm chung thấy rõ,
Phân minh tại mục tiền; Cảnh Tây phương trước mắt;
Kiến văn giai tinh tấn. Thấy nghe đều tinh tấn
Đồng sanh Cực lạc quốc; Đồng sanh về Cực lạc;
Kiến Phật liễu sanh tử, Thấy Phật đoạn sanh tử,
Như Phật độ nhứt thế. Như Phật độ hết thảy.
Vô biên phiền não đoạn, Dứt vô biên phiền
não,
Vô lượng pháp môn tu, Tu vô lượng pháp môn,
Thệ nguyện độ chúng sanh. Độ hết thảy chúng
sanh.
Tổng nguyện thành Phật đạo. Đều trọn thánh Phật
đạo.
Hư không hữu tận, Hư không có hạn,
Ngã nguyện vô cùng. Nguyện con không cùng.
Tình dữ vô tình, Hữu tình vô tình,
Đồng viên chủng trí. Đều trọn trí giác.
Một bài phát nguyện khác:
NGUYÊN VĂN DỊCH
Nguyện dĩ thử công đức, Nguyện đem công đức
này,
Trang nghiêm ư Phật độ, Trang nghiêm nơi cõi
Phật,
Thượng báo tứ trọng ân, Trên đền bốn ơn sâu,
Hạ tế tam đồ khổ. Dưới độ ba đường khổ,
Nhược hữu kiến văn giả Nếu có kẻ thấy nghe
Giai phát bồ đề tâm. Đều phát lòng Bồ đề.
Tận thử nhứt báo thân, Khi báo thân này mãn,
Đồng sanh Cực lạc quốc Đồng sanh về nước Cực lạc.
b) NGHI THỨC PHÁT NGUYỆN
Chuẩn bị: Rửa tay, súc miệng, y phục chỉnh tề
Hành lễ: Đến trước Phật đài đốt hương cúng dường Phật.
Chắp tay trước ngực, đọc:
Đại từ đại bi thương chúng sanh,
Đại hỷ đại xả cứu muôn loài.
Tướng tốt rực rỡ tự trang nghiêm.
Đệ tử chi thành quy mạng lễ
Nam mô Thập phương Thường trú Tam Bảo.
(1 lạy)
Đệ tử, pháp danh .............. nguyện Quy y Phật, là
Đấng Phước Huệ vô biên, thề đời đời kiếp kiếp không quy y thiên thần quỷ vật
(1 lạy)
Đệ tử, pháp danh .............. nguyện Quy y Pháp, là nền
Giáo lý vô thượng, thề đời đời kiếp kiếp không quy y ngoại đạo tà giáo (1
lạy)
Đệ tử, pháp danh .............. nguyện Quy y Tăng là
những bậc Thánh hiền thanh tịnh, thề đời đời kiếp kiếp không quy y tổn hữu ác
đảng (1 lạy)
Nam mô Ta bà giáo chủ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1
lạy)
Nam mô Tây phương Cực lạc Thế giới Đại từ Đại bi A Di Đà
Phật (1 lạy)
Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát (1 lạy)
Nam mô Đại thế Chí Bồ tát (1 lạy)
Nam mô Thanh tịnh đại hải chúng Bồ tát (1 lạy)
Nam mô Thập phương tam thế, nhứt thế chư Phật, vô lượng
Bồ tát (1 lạy)
Xong quỳ niệm danh hiệu Phật (càng nhiều càng tốt)
Tiếp theo, đọc lời phát nguyện (một trong các bài trên)
Đọc xong lời phát nguyện, đứng dậy, đọc Tam tự quy và Hồi
hướng.
TAM TỰ QUY:
Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh thể nhập đạo cả,
phát lòng vô thượng (1 lạy)
Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấm nhuần giáo lý
(hay thấu rõ kinh tạng), trí tuệ như biển (1 lạy)
Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh thống lý đại chúng,
hết thảy không ngại (1 lạy)
HỒI HƯỚNG
Nguyện đem công đức này
Chung cùng khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo
(vái 3 vái, lui ra)
Có thể áp dụng nghi thức này hằng ngày, hoặc một thời,
hoặc hai thời, trước khi đi ngủ và sau khi thức dậy.
Nếu nhà không thiết được bàn Phật thì ngồi ngay ngắn trên
giường hay trước bàn viết, bàn ăn, chắp tay ngang ngực, quán tưởng như có tượng
Phật trước mặt, rồi đọc trọn cả nghi thức như trên. Chỗ nào trong nghi thức có
ghi 1 lạy thì thay vào 1 vái. Điều cốt yếu là phải thực hành đều đều và nhứt
thiết tránh cho được cái thông bệnh là "thủy cần chung đãi."
CHƯƠNG VI:
PHÁP QUÁN TƯỞNG
TIẾT MỘT: TRÌ DANH VÀ QUÁN TƯỞNG
Trong pháp môn Tịnh độ, quán tưởng cũng là một pháp trọng
yếu như pháp trì danh. Những ai vì ngắn hơi, không theo được pháp trì danh mà
chỉ chuyên tu pháp quán tưởng, kết quả vãng sanh hai đằng vẫn như nhau.
Kinh Quán Vô lượng Thọ dạy có 16 pháp quán, trình bày rất
chí lý rõ ràng. Luận Vãng sanh của ngài Vô Trước lại chia thành 29 pháp quán.
Công năng tán trợ vãng sanh của các pháp quán, như trên đã nói, không khác công
năng của pháp trì danh. Có khác chăng là một đằng dễ theo, một đằng khó theo,
như sẽ nói rõ sau đây;
Với pháp quán tưởng, cảnh quán thường rất rộng rãi và tế
nhị nên khó hành trì. Hơn nữa, vì chưa từng trải qua cảnh đó nên ấn tượng dễ trở
nên mông lung. Cảnh chỉ hoàn toàn căn cứ vào ức tưởng nên khó tránh khỏi sai sự
thật. Những sự khó khăn trên lại càng tăng thêm lên nữa, đối với chúng sanh
trong đời mạt pháp này. Quả vậy, nghiệp chướng nặng nề, trí huệ cam cợt, tâm tư
tạp loạn hoàn cảnh nhiễu nhương; với những điều kiện như thế tư lự thật khó tập
trung vào một cảnh chuyên nhất trong quán pháp. Vì các lý do như trên, nên pháp
quán tưởng khó áp dụng hơn pháp trì danh. Nếu chỉ chuyên tu quán tưởng mà không
tu các pháp khác, sợ ít hy vọng thành công, vì vậy mà người tu Tịnh độ hiện thời
ít kẻ thực hành quán tưởng, phần đông chuyên theo pháp trí danh mà thôi.
Tuy nhiên, nếu gác ngoài sự thực hành khó khăn, pháp quán
tưởng còn có một tác dụng rất lớn lao ở trong pháp môn Tịnh độ. Nó có hiệu lực
phát huy công năng phục diệt chủng tử ô nhiễm và đồng thời đề khởi chủng tử
thanh tịnh ở trong tâm thức chúng ta, khiến cho các chủng tử thanh tịnh ấy mau
thành thục để hiện hạnh mạnh mẽ. Khi hiện hạnh mạnh mẽ tức là kiến tánh thành
Phật vậy. Nếu lập chí vững bền, quán tâm mạnh mẽ tinh tấn, thì lại có thể chuyển
biến thế giới Ta bà thành thế giới Cực lạc được, Pháp quán tưởng có công năng
lớn lao như vậy, thế mà chỉ có một số ít người thực hành được, quả thật đáng
tiếc!
Nay xin đề nghị một biện pháp để dễ thích nghi với mọi
hoàn cảnh, mọi năng lực là lấy pháp trì danh làm nòng cốt tu hành, đồng thời lấy
pháp quán tưởng làm trợ duyên giúp thêm sức. Đã có trì danh làm căn bản thì cho
dù quán tưởng có thành công hay không, công phu tu tập cũng không vì thế mà mất.
Trái lại, nếu bên quán tưởng cũng đồng thời thành công thì kết quả hai bên họp
lại thật là vô cùng rực rỡ. Trong trường hợp không thành công, ít nhứt nó cũng
đóng được vai trò tăng thượng duyên cho pháp trì danh. Do đó, ta có thể kết luận
một cách quả quyết và minh bạch rằng:
a) Nếu chỉ chuyên tu quán tưởng mà không kiêm tu các pháp
khác, rủi không thành công thì thật là tổn phí thì giờ.
b) Nếu dùng pháp quán tưởng phụ giúp cho pháp trì danh
thì nó có thể làm tăng thượng duyên cho tịnh nghiệp, bồi thêm hiệu quả cho pháp
trì danh mà không mảy may lưu tệ.
Tóm lại, dùng phương pháp quán tưởng giúp cho phương pháp
niệm Phật thì thật là nhiệm mầu vậy. Chúng ta cần phải biết châm chế mà thực
hành cho chóng có kết quả.
Sau đây xin cung lục 16 pháp quán trong kinh Quán Vô
lượng thọ và 29 pháp quán trong Luận Vãng sanh. Mong rằng các bậc hành giả tinh
tấn y theo, công đức sẽ vô lượng.
Đối với 16 pháp quán trong kinh Quán Vô lượng thọ hay đối
với 29 pháp quán trong luận Vãng sanh, nếu hành giả, trong khi tu, cảm thấy cảnh
giới quá rộng rãi phiền phức hoặc giã cảnh quán hiện ra quá mơ màng mông lung,
không thể quán tưởng hết cùng một lượt, thì bắt đầu chỉ nên độc quán một pháp
hoặc hai pháp mà thôi. Hoặc cũng có thể chỉ quán tưởng một bộ phận nhỏ trong một
pháp, hay thay đổi, hôm nay quán bộ phận này hôm sau quán bộ phận khác.
Trong khi tu quán, đừng nên bắt đầu "quán không" và đừng
sợ bị pháp chấp. Đặc sắc của pháp môn tu Tịnh độ là không cấm kỵ sự muốn thấy
Phật, sự muốn đến cảnh giới Phật, tức là "quán hữu." Đã có phương pháp trì danh
làm căn bản (dù chỉ trì 10 danh hiệu một ngày) phép quán kiêm thêm là cốt để phụ
giúp cho tịnh nghiệp mà thôi. Vì ở địa vị phụ, nên quán tưởng có thành công hay
không cũng không hại. Ví như trong công việc thành tựu một cái bàn, công thợ và
cây ván có thể ví với phương pháp trì danh, dầu véc ni và sự đánh bóng có thể ví
với phương pháp quán tưởng. Lại như trong công việc dệt sa lụa, trì danh như
canh chỉ, quán tưởng như bông hoa. Miễn rằng đâu được cái bàn chắc chắn hay dệt
xong cây lụa tốt bền thì gọi là hoàn thành, có đánh bóng hay không, có bông hoa
hay không, chưa phải là điều quan trọng. Nếu hiểu được lẽ đó, ta nên khéo léo
vận dụng thế nào cho phần chính được đặc biệt chú trọng hơn phần phụ, nếu có
thêm phần phụ là chỉ tăng thêm vẻ mỹ miều cho phần chính được chừng nào hay
chừng đó mà thôi vậy.
Nghe nói như trên, không khỏi có người sẽ phản đối lại mà
đàn hạch rằng: "Sở dĩ thấy chúng sanh bị giặc phiền não làm hại, nên đức Thích
Tôn đặc biệt khai ra pháp môn quán tưởng này trong kinh Quán Vô lượng thọ, nay
vì sao ở đây có chủ trương hạ thấp giá trị nó xuống và gán cho nó một vai trò
phụ phương pháp trì danh"
Nếu có sự khiển trách ấy, tôi xin nhận lỗi ngay, nhưng
cũng xin bình tĩnh xét kết quả hai bên thì sẽ rõ. Từ khi đức Phật khai ra pháp
môn Tịnh độ, chúng sanh y theo phương pháp trì danh mà tu hành, thử tính xem kết
quả được vãng sanh là bao nhiêu! Lại cũng thử tính xem số chúng sanh y theo phép
quán tưởng mà tu hành. Kết quả vãng sanh là bao nhiêu! Kết quả hai bên so nhau
thật quá huyền thù. Sự kiện này, chính đức Phật cũng đã nêu rõ. Hơn nữa trong
đời mạt pháp này vì nhơn tâm dễ tán loạn, vì hoàn cảnh quá nhiễu nhương nên ở
đây mới giám tùy cơ duyên khuyên hành giả lấy phương pháp trì danh làm chủ và
lấy phương pháp quán tưởng làm phụ. Nếu người hành giả thành công được cả hai,
kết quả sẽ vô cùng tốt đẹp. Nếu chỉ riêng thành tựu được phương pháp trì danh,
cũng quyết định được vãng sanh, vì với phương pháp trì danh, mười người tu là
mười người đạt kết quả, chứ không khó như phương pháp quán tưởng. Vì các lẽ ấy,
ở đây quyền biến chủ trương bên chính bên phụ, tưởng cũng không trái với ý kinh.
