KINH TRUNG A-HÀM


PHẨM 19: BÔ-ĐA-LỊ

TỤNG NGÀY THỨ NĂM

Hậu tụng

持齋晡利多  

羅摩五下分

心穢箭毛二  

隨摩那修學

法樂比丘尼  

拘絺羅在後

Kệ tóm tắt:

Trì trai, Bô-đa-lị,

La-ma, Ngũ hạ phần,

Tâm uế, hai Tiễn mao,

Tùy-ma-na-tu học,

Pháp Lạc Tỳ kheo ni,

Câu-hi-la cuối cùng.

202. KINH TRÌ TRAI

Tôi nghe như vy:

Mt thi Pht trú ti nước Xá-v, tr trong Đông viên, Lc t mu ging đường[1].

By gi Lc T Mu Tì-xá-khư[2], vào lúc sáng sm, tm gi, mc chiếc áo trng tinh, dn các con dâu[3] vi đoàn tùy tùng vây quanh đi đến ch Pht. Cúi đu làm l, ri đng sang mt bên, Thế Tôn hi:

“Này Bà Cư sĩ[4], Bà va tm gi chăng?”

Đáp rng:

“Bch Thế Tôn, hôm nay con trì trai. Bch Thế Tôn, hôm nay con trì trai.”

Thế Tôn hi:

“Này Bà Cư sĩ, hôm nay Bà trì loi trai nào? Vì trai có ba loi. Nhng gì là ba? Th nht là loi trai ca mc đng; th hai là loi trai ca Ni-kin; th ba là Thánh trai tám chi.

“Này Bà Cư sĩ, thế nào là loi trai ca mc đng[5]? Mc đng bui sáng th bò trong đm, bui xế dn bò v thôn. Khi v thôn, nó nghĩ rng, ‘Ngày hôm nay ta th ch này; ngày mai ta s th ch kia. Ngày hôm nay ta cho bò ung ch này; ngày mai ta s cho bò ung nước ti ch kia. Này Bà Cư sĩ, nếu người trì trai [770b] nghĩ rng, ‘Ngày hôm nay ta ăn thức ăn như vy; ngày mai ta s ăn thức ăn như kia. Ngày hôm nay ta ung thc ung như vy; ngày mai ta s ung thc ung như kia. Ngày hôm nay ta nut thc ăn như vy; ngày mai ta s nut thc ăn như thế kia.’ Người y đây tri qua ngày đêm hoan lc, đm trước trong dc vng như vy. Đó gi là loi trai ca mc đng. Nếu trì loi trai mc đng như vy, không thu hoch được đi li, không được đi qu, không có đi công đc, không được phát trin.

“Này Bà Cư sĩ, thế nào là loi trai ca Ni-kin[6]? Có người xut gia hc theo Ni-kin. V y khuyên người rng, ‘Ngươi đi vi chúng sanh ngoài mt trăm do-diên v phía Đông, đ ng h chúng sanh y, hãy loi b dao gy. Cũng vy, đi vi phương Tây, phương Nam và phương Bc, ngoài mt trăm do-diên mà có chúng sanh nào, vì đ ng h chúng sanh y, hãy loi b dao gy.’ Người ấy khuyến khích sách tn người khác như vy. Hoc chúng sanh có tưởng được th h, hoc chúng sanh không có tưởng không được ng h.[7] ‘Ngươi vào ngày mười lăm là ngày thuyết Biệt gii thoát, ci b y phc, đ mình trn trung, đng ngay v phương Đông, nói như vy: Ta không có cha m, không thuc v cha m. Ta không có v con, không thuc v v con. Ta không có nô t, không thuc v nô t.’ Này Bà Cư sĩ, người y khuyến khích sách tn bng li nói chân tht, nhưng ngược li s khuyến khích sách tn tr thành nhng li nói hư di. Người y ngày ngày gp mt cha m mình và nghĩ rng, ‘Đây là cha m ta.’ Cha m người y ngày ngày cũng thy con mình, cũng nghĩ rng, ‘Đây là con ta.’ Người y gp mt v con và nghĩ rng, ‘Đây là v con ta.’ V con cũng thy người y và cũng nghĩ rng ‘Đây là tôn trưởng ca ta.’ Người y gp mt nô t cũng nghĩ rng, ‘Đây là nô t ca ta.’ Nô t cũng thy người y và cũng nghĩ rng, ‘Đây là ch ca ta.’[8] Người y th dng dc lc này, không được cho mà th dng, ch không phi được cho mà th dng[9]. Đó gi là loi trai ca Ni-kin, như vy không thu hoch được đi li, không được đi qu, không được phát trin.

“Này Bà Cư sĩ, thế nào là Thánh trai tám chi[10]? Đa văn Thánh đ t khi trì trai tư duy như vy, ‘A-la-hán chân nhân trn đi xa lìa sát sanh, đon tr sát sanh, dp b dao gy, có tàm, có quý, có tâm t bi, làm li ích cho tt c cho đến côn trùng; Ngài đi vi s sát sanh tâm đã tnh tr. Tôi cũng một ngày một đêm[11] xa lìa sát sanh, đon tr sát sanh, dp b dao gy, có tàm có quý, có tâm t bi, làm li ích cho tt c cho đến côn trùng. [770c] Đối vi vic sát sanh nay tôi tnh tr tâm y. Tôi do chi này mà đng đng không khác vi A-la-hán[12].’ Do đó nói là trai.

“Li na, này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t khi trì trai tư duy như vy, ‘A-la-hán chân nhân trn đi không ly ca không cho, đon tr s ly ca không cho, nhng gì được cho ri mi ly, vui thích trong vic ly ca được cho, thường ưa b thí, tâm vui thích s phóng x, hoan h, không bn sn, không trông ch báo đáp, không đ s trm cp che lp tâm mình, hay t chế ng. V y đi vi vic không cho mà ly, tâm đã tnh tr. Tôi cũng một ngày một đêm* xa lìa s ly ca không cho, đon tr s ly ca không cho, nhng gì được cho mi ly, vui thích trong vic ly ca được cho, thường ưa b thí, tâm vui thích s phóng x, hoan h, không bn sn, thường không trông ch s báo đáp, không đ s trm cp che lp tâm mình hay t chế ng. Đối vi vic không cho mà ly, nay tôi tnh tr tâm y. Tôi do chi này mà đng đng không khác vi A-la-hán.’ Do đó nói là trai.

“Li na, này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t khi trì trai tư duy như vy, ‘A-la-hán chân nhân trn đi xa lìa phi phm hnh, đon tr phi phm hnh, tu hành phm hnh, chí thành tâm tnh, sng không xú uế, ly dc, đon dâm, v y đi vi phi phm hnh, tâm đã tnh tr. Tôi nay trong mt ngày mt đêm này[13] xa lìa phi phm hnh, đon tr phi phm hnh tu hành phm hnh, chí thành tnh tâm, sng không xú uế, ly dc, đon dâm. Đối vi phi phm hnh, nay tôi tnh tr tâm y. Tôi do chi này mà đng đng không khác vi A-la-hán.’ Do đó nói là trai.

“Li na, này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t khi trì trai tư duy như vy, ‘A-la-hán chân nhân trn đi không nói láo, đon tr s nói láo; ch nói li chc tht, vui thích s tht, an tr nơi s tht, được mi người tin tưởng, không la gt thế gian. V y đi vi s nói di, tâm đã tch tr. Tôi nay một ngày một đêm* không nói di, đon tr s nói di, ch nói li chc tht, vui thích s tht, an tr nơi s tht, được mi người tin tưởng, không la gt thế gian. Đối vi s nói di, tôi nay tnh tr tâm y. Tôi do chi này mà đng đng không khác vi A-la-hán.’ Do đó nói là trai.   

“Li na, này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t khi trì trai tư duy như vy, ‘A-la-hán chân nhân trn đi xa lìa vic ung rượu buông lung, đon tr s ung rượu buông lung. V y đi vi vic ung rượu buông lung, tâm đã tnh tr. Tôi nay cũng một ngày một đêm* xa lìa s ung rượu buông lung, đon tr s ung rượu buông lung. Đối vi vic ung rượu buông lung, nay tôi tnh tr tâm y. [771a] Tôi do chi này mà đng đng không khác vi A-la-hán.’ Do đó nói là trai.

“Li na, này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t khi trì trai tư duy như vy, ‘A-la-hán chân nhân trn đi xa lìa giường ln cao rng, đon tr giường ln cao rng, vui thích nm ngi ch thp, hoc giường hoc tri c. V y đi vi giường ln cao rng, tâm đã tnh tr. Tôi nay trong mt ngày mt đêm này xa lìa giường ln cao rng, đon tr giường ln cao rng, vui thích nm ngi ch thp, hoc giường hoc tri c. Đối vi giường ln cao rng, tôi nay tnh tr tâm y.’ Ta coi chi này đng đng không khác vi A-la-hán, cho nên nói là trai.

“Li na, này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t khi trì trai tư duy như vy, ‘A-la-hán chân nhân trn đi xa lìa tràng hoa anh lc, hương bt, phn sáp, ca, vũ, xướng, k và đi đến xem nghe. Đon tr tràng hoa anh lc, hương bt, phn sáp, ca, vũ, xướng, k và đi đến xem nghe. V y đi vi tràng hoa anh lc, hương bt, phn sáp, ca, vũ, xướng, k và đi đến xem nghe tâm đã tnh tr. Tôi nay trong mt ngày mt đêm này xa lìa tràng hoa anh lc, hương bt, phn sáp, ca, vũ, xướng, k và đi đến xem nghe. Đon tr tràng hoa anh lc, hương bt phn sáp, ca, vũ, xướng, k và đi đến xem nghe. Đối vi tràng hoa anh lc, hương bt, phn sáp, ca, vũ, xướng, k và đi đến xem nghe, nay tôi tnh tr tâm y.’ Tôi do chi này mà đng đng không khác vi A-la-hán.’ Do đó nói là trai.

“Li na, này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t khi trì trai tư duy như vy, ‘A-la-hán chân nhân trn đi xa lìa s ăn phi thi, đon tr s ăn phi thi. V y đi vi s ăn phi thi tâm đã tnh tr. Tôi nay trong mt ngày mt đêm xa lìa s ăn phi thi, đon tr s ăn phi thi. Đối vi s ăn phi thi, tôi nay tnh tr tâm y.’ Tôi do chi này mà đng đng không khác vi A-la-hán.’ Do đó nói là trai.

“Người y sau khi đến vi Thánh trai tám chi này ri, đ tiến lên, li nên tu tp năm pháp.

“Nhng gì là năm? Này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t khi trì trai nim tưởng Như Lai rng, ‘Thế Tôn là Như Lai, Vô S Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hnh Túc, Thin Th, Thế Gian Gii, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Pht, Thế Tôn.’ Người y sau khi nim tưởng Như Lai như vy, ác tham[14] nếu có lin [771b] b tiêu dit. Nhng pháp tp uế, ác bt thin, nếu có cũng b dit. Này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t duyên nơi Như Lai cho nên tâm tĩnh, được h, ác tham lam nếu có lin b dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng b tiêu dit. Cũng như mt người trên đu có cáu ghét, do cao, nước nóng, sc người tm gi cho nên được sch. Cũng vy, đa văn Thánh đ t khi trì trai nim tưởng Như Lai rng, ‘Thế Tôn là Như Lai, Vô S Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hnh Túc, Thin Th, Thế Gian Gii, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Pht, Thế Tôn.’ Người y sau khi nim tưởng Như Lai như vy ác lam tham nếu có lin b dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit. Này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t duyên nơi Như Lai nên tâm tĩnh, được h, ác tham lam nếu có lin b dit, pháp tp uế, bt thin nếu có cũng b dit. Đó gi là đa văn Thánh đ t th trì Phm trai,[15] cùng cng hi vi Phm, nhân Phm cho nên tâm tĩnh, được h, ác tham lam nếu có lin b dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng b dit.

Này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t khi trì trai nim tưởng Pháp rng, ‘Pháp này do Thế Tôn ging thuyết toàn thin, cu cánh, thường hng, không biến đi, được biết bi chánh trí, được thy bi chánh trí, được chng giác bi chánh trí[16].’ Người y sau khi nim tưởng như vy ri, ác tham lam nếu có lin b dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng b dit. Này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t duyên nơi pháp nên tâm tĩnh, được h; ác tham lam nếu có lin dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng b dit. Cũng như mt người trong mình có cu ghét, nh bt tm, nước nóng và sc người tm gi k cho nên được sch s. Cũng vy, đa văn Thánh đ t khi trì trai nim tưởng Pháp rng, ‘Pháp này do Thế Tôn ging thuyết toàn thin, cu cánh, thường hng, không biến đi.’ Người y sau khi nim pháp như vy ri, ác tham lam nếu có lin được dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit. Này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t duyên nơi pháp cho nên tâm tĩnh, được h, ác tham lam nếu có lin được dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit. Này Bà Cư sĩ, đó gi là đa văn Thánh đ t th trì pháp trai, cùng cng hi vi pháp, nhân pháp [771c] cho nên tâm tĩnh, được h, ác tham lam nếu có lin được dit, pháp tp uế, bt thin nếu có cũng được dit.

“Li na, này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t khi trì trai nim tưởng Tăng rng, ‘Tăng là đ t Thế Tôn, khéo thú hướng, cht trc, hành yếu, hành thú, trong Tăng chúng ca Như Lai tht s có A-la-hán thú, A-la-hán qu chng, A-na-hàm thú, A-na-hàm qu chng, Tư-đà-hàm thú, Tư-đà-hàm qu chng, Tu-đà-hoàn thú, Tu-đà-hoàn qu chng. Đó là bn đôi, tám hng Thánh sĩ. Đó là chúng tăng đ t ca Thế Tôn, thành tu gii, đnh, tu, gii thoát, gii thoát tri kiến, xng đáng mi gi, xng đáng thnh, xng đáng cúng dường, xng đáng phng s, xng đáng kính trng, là rung phước là rung phước tt cho tri và người[17].’ Người đó sau khi nim tưởng như vy ri, ác tham lam nếu có lin được dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit. Này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t duyên nơi Tăng nên tâm tĩnh, được h, ác tham lam nếu có lin được dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit. Cũng như mt người nơi áo có cu ghét, bt tnh, nh tro, bt kết, bt git, nước nóng, sc người git giũ, nên nó được sch s như vy. Cũng vy, đa văn Thánh đ t khi trì trai nim tưởng Tăng rng, ‘Tăng là đ t Thế Tôn, khéo thú hướng, cht trc, hành yếu, hành thú, trong Tăng chúng ca Như Lai tht s có A-la-hán thú, A-la-hán qu chng, A-na-hàm thú, A-na-hàm qu chng. Tư-đà-hàm thú, Tư-đà-hàm qu chng, Tu-đà-hoàn thú, Tu-đà-hoàn qu chng. Đó là bn đôi tám hng Thánh sĩ, đó là Tăng chúng ca Thế Tôn, thành tu, gii, đnh, tu, gii thoát, gii thoát tri kiến, xng đáng mi gi, xng đáng thnh, xng đáng cung kính, xng đáng cúng dường, xng đáng phng s, xng đáng kính trng, là rung phước tt cho tri và người.’ Người y nim tưởng Tăng như vy, ác tham lam nếu có lin được dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit. Này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t duyên nơi tăng nên tâm tĩnh, được h, ác tham lam nếu có lin được dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit. Đó gi là đa văn Thánh đ t th trì Tăng trai, cùng tăng cng hi, nhân tăng mà tâm tĩnh, được h, ác tham lam nếu có lin được dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit.

“Li na, này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t khi [772a] trì trai tư duy Gii mình đang th trì, không st, không thng, không uế, không ô, rt rng, rt ln, không trông ch báo đáp, được bc trí khen ngi, khéo trn đ, khéo thú hướng, khéo th, khéo trì. Người y sau khi nim tưởng Gii mình đang th ri, ác tham lam nếu có lin được dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit. Này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t duyên nơi Gii, nên tâm tĩnh, được h, ác tham lam nếu có lin được dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit. Cũng như mt tm gương bi nhơ, không sáng, nh đá, đá mài, ngc oanh, và sc người lau chùi, mài dũa mà được trong sáng. Cũng vy, đa văn Thánh đ t khi trì trai nim tưởng Gii mình đang th trì, không st, không thng, không ô, không uế, rt rng, rt ln, không trông ch báo đáp, được bc trí khen ngi, khéo trn đ, khéo thú hướng, khéo th, khéo trì. Người y sau khi nim tưởng Gii mình đang th trì như vy, ác tham lam nếu có lin được dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit. Này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t duyên nơi Gii nên tâm tĩnh, được h, ác tham lam nếu có lin được dit pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit. Đó gi là đa văn Thánh đ t th trì gii trai. Cùng Gii cng hi, nhân Gii, tâm tĩnh, được h, ác tham lam nếu có lin được dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit.

“Li na, này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t khi trì trai nim tưởng chư Thiên rng, ‘Tht s có T vương thiên. Hàng Thiên y, nếu ai thành tu tín, mng chung nơi này được sanh nơi y. Tôi cũng có tín y. Hàng Thiên y, nếu ai thành tu gii, văn, thí, tu, mng chung nơi này được sanh nơi y. Tôi cũng có tu y. Tht s có Tam thp tam thiên, Dim-ma thiên, Đâu-sut-đà thiên, Hóa lc thiên, Tha hóa lc thiên. Hàng Thiên y, nếu ai thành tu tín, mng chung nơi này được sanh nơi y, tôi cũng có tín y. Hàng Thiên y, nếu ai thành tu gii, văn, thí, tu, mng chung nơi này được sanh nơi y. Tôi cũng thành tu tu y.’ Người y sau khi nim tưởng như vy ri, và chư Thiên có tín, gii, văn, thí, tu, ác tham lam nếu có lin được dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit. Này Bà Cư sĩ, đa văn Thánh đ t duyên nơi chư Thiên nên tâm tĩnh, được h, ác tham lam nếu có lin được dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit. Cũng như [772b] vàng ròng thượng sc, b bi đóng bt tnh, nh la, bài, kim, chùy, đt đ, sc người lau chùi mài dũa mà được minh tnh. Cũng vy, đa văn Thánh đ t khi trì trai nim tưởng chư Thiên rng ‘Tht s có T vương thiên. Hàng Thiên y, nếu ai thành tu tín, mng chung nơi này được sanh nơi kia, tôi cũng có tín y. Hàng Thiên y, nếu ai thành tu gii, văn, thí, tu, mng chung nơi này được sanh nơi kia, tôi cũng có tu y. Tht s có Tam thp tam thiên, Dim-ma thiên, Đâu-sut-đà thiên, Hóa lc thiên, Tha hóa lc thiên. Hàng Thiên y, nếu ai thành tu tín, mng chung nơi này được sanh nơi y. Tôi cũng thành tu tín y. Hàng Thiên y, nếu ai thành tu gii, văn, thí, tu, mng chung nơi này được sanh nơi y; tôi cũng thành tu tu y.’ Người y nim tưởng như vy, và chư Thiên có tín, gii, văn, thí, tu, ác tham lam nếu có lin được dit, pháp tp uế, ác bt thin nếu có cũng được dit.

“Này Bà Cư sĩ, nếu hành trì Thánh trai tám chi này như vy và đây vi mười sáu đi quc này, mt là Ương-ca, hai là Ma-kit-đà, ba là Ca-thi, bn là Câu-tát-la, năm là Câu-lâu, sáu là Ban-xà-la, by là A-nhiếp-bi, tám là A-hòa-đàn-đ, chín là Chi-đ, mười là Bt-k, mười mt là Bt-ta, mười hai là Bt-la, mười ba là Tô-ma, mười bn là Tô-la-tra, mười lăm là D-ni, mười sáu là Kiếm-phù.[18] Trong các nước này nhng s hu tin tài, bo vt, kim ngân, ma ni, chơn châu, lưu ly, tương-già[19], bích ngc, san hô, lưu-thiu[20], tì-lưu[21], tì-lc[22], mã não, đi mi, xích thch, tuyn châu, và gi s mt người làm vua trong đó, s được x dng t ti, tùy ý. Nhưng người y so vi người th trì Thánh trai tám chi hoàn toàn không bng mt phn mười sáu.

“Này Bà Cư sĩ, Ta nhân đó mà nói như vy, ‘Lc thú ca nhân vương không bng lc thú ca chư Thiên.’ Nếu nhân gian năm mươi năm, trên T vương thiên mi là mt ngày mt đêm. Như vy ba mươi ngày đêm là mt tháng, mười hai tháng là mt năm. Năm trăm năm như vy là tui th ca T vương thiên. Này Bà Cư sĩ, tt có trường hp này, là thin nam t hay thin n nhân, th trì Thánh trai tám chi, thân hoi mng chung s sanh lên T vương Thiên.

“Này Bà Cư sĩ, do đó mà ta nói như vy, ‘Lc thú nhân vương không bng lc thú chư Thiên.’ Nếu nhân gian sng mt trăm tui, thì Tam thp tam thiên mi mt ngày mt đêm. Như vy ba mươi ngày đêm là mt tháng, mười hai tháng là mt năm và mt nghìn năm như vy [772c] là tui th ca Tam thp tam thiên. Này Bà Cư sĩ, tt có trường hp này, là thin nam t hay thin n nhân, th trì Thánh trai tám chi này, khi thân hoi mng chung s được sanh lên Tam thp tam thiên.

“Này Bà Cư sĩ, Ta nhân đó mà nói như vy, ‘Lc thú nhân vương không bng lc thú chư Thiên.’ nhân gian hai trăm năm thì Dim-ma thiên mi là mt ngày mt đêm. Như vy ba mươi ngày đêm là mt tháng, mười hai tháng là mt năm. Hai nghìn năm như vy là tui th ca Dim-ma thiên. Này Bà Cư sĩ, tt có trường hp này, là thin nam t hay thin n nhân th trì Thánh trai tám chi, khi thân hoi mng chung s được sanh lên trên Dim-ma thiên.

“Này Bà Cư sĩ, Ta nhân đó mà nói như vy, ‘Lc thú ca nhân vương không bng lc thú ca chư Thiên.’ Nhân gian bn trăm năm thì Đâu-sut-đà thiên mi là mt ngày mt đêm. Như vy, ba mươi ngày đêm là mt tháng, mười hai tháng là mt năm. Bn ngàn năm như vy là tui th ca Đâu-sut-đà thiên. Này Bà Cư sĩ, tt có trường hp này, là thin nam t hay thin n nhân th trì Thánh trai tám chi này, khi thân hoi mng chung s được sanh lên Đâu-sut-đà thiên.

“Này Bà Cư sĩ, Ta nhân đó mà nói như vy, ‘Lc thú nhân vương không bng lc thú chư Thiên.’ Nhân gian sng tám trăm tui, thì Hóa lc thiên mi là mt ngày mt đêm. Như vy ba mươi ngày đêm là mt tháng, mười hai tháng là mt năm, tám ngàn năm như vy là tui th ca Hóa lc thiên. Này Bà Cư sĩ, tt có trường hp này, là thin nam t hay thin n nhân th trì Thánh trai tám chi này, khi thân hoi mng chung s được sanh lên Hóa lc thiên.

“Này Bà Cư sĩ, Ta nhân đó mà nói rng, ‘Lc thú ca nhân vương không bng lc thú chư Thiên.’ Nhân gian mt ngàn sáu trăm năm, thì Tha hóa lc thiên mi mt ngày mt đêm. Như vy ba mươi ngày đêm là mt tháng, mười hai tháng là mt năm, mt vn sáu ngàn năm như vy là tui th ca Tha hóa lc thiên. Này Bà Cư sĩ, tt có trường hp này, là thin nam t hay thin n nhân thì trì Thánh trai tám chi này, khi thân hoi mng chung s được sanh lên Tha hóa lc thiên.”

Lúc by gi Lc T Mu Tì-xá-khư chp tay hướng v Đức Pht bch rng:

“Bch Thế Tôn, Thánh trai tám chi tht là k diu, tht là hy hu, đi li, đi qu, có đi công đc, có đi qung b, con t nay cho đến trn đi xin th trì Thánh trai tám chi này, tùy theo năng lc mà b thí tu phước.”

Ri Lc T Mu sau khi nghe nhng li Pht dy, khéo th trì, khéo tu tp, cúi đu đnh l chân Pht, đi quanh ba vòng ri lui v.

Thế Tôn thuyết như vy, Lc T Mu Tì-xá-khư và các T-kheo sau khi nghe Pht thuyết, hoan h phng hành.

203. KINH BÔ-ĐA-LỊ

[773a4] Tôi nghe như vy:

Mt thi Pht trú ti Na-nan-đi,[23] trong khu rng xoài ca Ba-hòa-l[24].