Ngày xưa, khi Ngài Thiện Đạo đại sư trước tác quyển "Pháp
môn Quán niệm A Di Đà Phật tướng hảo công đức" để giải rõ phương pháp tu hành
quán tưởng Niệm Phật, nhưng vẫn không quên khuyên hành giả chuyên trì danh hiệu
Phật. Lý do Ngài đưa ra là: "Vì chúng sanh, nghiệp chướng nặng, cảnh quán vi tế
mà tâm thô tháo, thức bay nhảy, thần tản mát, nên quán tưởng khó thành tựu." Mặc
dù vậy, Ngài vẫn nói pháp quán tưởng, mục đích chính cốt để giáo hóa hàng lợi
căn thượng trí mà thôi, chứ đối với hàng quần chúng phổ thông thì Ngài khuyên
nên chuyên trì danh hiệu Phật là đặc sách hơn cả, đó chính là phương tiện thiện
xảo của các bậc Cổ đức sáng chế ra để dắt dẫn kẻ hậu tấn vậy.
TIẾT HAI: 16 PHÁP QUÁN THEO KINH QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ
a) Quán tưởng mặt trời: Ngồi xây mặt về hướng Tây. Quán
tưởng mặt trời như cái trống treo lơ lửng giữa hư không, tròn chói lọi: về hướng
mặt trời sắp lặn, ánh sáng rực rỡ, bất cứ nhắm hay mở mắt đều trông thấy rõ
ràng.
b) Quán tưởng nước: Thứ lại, quán tưởng nước. Tập trung
tâm ý nhìn vào nước trong lặng. Khi nhắm mắt cũng vẫn thấy được nước thì quán
tưởng nước ấy kết thành băng. Đã thấy được băng rồi thì quán tưởng băng ấy thành
lưu ly. Tiếp theo, đem lưu ly ấy biến thành đất của thế giới Cực lạc trong suốt
sáng ngời: dưới đất lưu ly ấy có một đế vàng thất bảo chống đỡ: đế có 8 góc 8
cạnh, mỗi góc cạnh toàn do trăm ngàn châu bảo tạo thành, mỗi một châu bảo chiếu
ra trăm ngàn hào quang lóe ra 84.000 sắc, chiếu lên đất lưu ly, lung linh như
muôn ngàn mặt trời, không thể nhìn xiết
Lại quán trên đất lưu ly ấy có vô số dây chằng, toàn bằng
vàng ròng, xen lẫn chằng chịt có bảy báu làm giới hạn và phân khoản rõ ràng;
trong mỗi thứ báu có 500 sắc hào quang tuông ra, rực rỡ như hoa, lung linh như
trăng sao, treo lồng lộng giữa hư không, kết thành đài quang minh gồm có muôn
ngàn lầu gác do trăm thứ báu hợp thành; xung quanh đài có trăm ngàn tràng hoa và
vô lượng nhạc khí bằng châu báu, lại có 8 khí gió mát từ trong ánh sáng phe phẩy
thổi ra, nhẹ rung các nhạc khí, khiến trỗi lên những khúc nhạc vô thường, khổ,
không vô ngã, một cách hòa nhã và tự nhiên.
c) Quán tưởng đất: Khi phép quán tưởng nước đã thành tựu,
nghĩa là khi đã thấy rõ được các cảnh như trên, bất cứ mở mắt hay nhắm mắt, lúc
nào các cảnh ấy cũng hiện ra, ngoại trừ lúc ăn, như vậy gọi là đã thấy sơ qua
đất nước Cực lạc rồi. Nếu được Tam muội rõ ràng phân minh, không thể nghĩ nghì
hết được. Một quán tưởng đất thành tựu rồi, thì lúc xả bỏ thân này, tức liền
vãng sanh Tịnh độ.
d) Quán tưởng cây: Quán tưởng 7 lớp hàng cây, mỗi cây cao
8 ngàn do tuần, hoa lá toàn bằng thất bảo, sum suê im mát. Trong mỗi hoa lá toả
ra nhiều sắc khác nhau, lại trong mỗi sắc ánh ra hào quang riêng, như sắc lưu ly
ánh ra hào quang vàng, sắc pha lê ánh ra hào quang hồng, sắc mã não ánh ra hào
quang xa cừ, sắc xa cừ ánh ra hào quang quang lục v.v... Các loại châu báu như
lưu ly, pha lê, xa cừ, trân châu, san hô, hổ phách đều dùng để trang sức cho cây
Trên mỗi hàng cây đều có lưới che bằng ngọc trân châu,
trên mỗi cây lại có một lớp lưới, trong lưới có năm trăm ức diệu hoa cung điện
giống như cung trời Phạm Vương; trong cung điện có Chư thiên đồng tử nhởn nhơ
qua lại. Mỗi đồng tử đeo một vòng chuỗi anh lạc gồm năm trăm hột ngọc ma ni kết
thành. Ánh sáng của ngọc ma ni tỏa chiếu hằng trăm do tuần, lóng lánh như trăm
ngàn mặt trời mặt trăng, đẹp đẽ tuyệt vời không thể tả xiết.
Các cây báu ấy, hàng hàng nối nhau, lá lá chen nhau; giữa
các kẽ lá lại nhô lên nhiều cụm hoa đẹp, trổ ra vô số trái thất bảo. Chóp cây
tỏa thành một tàn lá rộng, che phủ 25 do tuần. Tàn lá có ngàn sắc, trên mỗi lá
có hàng trăm đường chỉ quay tròn như vòng lửa xoay, óng ánh sắc vàng ròng, chói
sáng rực rỡ. Những vòng quang minh lớn hóa thành vô lượng tràng phan bảo cái;
trong mỗi bảo cái hiện ra tam thiên, đại thiên thế giới và hết thảy các Phật sự
trong mười phương cõi Phật.
Thấy được cây rồi, sẽ lần lượt theo thứ lớp mà quán tưởng
nhánh, cành, lá hoa, mỗi mỗi riêng biệt cho thật phân minh.
đ) Quán tưởng nước Công đức: Thứ lại, quán tưởng 8 hồ
nước của Thế giới Cực lạc. Các hồ ấy đều do thất bảo tạo thành Thất bảo này là
những thứ báu mát mẻ nhu nhuyến do như ý bảo châu phát sanh. Mỗi hồ phân ra 14
chi lưu, bờ bằng vàng ròng, đáy bằng tạp sắc kim cang lót thế cát. Trong hồ có
vô số hoa sen thất bảo. Mỗi hoa sen tròn trặn 12 do tuần. Trong hoa tuông ra một
thứ nước như ngọc ma ni, theo cây lên xuống; nước chảy phát ra những thanh âm
nhiệm mầu dạy các đạo lý vô thường, khổ, không vô ngã và các phép ba la mật.
Cũng trong những thanh âm ấy, thỉnh thoảng lại vang lên những lời tán thán tướng
hảo của chư Phật. Đồng thời, từ những viên ngọc như ý châu, những hào quang sắc
vàng lại được phóng ra một cách vô cùng nhiệm mầu. Trong hào quang, bay ra từng
đàn chim lộng lẫy muôn màu muôn vẻ, cùng nhau hát những tiếng hòa nhã tán thán
sự niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
e) Tổng quán tưởng: Tổng quán tưởng tức là quán tưởng
toàn thể quốc độ Cực lạc. Quốc độ chia thành nhiều khu vực với ranh giới phân
minh. Trong mỗi khu vực có 500 ức lâu các với vô số chư thiên hòa tấu ca nhạc
bằng những nhạc khí treo lơ lửng giữa hư không như những tràng phan bảo cái. Các
nhạc khí ấy tự nhiên phát ra những âm thanh thường thời nói pháp niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng.
Một khi đã thấy được đất báu, cây báu, hồ báu cùng là
tổng tướng của thế giới Cực lạc rồi, pháp quán tưởng như vậy là đã thành tựu. Ai
thành tựu được các phép quán tưởng trên, tức trừ được các ác nghiệp rất nặng từ
vô lượng kiếp; về sau, khi lâm chung nhất định sẽ được vãng sanh.
g) Quán tưởng tòa sen Sau khi việc quán tưởng đất đã
thành tựu, tiếp là quán tưởng hoa sen. Nên bắt đầu quán tưởng từng bộ phận, từ
cành hoa cho đến đài hoa.
Cành sen làm bằng trăm thứ báu, màu sắc rực rỡ. Trên mỗi
cành có 84.000 đường gân chạy dọc, mỗi đường gân tỏa ra 84.000 hào quang lộng
lẫy như những bức vẽ tuyệt trần. Mỗi hoa sen có 84.000 cánh và hoa nào nhỏ nhất
cũng rộng đến 250 do tuần. Trên mỗi cánh hoa lại có nạm trăm ức ngọc ma ni dùng
làm trang sức. Mỗi viên ngọc ma ni phóng ra ngàn hào quang giống như hình bảo
cái che khắp mặt đất.
Đài hoa làm bằng thứ ngọc thích ca tỳ lăng già, và lại
trang sức thêm bằng 8 vạn thứ ngọc kim cang, chân thúc ca, ngọc phạm ma ni, ngọc
diệu trân châu v..v...
Nếu muốn niệm đức Phật A Di Đà, trước hết phải quán tưởng
đài sen ấy. Lúc quán tưởng, không nên để các tạp tưởng xen vào. Phải quán tưởng
từng bộ phận một cho phân minh như nhìn mặt trong gương.
Quán tưởng này mà thành tựu thì liền diệt trừ được 5 vạn
ức kiếp sanh tử tội chướng và quyết định sẽ được vãng sanh Cực lạc.
h) Quán tưởng hình tượng: Khi đã thấy đài sen rồi, tiếp
theo là quán tưởng thân tướng của đức Phật ngồi trên đài sen ấy. Quán cho đến
khi nào nhắm mắt, mở mắt đều thấy một ngôi tượng Phật, thân sắc vàng ròng ngồi
trên đài hoa kia thì tâm nhãn đều khai thông, khiến thấy được thế giới Cực lạc
với đất báu, ao báu, cây báu cùng là tràng phan bảo cái giăng bủa đầy trời, lưới
ngọc che khắp hư không. Tất cả cảnh ấy hiện ra trước mặt như khi ta xem một trái
cây nằm giữa lòng bàn tay vậy.
Lại quán tưởng thêm hai đài sen khác ở hai bên tả hữu
Phật. Bên tả là đức Quán Âm, bên hữu là đức Thế Chí. Khi quán tưởng hai tượng
này đã thành tựu thì liền thấy từ tượng Phật và Bồ tát đều phóng ra hào quang
sắc vàng, chiếu khắp các hàng cây báu. Ở dưới mỗi góc cây báu đều hiện ra 3 đài
sen; trên các đài sen đều có Phật và Bồ tát ngồi, từ gốc này qua gốc khác, trùng
trùng điệp điệp, cùng khắp cả nước ...
Quán tưởng ấy thành, hành giả sẽ nghe các dòng nước, các
luồng hào quang, các hàng cây báu, cho đến chim phù, chim nhạn v..v... đều nói
lên pháp mầu bất cứ nhập định hay xuất định, vẫn thường nghe văng vẳng lời
thuyết pháp bên tai
Những điều mà hành giả nghe trong lúc nhập định nếu khi
xuất định mà còn nhớ lại và thấy hoàn toàn xứng hợp so với kinh giáo tức là hành
giả đã thấy sơ qua cảnh giới Cực lạc rồi vậy. Còn nếu những điều kia so với kinh
giáo thấy không xứng hợp, tức là vọng tưởng.
Quán tưởng được như trên thì sẽ trừ diệt được tội nặng
trong vô lượng ức kiếp sanh tử và hiện thân chứng được Niệm Phật tam muội.
i) Quán tưởng toàn thể sắc thân Phật Tiếp theo là quán
tưởng thân tướng quang minh của đức Phật Vô lượng thọ (tức đức Phật A Di Đà).
Thân Phật sắc vàng, cao sáu mươi ức hằng sa do tuần. Bạch hào ở giữa hai chân
mày uyển chuyển xoay về bên hữu, vòi vọi như năm chóp núi Tu di. Mắt Phật trong
xanh, mông mênh như nước bốn bể. Các lỗ chân lông trong mình Ngài phóng ra hào
quang lớn như núi Tu di, trong mỗi vòng hào quang hiện ra trăm ức đại thiên thế
giới và trăm ức na do tha hằng sa Hóa Phật, mỗi vị Hóa Phật có vô số Hóa Bồ tát
làm thị giả.