By gi Bô-đa-lị[25] Cư sĩ mc chiếc áo trng tinh, đu qun khăn trng, chng gy, cm dù, mang guc thế tc, đi t vườn này sang vườn khác, t quán n đến quán kia, t rng đến rng, du hành khp nơi, thong dong tn b, nếu gp các Sa-môn, Bà-ma-môn bèn nói rng, “Chư Hin nên biết, tôi lánh tc, đon tc, x các tc s.” Các Sa-môn, Bà-ma-môn nói li bng nhng li du dàng rng, “Vâng, Cư sĩ Bô-đa-lị lánh tc, đon tc, x các tc s.”

Ri Cư sĩ Bô-đa-lị trong khi du hành khp nơi, thong dong tn b đến ch Đức Pht, chào hi xong, chng gy đng ngay trước Pht.

Thế Tôn hi:

“Cư sĩ, có ch ngi đó, mun ngi thì mi ngi.”

Cư sĩ Bô-đa-lị bch rng:

“Này Cù-đàm, không th như vy! Không nên như vy! Vì sao? Vì tôi lánh tc, đon tc, x các tc s, mà Cù-đàm gi tôi là Cư sĩ[26] sao?”

Thế Tôn nói:

“Ông có hình tướng, biu hiu như Cư sĩ, cho nên Ta gi ông là Cư sĩ. Có ch ngi đó, mun ngi thì mi ngi.”

Thế Tôn li ba ln nói rng:

“Này Cư sĩ, có ch ngi đó, mun ngi thì ngi.”

Cư sĩ Bô-đa-lị cũng ba ln bch Pht rng:

“Này Cù-đàm, không th như vy! Không nên như vy! Vì sao? Vì tôi lánh tc, đon tc, x các tc s mà Cù-đàm gi tôi là Cư sĩ sao?”

Thế Tôn tr li rng:

“Ông có hình tướng, biu hin như Cư sĩ, cho nên Ta gi ông là Cư sĩ. Có ch ngi đó, mun ngi thì mi ngi.”

Ri Thế Tôn hi:

“Ông lánh tc, đon tc, x các tc s như thế nào?”

Cư sĩ Bô-đa-lị đáp:

“Tt c nhng tài vt trong nhà, tôi đu cho con cái hết, ri tôi sng vô vi, vô cu, ch đi ly thc ăn đ duy trì mng sng mà thôi. Tôi lánh tc, đon tc, x các tc s như vy.”

Thế Tôn nói:

“Này Cư sĩ, trong Thánh pháp lut, s đon tuyt các tc s không phi như vy. Này Cư sĩ, trong Thánh pháp lut có tám chi đon tuyt tc s.”

Lúc by gi Cư sĩ Bô-đa-lị bèn b gy, xếp dù, ci [773b] guc tc, chp tay hướng v Pht bch rng:

“Này Cù-đàm, trong Thánh pháp lut, thế nào là tám chi đon tuyt tc s?”

Thế Tôn nói:

“Này Cư sĩ, đa văn Thánh đ t y trên lìa sát mà đon tr sát, y trên xa lìa ly ca không cho mà đon tr s ly ca không cho, y trên xa lìa tà dâm mà đon tr tà dâm, y trên xa lìa nói láo mà đon tr nói láo, y trên không tham trước mà đon tr tham trước,[27] y trên không nhuế hi mà đon tr nhuế hi,[28] y trên không đ k thù nghch mà đon tr đ k thù nghch,[29] y trên không tăng thượng mn mà đon tr tăng thượng mn.[30]

“Này Cư sĩ, thế nào là đa văn Thánh đ t y trên lìa sát mà đon tr sát? Đa văn Thánh đ t tư duy như vy, ‘Ai giết chóc phi chu ác báo trong đi này và đi sau. Nếu ta giết chóc, y là gây hi mình và cũng xuyên tc hy báng người khác. Chư Thiên và các đồng phạm hạnh có trí s chê bai hc gii ca ta, các phương đu nghe đn tiếng xu ca ta, thân hoi mng chung tt s đi đến ác x, sanh trong đa ngc. Ai giết chóc như vy, s chu qu báo này, trong đi này và đi sau. Như vy, nay ta có nên y trên lìa sát mà đon tr sát chăng?’ Ri v y y trên xa lìa sát hi mà đon tr sát hi. Như vy là đa văn Thánh đ t y trên lìa sát mà đon tr sát.

“Này Cư sĩ, thế nào là đa văn Thánh đ t y trên xa lìa ly ca không cho mà đon tr s ly ca không cho? Đa văn Thánh đ t tư duy như vy, ‘Ai ly ca không cho tt phi chu qu báo ác trong đi này và đi sau. Nếu ta ly ca không cho, y là gây hi mình và cũng xuyên tc hy báng người khác. Chư Thiên và các đồng phạm hạnh có trí s chê bai hc gii ca ta, các phương đu nghe đn tiếng xu ca ta, thân hoi mng chung tt s đi đến ác x, sanh trong đa ngc. Ai ly ca không cho phi chu ác báo trong đi này và đi sau như vy, nay ta có nên y trên xa lìa ly ca không cho mà đon tr s ly ca không cho chăng?’ Ri v y y trên xa lìa ly ca không cho mà đon tr s ly ca không cho. Như vy, đa văn Thánh đ t y trên xa lìa ly ca không cho mà đon tr s ly ca không cho.

“Này Cư sĩ, thế nào là đa văn Thánh đ t y xa lìa tà dâm mà đon tr tà dâm? Đa văn Thánh đ t tư duy như vy, ‘Ai tà dâm tt phi chu ác báo trong đi này và đi sau. Nếu ta tà dâm y là t hi mà cũng là xuyên tc hy báng người khác. Chư Thiên và các đồng phạm hạnh có trí s chê bai hc gii ca ta, các phương thy đu nghe đn tiếng xu ca ta. khi thân hoi mng chung phi đi đến ác thú, sanh trong đa ngc. Ai tà dâm tt phi chu ác báo này trong đi này và đi sau như vy, nay ta có nên y trên xa lìa tà dâm mà đon tr tà dâm chăng?’ Ri v y y trên xa lìa tà dâm mà đon tr tà dâm. [773c] Như vy, đa văn Thánh đ t xa lìa tà dâm mà đon tr tà dâm.

“Này Cư sĩ, thế nào là đa văn Thánh đ t y trên xa lìa nói láo mà đon tr s nói láo? Đa văn Thánh đ t tư duy như vy, ‘Ai nói láo tt phi chu ác báo trong đi này và đi sau. Nếu ta nói láo y là t hi mà cũng xuyên tc ph báng người khác. Chư Thiên và các đồng phạm hạnh có trí s chê bai hc gii ca ta, khi thân hoi mng chung tt s phi đi đến ác x, sanh trong đa ngc. Ai nói láo tt phi chu ác báo này đi này và đi sau như vy. Nay ta nên y c trên xa lìa nói láo mà đon tr s nói láo chăng?’ Ri v y y c trên xa lìa nói láo mà đon tr s nói láo. Như vy Đa văn Thánh đ t y trên xa lìa nói láo mà đon tr s nói láo.

“Này Cư sĩ, thế nào là đa văn Thánh đ t y trên không tham trước mà đon tr tham trước? Đa văn Thánh đ t tư duy như vy, ‘Ai tham trước tt phi th ác báo trong đi này và đi sau. Nếu ta tham trước y là t hi mà cũng là xuyên tc hy báng người khác. Chư Thiên và các đồng phạm hạnh có trí s chê bai hc gii ca ta. Khi thân hoi mng chung tt phi đi đến ác x, sanh trong đa ngc. Ai tham trước tt phi th ác báo này trong đi này và đi sau như vy. Nay ta có nên xa lìa tham trước mà đon tr tham trước chăng?’ Ri v y y trên xa lìa tham trước mà đon tr tham trước. Như vy, đa văn Thánh đ t y trên xa lìa tham trước mà đon tr tham trước.

“Này Cư sĩ, thế nào là đa văn Thánh đ t y trên xa lìa hi nhuế mà đon tr hi nhuế? Đa văn Thánh đ t tư duy như vy, ‘Ai hi nhuế tt phi th ác báo trong đi này và đi sau. Nếu ta hi nhuế y là t hi, mà cũng là hy báng xuyên tc người khác. Chư Thiên và các đồng phạm hạnh có trí s chê bai hc gii ca ta, các phương đu nghe đn tiếng xu ca ta, khi thân hoi mng chung tt s đi đến ác x, sanh trong đa ngc. Ai hi nhuế tt phi th ác báo này đi này và đi sau. Như vy, nay ta có nên xa lìa hi nhuế mà đon tr hi nhuế chăng?’ Ri v y y trên xa lìa hi nhuế mà đon tr hi nhuế. Như vy, đa văn Thánh đ t y trên xa lìa hi nhuế mà đon tr hi nhuế.

“Này Cư sĩ, thế nào là đa văn Thánh đ t y trên không đ k thù nghch mà đon tr đ k thù nghch? Đa văn Thánh đ t tư duy như vy, ‘Ai đ k thù nghch tt phi th ác báo đi này và đi sau. Nếu ta đ k thù nghch y là t hi và cũng xuyên tc hy báng người khác. Chư Thiên và các đồng phạm hạnh có trí s chê bai hc gii ca ta, các phương[774a] đu nghe đn tiếng xu ca ta. Khi thân hoi mng chung tt phi đi đến ác x, sanh trong đa ngc. Ai đ k thù nghch tt phi th ác báo này đi này và đi sau như vy, nay ta có nên y c trên không đ k thù nghch mà đon tr đ k thù nghch chăng?’ Ri v y y c trên không đ k thù nghch mà đon tr đ k thù nghch. Như vy, đa văn Thánh đ t y c trên không đ k thù nghch mà đon tr đ k thù nghch.

“Này Cư sĩ, thế nào là đa văn Thánh đ t y trên không tăng thượng mn mà đon tr tăng thượng mn? Đa văn Thánh đ t tư duy như vy, ‘Ai tăng thượng mn tt th ác báo trong đi này và đi sau. Nếu ta có tăng thượng mn y là t hi mà cũng là xuyên tc hy báng người khác. Chư Thiên và các đồng phạm hạnh có trí s chê bai hc gii ca ta, các phương đu nghe đn tiếng xu ca ta. Khi thân hoi mng chung tt phi đi đến ác x, sanh trong đa ngc. Ai có tăng thượng mn tt phi th ác báo này đi này và đi sau như vy. Nay ta có nên y c không tăng thượng mn mà đon tr tăng thượng mn chăng?’ Ri v y y trên không tăng thượng mn mà đon tr tăng thượng mn. Như vy Đa văn Thánh đ t y trên không tăng thượng mn mà đon tr tăng thượng mn.

Đó là Tám chi đon tuyt tc s trong Thánh pháp lut.”

Cư sĩ hi rng:

“Này Cù-đàm, trong Thánh pháp lut ch như vy là đon tuyt tc s hay còn nhng điu khác na?”

Thế Tôn nói:

“Trong Thánh pháp lut không ch có chng đó đon tuyt tc s, mà còn tám chi đon tuyt tc s khác khiến đt đến chng ng.”

Bô-đa-lị Cư sĩ nghe xong, bèn ci khăn trng chp tay hướng v Đức Pht bch rng:

“Này Cù-đàm, thế nào nói là trong Thánh pháp lut còn có tám chi đon tuyt tc s khác đt đến chng ng?”

Thế Tôn đáp rng:

“Này Cư sĩ, cũng như mt con chó đói, gy m, mt mi, đến bên ch m bò. Người đ t hay đ t ca người đ t quăng cho con chó mt khúc xương đã rút ta hết tht. Con chó lượm được khúc xương ri chy đến ch này ch kia mà gm, rách môi, m răng, hoc gây thương hi cung hng, nhưng con chó không vì vy mà đon tr được đói. Này Cư sĩ, đa văn Thánh đ t tư duy như vy, ‘Dc vng như b xương khô. Thế Tôn nói dc vng như b xương khô, hoan lc ít mà kh não li nhiu, đy dy nguy him, nên xa lánh đi.’ Nếu ai có s x ly dc, ly ác bt thin pháp này, thì đây tt c mi s vt dc ca thế gian[31] đu vĩnh vin đon tn không dư tàn. Hãy tu tp điu đó.

“Này Cư sĩ, cũng như cách thôn không xa, có mt miếng tht rơi trên khong đt trng; hoc qu hoc diu mang miếng tht y đi. Ri nhng qu diu khác đui theo đ tranh giành. Ý Cư sĩ nghĩ sao? Nếu [774b] qu diu y không vội x b tc khc miếng tht này, các qu diu khác vn đui theo đ dành git chăng?”

Cư sĩ đáp:

“Tht s như vy, Cù-đàm.”

“Ý Cư sĩ nghĩ sao, nếu qu diu y x b tc khc miếng tht này, các qu diu khác có còn đui theo đ dành git chăng?”

Cư sĩ đáp:

“Không vy, Cù-đàm.”

“Này Cư sĩ, đa văn Thánh đ t tư duy như vy, ‘Dc vng như miếng tht. Thế Tôn nói dc vng như miếng tht; hoan lc ít mà kh não nhiu, đy nhng nguy him, hãy nên xa lìa đi.’ Nếu ai có s x ly dc, ly ác bt thin pháp này, thì đây tt c mi vt dc thế gian đu vĩnh vin đon tn không dư tàn. Hãy nên tu tp điu này.

“Này Cư sĩ, cũng như mt người tay cm mt bó đuc đang cháy, ngược gió mà đi. Ý Cư sĩ nghĩ sao? Gi s người y không ling b tc khc, nht đnh có cháy tay và các chi th khác chăng?”

Cư sĩ đáp:

“Tht s như vy, Cù-đàm.”

“Ý Cư sĩ nghĩ sao? Gi s người y ling b tc khc, s còn b cháy tay hay các chi th khác na chăng?”

Cư sĩ đáp:

“Không vy Cù-đàm.”

“Này Cư sĩ, đa văn Thánh đ t tư duy như vy, ‘Dc vng như bó đuc đang cháy; Thế Tôn nói dc vng như bó đuc đang cháy, hoan lc ít mà kh não nhiu, đy nhng nguy him hãy xa lánh đi.’ Nếu ai có s x ly dc, ly ác bt thin pháp này, thì đây, tt c mi dc vng thế gian, vĩnh vin đon tn không dư tàng. Hãy tu tp điu này.

“Này Cư sĩ, cũng như cách thôn không xa có mt hm la ln, trong đó đy nhng la nhưng không có khói, không có ngn. Nếu mt người đi đến, không ngu, không si, cũng không điên đo, t ch vi tâm mình, t do t ti, mun hoan lc ch không mun đau đn, rt ghét s đau đn; mun sng ch không mun chết, rt ghét s chết. Ý Cư sĩ nghĩ sao? Người y li nhy vào hm la này chăng?”

Cư sĩ đáp:

“Không phi vy, Cù-đàm. Vì sao vy? Vì người y thy hm la lin nghĩ rng, ‘Nếu rơi xung hm la, nht đnh chết ch không hòai nghi. Dù không chết, nht đnh chu đng đau đn vô cùng.’ Người y thy hm la bèn nghĩ đến vic xa lìa, ước mong xa lìa, x ly.

“Này Cư sĩ, đa văn Thánh đ t li tư duy như vy, ‘Dc vng như hm la. Thế Tôn nói dc vng như hm la, hoan lc ít mà kh não nhiu đy nhng nguy him, hãy nên xa lánh đi.’ Nếu ai có s x ly dc, ly ác bt thin pháp, thì đây tt c mi vt dc thế gian vĩnh vin đon tn không dư tàng. Hãy tu tp điu này.

“Này Cư sĩ, cũng như cách thôn không xa, có mt con rn đc to ln, rt d, rt đc đa, [774c] màu đen d s. Nếu mt người đi đến, không ngu, không si, cũng không điên đo, t ch vi tâm mình, t do t ti, mun hoan lc, ch không mun đau đn, rt ghét đau đn; mun sng ch không mun chết, rt ghét s chết. Ý Cư sĩ nghĩ sao, người y há li thò tay cho con rn cn, hay các chi th khác và nói rng, ‘Này, m đi! Này m đi!’ Như vy chăng?”

Cư sĩ đáp:

“Không phi vy, Cù-đàm. Vì sao vy? Người y thy con rn bèn nghĩ rng, ‘Nếu ta thò tay và các chi th khác cho con rn nó m, nht đnh phi chết ch không hòai nghi. Dù không chết thì nht đnh phi chu đau đn vô cùng.’ Người y thy con rn bèn nghĩ đến s lánh xa, ước mong x ly.

“Này Cư sĩ, đa văn Thánh đ t li tư duy như vy, ‘Dc vng như rn đc. Thế Tôn nói dc vng như con rn đc, hoan lc ít mà kh não nhiu, đy nhng nguy him, hãy xa lánh đi.’ Nếu ai có s x ly dc, ác bt thin pháp này, thì đây tt c mi dc vng thế gian vĩnh vin đon tn không dư tàng. Hãy tu tp điu này.

“Này Cư sĩ, cũng như mt người nm mng, thy mình sung túc, năm th dc lc tha thích. Nhưng khi tnh dy, mt th cũng không thy. Này Cư sĩ, đa văn Thánh đ t tư duy như vy, ‘Dc vng như gic mng. Thế Tôn nói dc vng như gic mng, hoan lc ít mà kh não nhiu, đy nhng nguy him, hãy xa lánh đi.’ Nếu ai có s x ly dc, ác bt thin pháp này, thì đây, tt c mi vt dc thế gian, vĩnh vin đon tn, không dư tàn. Hãy nên tu tp s kin này.

“Này Cư sĩ, cũng như mt người vay mượn vt dng hưởng lc, hoc cung đin, lu các, hoc vườn hào, ao tm, hoc voi nga, xe c, hoc chăn gẩm mùng mn, hoc nhn, vòng, xuyến, hoc hương, anh lc, vòng c, hoc tràng hoa vàng báu, hoc danh y thượng phc, ri nhiu người trông thy bèn ca ngi rng, ‘Như vy, tt lành thay! Như vy, sung sướng thay! Nếu có tài vt gì thì nên hưởng th tha thích cho đến cùng như vy.’ Nhưng ch nhân có th tước đot hay sai người tước đot bt c lúc nào mun. Rồi chủ nhân t mình tước đot hay sai người tước đot. Nhng người khác trông thy, bèn nói vi nhau rng, ‘Nó là người vay mượn; tht s là la gt ch không phi vay mượn. Vì sao? Vì ch nhân ca s hu có th tước đot hay sai người tước đot bt c lúc nào mun. Và ri chủ nhan đã t mình tước đot hay sai người tước đot.’ Này Cư sĩ, đa văn Thánh đ t tư duy như vy, ‘Dc vng như vay mượn. Thế Tôn nói dc vng như vay mượn hoan lc ít mà kh não nhiu, đy nhng nguy him, hãy xa lánh đi.’ Nếu ai có s x ly dc, ác bt thin pháp này, [775a] thì đây tt c mi vt dc thế gian vĩnh vin đon tn không dư tàng. Hãy tu tp điu này.

“Này Cư sĩ, cũng như cách thôn không xa, có mt gc cây ăn trái to ln. Cây y thường có nhiu trái ngon lành đp mt. Mt người đi đến, đói, mt mi, gy m, mun được ăn trái. Người y nghĩ rng, ‘Cây này thường có nhiu trái ngon lành đp mt. Ta đang đói, gy m, mt mi, mun được ăn trái. Nhưng dưới gc không có trái rng đ có th ăn cho no và mang v. Ta biết leo cây. Bây gi ta có nên leo lên cây này chăng?’ Nghĩ xong, bèn leo lên. Li cũng có mt người khác, đói, gy m, mt mi, mun được ăn trái, cm mt cái búa rt ln, bèn nghĩ rng: ‘Cây này thường có nhiu trái ngon lành đp mt nhưng dưới gc cây không có trái rng đ có th ăn cho no và mang v, ta không biết leo cây. Bây gi ta có nên đn ngã cây này chăng?’ Y bèn đn ngã cây y. Ý Cư sĩ nghĩ sao? Người trên cây nếu không xung nhanh khi cây ngã xung đt, có b gãy tay hoc các chi th khác chăng?”

Cư sĩ đáp:

“Tht s như vy, Cù-đàm.”

“Ý Cư sĩ nghĩ sao, nếu người trên cây leo xung nhanh, khi cây ngã xung đt, há li b gãy tay hay các chi th khác chăng?”

Cư sĩ đáp:

“Không vy, Cù-đàm.”

“Này Cư sĩ, đa văn Thánh đ t li tư duy như vy, ‘Dc vng như trái cây. Thế Tôn nói dc vng như trái cây, hoan lc ít mà kh não nhiu, đy nhng nguy him hãy lánh xa đi.’ Nếu ai có s x ly dc ly ác bt thin pháp này, thì đây tt c mi vt dc thế gian, vĩnh vin đon tn không dư tàng. Hãy tu tp s kin này.

Đó gi là trong Thánh pháp lut còn có tám chi đon tuyt tc s khác, đt đến chng ng.

“Này Cư sĩ, ri v y có tầm có tứ, và đã dt[32], ni tĩnh, nht tâm, không tần, không tứ, có h lc do đnh sanh, chng đc Nh thin, thành tu an tr. Ri v y ly h, an trụ x vô cu, vi chánh nim chánh trí, thân th lc, điu mà Thánh gi là Thánh x, nim, an trú lc, chng đc Tam thin, thành tu an tr. Ri v y lc dit, kh dit, h ưu vn cũng dit, không lc không kh, xả, nim thanh tnh, chng đc đ T thin, thành tu an tr.

“Ri v y vi đnh tâm thanh tnh như vy, không uế, không phin, nhu nhuyến, an tr vng vàng, đt đến bt đng tâm, tu hc và chng ng lu tn trí thông, biết như tht ‘Đây là Kh’, ‘Đây là Kh tp’, ‘Đây là Kh dit’, ‘Đây là Kh dit đo.’ Biết như tht đây là lu, đây là lu tp, đây là lu dit, [775b] đây là lu dit đo. V y biết như vy, thy như vy, tâm gii thoát dc lu, tâm gii thoát hu lu, vô minh lu, gii thoát ri biết mình đã gii thoát, biết như tht rng: ‘S sanh đã dt, phm hnh đã vng, vic cn làm đã làm xong, không còn tái sanh na.’”

Khi nói pháp này Bô-đa-lị Cư sĩ vin ly trn cu, pháp nhãn v các pháp phát sanh. Lúc by gi Bô-đa-lị Cư sĩ thy pháp, đc pháp, chng giác bch tnh pháp, đon nghi đ hoc, không còn tôn th ai, không còn do ai, không còn do d, đã an tr nơi qu chng đi vi pháp ca Thế Tôn đã được vô s úy, bèn cúi đu đnh l chân Pht bch:

“Bch Thế Tôn, con nay quy y Pht, Pháp và T-kheo Tăng. Cúi mong Thế Tôn nhn con làm Ưu-bà-tc, t hôm nay sut trn đi, t quy y cho đến lúc mng chung.

“Bch Thế Tôn, con trước đây mc chiếc áo trng tinh, đu qun khăn trng, chng gy, cm dù và mang guc tc, đi t vườn này sang vườn khác, t quán n đến quán kia, t rng đến rng, du hành khp nơi thong dong tn b, nếu gp các Sa-môn, Bà-ma-môn, bèn nói như vy, ‘Chư Hin, tôi lánh tc, đon tc, x các tc s.’ Các Sa-môn, Bà-ma-môn y bèn nhng li du dàng nói vi con rng, ‘Vâng, Cư sĩ Bô-đa-lị lánh tc, đon tc, x các tc s.’

“Bch Thế Tôn, con lúc by gi các v y tht s vô trí, li đt vào ch trí, tht s vô trí mà th t, tht s vô trí mà cúng thc, tht s vô trí mà phng s như người trí. Bch Thế Tôn, k t hôm nay chúng T-kheo và đ t Thế Tôn, đây mi tht s là có trí, xng đáng đt ch trí, tht s có trí xng đáng th t, tht s có trí xng đáng cúng thc, tht s có trí xng đáng phng s người trí tu.

“Bch Thế Tôn, con nay li ln na t quy y Pht, Pháp và T-kheo Tăng. Cúi mong Thế Tôn nhn con làm Ưu-bà-tc k t hôm nay sut đi t quy y cho đến lúc mng chung. Bch Thế Tôn, con trước kia kính tín kính trng các Sa-môn, Bà-ma-môn ngoi đo, k t hôm nay đon tuyt. Bch Thế Tôn, nay ln th ba con xin t quy y Pht, Pháp và T-kheo Tăng. Cúi mong Thế Tôn nhn con làm Ưu-bà-tc, k t hôm nay sut đi t quy y cho đến lúc mng chung.”