Đức Phật Vô lượng thọ có 84.000 tướng trong mỗi tướng
84.000 quang minh, và mỗi một quang minh chiếu khắp chúng sanh đương niệm Phật
trong mười phương thế giới, để tiếp dẫn không sót một chúng sanh nào. Các tướng
tốt của Phật, hào quang của Phật và các hóa thân của Phật nhiều không thể kể
xiết. Trong khi quán tưởng chỉ cần nên tưởng nhớ các cảnh giới nói trên thì
trong tâm và ngoài mắt cùng đều thấy cả.
Thấy được như thế tức là đã thấy được tất cả các Đức Phật
trong mười phương. Vì thấy được các Đức Phật trong mười phương nên gọi là Niệm
Phật tam muội. Phép quán tưởng này gọi là quán tưởng toàn thể sắc thân Phật. Đã
quán tưởng được thân Phật nên cũng thấy được tâm Phật. Tâm Phật tức là lòng Đại
từ Đại bi lấy Vô duyên từ (1) độ tất cả chúng sanh
Nếu quán tưởng được như thế thì liền sau khi bỏ thân này
sẽ được vãng sanh trước mặt các Đức Phật và chứng ngay quả vô sanh nhẫn. Vì lý
do ấy, nên kẻ trí giả nên đem lòng chơn thành quán tưởng Đức Phật Vô lượng thọ;
Muốn quán tưởng Đức Phật Vô lượng thọ cho có hiệu quả,
nên tuần tự quán tưởng từng tướng tốt một. Giả sử, trước tiên chỉ nên quán tưởng
bạch hào giữa đôi chân mày. Nhưng khi đã thấy rõ tướng bạch hào này rồi, thì
84.000 tướng khác tự nhiên hiển hiện.
k) Quán tưởng toàn thể sắc thân đức Bồ tát Quán Thế Âm:
Thân tướng đức Bồ tát Quán Âm cao 80 ức na do tha do tuần, sắc vàng tiá. Trên
đảnh có nhục kế, cổ có hào quang tròn. Trong hào quang có 500 Hóa Phật, mỗi Hóa
Phật có 500 Hóa Bồ tát và vô lượng Chư thiên làm thị giả. Toàn thân Ngài đều
phóng hào quang, trong hào quang ấy đều hiện ra hết thảy sắc tướng của 5 đạo
chúng sanh. Đầu Ngài đội mũ làm bằng thứ ngọc báu Tỳ lăng già ma ni, trong mũ có
một Hóa Phật đứng, mình cao 25 do tuần. Mặt Ngài sắc vàng, tướng bạch hào ở giữa
hai chân mày có đủ sắc thất bảo, phóng ra 84.000 thứ hào quang, mỗi hào quang có
vô số Hóa Phật, mỗi Hóa Phật có vô số Hóa Bồ tát đi theo làm thị giả, tràn đầy
cả 10 phương thế giới. Bàn tay Ngài ánh ra 500 ức tạp liên hoa sắc; đầu 10 ngón
tay đều có 84.000 nét vẽ rõ ràng như nét in, mỗi nét vẽ có 84.000 sắc, mỗi sắc
có 84.000 hào quang uyển chuyển khắp mười phương. Chính nơi bàn tay rực hào
quang ấy mà Ngài tiếp dẫn chúng sanh đưa về Cực lạc. Dưới mỗi bước đi của Ngài,
như có muôn ngàn bánh xe, hóa thành 500 ức đài quang minh. Khi Ngài đặt bàn chân
xuống là có hoa kim cang ma ni tỏa nở để nâng chân.
Hầu hết thân tướng của Bồ tát Quán Âm đều có đầy đủ vẻ
đẹp như Phật, duy chỉ nhục kế trên đầu và vô kiến đảnh tướng là không so được
với Phật. Quán tưởng thân tướng đức Quán Âm thì tránh được tai họa, trừ sạch
nghiệp chướng và hết thảy tội lỗi từ vô số kiếp đến nay.
Muốn quán tưởng đức Quán Âm thì nên theo thứ lớp như sau.
Trước hết, quán tưởng nhục kế ở trên đầu, kế đó quán tưởng cái mũ, rồi mới đến
các tướng khác mỗi mỗi cho thật phân minh.
l) Quán tưởng toàn thân sắc thân của đức Bồ tát Đại Thế
Chí Thân tướng cũng lớn như đức Quán Âm. Lòng kính vòng hào quang của Ngài đo
được 125 do tuần, sáng rực cả thân, ánh quang minh chiếu khắp mười phương quốc
độ, ngời sắc vàng cháy. Tất cả chúng sanh có duyên với Ngài đều được trông thấy
sắc vàng cháy ấy. Chỉ thấy được một hào quang từ lỗ chân lông ngoài tỏa ra là đủ
thấy được hết thảy hào quang tinh diệu của 10 phương chư Phật. Vì hào quang của
Ngài sáng chói rực rỡ như vậy nên Ngài có hiệu Vô biên quang. Ngài có năng lực
tối thượng là đem ánh sáng trí huệ chiếu khắp thế giới chúng sanh, khiến chúng
sanh thoát ly được ba đường dữ nên tên hiệu chính của Ngài là Đại Thế Chí.
Mũ Ngài đội có 500 hoa báu, trong mỗi hoa báu có 500 đài
báo, trong mỗi đài báu hiện ra các cõi Tịnh độ của 10 phương chư Phật. Nhục kế
của Ngài như hoa bát đầu ma, trên nhục kế có một bình báu ánh quang minh hiện đủ
các Phật sự. Các thân tướng khác của Ngài cũng giống như đức Quán Âm.
Mỗi khi Ngài cất bước, tất cả 10 phương thế giới đều
rung động, tại mỗi chỗ đất bị rung động hiện ra 500 ức hoa báu, các hoa báu
thảy đều trang nghiêm cao hiển như thế giới Cực lạc. Khi Ngài ngồi, các quốc độ
thất bảo đều đồng loạt đều động, từ quốc độ của Phật Kim quang dưới hạ phương
đến quốc độ của Phật Kim quang Minh vương trên thượng phương; tại khoảng giữa
thì vô lượng vô số phân thân của đức Phật Vô lượng thọ và các phân thân của đức
Quán Âm, đức Thế Chí đều vân tập về, đầy khắp hư không, hết thảy đều ngự trên
tòa sen và cùng diễn thuyết pháp mầu.
Quán tưởng được như thế sẽ trừ được vô số kiếp tội ác
sanh tử, không còn bị thai sanh thường được hóa sanh và được tự tại ngao du các
quốc độ tịnh diệu của chư Phật.
m) Phổ quán tưởng: Phổ quán tưởng tức là tưởng tượng thân
minh khi sanh về thế giới Cực lạc, chân xếp lại ngồi trong hoa sen đang búp. Đến
khi hoa nở, có 500 sắc hào quang chiếu vào thân mình. Khi mở mắt liền thấy Phật
và chúng Bồ tát đầy khắp cả hư không, đương nói pháp mầu. Những lời Phật và Bồ
tát dạy cũng như tiếng nước, tiếng chim, tiếng cây, tiếng rừng phát ra đều là
diễn xuất chơn lý xứng hợp với 12 bộ kinh. Nếu sau khi xuất định mà vẫn nhớ
tưởng mãi các cảnh ấy tức gọi là thấy thế giới Cực lạc, thấy đức Phật Vô Lượng
Thọ, thấy được vô số hoá thân của Ngài, cùng là 2 đức Quán Âm, Thế Chí thường
đến chỗ ngồi của mình.
n) Tạp quán tưởng: Như trên đã nói, thân lượng của đức
Phật Vô Lượng Thọ thật là vô biên, thân lượng của hai đức Bồ Tát Quán Âm, Thế
Chí cũng thế. Tâm lực phàm phu không tài nào quán tưởng nổi, vì vậy mới có thiết
lập một loại quán tưởng mệnh danh là tạp quán tưởng mở đầu cho các quán tưởng
trên. Phương pháp tạp quán tưởng này dạy ta chỉ nên quán tưởng tượng Phật cao
một trượng sáu, ngồi trên hoa sen. Trong hồ báu, thân sắc vàng vòng; Hoá Phật ở
trong vòng hào quang cùng các đức Quán Âm, Thế Chí đều lớn bằng thân chúng sanh
với các tướng trên đầu, như đức Quán Âm thì có Đức Phật đứng trong mũ, đức Thế
Chí thì có bình báu trên nhục kế. Còn hồ sen, cây báu v.v... thì giống như các
loại hồ sen cây báu có thể tìm thấy ở mọi xứ sở.
o) Quán tưởng 3 bậc thượng phẩm vãng sanh
p) Quán tưởng 3 bậc trung phẩm vãng sanh
q) Quán tưởng 3 bậc hạ phẩm vãng sanh.
(Xin xem lại một chương trên đã nói).
TIẾT BA: 29 PHÁP QUÁN THEO LUẬN VÃNG SANH
Luận Vãng sanh Tịnh độ do ngài Bồ Tát Thế Thân trước tác
còn có tên là "Vô Lượng thọ kinh Ưu Bà Đề và nguyện sanh kệ." Nội dung bộ luận
ấy chia chúng sanh thế gian Thanh Tịnh và khí Thế gian Thanh Tịnh của Thế Giới
Cực Lạc làm 3 loại:
- Loại công đức thành tựu của Phật có 8 món.
- Loại công đức thành tựu của Bồ Tát có 4 món.
- Loại công đức thành tựu của Quốc độ có 17 món.
Sở dĩ có chia chẻ ra như vậy là cốt để dạy hành giả biết
phân biệt quán sát cho tinh tường từng loại một. Vì thế nên đó cũng là những
phép Quán Tưởng. So với 16 phép Quán Tưởng trong Quán Kinh, phương pháp hai bên
có sự bất đồng, chẳng qua là vì ở đây đặt nặng về phần nhận thức hơn mà nhẹ về
phần suy gẫm đó thôi. Nếu Hành Giả biết nương vào đây mà Quán Tưởng thì cũng sẽ
gợi được một ấn tượng tốt về Thế Giới Cực Lạc và do đó có thể tán trợ cho sự
vãng sanh rất nhiều.
THUỘC CHÚNG SANH THẾ GIAN THANH TỊNH
a) Tám món công đức thành tựu của Phật:
1) Chỗ ngồi trang nghiêm
Kệ dạy:
"Vô lượng đại Bửu Vương.
Vi diệu tịnh hoa đài".
Nghĩa là: Đức Phật là đấng Vô Lượng đại Bửu Vương, Ngài
ngồi trên đài hoa Thanh Tịnh vi diệu.
2) Thân trang nghiêm
Kệ dạy:
"Tướng hảo quang nhất tầm,
Sắc tượng siêu quần sanh."
Nghĩa là: Tướng tốt của Ngài chiếu sáng một tầm, hình
dung xinh đẹp hơn tất cả chúng sanh.
Vì không thể quán được thân tướng và ánh sáng của Đức A
Di Đà, nên chỉ căn cứ vào quan niệm của chúng sanh ở cõi này mà Quán tưởng tướng
tốt và ánh sáng một tầm từ thân đức Thích Ca chiếu ra làm tiêu chuẩn. Đức Phật
có hào quang và tướng tốt như thế nên siêu việt hơn quần sanh.
3) Miệng trang nghiêm
Kệ dạy:
"Như Lai vi diệu âm,
Phạm hưởng văn thập phương."
Nghĩa là: Ngữ ngôn và âm thanh của Phật rất nhiệm mầu như
tiếng nói của Phạm Thiên, âm hưởng nghe khắp cả mười phương.
4) Tâm trang nghiêm
Kệ dạy:
"Đồng địa thủy hỏa phong.
Hư không vô phân biệt."
Nghĩa là: Tâm Phật bình đẳng như thể tánh của địa, thủy,
hỏa, phong và hư không.
Phật dùng tâm bình đẳng độ khắp chúng sanh, không có lòng
phân biệt. So với vật khí thế gia, tính chất bình đẳng vốn đồng, không luận tinh
thô tốt xấu, đất đều chở hết, nước đều cuốn hết, lửa đều đốt hết, gió đều thổi
hết, hư không đều dung nạp hết,
5) Chúng trang nghiêm
Kệ dạy:
"Thiên nhơn bất động chúng.
Thanh tịnh trí hải sanh."
Nghĩa là: Hết thảy chúng thiên, nhơn bất động; đều nhờ
trí huệ lớn Thanh Tịnh mà được vãng sanh Cực Lạc.