Đức Pht thuyết như vy, Cư sĩ Bô-đa-lị và các T-kheo sau khi nghe Pht thuyết, hoan h phng hành.[33]

204. KINH LA-MA

[775c8]Tôi nghe như vy:

Mt thi Pht trú ti nước Xá-v, trong Đông viên, ging đường Lc t mu.

By gi Thế Tôn vào lúc xế trưa, t tĩnh ta dy, bước xung ging đường, nói vi Tôn gi A-nan rng:

“Bây gi Ta và ngươi đến sông A-di-la-bà-đ[34] đ tm.”

Tôn gi A-nan bch rng:

“Xin vâng, bch Thế Tôn.”

Ri Tôn gi A-nan cm then ca tn b đi đến khp các cc, gp T-kheo nào cũng nói rng:

“Chư Hin, hãy đi đến nhà Bà-ma-môn La-ma[35].”

Các T-kheo nghe nói, bèn cùng nhau đến nhà Bà-ma-môn La-ma.

Thế Tôn dn Tôn gi A-nan đi đến sông A-di-la-bà-đ, ci y đ trên b, ri xung nước tm. Tm xong, tr lên lau mình, mc y. By gi Tôn gi A-nan đng sau Thế Tôn, cm qut qut Pht. Ri Tôn gi A-nan chp tay hướng v Đức Pht bch rng[36]:

“Bch Thế Tôn, nhà ca Bà-ma-môn La-ma rt tt, ngăn np, rt kh ái. Cúi mong Thế Tôn vì lòng t bi mn đi đến nhà ca Bà-ma-môn La-ma.”

Thế Tôn im lng nhn li ca Tôn gi A-nan. Ri Thế Tôn dn Tôn gi A-nan đi đến nhà Bà-ma-môn La-ma. By gi ti nhà ca Bà-ma-môn La-ma mt s đông T-kheo đã t tp ngi li đ thuyết pháp. Đức Pht đng ngoài ca, đi các T-kheo nói pháp xong. Khi s đông các T-kheo đã nói pháp xong, các ngài ngi im lng. Thế Tôn biết ri bèn tng hng và gõ ca.

Các T-kheo nghe, tc thì đi ra m ca[37]. Thế Tôn bước vào nhà Bà-ma-môn La-ma, tri ch ngi trước chúng T-kheo mà ngi và hi:

“Các T-kheo va ri nói nhng câu chuyn gì vy? Vì công vic gì mà t tp ngi đây?”

Lúc y các T-kheo đáp rng:

“Bch Thế Tôn, va ri, chúng con thuyết pháp. Do pháp s này mà t tp ngi ti đây.”

Thế Tôn khen rng:

“Lành thay! Lành thay, T-kheo khi t tp ngi li nên làm hai vic; mt là thuyết pháp, hai là [776a] im lng. Vì sao vy? Ta s ging pháp cho các ngươi. Hãy lng nghe! Hãy lng nghe! Hãy tư nim k!”

Lúc y các T-kheo bch rng:

“Chúng con kính vâng li lng nghe.”

Đức Pht nói:

“Có hai loi tìm cu. Mt là Thánh cu[38] và hai là phi Thánh cu. Thế nào là phi Thánh cu? Có mt hng người tht s l thuc bnh tt nhưng li tìm cu tt bnh; tht s l thuc s chết nhưng li tìm cu s chết, tht s l thuc vào ưu bi kh não, l thuc s tp uế, nhưng li tìm cu s tp uế.

“Thế nào là tht s l thuc vào bnh tt[39] nhưng li tìm cu s bnh tt? Thế nào là pháp lệ thuộc bệnh? Con cái, anh em, đó là bnh pháp. Voi, nga, bò, dê, nô t, tin tài, trân bo, lúa go, là s bnh pháp. Chúng sanh trong đó xúc chm, đm nhim, tham ái, dính trước, kiêu ngo mà th nhp, không thy s nguy him, không thy s xut yếu.

“Thế nào là pháp l thuc s già[40], s chết, s su bi ưu não, s tp uế? Con cái, anh em đó là pháp tp uế. Voi, nga, bò, dê, nô t, tin tài, trân bo, đó là pháp tp uế, pháp tn hi. Chúng sanh trong đó đm nhim, xúc chm, tham ái, dính trước, kiêu ngo mà th nhp, không thy s nguy him, không thy s xut yếu. Người đó dù mun tìm cu cái không tt bnh, an n, vô thượng, Niết-bàn, nhưng đt được Niết-bàn an n vô thượng đối với người ấy là trường hp không th có. Người đó tìm cu cái không già, không chết, không su bi ưu não, không tp uế, vô thượng an n Niết-bàn, nhưng đt được Niết-bàn vô thượng an n đối với người đó là trường hp không th có. Đó gi là phi Thánh cu.

“Thế nào là Thánh cu? Có mt hng người suy nghĩ như thế này, ‘Ta tht s l thuc tt bnh, không bõ tìm cu pháp tt bnh. Ta tht s l thuc s già, s chết, s su bi kh não, s tp uế, không bõ s tìm cu pháp tp uế. Vy ta hãy tìm cu cái không bnh, vô thượng an n Niết-bàn. Tìm cu cái không già, không chết, không su bi ưu não, không tp uế, vô thượng an n, Niết-bàn.’ Người y bèn tìm cu cái không bnh, vô thượng an n Niết-bàn và đt được không bnh, vô thượng an n Niết-bàn đối với người ấy là trường hp có th có. Người đó tìm cu cái không già, không chết, không su bi ưu não, không tp uế, vô thượng an n Niết-bàn, và đt được không già, không chết, không su bi ưu não, không tp uế, vô thượng an n Niết-bàn đối với người đó là trường hp có th có.

“Ta trước kia khi chưa chng Vô thượng Chánh đng chánh giác cũng suy nghĩ như vy, ‘Ta thc s l thuc tt bnh, không bõ tìm cu s tt bnh. Ta thc s l thuc già, chết, su bi ưu não, tp uế, không bõ tìm cu cái không già, không chết, không su bi ưu não, không tp uế. Vy ta có nên tìm cu cái không bnh, vô thượng an n Niết-bàn; tìm cu cái không già, không chết, không [776b] su bi ưu não, không tp uế, vô thượng an n Niết-bàn chăng?’

“Ta vào thi thiếu niên trong trng, mái tóc xanh mướt, cho đến thi tráng niên năm hai mươi chín tui, by gi sng cc k hoan lc, vui đùa, trang sc, du hành. Ta vào lúc y mc dù cha m khóc lóc, thân thuc không ai vui, nhưng Ta co b râu tóc, mc áo ca-sa, chí tín, lìa b gia đình, sng không gia đình, đ hc đo; th h thân mng thanh tnh, th h khu và ý mng thanh tnh. Ta đã thành tu gii thân y ri, li mun tìm cu s không bnh, vô thượng an n Niết-bàn; s không già, không chết, không su bi ưu não, không tp uế, vô thượng an n Niết-bàn, cho nên li tìm nơi A-la-la Già-la-ma[41], hi rng, ‘Thưa A-la-la, tôi mun theo pháp ca người đ tu hc phm hnh được chăng?’ A-la-la tr li rng, ‘Này Hin gi, không có gì là không được. Hin gi mun hành thì hành.’ Ta li hi, ‘Người làm thế nào đ t tri, t giác, t tác chng pháp này?’ A-la-la đáp, ‘Ta vượt qua tt c thc x, đt được vô s hu x, thành tu an tr. Do đó, pháp ca ta được t tri, t giác, t tác chng.’ Ta li suy nghĩ như vy, ‘Không ch riêng A-la-la mi có nim tin này. Ta cũng có nim tin này. Không ch riêng A-la-la mi có tinh tn này, Ta cũng có s tinh tn này. Không ch riêng A-la-la mi có tu này, Ta cũng có tu này.’ A-la-la đi vi pháp này đã t tri, t giác, t tác chng. Ta mun chng pháp này nên sng cô đc, vin ly, ti mt nơi trng vng, yên tĩnh. Sau khi tâm không phóng dt, tu hành tinh cn, không bao lâu Ta chng pháp y. Sau khi chng pháp y ri, Ta li tìm đến ch A-la-la Già-la-ma, hi rng, ‘Thưa A-la-la, phi chăng pháp này được t tri, t giác, t tác chng, nghĩa là vượt qua tt c thc vô biên x,[42] đt được vô s hu x, thành tu an tr?’ A-la-la tr li Ta rng, ‘Hin gi, đó là pháp ta t tri, t giác, t tác chng, nghĩa là vượt qua tt c thức vô biên x, đt được vô s hu x, thành tu an tr.’ A-la-la li nói vi Ta rng, ‘Hin gi, y là cũng như s tác chng ca ta đi vi pháp này, Hin gi cũng vy. Cũng như s tác chng ca Hin gi đi vi pháp này, ta cũng vy. Hin gi, người hãy đến đây, cùng ta lãnh đo đ chúng này.’ Đó là A-la-la đi x vi Ta vi đa v Tôn sư, coi Ta ngang hàng, ti thượng cung kính, ti thượng cúng dường, ti thượng hoan h.

“Ta li suy nghĩ như vy, [776c] ‘Pháp này không đưa đến trí; pháp này không đưa đến giác, không đưa đến Niết-bàn. Vy Ta hãy x b pháp này, đ cu thêm na, s không bnh, vô thượng an n Niết-bàn; tìm cu s không già, không chết, không su bi ưu não, không tp uế, vô thượng an n Niết-bàn.’ Ta bèn b pháp này đi tìm cu s không bnh, vô thượng an n Niết-bàn.

“Ri Ta đi đến ch Ut-đà-la La-ma T[43], hi rng, ‘Thưa Ut-đà-la, tôi mun trong pháp ca người mà hc hi, có th được chăng?’ Ut-đà-la La-ma T tr li Ta rng, ‘Hin gi, không có gì là không được. Người mun hc thì hc.’ Ta li hi, ‘Thưa Ut-đà-la, cha ngài là La-ma[44], người t tri, t giác, t tác chng pháp gì?’ Ut-đà-la La-ma T đáp, ‘Hin gi, ta vượt qua tt c vô s hu x, đt được phi tưởng phi phi tưởng x, thành tu an tr. Hin gi, pháp mà cha ta La-ma t tri, t giác, t tác chng, là pháp này.’ Ta li suy nghĩ như vy, ‘Không ch riêng La-ma mi có nim tin này, Ta cũng có nim tin này. Không ch riêng La-ma mi có s tinh tn này, Ta cũng có s tinh tn này. Không ch riêng La-ma mi có tu này, Ta cũng có tu này. La-ma đã t tri, t giác, t tác chng pháp này, ti sao ta li không t tri, t giác, t tác chng pháp này?’ Vì Ta mun chng pháp này, cho nên sng cô đc ti mt nơi xa vng, không nhàn, yên tĩnh, tâm không phóng dt, tu hành tinh cn. Sau khi Ta sng cô đc, vin ly, ti mt nơi trng vng, yên tĩnh, không bao lâu chng được pháp y. Khi chng pháp y ri, Ta li đến Ut-đà-la La-ma T hi rng, ‘Thưa Ut-đà-la La-ma T, cha ngài là La-ma, phi chăng pháp này được t tri, t giác, t tác chng, nghĩa là vượt qua tt c vô s hu x, đt được phi tưởng, phi phi tưởng x, thành tu an tr?’ Ut-đà-la La-ma T tr li Ta rng, ‘Hin gi, cha ta là La-ma, đây là pháp được t tri, t giác, t tác chng, nghĩa là vượt qua tt c vô s hu x, đt được phi tưởng phi vôphi tưởng x, thành tu an tr.’ Ut-đà-la li nói vi Ta rng, ‘Cũng như cha ta La-ma tác chng pháp này, Hin gi cũng vy. Cũng như Hin gi tác chng pháp này, cha ta cũng vy. Hin giả, hãy đến đây cùng ta lãnh đo đ chúng này.’ Ut-đà-la đi x vi Ta ngang đa v Tôn sư, coi Ta cũng như bc Tôn sư, ti thượng cung kính, ti thượng cúng dường, ti thượng hoan h.

“Ta li suy nghĩ như vy, [777a] ‘Pháp này không đưa đến trí, không đưa đến giác, không đưa đến Niết-bàn. Vy Ta hãy x b pháp này đ đi tìm cu thêm na, s không bnh, vô thượng an n Niết-bàn; tìm cu s không già, không chết, không su bi ưu não, không tp uế, vô thượng an n Niết-bàn.’ Ta lin x b pháp y đ đi tìm cu s không bnh, vô thượng an n Niết-bàn; tìm cu s không già, không chết, không su bi ưu não, không tp uế, vô thượng an n Niết-bàn.

“Ri Ta đi v phía nam núi Tượng đnh[45], đến ti Ut-tì-la[46], mt ngôi làng ca Bà-ma-môn tên gi là Tư-na[47], đây là mt khong đt xinh xn, kh ái, núi rng sm ut, sông Ni-liên-thin[48] vi dòng nước trong xanh chy tràn lên b. Ta thy khonh đt y, bèn nghĩ rng, ‘Nếu mt thin gia nam t mun hc đo, nên nơi này mà hc. Ta cũng hc đo; vy Ta hãy nơi này mà hc.’ Ri Ta ôm c đến cây Giác th[49]. Đến nơi, Ta ri c xung, tri ni-sư-đàn lên và ngi kiết già, k hn s không ri khi ch ngi cho đến khi nào chng đc lu tn. Và Ta không ri khi ch ngi cho đến khi chng đc lu tn.

“Ta tìm cu s không bnh, vô thượng an n Niết-bàn, lin đt được s không bnh, vô thượng an n Niết-bàn. Ta tìm cu s không già, không chết, không su bi ưu não, không tp uế, vô thượng an n Niết-bàn, lin đt được s không già không chết, không ưu bi su não, không tp uế, vô thượng an n Niết-bàn, sanh tri, sanh kiến, đnh đo phm pháp[50], ‘S sanh đã dt, phm hnh đã vng, vic cn làm đã làm xong, biết như tht không còn tái sanh na.’

“Khi Ta va chng Vô thượng Chánh đng chánh giác, lin nghĩ như vy, ‘Ta s thuyết pháp cho ai trước nht?’[51] Ri Ta li nghĩ rng, ‘Ta có nên đi đến thuyết pháp cho A-la-la Già-la-ma trước chăng?’

“Lúc by gi có Thiên thn tr trong hư không nói vi Ta rng: ‘Đại Tiên Nhân, xin biết cho, A-la-la Già-la-ma va mng chung đến nay đã được by ngày.’ Ta cũng t biết A-la-la Già-la-ma đã mng chung được by ngày. Ta li nghĩ như vy, ‘A-la-la Già-la-ma, thit thòi thay cho người y, không nghe được pháp này. Nếu được nghe pháp này, người y s nhanh chóng biết rõ pháp tùy pháp[52].

“Khi Ta va chng Vô thượng Chánh đng chánh giác, lin nghĩ như vy, ‘Ta s thuyết pháp cho Ut-đà-la La-ma T trước nht chăng?” Thiên thn li tr trong hư không nói vi Ta rng, ‘Đại Tiên Nhân, xin biết cho, Ut-đà-la La-ma T mng chung đến nay đã hai [777b] tun tht.’ Ta cũng t biết Ut đu la La-ma T mng chung đã hai tun tht. Ta li nghĩ như vy, ‘Ut-đà-la La-ma T thit thòi thay cho người y, không nghe được pháp này. Nếu nghe được pháp này, người y s nhanh chóng biết rõ pháp tùy pháp.’

“Khi Ta va chng Vô thượng Chánh đng chánh giác, Ta lin suy nghĩ như vy, ‘Ta s thuyết pháp cho ai trước nht?’ Ri Ta li nghĩ rng, ‘Xưa kia, năm T-kheo theo hu h Ta, giúp Ta nhiu điu hu ích. Khi Ta tu hành kh hnh, năm T-kheo y đã tha s Ta. Nay Ta có nên thuyết pháp cho năm T-kheo trước kia chăng?’ Ri Ta li nghĩ rng, ‘Năm T-kheo thu xưa y, bây gi đang đâu?’ Bng thiên nhãn thanh tnh vượt hn người thường, Ta thy năm T-kheo đang ti Ba-la-ni[53], Tiên nhân trú x, trong vườn Lc gi.

“Ta tùy thun tr dưới gc cây Giác th. Sau đó Ta thu vén y, ôm bát đi v Ba-la-ni, đến đô p Gia-thi[54]. By gi D hc Ưu-đà[55], t xa trông thy Ta đi đến, bèn nói vi Ta rng, ‘Hin gi Cù-đàm, các căn thanh tnh, hình sc thù diu, khuôn mt ngi sáng. Hin gi Cù-đàm, ai là Tôn sư? Theo ai hc đo? Tin tưởng pháp ca ai?’ Lúc by gi Ta lin nói bài k đ tr li Ưu-đà rng:

Ta ti thượng chiến thng;

Nhim trước pháp đã tr;

Gii thoát ái dit tn;

T giác, không Tôn sư.

Bc Vô đng, Đại hùng,

T giác, Vô thượng giác,

Như Lai, Thy Trời Người,

Biến Tri, thành tu lc.

Ưu-đà hi rng:

“–Hin gi Cù-đàm t cho là đã chiến thng tất cả chăng?”

“Ta li nói bài k tr li rng:

Đấng Chiến thng như vy

Các lu đã tn tr.

Ta sát hi ác pháp,

Nên Ta đã chiến thắng.

Ưu-đà li hi Ta rng:

“–Hin gi Cù-đàm, by gi mun đi v đâu?”

“By gi Ta nói bài k rng:

Ta đến Ba-la-ni,

Dóng trng diu cam l,

Chuyn pháp luân vô thượng

Chưa ai chuyn trong đi.

Ưu-đà li nói vi Ta rng:

“–Hin gi Cù-đàm, mong có th là như vy.”

“Ri v y bước sang con đường tt mà đi tr lui.

“Ta mt mình đi đến Tiên nhân tr x, [777c] trong vườn Lc dã. By gi năm T-kheo t xa trông thy Ta đi đến, ai cũng lp giao ước vi nhau rng, ‘Chư Hin, nên biết đó là Sa-môn Cù-đàm đang đi đến. Người y đa dc, đa cu, ăn vi loi m thc thù diu, bng cơm go trng ngon lành, cùng vi bt, tô, mt, và bôi xoa thân th bng du mè nay li đến đây. Các vị c ngi. Ch nên đng dy đón tiếp, cũng đng làm l. Dành sn cho mt ch đó, nhưng đng mi ngi, hãy nói rng ‘Nếu bn mun ngi, xin c tùy ý.’

“Ri Ta đi đến ch năm T-kheo. By gi năm T-kheo không kham ni uy đc ti thng thù diu ca Ta, tc thì ri ch ngi đng dy, người thì ôm y bát ca Ta, người thì tri ch ngi, người thì ly nước cho Ta ra chân. Ta nghĩ rng, ‘Nhng người ngu si này sao li không bn chí, đã t mình thiết lp điu ước hn, ri li làm trái điu giao hn.’ Ta biết như vy ri bèn ngi trên ch ngi mà năm T-kheo đã dn sn. Khi y năm T-kheo gi thng tên h Ta và xưng hô vi Ta là “Bn”[56].

“Ta nói vi h rng, ‘Ta là Như Lai, Vô S Trước, Đẳng Chánh Giác, các người đng gi thng tên h Ta, cũng đng gi Ta là ‘Bn.’ Vì sao vy? Ta vì tìm cu s không bnh, vô thượng an n Niết-bàn, và đt được s không bnh, vô thượng an n Niết-bàn. Ta tìm cu s không già, không chết, không su bi ưu não, không tp uế, vô thượng an n Niết-bàn, và đt được s không già, không chết, không su bi ưu não, không tp uế, vô thượng an n Niết-bàn. Đã sanh tri, sanh kiến, đnh đo phm pháp,[57] ‘S sanh đã dt, phm hnh đã vng, vic cn làm đã làm xong, không còn tái sanh na.’ H nói vi Ta rng:

“–Này bn Cù-đàm, trước kia bn hành như vy, đo tích như vy, kh hnh như vy mà còn chưa chng được pháp thượng nhân, gn k vi Thánh tri, Thánh kiến,[58] hung là ngày hôm nay đa dc, đa cu, ăn vi thc phm thù diu vi go trng ngon lành, cùng vi bt, tô, mt, bôi xoa thân th bng du mè chăng?

“Ta li nói rng:

“–Này năm T-kheo, các ngươi trước kia có bao gi thy Ta như vy, vi các căn thanh tnh, rng r sáng ngi chăng?

“By gi năm T-kheo li tr li vi Ta rng:

“–Trước kia chúng tôi chưa tng thy bn vi các căn thanh tnh, rng r sáng ngi. Này bn Cù-đàm, nay bn vi các căn thanh tnh, hình sc thù diu khuôn mt sáng ngi.

“Ta lúc y nói vi h rng:

“–Này năm T-kheo, có hai li sng cc đoan mà nhng người hc đo không nên hc. Mt là đm trước dc lc, nghip hèn h, là li sng ca phàm phu. Hai là t gây phin, t gây kh, không phi là pháp Hin Thánh, không tương ưng vi cu cánh. Này năm T-kheo, x b hai cc đoan y, có con đường gia, thành minh, [778a] thành trí, thành tu đnh, đt đến t ti, đưa đến trí, đưa đến giác, dn đến Niết-bàn. Đó là con đường tám chánh,[59] t chánh kiến cho đến chánh đnh là tám.

“Ri Ta ln lượt giáo hóa năm T-kheo. Khi giáo hóa cho hai người thì ba người đi kht thc. Ba người mang thc ăn v cho đ sáu người ăn. Khi giáo hóa cho ba người thì hai người đi kht thc. Hai người mang thc ăn v cho đ sáu người ăn. Ta giáo hóa như vy, h tìm cu s không bnh, vô thượng an n Niết-bàn, và đt được s không bnh, vô thượng an n Niết-bàn. Họ tìm cu s không già, không chết, không su bi ưu não, không tp uế, vô thượng an n Niết-bàn, và đt được s không già, không chết, không su bi ưu não, không tp uế và vô thượng an n Niết-bàn; sanh tri, sanh kiến, đnh đo phm pháp, ‘S sanh đã dt, phm hnh đã vng, vic cn làm đã làm xong, biết như tht không còn tái sanh na.’

“Ri Thế Tôn li nói vi h rng:

“–Này năm T-kheo, có năm th công đc ca dc, kh ái, kh lc, kh ý, kh nim, hoàn toàn tương ưng vi dc. Đó là sc được biết bi mt, tiếng được biết bi tai, hương được biết bi mũi, v được biết bi lưỡi, xúc được biết bi thân. Này năm T-kheo, phàm phu ngu si, không đa văn, không gp thin hu, không biết Thánh pháp, không được chế ng trong Thánh pháp, chúng xúc chm, đm nhim, tham ái, dính trước, kiêu ngo mà th nhp, không biết s nguy him, không thy s xut yếu. Nên biết chúng nghe theo Ác ma, làm theo Ác ma, rơi vào Ác ma, b lưới Ma qun cht, b cùm Ma khóa cht, không thoát khi s trói buc ca Ma. Này năm T-kheo, cũng như nai rng b dây buc cht nên biết nó phi nghe theo th săn, làm theo th săn, rơi vào tay th săn, b lưới th săn qun cht, khi th săn đến, không th trn thoát. Cũng vy, năm T-kheo, phàm phu ngu si, không đa văn, không gp thin hu, không biết Thánh pháp, không điu ng trong Thánh pháp, chúng đi vi năm thú diu dc mà xúc chm, đm nhim, tham ái, dính trước, kiêu ngo, lăn x vào, th dng mà không thy s nguy him, không thy s xut yếu. Nên biết, chúng phi nghe theo Ác ma, làm theo Ác ma, rơi vào tay Ác ma, b lưới Ma qun cht, b dây Ma trói xiết, không thoát khi s trói buc ca Ma.

“Này năm T-kheo, đa văn Thánh đ t, gp thin tri thc, hiu biết Thánh pháp, điu ng trong Thánh pháp, nhng v y đi vi năm diu dc, không xúc, không nhim, không tham, không trước, cũng không kiêu ngo mà th nhp, mà thy s nguy him, thy s xut yếu. Nên biết, h không nghe theo Ác ma, không làm theo Ác ma, không b rơi vào [778b] tay Ác ma, không b lưới Ma qun cht, không b dây Ma trói siết, bèn thoát khi s trói buc ca Ma. Này năm T-kheo, cũng như nai rng thoát khi trói buc, nên biết nó không phi nghe theo th săn, không phi làm theo th săn, không rơi vào tay th săn, không b lưới th săn qun cht, không b dây th săn buc siết. Khi th săn đến, nó có th trn thoát. Cũng vy, này năm T-kheo, đa văn Thánh đ t gp thin tri thc, hiu biết Thánh pháp, điu ng trong Thánh pháp, v y đi vi năm công đc ca dc không xúc, không nhim, không tham không trước, cũng không kiêu ngo mà th nhp, mà thy s nguy him, thy s xut yếu. Nên biết nhng người y không phi nghe theo Ác ma, không phi làm theo Ác ma, không rơi vào tay Ma, không b lưới Ma qun cht, không b dây Ma buc siết, bèn thoát khi s trói buc ca Ma. Này năm T-kheo, nếu lúc Như Lai xut hin trong thế gian, là Vô S Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hnh Túc, Thin Th, Thế Gian Gii, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, là Pht, Thế Tôn. V y đon tr cho đến năm trin cái, nhng th làm tâm tp uế, tu yếu kém, ly dc, ly ác bt thin pháp cho đến chng đc T thin thành tu an tr.