6) Thượng thủ trang nghiêm
Kệ dạy:
"Như Tu Di sơn vương
Thắng diệu vô quá giả.
Nghĩa là: Như Tu Di là ngôi núi chúa, thù thắng đẹp đẽ
không ai hơn.
Các bậc Bồ Tát bất thoái Đại thừa làm Thượng Thủ, có công
đức đồ sộ như núi Tu Di, không ai hơn nổi.
7) Chủ trang nghiêm
Kệ dạy:
"Thiên nhơn Trượng Phu chúng,
Cung kỉnh nhiễu Chiêm Ngưỡng.
Nghĩa là: Trên hàng Thượng Thủ, Đức Phật là đấng Giáo Chủ
được chúng thiên nhơn Trượng Phu cung kính đoanh vây Chiêm Ngưỡng.
8) Trú trì trang nghiêm
Kệ dạy:
"Quán Phật bổn nguyện lực,
Ngộ vô không quá giả.
Năng linh tốc mãn túc,
Công đức đại bửu hải.
Nghĩa là: Sanh về Cực Lạc được gặp A Di Đà thật không
uổng công phu, vì nhờ bổn nguyện lực của Ngài, chúng sanh mau được đầy đủ công
đức lớn lao như đại hải.
b) Bốn món công đức thành tựu của Bồ Tát:
I) Trú thanh tịnh
Kệ dạy:
"An Lạc quốc Thanh Tịnh,
Thường chuyển vô cấu luân,
Hóa Phật Bồ Tát nhựt,
Như Tu Di trú trì.
Nghĩa là: Bồ Tát an trú nơi cõi Cực Lạc Thanh Tịnh, mà
vẫn thường du hành khắp nơi để nói pháp Thanh Tịnh giáo hóa chúng sanh xa lìa
các ô nhiễm phiền não. Trong khi Du Hành giáo hóa, tuy hóa hiện thân Phật và
thân Bồ Tát rất nhiều, nhưng báo thân vẫn an trú bất động và vẫn vững chắc như
núi Tu Di.
2) Niệm thanh tịnh
Kệ dạy:
"Vô cấu trang nghiêm quang,
Nhứt niệm cập nhứt thời,
Phổ chiếu chư Phật hội,
Lợi ích chư quần sanh.
Nghĩa là: Bồ Tát có đại Trí Tuệ Thanh Tịnh Trang Nghiêm.
Trí ấy có công năng trong một niệm hay trong suốt một thời gian, soi khắp các
Quốc Độ của chư Phật và làm lợi ích cho hết thảy Chúng sanh diệt trừ các khổ
não.
3) Cúng dường thanh tịnh
Kệ dạy:
"Vũ thiên nhạc hoa y,
Diệu hương đẳng cúng dường,
Tán Phật chư công đức
Vô hữu phân biệt tâm."
Nghĩa là: Bồ Tát thường rưới xuống các vật báu trang
nghiêm như: Thiên Nhạc. Thiên Hoa, Thiên Y và Diệu Hương để cúng dường Phật và
Tán thán công đức của Phật mà không hề có tâm phân biệt năng sở.
4) Hóa độ Thanh Tịnh
Kệ dạy:
"Hà đẳng thế giới vô,
Phật pháp công đức bảo,
Ngã giai nguyện vãng sanh,
Thị Phật Pháp như Phật."
Nghĩa là: Bồ Tát thường dùng Huệ Nhãn quan sát xem Thế
Giới nào không có Phật Bảo và Pháp Bảo thì nguyện vãng sanh về Thế Giới ấy để
giảng dạy Phật Pháp, như Đức Phật không khác.
THUỘC KHÍ THẾ THANH TỊNH:
Mười bảy món công đức thành tựu của Quốc độ:
I) Thanh tịnh công đức thành tựu
Kệ dạy:
"Quán bỉ thế giới tướng,
Thắng quá tam giới đạo."
Nghĩa là: Quốc độ Cực lạc do thiện căn vô lậu thanh tịnh
xuất thế gian tạo thành; Quốc độ ấy hơn hết các Quốc Độ khác trong ba cõi sáu
đường.
2) Vô lượng công đức thành tựu
Kệ dạy:
"Cứu cánh như hư không,
Quảng đại vô biên tế."
Nghĩa là: Quốc độ Cực lạc mênh mông như hư không, không
biết đâu là giới hạn; dù cho tất cả chúng sanh trong mười phương đều vãng sanh
hết về bên ấy, Quốc độ ấy vẫn còn đủ chỗ chứa rộng rãi.
3) Tánh công đức thành tựu
Kệ dạy:
"Chánh đạo đại từ bi
Xuất thế thiện căn sanh."
Nghĩa là: Quốc Độ Cực Lạc là kết quả vô tận thanh tịnh do
công đức tu hành Bát Chánh Đạo của hàng tam thừa Bồ Tát mà sanh khởi hiển hiện.
Tánh ở đây, tức là chủng tử, cũng tức là nhân tánh. Tánh
công đức thành tựu tức là nói chủng tử thiện căn huân tập, cấu tạo thành Thế
Giới Cực Lạc.
4) Hình tướng công đức thành tựu
Kệ dạy:
"Tịnh quang minh mãn túc,
Như cảnh nhựt nguyệt luân."
Nghĩa là: Tất cả hình sắc trong Quốc Độ Cực Lạc thảy đều
sáng chói vắng lặng chiếu khắp mười phương, trong suốt như gương, rực rỡ như ánh
sáng mặt trăng, mặt trời.
5) Chủng chủng công đức thành tựu
Kệ dạy:
"Bị chư trân bảo tánh,
Cụ túc diệu trang nghiêm."
Nghĩa là: Mọi sự vật đều có đủ tính chất trân bảo, đầy đủ
vẻ trang nghiêm đẹp đẽ, bất khả tư nghì.
6) Diệu sắc công đức trang nghiêm
Kệ dạy:
"Vô cấu quang diệm xí,
Minh tịnh diệu thế gian."
Nghĩa là: Bao nhiêu hình sắc của Quốc Độ Cực Lạc đều tinh
khiết, quang minh rực rỡ không vướng bụi nhơ; chói sáng rạng ngời tất cả thế
gian bất khả tư nghì.
7) Xúc công đức trang nghiêm
Kệ dạy:
"Bảo tánh công đức thảo,
Nhu nhuyến tả hữu triền.
Xúc sanh thù thắng lạc,
Quá Ca chiên lân đà."
Nghĩa là: Cỏ công đức do chủng tử Thanh Tịnh sanh ra, mịn
màng như gấm trải; đụng đến cỏ ấy cũng đều có cảm giác êm dịu thích thản lạ
lùng, hơn xa thứ cỏ Ca Chiên Lân Đà là một thứ cỏ rất mịn ở Ấn Độ.
8) Trang nghiêm công đức thành tựu, có 3 loại:
a) Nước trang nghiêm
Kệ dạy:
"Bảo hoa thiên vạn chủng.
Di phú trì lưu tuyền.
Vi phong động hoa diệp,
Giao thác quang loạn chuyển."
Nghĩa là: Hoa báu ngàn muôn thứ, che phủ các suối hồ, gió
dịu rung cành hoa, lung linh mặt nước động!
b) Đất trang nghiêm
Kệ dạy:
"Cung điện chư lâu các
Quán thập phương vô ngại
Tạp thọ dị quang sắc,
Bảo lan biến vi nhiễu."
Nghĩa là: Từ cung điện lầu gác trông ra, thấy suốt được
mười phương không chướng ngại; Hào quang màu sắc tân kỳ xuyên qua các hàng cây,
lan can báu đoanh vây bốn phía cung điện.
c) Hư không trang nghiêm
Kệ dạy:
"Vô lượng bảo giao lạc,
La võng biến hư không.
Chủng chủng linh phát hưởng,
Tuyên dương diệu pháp âm."
Nghĩa là: Vô lượng châu ngọc xen nhau kết thành lưới, bao
phủ khắp hư không;
Các thứ linh rung động tạo thành những âm hưởng tuyên
dương các pháp mầu.
9) Mưa trang nghiêm
Kệ dạy:
"Vũ hoa y trang nghiêm
Vô lượng hương phổ huân."
Nghĩa là: Tại Quốc Độ Cực Lạc có những trận mưa hoa, mưa
y phục, mưa đồ trang sức và vô lượng hương báu xông khắp Quốc Độ.
10) Quang minh công đức thành tựu
Kệ dạy:
"Phật huệ minh tịnh nhựt.
Trừ thế si ám minh."
Nghĩa là: Hào quang trí huệ của Phật chiếu tan màn ngu si
của chúng sanh như ánh sáng mặt trời soi tan màn tối tăm của thế gian.
11) Âm thanh công đức thành tựu
Kệ dạy:
"Phạm thanh ngữ thâm viễn
Vi diệu văn thập phương."
Nghĩa là: Ở quốc độ Cực Lạc, âm thanh của Phật, Bồ Tát và
chúng Thanh Văn cho đến âm thanh của gió và nước.v.v... mỗi mỗi đều thâm diệu
như tiếng Phạm Thiên và vọng ra xa đến tận mười phương, khiến tất cả thính chúng
đều nghe thấy được.
12) Chủ công đức thành tựu
Kệ dạy:
"Chánh giác A Di Đà.
Pháp vương thiện trụ trì."
Nghĩa là: Đức Phật A Di Đà làm chủ Thế Giới Cực Lạc. Ngài
là vị Pháp Vương khéo chủ trì Thế Giới ấy.
13) Quyến thuộc công đức thành tựu
Kệ dạy:
"Như Lai tịnh hoa chúng.
Chánh giác hoa hóa sanh.
Nghĩa là: Nhân dân ở Thế Giới Cực Lạc đều là quyến thuộc
Thanh Tịnh của Phật và đều do hoa sen chánh giác mà hóa sanh.
14) Thọ dụng công đức thành tựu
Kệ dạy:
"Thọ lạc pháp trung vi.
Thuyền Tam Muội vi thực.
Nghĩa là: Chúng sanh ở Thế Giới Cực Lạc hưởng thọ hương
vị của chánh pháp và Thuyền Định Tam Muộn làm thức ăn.
15) Vô chư nạn công đức thành tựu
Kệ dạy:
"Vĩnh ly thân tâm não
Thọ lạc thường vô gián.
Nghĩa là: Vĩnh viễn xa lìa các sự khổ não của thân như
thiếu thốn cơm áo vật dụng, lại cũng vĩnh viễn xa lìa các sự khổ não của tâm như
tham sân si v.v... Cho nên, chúng sanh ở quốc độ Cực Lạc thường hưởng thọ sự vui
thích, không lúc nào gián đoạn.
16) Đại thừa thâm lý công đức thành tựu
Kệ dạy:
"Đại thừa thiện căn giới,
Đẳng vô cơ hiềm danh,
Nữ nhơn cập căn khuyết,(1)
Nhị thừa chủng bất sanh."
Nghĩa là: Quốc độ Cực Lạc là cảnh giới của những kẻ có
thiện căn Đại thừa, nhứt loạt bình đẳng; không có hàng nhị thừa, phụ nữ và những
kẻ lục căn khiếm khuyết, vì vậy ở đấy tuyệt đối không có cái gì đáng chê trách.
Mà cũng không có danh từ chê trách.
17) Hy cầu công đức thành tựu
Kệ dạy:
"Chúng sanh sở nguyện lạc,
Nhứt thế năng mãn túc".
Nghĩa là: Những nguyện vọng gì của Chúng sanh, một khi
sanh về đó thì đều được thỏa mãn.
Trên đây là 29 món công đức trang nghiêm thành tựu của
Thế Giới Cực Lạc mà luận Vãng sanh đã trình bày. Hành giả trong khi tu hành phép
trì danh niệm Phật, nên chiếu ý nghĩa từng món một mà quán tưởng để huân tập
thêm tịnh nghiệp và giúp cho phương pháp niệm Phật mau thành tựu khiến cho kết
quả vãng sanh càng thêm chắc chắn.
CHƯƠNG VII:
CHUNG QUANH VẤN ĐỀ VÃNG SANH ( )
TIẾT MỘT: KHÔNG SANH VỀ TỊNH ĐỘ TẤT PHẢI ĐỌA ÁC ĐẠO
Trong mười phương, số thế giới tuy nhiều vô tận. Nhưng
xét về phương diện tịnh uế thì chỉ có thể chia làm hai loại mà thôi: Một là Tịnh
độ của chư Phật, hai là tam giới (uế độ) của chúng sanh; không sanh về bên nọ,
tất là phải sanh về bên kia. Sanh về Tịnh độ tức là thoát ly sanh tử, sanh trong
tam giới tức là còn sống chết luân hồi.