“V y vi đnh tâm thanh tnh, như vy, không uế, không phin, nhu nhuyến, an tr vng vàng, đt đến bt đng tâm, tu hc và tác chng Lu tn trí thông. V y biết như tht đây là Kh, biết như tht đây là Kh tp, biết như tht đây là Kh dit, đây là Kh dit đo. Biết như tht đây là lu, đây là lu tp, đây là lu dit, đây là lu dit đo. V y biết như vy, thy như vy, tâm gii thoát dc lu, tâm gii thoát hu lu, vô minh lu. Gii thoát ri biết mình đã gii thoát, biết như tht rng ‘S sanh đã dt, phm hnh đã vng, điu cn làm đã làm xong, không còn tái sanh na.’ V y bây gi t ti đi, t ti đng, t ti ngi, t ti nm. Vì sao vy? V y đã t mình thy rõ vô lượng pháp ác bt thin đã dit tn. Cho nên, v y t ti đi, t ti đng, t ti ngi, t ti nm. Này năm T-kheo, cũng như trong khu rng vng, nơi không có bóng người, đó nai rng t ti đi, t ti đng, t ti ngi, t ti nm. Vì sao vy? Nai rng y không nm trong cnh gii ca th săn. Cho nên nó t ti đi, t ti đng, t ti ngi, t ti nm. Cũng vy, này năm T-kheo, T-kheo lu tn, chng đc vô lu, tâm gii thoát, tu gii thoát, biết như tht ‘S sanh đã dt, phm hnh đã vng, điu cn làm đã làm xong, [778c] không còn tái sanh na.’ V y lúc by gi t ti đi, t ti đng, t ti ngi, t ti nm. Vì sao vy? Vì v y t mình thy vô lượng pháp ác bt thin đã dit tn, cho nên t ti đi, t ti đng, t ti ngi, t ti nm.

“Này năm T-kheo, đó gi là gii thoát vô dư, đó gi là s không bnh, vô thượng an n Niết-bàn. Đó gi là s không già không chết, không su bi ưu não, không tp uế, vô thượng an n Niết-bàn.”

Đức Pht thuyết như vy, Tôn gi A-nan và các T-kheo sau khi nghe Pht dy xong, hoan h phng hành.

205. KINH NGŨ H PHN KT

Tôi nghe như vy:

Mt thi Pht trú ti nước Xá-v, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.

By gi Thế Tôn nói vi các T-kheo rng:

“Ta đã tng nói năm h phn kết[60], các ngươi có th trì chăng?”

Các T-kheo im lng không tr li. Thế Tôn li hi đến ln th ba:

“Ta đã tng nói năm h phn kết, các ngươi có th trì chăng?”

Các T-kheo im lng không tr li đến ln th ba. Lúc by gi Tôn gi Man Đồng t[61], t ch ngi đng dy, chp tay hướng v Pht bch rng:

“Thế Tôn đã tng nói năm h phn kết. Con có th trì.”

Thế Tôn hi:

“Này Man Đồng t, Ta đã tng nói năm h phn kết, ngươi có th trì chăng?”

Tôn gi Man Đồng t đáp:

“Thế Tôn nói dc là h phn kết th nht, con th trì như vy. Nhuế, thân kiến, gii th và nghi, Thế Tôn nói nghi là h phn kết th năm, con th trì như vy.”

Thế Tôn qu rng:

“Man Đồng t, ngươi sao li th trì rng Ta nói năm h phn kết như vy? Man Đồng t, ngươi nghe t ming ai mà th trì rng Ta nói năm h phn kết như vy?”

“Này Man Đồng t, há không phi s đông các người D hc ct vn ch trích ngươi vi thí d v tr nít sơ sanh này chăng? Này Man Đồng t, con nít mi sanh mm yếu, nm ng, trong ý còn không có ý tưởng v dc tưởng, há li có qun cht nơi dc chăng? Nhưng kết s nm trong bn tính ca chúng nên nói là dc tùy miên[62]. Này Man Đồng t, con nít mi sanh, mm yếu, nm nga mà ng, ý tưởng v chúng sanh còn không có, há li có tâm bị qun cht nơi sân nhuế chăng? Nhưng do kết s nm trong bn tính ca nó, nên nói là nhuế tùy miên[63]. Này Man Đồng t, con nít mi sanh mm yếu, nm nga mà [779a] ng, ý tưởng v t thân còn không có, há li có qun cht nơi thân chăng? Nhưng do kết s nơi bn tính ca nó nói là thân kiến tùy miên[64]. Này Man Đồng t, con nít mi sanh mm yếu, nm nga mà ng, ý tưởng v gii còn không có há li có tâm qun cht nơi gii chăng? Nhưng do kết s nơi bn tính ca nó nên nói là gii th tùy miên[65]. Này Man Đồng t, con nít mi sanh mm yếu, ý tưởng v pháp còn không có, há li có tâm qun cht nơi pháp chăng? Nhưng do kết s nơi bn tính ca nó nên nói là nghi tùy miên[66]. Há không phi s đông các d hc đem thí d con nít mi sanh này mà ch trích ct vn ngươi chăng?”

Lúc by gi, Tôn gi Man Đồng t b Thế Tôn qu trách ngay mt, trong lòng ru rĩ, cúi đu im lng, không còn li l bin bch, suy nghĩ mông lung. Thế Tôn sau khi mng Tôn gi Man Đồng t ngay mt ri, ngi im lng. Lúc y Tôn gi A-nan đng sau Thế Tôn, cm qut qut Pht. Ri Tôn gi A-nan chp tay hướng v Đức Pht, bch:

“Bch Thế Tôn, hôm nay tht đúng lúc, bch Thin Thệ, nay tht đúng lúc, nếu Thế Tôn nói cho các T-kheo nghe năm h phn kết. Các T-kheo sau khi nghe Thế Tôn dy s khéo léo th trì.”

Thế Tôn nói:

“Này A-nan, hãy lng nghe, hãy khéo tư nim!”

Tôn gi A-nan bch Pht:

“Xin vâng li lng nghe.”

Pht nói:

“A-nan, đây có mt hng người b dc qun cht. Dc tâm sanh ri mà không biết như tht v s x ly; do không biết như tht v s x ly, nên tham dc càng tăng thnh, không th chế tr. Đó là h phn kết.

“A-nan, đây có mt hng người b nhuế qun cht. Nhuế tâm sanh ri mà không biết như tht v s x ly. Do không biết như tht x ly sân nhuế càng tăng thnh, không th chế tr. Đó là h phn kết.

“A-nan, đây có mt hng người b thân kiến qun cht. Thân kiến tâm sanh ri mà không biết như tht v s x ly. Do không biết như tht x ly, thân kiến càng tăng thnh, không th chế tr. Đó là h phn kết.

“A-nan, đây có mt hng người b gii th qun cht. Gii th tâm sanh ri mà không biết như tht v s x ly. Do không biết như tht x ly, gii th càng tăng thnh. Không th chế tr. Đó là h phn kết.

“A-nan, đây có mt hng người b nghi qun cht. Nghi tâm sanh ri mà không biết như tht v s x ly, nghi càng tăng thnh. Không th chế tr. Đó là h phn kết.

“Này A-nan, y trên đo, y trên đo tích[67] đ đon tr năm h phn kết. Nếu không y trên đo này, không y trên đo tích này mà đon tr được năm h phn kết, trường hp này không th có.

“A-nan, [779b] cũng như có người mun tìm lõi cây chc tht[68]. Vì đ tìm lõi cây chc tht nên y xách búa vào rng. Người y thy mt gc cây đã đy đ r, thân, cành, lá và lõi. Nhưng nếu người y không cht nơi r nơi thân mà tìm được cái gì chc tht mang v, trường hp này không th có. Cũng vy, này A-nan, phi y trên đo, y trên đo tích đ đon tr năm h phn kết. Nếu không y trên đo này, không y trên tích này mà đon tr được năm h phn kết, trường hp này không th có.

“Này A-nan, y trên đo, y trên đo tích đ đon tr năm h phn kết. Nếu ai y trên đo này, y trên tích này mà đon tr năm h phn kết, trường hp này tt có.

“A-nan, cũng như mt người mun tìm lõi cây chc tht. Vì đ tìm lõi cây chc tht, y xách búa vào rng. Người y thy mt gc cây đã đy đ r, thân, cành, và lá vi lõi. Nếu người y cht nơi r, nơi thân và được cái chc tht đ mang v, trường hp này chc có. Cũng vy này A-nan, y trên đo và y trên tích đ đon tr năm h phn kết. Nếu ai y trên đo này và y trên tích này mà đon tr được năm h phn kết trường hp này tt có.

“Này A-nan, y trên đo nào, y trên tích nào đ đon tr năm h phn kết? A-nan, hoc có mt hng người b dc qun cht. Nếu dc trin đã sanh, lin biết như tht v s x ly; biết như tht v s x ly ri dc trin nơi người y lin dit. A-nan, đây mt người b nhuế qun cht; nếu nhuế trin phát sanh, lin biết như tht v s x ly. Nếu biết như tht v s x ly ri, nhuế trin nơi người y lin dit. A-nan đây có mt người b thân kiến qun cht. Nếu thân kiến đã qun cht, lin biết như tht v s x ly. Biết như tht v s x ly ri, thân kiến trin nơi người y lin dit. A-nan, đây có mt người b gii th qun cht. Nếu gii th trin đã sanh, lin biết như tht v s x ly. Biết như tht v s x ly ri, gii th trin nơi người y lin dit. A-nan, đây mt người b nghi qun cht, nếu nghi trin đã sanh, lin biết như tht v s x ly. Biết như tht v s x ly ri, nghi trin nơi người y lin dit.

“Này A-nan, y trên đo này, y trên đo tích này mà đon tr năm h phn kết.

“Này A-nan, cũng như sông Hng-già vi nước chy tràn lên b. Nếu có mt người đến, có công vic b bên kia nên mun qua sông. Người y suy nghĩ rng, ‘Sông Hng-già này nước chy tràn lên b. Ta có công vic b bên kia nên mun qua sông. Nhưng t thân ta không đ sc đ bình an li sang b bên kia.’ A-nan, nên biết rng người y không đ sc. Cũng vy, này A-nan, nếu ai đi vi s chng giác, vi tch dit, vi Niết-bàn mà tâm không thú hướng, không thanh tnh, không tr nơi gii thoát; A-nan, nên biết người y [779c] cũng ging như người gy yếu không sc lc kia.

“A-nan, cũng như sông Hng-già vi nước chy tràn lên b. Nếu có mt người đến, có công vic b bên kia nên mun qua sông. Người y nghĩ rng, ‘Sông Hng-già này vi nước chy tràn lên b. Ta có công vic b bên kia. T thân ta đ sc đ bình an li qua b bên kia.’ A-nan, nên biết rng người y đ sc. Cũng vy, này A-nan, nếu ai đi vi s chng giác, vi tch dit, vi Niết-bàn, mà có tâm thú hướng, thanh tnh mà tr nơi gii thoát; A-nan, nên biết, người này cũng như người có sc lc kia.