Người đời, nếu chỉ làm việc thiện thế gian hoặc chỉ tin
phép ngũ giới, thập thiện mà không niệm Phật, tức là chưa kết duyên với Phật. Đã
cùng với Phật vô duyên thì chủng tử thanh tịnh vô lậu xuất thế gian sẵn có
trong đệ bát thức không có trợ duyên để phát sanh; nếu chủng tử thanh tịnh không
phát sanh thì dù cho có tu điều thiện nhiều đến đâu cũng chỉ được sanh về cõi
trời là cùng, chứ tuyệt đối không thể sanh về cõi Phật được. Ở cõi trời, phước
báo tuy nhiều, nhưng vẫn có hạn và sai khác nhau nên cuối cùng sẽ có ngày phước
hết, báo cùng, thọ mạng tất phải chấm dứt, để rồi tùy nghiệp mới mà thác sanh
qua kiếp khác, quanh quẩn trong tam giới. Sự thác sanh hoàn toàn tùy thuộc các
nghiệp nhơn, thiện hay ác, đã từng được gây thêm trong thời gian sanh ở cõi trời
ấy. Nếu nghiệp nhơn ấy là thượng phẩm thập thiện thì vẫn sẽ sanh trở lại ở cõi
trời; nếu trung phẩm thập thiện thì sanh về cõi người; nếu là hạ phẩm thập thiện
thì sanh về cõi A tu la; nếu là thượng phẩm thập ác thì đọa vào địa ngục; nếu là
trung phẩm thập ác thì đọa vào ngạ quỷ; nếu là hạ phẩm thập ác thì đọa vào súc
sanh.
Chỉ vì các chủng tử thiện, ác trong sáu đường ấy đều là
những chủng tử hữu lậu, có công năng hỗ trợ cho nhau thuần thục, nên đều có tính
chất luân hồi. Vì thế mà chúng sanh cứ mãi luẩn quẩn vô ra trong tam giới, lên
xuống trong sáu đường không bao giờ dừng nghĩ. Lại thêm, tư tưởng và hành động
của hết thảy trong sáu đường đều xuất phát bởi khởi điểm thân kiến ngã chấp, Cho
nên, dữ nhiều lành ít và do đó, thiện nghiệp ít thua ác nghiệp. Kết quả là số
chúng sanh, sanh vào ba đường dữ nhiều hơn số chúng sanh sanh vào ba đường
thiện, thời gian ở trong ba đường dữ cũng lâu hơn. Vì lẽ ấy, Phật dạy: "Chúng
sanh lấy ba đường dữ làm cố hương."
Bởi các lẽ trên, ta có thể kết luận một cách quả quyết
rằng: Tất cả chúng sanh, nếu không được sanh về cõi Phật, tất nhiên sẽ phải đọa
vào ác đạo, không trước thời sau. Nếu muốn sanh về cõi Phật, đương nhiên là phải
niệm Phật. Đó là một sự thật đương nhiên không thể phủ nhận.
TIẾT HAI: TÔNG TỊNH ĐỘ LÀ THUYÊN TỪ DUY NHẤT CỦA ĐỜI MẠT PHÁP
Trong thời kỳ Chánh pháp (thời kỳ đức Phật mới nhập
diệt), chúng sanh nhờ phước đức dày mà nghiệp chướng nhẹ, Cho nên, bất cứ tu
theo pháp môn nào cũng đều được thành tựu. Bước qua thời kỳ tượng pháp (thời kỳ
cách Phật niết bàn 1000 năm), vì cách Phật hơi xa, nhơn tâm lần lần đi xuống, tư
lự lần lần phức tạp thêm, trong mười người tu hành may được năm, ba người thành
tựu. Đến ngày nay, gặp buổi mạt pháp, nhơn tâm càng suy đốn thêm, tư lự càng
nhiễu tạp hơn và phong tục thì đồi bại đến cực điểm. Nhơn tâm như thế, người
phát tâm chân chính tu hành đã là hãn hữu rồi, nói chi đến việc đắc đạo chứng
quả nữa! Lại thêm, pháp môn nào cũng đòi hỏi sự cố gắng của tư lự quá nhiều, nên
kết quả thu lượm được lại càng hẹp nhỏ!
Muốn chống đỡ với những khó khăn chướng ngại của thời mạt
pháp không còn có pháp môn nào hơn pháp môn niệm Phật. Pháp môn này tự nó đã đơn
giản dễ theo, ngoài ra nó lại dồn được cả hai sức: Tự, tha, để hỗ trợ cho nhau
nên dễ thành tựu. Trong kinh Đại tập dạy: "Đời mạt pháp, trong số ức triệu người
tu hành, chưa có được một người đắc đạo, duy chỉ có nương vào pháp môn niệm Phật
mới được độ thoát sanh tử." Vì thế nên biết, sau khi các Tông phái khác suy tàn,
duy có mỗi một Tông Tịnh độ là còn tồn tại để nối dài pháp vận, cứu độ chúng
sanh mà thôi; các Tông khác như Thuyền tông, Giáo tông, Luật tông v.v... đều phụ
thuộc làm trợ duyên cho Tông Tịnh độ, chứ không có thể đơn độc tồn tại được.
Trong kinh Quán vô lượng Thọ. Phật đã dạy: "Trong đời vị
lai, khi kinh đạo diệt hết ta dùng lòng từ bi, đặc biệt lưu lại kinh này tồn tại
trong một trăm năm: chúng sanh nào gặp được kinh này, đều có thể được độ thoát
như ý sở nguyện."
Nên nhớ rằng cuối đời mạt pháp, sau khi kinh đạo diệt
hết, do lòng từ bi của đức Phật, đặc biệt lưu lại một pháp môn mà thôi ấy là
pháp môn Tịnh độ. Nhờ sự đặc biệt ấy, đạo pháp sẽ kéo dài thêm được một trăm năm
nữa để độ cho hết những chúng sanh còn chút nhơn duyên với Phật. Với một trí huệ
sâu xa vi diệu như Ngài, vì sao Ngài không lưu lại pháp môn khác mà chỉ riêng
lưu pháp môn Tịnh độ? Là vì Ngài biết rằng với chúng sanh cuối đời mạt pháp chỉ
có một pháp môn ấy là có thể thoát khỏi sanh tử được mà thôi. Xem đó đủ biết
pháp môn Tịnh độ là pháp môn thích ứng bậc nhất cho đời này và về sau. Đó là con
thuyền Từ duy nhất đưa chúng sanh lên bờ giải thoát cho đời mạt pháp này vậy.
TIẾT BA: CHƯA ĐOẠN TRỪ HẾT HOẶC NGHIỆP MÀ VẪN ĐƯỢC DỰ VÀO HÀNG THÁNH
Tất cả chúng sanh sở dĩ bị đọa vào con đường sanh tử luân
hồi là vì hoặc nghiệp (nghiệp mê lầm) gây nên từ đời vô thỉ. Hoặc nghiệp cũng
tức là vô minh gồm có căn bản vô minh và chi mạt vô minh. Chính hai thứ vô minh
ấy xua đuổi chúng sanh vào trong 3 cõi và quanh quẩn mãi trong 6 đường, khiến
chịu không biết bao nhiêu là khổ sở. Vì vô minh có công năng xô đẩy chúng sanh
trôi nổi mãi, nên gọi là lưu chuyển môn (cửu lưu chuyển).
Căn cứ vào lẽ thường tu hành thì phải đoạn hoặc (dứt mê
lầm) mới chứng được chơn lý. Nếu chỉ mới phá được một phần vô minh tức là chỉ
mới chứng được một phần pháp thân. Chứng được một phần pháp thân thì gọi là hoàn
diệt môn (cửa đưa về đạo Tịch diệt). Từ khi bắt đầu tu tập đoạn hoặc cho đến khi
rốt ráo chứng được chơn lý, trong giai đoạn trung gian ấy, hành giả cần phải có
con mắt trạch pháp tinh vi, có trình độ trí huệ minh xác, mới tránh khỏi lầm
lẫn. Hơn nữa, phải trải qua 3 a tăng kỳ kiếp (vô số kiếp) rồi sau mới chứng được
quả Vô thượng chánh giác. Cho dù chỉ cần chứng quả A la Hán thôi, cũng cần phải
vận hết tự lực của mình để phá trừ hết 112 phẩm kiến hoặc (mê lầm về kiến thức)
và 81 phẩm tư hoặc (mê lầm về tư tưởng) ở trong 3 cõi này, rồi mới thành tựu
được công phu tu chứng. Xem đó thì biết những bước khó khăn mà hành giả phải
trải qua lớn lao biết là dường nào!
Trái lại, với pháp môn Tịnh độ thì không cần kể sanh tiền
hành động như thế nào, miễn có chuyên tâm niệm Phật là nhất định được vãng sanh.
Khi đã vãng sanh, tức thời bước lên địa vị bất thoái. Như vậy là chưa đoạn hoặc
nghiệp mà đã được dự vào hàng Thánh. Sau khi vãng sanh rồi, nhờ hoàn cảnh thuận
tiện, tự nhiên nghiệp chướng tiêu trừ, trí huệ phát triển, công quả thành tựu
viên mãn một cách dễ dàng, khác nào như thả một bè gỗ từ trên dòng nước; bè gỗ
tự nhiên trôi xuôi về biển, không cần phải phí nhiều công sức. Được như vậy là
nhờ tha lực hỗ trợ một cách rất đắc lực vậy. Đặc điểm ấy của pháp môn Tịnh độ,
ai là bậc trí giả đều có thể nhận rõ ràng và y cứ mà thực hành chính chắn, khỏi
phải giới thiệu dông dài.
TIẾT BỐN: HỌC PHẬT, NIỆM PHẬT KHÔNG PHẢI LÀ YẾM THẾ, TIÊU CỰC
Có lắm người muốn học Phật, niệm Phật mà trong lòng lại
ngại dư luận gán cho là tiêu cực, yếm thế hoặc mê tín dị đoan. Họ lầm nghĩ rằng
việc tu niệm là việc dành riêng cho ông già bà lão gần đất xa trời; còn đối với
những người như họ là phải có những việc khác tích cực hơn, trí thức hơn. Vì
vậy, mặc dầu trong lòng họ vẫn thầm mong muốn, nhưng khi ra giữa công chúng, họ
không dám công khai lễ Phật niệm Phật. Thật là một điều sai lầm tai hại!
Đạo Phật là một tôn giáo, nhưng đó cũng chính là một
triết học rất cao thâm vi diệu. Đã là học giả thì cần phải nghiên cứu môn triết
học này, và khi đã nghiên cứu rồi, lại còn cần phải đem ra thực hành. Vì Phật
học là một môn học gồm đủ cả lý lẫn sự, phần lý cốt để hướng dẫn cho phần sự và
phần sự cốt để làm sáng tỏ thêm phần lý, lý và sự vốn dung thông nhau, nên nếu
thực hành được sự thì có thể đạt được cảnh giới tối cao thâm và càng viên mãn
hóa phần lý vi diệu. Phật học khác với các môn triết lý thế gian, lại cũng chính
tại chỗ đó mà Phật học khác với các tôn giáo khác: Lý nào có sự nấy và sự nào có
lý nấy, lý thì đều có thể thực hành được, sự thì đều có thể lý giải được. Vì
vậy, tùy từng sở cầu, ai muốn nghiên cứu riêng về phần lý giải cũng được, mà ai
muốn y lý thực hành để cho sáng tỏ hơn thì cũng lại càng tốt. Sở nguyện nào cũng
đều thỏa mãn được cả. Nói một cách đơn giản hơn là từ những sự lý thiển cận áp
dụng hằng ngày đến những cảnh giới thâm diệu siêu tuyệt, không một điều gì mà
Phật học không giải quyết một cách viên mãn.
Chúng ta nên hiểu rằng, pháp môn niệm Phật không riêng gì
ông gia, bà cả tu theo mà ngay đến các đức Đại Bồ Tát, như các Ngài Đại Thế Chí,
Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân v.v.... và các nhà đại
Văn hào Cư Sĩ như Bạch Cư Dị, Văn Ngạn Bác, Vương Nhật Hưu v.v... cũng đã từng
áp dụng có hiệu quả. Như thế, pháp môn niệm Phật là một pháp môn rất phổ thông.
Hằng ngày hành trì như trên là cốt mượn cảnh giới Thanh
tịnh, vận dụng tâm niệm Thanh tịnh để gôt tẩy hoặc nghiệp ô nhiễm chất chứa vô
thỉ kiếp đến nay trong tâm và đang hiện ra ngoài thân, đồng thời cũng để vun xới
cho hột giống thanh tịnh xuất thế mỗi ngày một tăng trưởng. Vì thế tôi dám
khuyên các bậc thiện tri thức Phật tử trong khi làm Phật sự, không những không
nên sợ dư luận mà đồng thời lại còn phải tinh tấn khuyến khích mọi người làm
theo. Phật dạy: nhơn thân nan đắc, Phật pháp nan văn," Nay đã được làm thân
người mà lại được gặp Phật Pháp, nếu chẳng cố công học hỏi thì nào có khác gì
người nghèo được đến non vàng mà lại đành cam phận khó và chịu bỏ về không, há
chẳng uổng lắm ru!
TIẾT NĂM: TÁN TÂM NIỆM PHẬT VẪN CÓ CÔNG HIỆU
Miệng niệm Phật, tâm chuyên nhất tưởng nghĩ đến Phật gọi
là định tâm niệm Phật. Miệng niệm Phật, tâm không tưởng nghĩ đến Phật mà lại suy
nghĩ vẩn vơ gọi là tán tâm niệm Phật. Tán tâm niệm Phật so với định tâm niệm
Phật, công hiệu hai bên vốn cách nhau rất xa. Vì thế, xưa nay các bậc đại đức
đều khuyên hành giả định tâm niệm Phật, chứ không bao giờ khuyên tán tâm niệm
Phật. Nhưng sự thật thì nhứt cử nhứt động gì bên ngoài đều ảnh hưởng đến nội tâm
nên dù là tán tâm niệm Phật, sự niệm Phật ấy không phải hoàn toàn vô công hiệu.
Vả lại, trong khi miệng ta niệm lục tự Di Đà, đó há không phải là phát xuất tự
trong tâm ta mà ra hay sao?
Cho nên, trong khi miệng ta niệm, bắt đầu là sáu chữ ấy
phải bắt nguồn từ ý muốn do trong tâm ta phát ra, thứ lại, khi sáu chữ đã phát
thành tiếng, âm thanh phát ra nhứt định phải trở lui huân tập tâm ta; Như thế
không thể nói rằng nó hoàn toàn không có hiệu lực, chẳng qua công hiệu của nó so
với công hiệu của định tâm niệm Phật có kém thua mà thôi. Chỉ vì công hiệu kém
thua nên Cổ Đức không đề xướng, kỳ thực sức hàm ẩn và công hiệu của nó không thể
tuyệt đối vô công.
Người xưa có bài kệ rằng:
" Di Đà nhất cú pháp trung vương.
Tạp niệm phân vân giả bất thường.
Vạn lý phù vân già xích nhật.
Nhơn gian xử xứ hữu dư quang."
Tạm dịch là:
"Di Đà sáu chữ lớn lao thay,
Tạp niệm lăng nhăng chẳng ngại bày.
Muôn dặm mây mờ che mặt nhựt,
Nhơn gian ánh sáng vẫn còn đây."
Bài kệ nói rất xác đáng. Tịnh chủng (chủng tử thanh tịnh)
ở trong đệ bát thức, một khi đã thuần thục, tất nhiên trở ra huân tập đệ lục ý
thức phát sanh tịnh niệm; rồi đệ lục ý thức lại dắt dẫn 5 thức trước (từ nhãn
thức đến thân thức) sanh khởi hiện hạnh. Nhưng khi đi ngang qua ý thức, có lúc
bị trần cấu ô nhiễm quá dày, sóng lòng bị kích động quá mạnh đến nỗi lấn ác cả
tịnh niệm. Ý thức tuy tán loạn nhưng tịnh niệm vẫn liên tục phát khởi và vẫn
xuyên qua được, khác nào ánh sáng mặt trời xuyên qua đám mây dày đặc. Tuy mây
che phủ cùng khắp, nhưng ở giữa nhơn gian vẫn còn có chỗ lập lòe ánh sáng, chứ
không tối hẳn như ban đêm. Mây mù chưa tan, song ánh sáng lập lòe kia của mặt
trời vẫn có công dụng.
Riêng kinh nghiệm bản thân, bình nhựt lắm lúc tôi cũng
gặp phải tán niệm quấy rối. Gặp phải trường hợp như thế, tôi vẫn cứ niệm, không
cần kể tính chất tạp niệm ấy là như thế nào, miễn giữ cho niệm niệm đừng xen hở;
niệm một lúc lâu rồi tự nhiên lần hồi tỉnh định trở lại, không cần phải dụng tâm
điều nhiếp, lâu ngày định niệm trở nên thuần thục. Vì thế, cận lai, bất cứ ngày
đêm, lúc nào tôi cũng niệm Phật, không cần nghĩ đến tán tâm hay định tâm.
Người xưa, trong 4 oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi không
lúc nào là không niệm. Nếu bảo rằng phải định tâm mới nên niệm Phật thì trong
lúc đi đường vấp ngã hoặc khi mặc áo, viết chữ v.v.... làm sao thành tựu được sự
niệm Phật ? Vì thế Cho nên, biết rằng tán tâm niệm Phật cũng vẫn có lợi.
Chủ trương như trên đây, không có nghĩa rằng tôi nhất
thiết cổ xúy cho sự tán tâm niệm Phật. Cố nhiên có định tâm niệm Phật được thì
rất quý, nhưng rủi có bị tán tâm cũng đừng lo ngại. Lý do thứ nhứt là: Dù định
tâm hay tán tâm, đã có niệm Phật tức nhiên có chủng tử sanh hiện hạnh và ngược
lại hiện hạnh ấy sẽ huân tập trở lại đệ bát thức tạo thành chủng tử; đằng nào
cũng vẫn có sanh khởi và huân tập cả, chẳng qua sức huân tập của tán tâm thì
không mạnh bằng sức huân tập của định tâm mà thôi. Lý do thứ hai là: Dù bị tán
tâm, cũng cứ nên niệm và phải niệm cho chuyên thì tự nhiên tán tâm sẽ được
chuyển thành định tâm, chứ không phải tự thỉ chí chung luôn luôn tán tâm. Vì hai
lý do ấy nên ở đây vẫn tùy hỷ sự tán tâm niệm Phật vậy.
TIẾT SÁU: CHỮ A ĐỌC LÀ "A" NẾU TỒN TẠI, CÁC CHỮ A (A) KHÁC TỒN TẠI
Trong khi niệm Lục tự Di Đà: "Nam mô A Di Đà Phật", nếu
hành giả sợ tâm niệm mình rong ruổi lăng nhăng thời có thể thực hành theo phương
pháp "Thập niệm" như đã nói trên chương IV, tiết 2 để đối trị lại. Mỗi khi miệng
niệm xong 10 hiệu Phật thì tay lần một hột; như vậy, một đằng vừa phải nhớ số,
tâm lực tập trung hết vào đó, tự nhiên không thể nào sanh khởi.
Nếu phương pháp thập niệm ấy lại cũng không theo được thì
trong mỗi câu niệm chỉ nên nhớ tưởng riêng một chữ A (a) cho rõ ràng, chớ để xao
lãng. Miệng niệm, tâm tưởng nhớ, thì các chữ kế tiếp cũng nhớ được. Điều cốt yếu
là hành giả phải làm thế nào khiến được tâm tư tập trung duy nhất; khi tâm tư đã
duy nhất rồi thì dễ đi đến cảnh "Nhất tâm bất loạn", chứng được niệm Phật tam
muội và chắc đạt kết quả vãng sanh về sau.
TIẾT 7: NĂM THÁNG KHÔNG CHỜ ĐỢI ĐỪNG NÊN HẸN LẠI NGÀY MAI
Trên con đường tu hành, việc niệm Phật là một việc vừa
cần thiết, vừa cấp bách. Hễ gặp dịp tu được là tu liền, gặp dịp niệm được là
niệm ngay, chớ nên chần chờ để cho thời gian luống trôi qua một cách vô ích.
Phật dạy mạng người ở trong một hơi thở, thở ra mà không
thở vào nữa là đời tàn! Bất luận lúc nào, giờ phút nào, con người cũng có thể
chết được, không một ai có đủ tài năng bảo đảm đời sống vững chắc lâu dài. Thế
gian lại có câu ca rằng: "Đời người khác thể bóng câu, sớm còn tối mất biết đâu
mà lường."
Sự thật đơn giản và phũ phàng ấy, từ Thánh nhân cho đến
thế tục, không ai là không xác nhận. Sinh hữu hạn, tử vô kỳ, Cho nên, muốn kịp
thời đối phó với cái chết bất thần, ta không nên để lỡ một thời gian nào trôi
qua mà không tu niệm. Bất cứ lúc nào tu được, niệm được thì phải gấp rút và tinh
tấn hành trì; có thế phút lâm chung mới tránh khỏi cảnh hoang mang tay quàng
chân rối, lúng túng chẳng biết về đâu!
Có một số thường nghĩ sai lầm rằng tay chân còn tráng
kiện, đời sống còn dài, việc tu niệm xin để gác lại, đợi khi nào già yếu sẽ bắt
đầu hạ thủ công phu cũng không muộn gì. Trong sự tu niệm bằng cách sắp đặt tính
toán như trên thường hay đưa đến hỏng việc.
Ngày xưa, có người đến nhà bạn là Trương Tổ Lưu khuyên
niệm Phật. Trương nghe theo, nhưng xin khất lại một ngày khác vì có ba việc chưa
làm xong: một là cha mẹ đang còn cần phải phụng dưỡng, hai là con cái chưa dựng
gả xong, ba là việc nhà chưa thu xếp gọn. Trương hẹn khi nào làm xong 3 việc ấy,
sẽ hạ thủ công phu, nhất tâm niệm Phật. Sau khi cáo từ ra về được vài ba tháng,
người kia trở lui thăm với chủ ý khiến được ông bạn đừng nên chần chờ nữa, nhưng
than ôi! Khi đến mới biết rằng bạn đã là người thiên cổ! Bèn ngậm ngùi than thở
và làm một bài thơ điếu rằng:
" Ngô hữu danh vi Trương Tổ Lưu
Khuyến y niệm Phật thuyết tam đầu,
Khước hận Diêm công na phân hiểu
Tam đầu vị liễu tiện lai câu."
Tạm dịch là:
" Ông bạn tôi tên Trương Tổ Lưu
Tôi khuyên niệm Phật hẹn ba điều.
Diêm vương ác hại không thèm hiểu,
Ba việc chưa xong vội bặt liều."
Người đời dù quyền cao chức trọng đến đâu, vẫn không thể
bảo đảm cho tương lai đời mình một cách chắc chắn được. Trường hợp như Trương Tổ
Lưu trên đây không phải là hiếm, vì thế nếu đã có chí tu hành thì tâm phải cho
quyết và phải biết lợi dụng thời gian mới khỏi để ân hận về sau. Vậy, lúc nào tu
được là nên tu liền, phút nào niệm được là phải niệm ngay.
TIẾT TÁM: TÁC DỤNG CỦA PHÁP MÔN NIỆM PHẬT GỒM THÂU HẾT TÁC DỤNG CÁC TÔNG
THUYỀN, LUẬT, GIÁO VÀ MẬT
a) So với Thuyền: Phép niệm Phật, khi chưa đạt được Nhứt
tâm bất loạn, so với phép tu Thuyền định hai bên khác nhau rất xa. Buổi sơ phát
tâm, với phép tu Thuyền định, hành giả không được có tâm ưa, chán, thủ, xả; với
phép tu niệm Phật, hành giả lại phải ưa thủ cảnh cực lạc và mong xả cảnh Ta bà.
Với phép tu thuyền định, tâm không được trú trước vào cảnh giới, nếu còn trú
trước tức là sai lạc; với phép tu niệm Phật, tâm lấy cảnh làm đối tượng, tâm
năng duyên và cảnh sở duyên phải rõ ràng. Với phép tu thuyền định tâm phải xa
lìa pháp chấp; với phép tu niệm Phật, hành giả cần phải lợi dụng pháp chấp. Với
phép tu thuyền định, hành giả phải thể nhận được tánh pháp thân ngay trong thế
gian này; với phép tu niệm Phật, hành giả khởi tưởng sẽ chết ở thế gian này này
và sẽ sanh về thế giới bên kia. Vì các lý do trên, Thuyền Tông và niệm Phật có
chỗ bất đồng.
Nhưng khi niệm Phật đã đến chỗ nhất tâm bất loạn, nghĩa
là đã đắc định rồi, thì lại là việc khác. Đạt được cảnh giới Tam muội, tức thời
hư không tan rã, đại địa lấp bằng, hiện tiền một niệm dung hợp được với pháp
thân chư Phật trong mười phương như trăm ngàn ngọn đèn cùng dung hợp ánh sáng và
cùng chiếu chung trong một căn nhà, không tan mất, không lẫn lộn. Lúc ấy, ý thức
phân biệt ly khai. Cảnh giới này so với cảnh giới chơn như Tam muội của Thuyền
Tông không hai không khác. Xem thế thì đủ biết rằng Tịnh độ tức là Thuyền Tông,
kết quả của hai bên nào có khác gì nhau?
b) So với Luật: Tác dụng của Giới luật là giữ gìn ba
nghiệp thân, khẩu, ý được trong sạch. Mục đích là làm điều lành, tránh điều dữ.
Khi tu theo pháp môn Tịnh độ, thân lễ Phật, miệng niệm Phật, ý tưởng nghĩ đến
Phật, cả ba nghiệp đều tập trung, hết thảy sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý
đều thâu nhiếp. Nếu nói làm lành thì chẳng có lành nào hơn. Nếu nói bỏ ác thì
thử hỏi khi ba nghiệp đã tập trung hết vào Phật, đâu còn có chỗ nào hở nữa để
làm ác ? Như thế, vì sao lại không nói được rằng tu Tịnh độ tức là tu Giới Luật?
c) So với Giáo: Còn nói đến Giáo nghĩa thì tuy câu: "Nam
mô A Di Đà Phật" chỉ có sáu chữ mà thôi, nhưng nếu bàn đến tác dụng thì 3 Tạng
12 Bộ giáo lý của Đức Phật thuyết pháp suốt trong 45 năm đều hàm chứa trong đó
cả.
Vả lại, mục đích nghiên cứu giáo lý là cốt để hiểu rõ lý
nghĩa mà phát lòng chánh tín, thiết thực tu trì để thật chứng quả Phật. Mục đích
của pháp môn niệm Phật là cắt đứt vọng tâm, duy trì chánh niệm, vãng sanh Cực
lạc, lên bậc bất thoái rồi cuối cùng cũng chứng quả Vô thượng bồ đề. Vì thế nên
hành giả phát tâm thành thật tu niệm thì không cần phải nhọc công nghiên cứu
giáo lý mà tựu trung tất cả giáo lý đều đã đầy đủ. Như vậy, vì sao không nói
được rằng tu Tịnh độ tức là tu theo Giáo nghĩa ?
d) So với Mật: Phép tu của Mật tông chú trọng về "Tam mật
gia trì." Tam mật gia trì nghĩa là giữ gìn thân mật (thân bắt ấn), khẩu mật
(miệng đọc chú) và ý mật (ý quán tưởng tự mẫu). Nếu tinh tấn hành trì đúng ba
phép mật ấy thì "tức thân thành Phật" và chứng được 6 món vô úy. Đó là điểm đặc
sắc của Mật Tông. Nhưng với pháp môn Tịnh độ thì khi ba nghiệp đã tập trung, kết
quả thật tế so với tam mật gia trì của Mật Tông không khác nhau mấy. Vả lại, tác
dụng của các pháp môn niệm Phật có công năng khiến tâm ta và tâm Phật dung hợp
làm một, liền chứng được niệm Phật Tam muội. Trong lúc Tam muội hiện tiền, Phật
và ta không hai không khác, không thể phân biệt rằng đó là ta hay là Phật. Vì
vậy, trong lúc đương niệm "Nam mô A Di Đà Phật", tự thân ta chính là A Di Đà rồi
vậy. Như thế cũng có thể nói là "tức thân thành Phật." Dù cho chưa đạt được niệm
Phật, được sự cảm ứng đạo giao và được hào quang Phật nhiếp thọ, thì bản thân
hành giả có oai lực thần thông của Phật gia bị, có cái gì đáng sợ hãi nữa đâu ?
Như vậy, vì sao lại không nói được rằng Tịnh độ tức là Mật Tông ?
Tóm lại, căn cứ vào các ý nghĩa như trên, ta có thể thấy
lý do vì sao xưa nay các bậc cao tăng, đại đức, các hàng cư sĩ đại nhơn khi tu
học Phật pháp đều đề xướng pháp môn Tịnh độ. Phạm Cổ Nông tiên sanh cũng nói:
"Học thì nên theo Duy thức, Hành thì nên quy về Tịnh độ." Vì vậy cho nên, hễ cứ
hành giả càng thâm nhập kinh tạng chừng nào thì lại càng tán dương pháp môn Tịnh
độ chừng ấy. Chỉ có những ai còn đứng ngoài cửa nhìn vào mới xem thường Tịnh độ.
Phải có con mắt tinh vi mới phân biệt được ngọc và đá; biết được ngọc Biện hòa
dễ có mấy ai ?
TIẾT CHÍN: CHƠN NGHĨA CỦA PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ CHỈ CÓ PHẬT MỚI BIẾT HẾT
Ba bộ kinh Phật dạy về pháp môn Tịnh độ không hề trình
bày một luận lý nào thâm diệu. Trái lại, từ lời văn cho đến ý nghĩa, hết thảy
rất bình dị đơn giản; do đó một số người lầm tưởng rằng phương pháp niệm Phật
không có học lý. Họ cho rằng đó chỉ là một phương pháp để an ủi các ông già bà
lão mà thôi, chứ không phải phương pháp dành cho các bậc thức giả triết sĩ tu
tập: họ nghĩ rằng nếu những người như họ mà cũng làm theo thì nào có khác gì ông
già bà lão hay kẻ ngu phu! Họ sẽ làm trò cười cho thiên hạ. Nhưng không, chính
họ đã lầm to!
Trong các kinh nói về Tịnh độ, sở dĩ Phật không dùng lý
để lập luận một cách chặt chẽ mà chỉ chuyên khuyên phát tín tâm và thực hành,
không phải vì pháp môn Tịnh độ không có lý nghĩa vững chãi chẳng qua vì nghĩa lý
ấy quá thâm diệu và "bất khả tư nghì" nên không thể nào nói hết. Cảnh giới Tịnh
độ đã "bất khả tư nghì", lại thêm ngôn ngữ chỉ hữu hạn, không thể nào nói đầy đủ
được; dù cho có nói nhiều đến đâu, cũng chỉ diễn tả được một khía cạnh nào đó
thôi, không sao tránh được thiếu sót, không sót bên nọ cũng sót bên kia, hoặc
nói được một thì sót đến mười. Đó là các lý do khiến Phật không lý luận mà chỉ
chuyên khuyên tu trì, thực hành phép niệm Phật. Nếu hành giả quyết tâm tu trì,
một cách chơn chánh và thiết thực thì tất cả nền giáo lý Phật Đà đều đã hàm chứa
trong đó rồi. Tu theo pháp môn Tịnh độ ví tắm nước biển, trong nước biển vốn đã
có nước trăm sông ngàn rạch quy tụ về.
Còn nói đến lý nghĩa và cảnh giới của pháp môn ấy thì duy
chỉ có Phật mới liễu ngộ được hết cái tinh vi uẩn áo, cái cao thâm diệu vợi của
nó mà thôi, dù cho với trí tuệ của các bậc Đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền;
Quán Âm, Thế Chí v.v... cũng chưa hiểu biết đến chỗ cùng tận.
Chúng ta thử nghĩ, nếu phương pháp trì danh niệm Phật
không phải thật có nghĩa cao siêu và công đức bất khả tư nghì thì tại sao trong
kinh "Phật thuyết A Di Đà", Phật dạy rằng khi Phật nói kinh đó thì hết thảy Chư
Phật trong sáu phương đều tán thán và hộ niệm ? Như vậy, thì biết rằng pháp môn
ấy đặc biệt và nhiệm mầu như thế nào ?
Vả lại, trong kinh có nói: "Không thể nhờ một ít nhơn
duyên phước đức thiện căn mà có thể vãng sanh được." Tiếp đó, ngài lại dạy: "Bảy
ngày chấp trì danh hiệu, đạt được nhất tâm bất loạn thì liền được vãng sanh."
Như thế thì thiện căn phước đức nhơn duyên của sự chấp trì danh hiệu quả không
phải nhỏ vậy.
TIẾT MƯỜI: KHÔNG NÊN NGỘ NHẬN LÝ LUẬN: TỰ TÁNH DI ĐÀ, DUY TÂM TỊNH ĐỘ
Có người vì quá thiên trọng lý thuyết, nên sinh ra khinh
lờn thực hành. Lý họ thường viện ra câu: Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ", rồi
liền lầm cho rằng Tịnh độ chỉ ở trong tâm, làm gì có cõi Tây phương mà hằng mong
về! Thế là, họ phủ nhận tất cả 48 đại nguyện của đức A Di Đà và thế giới Cực lạc
trang nghiêm.
Có sự chấp nệ tai hại ấy, nguyên do chỉ vì họ lầm lẫn hai
hiện tượng chơn đế và tục đế mà họ vô tình đem trộn lại làm một. Vì lấy thể làm
dụng nên thể dụng hỗn loạn, chơn tục bất phân. Đã là người học Phật, ít nhất
cũng đã từng đọc qua bài Bát nhã Tâm kinh. Trong Tâm kinh có dạy rằng: "Vô trí
diệt vô đắc, dĩ vô sở đắc cố" (không có Trí mà cũng không có sở đắc). Nhưng liền
sau đoạn ấy, Tâm kinh lại dạy: "Đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề" (... được
quả vô thượng bồ đề). Qua hai đoạn kinh ấy, ta thấy rằng: nếu y vào chơn đế thì
nói rằng không có sở đắc (chỗ đạt được), nhưng nếu y vào tục đế thì phải nói
rằng có sở đắc. Nếu lầm lẫn chơn đế và tục đế, tức là tự mâu thuẫn rồi vậy.
Các câu như trên, không riêng gì tâm kinh mới có, trong
các kinh thường cũng nói đến. Đó là y cứ vào hai phương diện chơn và tục bất
đồng mà khai thị cho rõ khía cạnh, xin các học giả đừng ngộ nhận khiến sai lạc
hết ý nghĩa uẩn áo của kinh văn. Còn như Ngài Lục Tổ, khi Ngài phủ nhận cảnh
giới Tây phương, chính là lúc Ngài đương y vào chơn lý thường trú để thuyết minh
chơn tâm, chứ không phải y vào tục lý để nói về các cảnh giới ( ) Vì duy chơn
thì hết thảy đều không, nhưng duy tục thì vạn hữu đều có.
Chúng ta không nên tuyệt đối nhận lầm rồi chấp trước ý
Tổ, khiến sinh tâm mạt sát pháp môn Tịnh độ. Có hiểu được như vậy thì mới thật
là biết cách đọc sách cổ nhân một cách thiện xảo và thâm hiểu ý cổ nhân một cách
tinh vi.
Vì lý do trên, một lần nữa, ta phải cân nhắc lại thật kỹ
để định lại một cách chuẩn xác giá trị và phạm vi của câu danh ngôn "Tự tánh Di
Đà, Duy tâm Tịnh độ." Nếu đứng về phương diện Chơn đế mà nói thì không một pháp
gì tồn tại (nhất pháp bất lập), ngay đến Phật cũng không còn trú trước, huống
nữa là Cực lạc và niệm Phật cầu vãng sanh! Vì thế mà nói ngoài bản tánh không có
Di Đà (tự tánh Di Đà) và ngoài tâm không có Tịnh độ (duy tâm Tịnh độ). Cảnh giới
ấy là cảnh giới tuyệt đối của đệ nhất nghĩa không, Cho nên, đem "dụng" quy về
"thể" thì không một pháp nào được gọi là pháp sở đắc cả.
Ngược lại, khi chưa đạt được đệ nhất nghĩa không thì phải
trụ trên "dụng" mà nói và phải nương theo từng bậc tu chứng để làm bàn đạp và
tiến lên, do đó mỗi tầng bậc đều có những pháp sở đắc riêng biệt. Đối với công
phu nội chứng của hành giả chưa đạt đến trình độ tuyệt đối thì không thể bảo
rằng tâm cảnh đều không, thọ tưởng đều tịch. Tâm cảnh chưa thông, thọ tưởng chưa
tịch thì hiển nhiên là năng và sở còn tồn tại, y báo và chánh báo đều phân minh:
một sắc, một hương, một cành hoa, một ngọn lá của cảnh giới Cực lạc trang
nghiêm, thảy đều là đối tượng của ta và ta cần phải mong cầu đạt đến chứ không
thể bỏ qua. Nếu không tự lượng sức, chỉ nhắm mắt học thuộc luận điệu của kẻ
khác, có thể rất xác thực với kẻ ấy, nhưng chỉ là lý suông đối với mình thì có
khác nào kẻ điên rồ chưa qua khỏi sóng đã toan bỏ thuyền bè!
Ta hãy xem lại trong 3 bộ kinh thuyết minh Tịnh độ, khi
nói đến tướng tốt của Phật thì không mảy lông nào, một chân tóc nào, một hào
quang nào, một sắc đẹp nào mà không diễn tả ra một cách tuyệt trần vi diệu; khi
nói đến cảnh giới trang nghiêm của Tịnh độ thì nào là hoa thơm, quả báu, hồ
ngọc, cây vàng v.v... không một cảnh nào mà không phải là cảnh hy hữu trên thế
gian ? Tướng ấy, cảnh ấy toàn là sự thật mà Phật đã thân chứng, chứ đâu phải vẽ
vời đặt để ra cho thêm hoa mỹ. Ta không nên có tà kiến cho các cảnh ấy là không
có mà bị đọa vào không vọng ngoại đạo rất là nguy hiểm.
TIẾT MƯỜI MỘT: LÝ VÀ SỰ CẦN PHẢI TƯƠNG XỨNG( )
Trên bước đường tu tập, Lý và Sự phải hô ứng nhau, cùng
phối hợp để hỗ tương giúp đỡ nhau mới mong đi đến thành tựu. Có Lý, Sự mới có
chỗ y cứ dùng làm cương lãnh và mục tiêu để khởi tác dụng. Ngược lại, có Sự, Lý
mới chánh xác và có hiệu quả. Lý soi đường cho Sự, Sự thực hiện mục tiêu của Lý.
Phàm làm việc gì mà có Lý có Sự, việc mới thành tựu, ví như đã biết lộ trình mà
lại còn chịu cất bước ra đi. Nếu có Lý mà không có Sự thì nào có khác gì kẻ biết
đường nhưng lại không chịu đi; cũng như có Sự mà không có Lý thì không khác kẻ
muốn đi nhưng lại không biết đường. Người đã biết đường và chịu đi theo con
đường ấy, Lý Sự tương xứng nhau, nhất định phải thành công. Còn như hai hạng
trên kia thật là khó có hy vọng thành tựu, nhất là hạng không chịu đi. Hạng chịu
đi, mặc dù không biết đường nhưng còn tự biết trình độ mình thấp kém, trí không
kiêu căng, lòng không tự mãn, trên lộ trình chưa từng biết đích xác, hạng này
với một ý chí cương quyết, cứ lần theo con đường mòn của người trước đã đi qua
và đã vạch sẵn, một mạch thẳng tiến không chần chờ không do dự; như vậy cuối
cùng rồi cũng sẽ đạt đến đích. Kinh, luận và sách trước tác của các bậc cổ đức
thuật lại các sự tích xưa đều là những mũi tên chỉ đường, người sau nên chiếu
theo đó mà thực hành, quyết sẽ được thành công như người xưa không khác.
Vì các lẽ ấy Cho nên, mặc dù thiếu Lý soi đường, những
người chịu thực hành cũng chưa lấy gì làm lo. Có lo chăng là với hạng người chỉ
ngồi nói suông mà không chịu thực hành thì dù có nói đến suốt đời cũng không
tiến bộ được nửa bước. Phê phán một cách xác thực hơn nữa thì người không có Sự,
quyết nhiên cũng không thể có Lý. Ví như biết nhà gần sập mà không biết tự liệu
để tránh, cứ ngồi nói suông cho khoái khẩu đến nỗi bị nhà đè chết, sao còn gọi
được là biết ? Vì vậy Phật pháp có công năng độ kẻ ngu phu thất phụ một cách dễ
dàng, chứ khó độ người thế tri biện thông hoặc người không chịu thiết thiệt tu
hành.
Ngày xưa, khi Phật còn tại thế, có ngài Châu lợi bàn đà
già là người rất độn căn. Khi xuất gia làm đệ tử Phật, chỉ được Phật dạy cho hai
chữ là Thiều và Chửu, thế mà học mãi không thuộc. Hễ nhớ được chữ sau thì liền
quên chữ trước, học chữ trước thì lại quên mất chữ sau. Tuy thế, ngài vẫn không
nản chí, hết lòng cố gắng, không hề xao lãng, cuối cùng vọng niệm tiêu trừ, hoặc
nghiệp đoạn giải, ngài chứng được quả A la hán.
Đồng thời với Ngài Châu lợi bàn đà già có Ngài Đề bà đạt
đa, một đệ tử rất thông minh và có biện tài vô ngại. Đề bà học đủ hết các môn
thần thông, đọc làu cả sáu vạn pháp tụng, nhưng vì bản tánh kiêu căng, không
chịu tu tập nên cuối cùng bị đọa địa ngục. Xem đó đủ biết, dù bác thông giáo lý
biện luận như thác nước chảy, nhưng nếu không thiết thực tu trì hoặc nghiệp từ
vô thỉ vẫn còn nằm yên bất động, không giảm được một hào ly; thử hỏi sự hiểu
biết ấy có bổ ích gì không ? Công hiệu lợi ích thiết thực so với một bà già nấu
bếp, mặt lem mày luốc, nửa chữ không tường, chưa chắc đã ai hơn ai, nhất là khi
bà già này tinh tấn niệm Phật, luôn luôn một lòng tin tưởng, lúc lâm chung nhất
định sẽ được vãng sanh.
Hành giả nếu suốt đời vùi đầu vào các danh lý luận để cầu
hiểu biết, những mong làm nhà bác sĩ trong Phật giáo, nhưng không chịu hạ thủ tu
hành thì luôn luôn nhớ hai ví dụ mà Phật đã từng dùng để răn bảo đệ tử; ví dụ
món ăn và ví dụ đếm tiền. Người học mà không tu chẳng khác gì nói món ăn ngon mà
tự mình không ăn, hoặc đếm của cho người mà tự mình không có xu nhỏ; chung quy
bụng đói vẫn đói, túi rỗng vẫn rỗng.
Tóm lại, người học Phật mà thông đạt Lý và y Lý hành Sự
một cách đúng đắn thì nhất định phước đức và trí huệ đều đầy đủ; phần lý giải và
phần thực hành đã tương xứng, thì nhơn viên quả mãn; quả vị Phật chắc chắn mười
phần bảo đảm. Thản hoặc, nếu Lý không thể thiếu Sự, đích thành công mới có phần
nào khả vọng. Ai là người học Phật chân chính nên lưu ý điểm này.
TIẾT MƯỜI HAI: TỊNH ĐỘ LÀ PHÁP MÔN THÍCH HỢP CỦA HÀNG PHẬT TỬ TẠI GIA
Nếu muốn tu bất cứ một pháp môn nào cũng tương đối dễ
dàng chỉ cần chịu khó gia công là thành tựu. Trái lại hàng tại gia bị gia đình
ràng buộc, mưu sinh khó khăn, công việc xã hội phức tạp, thực khó mà thực hành
cho được các pháp môn thuyền định quán tưởng và đồng thời nghiên cứu cho thấu
đáo nền giáo lý thâm diệu của Phật đà.
May thay, Đức Phật đã vận dụng trí tuệ vô biên và từ bi
vô lượng, đề ra pháp môn Tịnh độ rất giản tiện mà có hiệu lực rất lớn, giúp được
tín đồ không phí thì giờ, khỏi bỏ công việc, mà vẫn có thể thành tựu được đạo
quả một cách chắc chắn. Hễ ai có tu là có chứng, không luận tại gia hay xuất
gia, không bỏ sót một ai. Hàng Phật tử tại gia, ngoài pháp môn niệm Phật này ra,
tưởng cũng khó có hy vọng thành công đối với các pháp môn khác. Càng khó thành
công thì lại càng dễ hay sinh chán nản, lắm lúc còn làm cho thoái thất rồi mất
hẳn tín tâm. Tai hại biết bao! Vì các lẽ ấy nên nói rằng pháp môn niệm Phật là
pháp môn thích hợp cho hàng Phật tử tại gia.
Rất mong các đạo hữu tại gia nhận thức tròn đầy tất cả
công hiệu viên dung của pháp môn này để cùng nhau niệm Phật và một ngày kia cùng
gặp nhau trên ao sen bảy báu của đức Phật A Di Đà.
Nam mô Liên trì Hải hội Phật Bồ tát
(Phỏng theo Tịnh pháp Khái thuộc)
PHỤ LỤC
Quên mất tâm Bồ Đề mà tu hành các thiện pháp, gọi là hành
động của ma.
KINH HOA NGHIÊM
Phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, đó chính là Xuất- gia, đó chính
là đầy đủ Giới Pháp.
KINH DUY MA CẬT
(Phẩm LA HẦU LA )
"Sa di thuyết pháp sa môn thính
Bất tại niên cao tại tánh linh"
LUẬT NGHI
Một người không phải sinh ra liền thành Bà La Môn hay
hạng Chiên Đà La, chính phải do việc làm của người ấy ở đời, mới trở thành một
người Bà La Môn hay một người Chiên Đà La.
KINH HOA NGHIÊM
Không phải chỉ có chùa to Phật lớn hoặc danh xưng kêu là
có sự hiện diện cuả Chánh Pháp; mà chỉ có: ở đâu có các Tăng, Ni, Phật tử: CHÂN
TU THẬT HỌC, thì ở đó mới đích thật: có sự hiện diện của Chánh Pháp.
HIỀN NHÂN
Phàm người xuất gia là cất bước đến phương trời cao rộng,
tâm hình khác tục. Nối thạnh giống thánh, hàng phục ma quân, nhằm trả bốn ân,
cứu giúp ba cõi.
QUY SƠN CẢNH SÁCH
Vị Bồ Tát học Bát Nhã nên khởi tâm đại bi, phát lời
nguyện rộng lớn, tinh tấn tu pháp Tam Muội, khắp độ chúng sanh, không vì riêng
thân mình mà cầu giải thoát. Rồi phóng xả các duyên, dứt nghĩ muôn việc, thân
tâm được nhất như, động tĩnh không xen hở, lường sức ăn uống, không nhiều không
ít, điều hòa ngủ nghỉ, không ép ngặt, không phóng túng.
TỌA THUYỀN NGHI
Nếu không có một mục đích lý tưởng cao thượng trong đời
sống thì sống lâu có lợi ích gì? Phải chăng để tạo thêm nghiệp ác.
Nếu ham thích tiền của, danh vọng, địa vị… ta sẽ hoảng sợ
khi tử thần đến.
Niết bàn chính là sự xả bỏ hoàn toàn. Trước sau gì cũng
phải xả bỏ, tốt hơn hết là nên bố thí, cúng dường cho tất cả chúng sanh.
BỒ TÁT HẠNH
Yếu chỉ niệm Phật:
PHÓNG HẠ VẠN DUYÊN
NHẤT TÂM NIỆM PHẬT
THƯỜNG HÀNH LỤC ĐỘ
NGUYỆN THẤY DI ĐÀ
TỊNH ĐỘ
Phàm hễ có tướng, thảy đều hư vọng. Nếu thấy các tướng
là chẳng phải tướng, liền thấy NHƯ LAI.
Pháp ta nói ra, như bè độ khách sang sông. Pháp còn phải
bỏ huống nữa là phi Pháp.
KINH KIM CANG
Tôi thuở xưa chưa PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ có những bố
úy:
" SỢ CHẲNG ĐỦ NUÔI SỐNG
" SỢ TIẾNG XẤU
" SỢ CHẾT
" SỢ ĐỌA ÁC THÚ
" SỢ OAI ĐỨC CỦA ĐẠI CHÚNG
Từ khi một phen đã phát tâm thời đều xa lìa CHẲNG CÒN
KINH SỢ. TẤT CẢ CHÚNG MA VÀ NGOẠI ĐẠO KHÔNG PHÁ HOẠI ĐƯỢC.
KINH HOA NGHIÊM
* Đừng vội tin tưởng một điều gì vì thường nghe nhắc nhở
đến điều ấy luôn.
* Đừng vội tin tưởng điều gì vì đó là một tập tục đã qua
rồi của ngàn xưa để lại.
* Đừng tin tưởng những điều sáo ngữ hay bất cứ một điều
gì mà người ta thường nói đến quá nhiều.
* Đừng tin tưởng bất cứ điều gì, vì cho đó là bút tích
của một thánh nhân xưa để lại bảo ta tin điều ấy.
* Đừng vội tin tưởng một điều gì dù điều ấy được những ý
kiến thiên vị bênh vực hay một tập tục lâu đời khiến ta theo đó là thật.
* Đừng tin tưởng bất cứ điều gì dù điều ấy dưới mãnh lực
của Ông thầy hay Nhà truyền đạo.
* Tất cả những sự thật theo kinh nghiệm riêng của người
và sau khi xác nhận rõ ràng phù hợp với lẽ phải, tạo thành hạnh phúc cho riêng
người và hạnh phúc cho tất cả mọi loại thì chính đó là sự thật và người cố gắng
sống theo sự thật ấy.
KINH KALAMA |