“Này A-nan, cũng ging như giòng nước lũ[69] rt sâu, rt rng, chy xiết, cun trôi nhiu th, mà quãng gia không thuyn, không cu, gi s có mt người đến, có công vic b bên kia, nên tìm cách đ qua. Khi tìm cách đ qua, người y nghĩ rng, ‘Nay giòng nước lũ này rt sâu, rt rng, chy xiết, cun trôi mi th, khong gia li không có thuyn, không cu đ có th qua. Vi phương tin đ ta có th bình an sang b bên kia. Ta có công vic b bên kia cn đi qua. Vi phương tin nào đ ta có th bình an qua b bên kia?’ Ri người y li nghĩ rng, ‘Bây gi b bên này ta hãy thu lượm c, cây buc li mà làm chiếc bè đ bơi sang.’ Người y bèn bên này thu lượm c cây buc li làm thành chiếc bè, ri bình an bơi sang b bên kia. Cũng vy, này A-nan, T-kheo phan duyên vào s ym ly, y trên s ym ly, an tr nơi ym ly, do làm an tnh thân ác, do tâm nhp ly đnh, ly dc, ly ác bt thin pháp, có tầm có tứ, có h lc do ly dc sanh, chng đc Sơ thin thành tu an tr. V y y trên x này mà quán sát s hưng suy ca th. V y y trên x này mà quán sát s hưng suy ca th ri, an tr nơi đó, tt chng đc lu tn. Gi s tr nơi đó mà không chng đc lu tn, tt s thăng tiến và đt đến tch tnh x.

“Ri v y tầm tứ tch tnh, ni tĩnh, nht tâm, không tầm không tứ, h lc do đnh sanh, chng đc Nh thin, thành tu an tr. V y y trên x này mà quán sát s hưng suy ca th. V y sau khi y trên x này mà quán sát s hưng suy ca th ri, an tr nơi đó tt chng đc lu tn. Gi s an tr nơi đó mà không chng đc lu tn, tt s thăng tiến và đt đến tch tnh x.

“Thế nào là thăng tiến và đt đến tch tnh x? V y ly h dc, an trụ x vô cu, vi chánh nim chánh trí, thân cm th lc, điu mà Thánh nói là Thánh x, vi nim an trú lc, chng đc Tam thin, thành tu an tr. V y y trên x này mà quán sát s hưng suy ca th. V y sau khi y trên x này mà quán sát [780a] s hưng suy ca th ri, an tr nơi đó tt chng đc lu tn. Gi s an tr nơi đó mà không chng đc lu tn, tt s thăng tiến và đt đến Tch tnh x.

“Thế nào là thăng tiến và đt đến tch tnh x? V y dit lc, dit kh, ưu h vn cũng đã dit, không lc, không kh, x nim thanh tnh, chng đc đ T thin, thành tu an tr. V y y trên x này mà quán sát s hưng suy ca th. V y sau khi y trên x này mà quán sát s hưng suy ca th ri, an tr nơi đó tt chng đc lu tn. Gi s an tr nơi đó mà không chng đc lu tn, tt s thăng tiến và đt đến tch tnh x.

“Thế nào là thăng tiến và đt đến tch tnh x? V y vượt qua tt c sc tưởng, dit hu đối tưởng[70], không suy nim đến bt c loi tưởng nào, nhp không vô biên, chng không vô biên x, thành tu an tr. V y y trên x này mà quán sát s hưng suy ca th. V y sau khi y trên x này mà quán sát s hưng suy ca th ri, an tr nơi đó tt chng đc lu tn. Gi s an tr nơi đó mà không chng đc lu tn tt s thăng tiến và đt đến tch tnh x.

“Thế nào là thăng tiến và đt đến tch tnh x? V y vượt qua tt c không vô biên x, nhp thức vô biên, chng thức vô biên x, thành tu an tr. V y y trên x này mà quán sát s hưng suy ca th. V y sau khi y trên x này mà quán sát s hưng suy ca th ri, an tr nơi đó tt chng đc lu tn. Gi s an tr nơi đó mà không chng đc lu tn, tt s thăng tiến và đt đến tch tnh x.

“Thế nào là thăng tiến và đt đến tch tnh x? V y vượt qua tt c thức vô biên x, nhp vô s hu, chng vô s hu x, thành tu an tr. Nơi v y nếu có nhng cm th nào, hoc lc, kh, hoc không lc, không kh, v y quán sát cm th này là vô thường, quán hưng suy, quán vô dc, quán dit, quán đon, quán x. V y sau khi như vy quán th này là vô thường, quán hưng suy, quán vô dc, quán dit, quán đon, quán x ri, lin không còn chp th đi vi thế gian này. Sau khi không còn chp th đi vi thế gian này, lin không s hãi. Do không s hãi mà nhp Niết-bàn. Biết như tht ‘S sanh đã dt, phm hnh đã vng, vic cn làm đã làm xong, không còn tái sanh na.’

“Cũng như cách thôn không xa có mt bi chui to ln, nếu có mt người xách búa đến đn ngã cây chui, x thành mnh, x làm mười phn, hoc làm trăm phn. Sau khi x làm mười phn hoc trăm phn ri, bèn vch tng si, nhưng mt chui không tìm thy, há li tìm thy lõi được sao? A-nan, cũng vy, T-kheo nếu có nhng cm th nào, hoc lc, hoc kh, hoc không kh không lc, v y quán cm th này là vô thường, quán hưng suy, quán vô dc, quán dit, quán đon, quán x. V y sau khi như vy, quán sát th này là vô thường, quán hưng suy, [780b] quán vô dc, quán dit, quán đon quán x ri, lin không còn chp th đi vi thế gian này. Sau khi không còn chp th đi vi thế gian này, lin không s hãi. Do không s hãi mà nhp Niết-bàn. Biết như tht rng ‘S sanh đã dt, phm hnh đã vng, vic cn làm đã làm xong, không còn tái sanh na.’”

Lúc by gi Tôn gi A-nan chp tay hướng v Đức Pht mà bch:

“Bch Thế Tôn! K l thay! Hy hu thay! Thế Tôn vì các T-kheo y trên y, thiết lp y, ging thuyết v s x ly lu, nói v s vượt qua lu. Nhưng các T-kheo không nhanh chóng chng đc vô thượng, nghĩa là đt đến cu cánh dit tn.”

Thế Tôn nói:

“Tht vy, A-nan! Tht vy, A-nan! Tht là k l. Tht là hy hu, Ta vì các T-kheo, y trên y, thiết lp y, nói v s x ly lu, nói v s vượt qua lu. Nhưng các T-kheo không nhanh chóng vượt chng đc vô thượng, nghĩa là đt đến cu cánh dit tn. Vì sao vy? Vì s thng lit nơi mi người cho nên s tu hc có tinh, có thô. Do s tu hc đo có tinh có thô, cho nên mi người có s thng lit khác nhau. A-nan, vì vy Ta nói mi người có s thng lit khác nhau.”

Pht thuyết như vy. Tôn gi A-nan và các T-kheo sau khi nghe Pht thuyết, hoan h phng hành.

206. KINH TÂM U

Tôi nghe như vy:

Mt thi Pht trú ti nước Xá-v, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.

By gi Thế Tôn nói vi các T-kheo rng:

“Nếu T-kheo hay T-kheo-ni nào không nh sch năm th tp uế[71] trong tâm, không ci b năm s trói buc[72] trong tâm, thì T-kheo hay T-kheo-ni đó được nói đến vi pháp tt thi.

“Thế nào là không nh sch năm th tp uế trong tâm?

đây có mt hng người hòai nghi Thế Tôn, do d, không ng nhp, không quyết đoán, không tnh tín[73]. Nếu hng người nào hòai nghi Thế Tôn, do d, không ng nhp, không quyết đoán, không tnh tín; người đó gi là không nh sch loi tâm tp uế th nht, nghĩa là đi vi Thế Tôn[74]. Cũng vy, đi vi Chánh pháp, đi vi hc gii, đi vi giáo hun[75], hoc đi vi nhng v đng phm hnh được Thế Tôn khen ngi mà sân nhuế, m l, lăng nhc, xúc não, xâm hi, không ng nhp, không quyết đoán, không tnh tín, đó là loi tâm tp uế th năm không được nh sch, nghĩa là đi vi các v đng phm hanh.

“Thế nào là không ci b năm s trói buc trong tâm?

đây có mt hng người mà thân chưa ly nhim, chưa ly dc, chưa ly khát, chưa ly ái. Nếu ai mà thân chưa ly nhim, không ly dc, không ly ái, không ly khát, người y tâm không thú hướng, không tnh tín, không an tr, không thng gii[76] trong n lc tinh tn[77], và chuyên cn tĩnh ta. [780c] Nếu ai có tâm này, không thú hướng, không tnh tín, không an tr, không thng gii trong n lc tinh tn và chuyên cn tĩnh ta đó gi là tâm phược th nht, nghĩa là nơi thân.

“Li na, nếu ai đi vi dc mà không ly nhim, không ly dc, không ly ái, không ly khát, v y tâm không thú hướng, không tnh tín, không an tr, không thng gii trong n lc tinh tn và chuyên cn tĩnh ta. Nếu ai có tâm này, không thú hướng, không tnh tín, không an tr, không thng gii trong n lc tinh tn và chuyên cn tĩnh ta đó gi là tâm phược th hai, nghĩa là nơi dc.

“Li na, có mt hng người, đi vi điu được nói tương ưng vi Thánh nghĩa, nhu nhuyến, không trin cái, mà nghi hoc; nghĩa là nói v gii, đnh, gii thoát, gii thoát tri kiến, nói v tn gim, nói v s không t hi, nói v s thiếu dc, nói v dit, nói v tĩnh ta nói v duyên khi; nhng điu như vy được T-kheo hay Sa-môn nói, nhưng tâm không thú hướng, không tnh tín, không an tr, không thng gii trong n lc tinh tn và chuyên cn tĩnh ta. Nếu ai có tâm này, không thú hướng, không tnh tín, không an tr, không thng gii, không tinh tn, không tĩnh ta, đó gi là loi tâm phược th ba, nghĩa là đi vi thuyết.

“Li na, thường t hi chung vi đo hay tc, náo lon, kiêu xa, không hc hi. Nếu ai thường t hi chung vi đo hay tc, náo lon, kiêu xa, không hc hi, người y tâm không thú hướng, không tnh tín, không an tr, không thng gii trong n lc tinh cn và chuyên cn tĩnh ta. Nếu ai có tâm này không thú hướng, không tnh tín, không an tr, không thng gii trong n lc tinh tn và chuyên cn tĩnh ta, thì đó gi là loi tâm phược th tư, nghĩa là đi vi s t hi.

“Li na, vi mt ít s đc mà na đường dng li không mong cu thăng tiến. Nếu ai vi mt ít s đc mà na đường dng li không mong cu thăng tiến, người đy tâm không thú hướng, không tnh tín, không an tr, không thng gii trong n lc tinh tn, và chuyên cn tĩnh ta. Nếu ai có tâm này, không thú hướng, không tnh tín, không an tr, không thng gii trong n lc tinh tn, và chuyên cn tĩnh ta, đó gi là tâm phược th năm, nghĩa là đi vi s thăng tiến.

“Nếu T-kheo hay T-kheo-ni nào không nh sch năm th tp uế trong tâm, và khéo ci m năm th trói buc trong tâm, thì T-kheo hay T-kheo-ni y được nói đến vi pháp tt thi vy.

“Nếu T-kheo hay T-kheo-ni nào khéo nh sch năm th tp uế trong tâm, và khéo ci m năm th trói buc trong tâm, T-kheo hay T-kheo-ni y được nói đến vi pháp thanh tnh.

“Thế nào là T-kheo hay T-kheo-ni khéo nh sch năm th tp uế trong tâm? đây có mt hng người [781a] không hòai nghi Thế Tôn, không do d nhưng ng nhp, quyết đoán, tnh tín. Nếu ai không hòai nghi Thế Tôn, không do d nhưng ng nhp, quyết đoán, tnh tín, đó là hng người th nht vy. Đi vi Chánh pháp, đi vi hc gii, đi vi giáo hun, hoc đi vi nhng v đng phm hnh được Thế Tôn khen ngi mà không sân nhuế, không lăng nhc, không xúc não, không sân hi, có ng nhp, quyết đoán, tnh tín. Đó gi là hng người th năm khéo nh sch tp uế trong tâm, nghĩa là đi vi các v đng phm hnh.

“Thế nào là khéo ci m năm th trói buc trong tâm?

đây có mt hng người mà thân ly nhim, ly dc, ly ái, ly khát. Nếu ai mà thân ly nhim, ly dc, ly ái, ly khát, người y có tâm thú hướng, tnh tín, an tr, thng gii, n lc tinh tn, chuyên cn tĩnh ta. Đó gi là hng người th nht khéo ci m s trói buc trong tâm, nghĩa là đi vi thân.

“Li na, đi vi dc mà ly nhim, ly dc, ly ái, ly khát. Nếu ai đi vi dc mà ly nhim, ly dc, ly ái, ly khát, người y có tâm thú hướng, tnh tín, an tr, thng gii, n lc tinh tn, chuyên cn, tĩnh ta. Đó là hng người th hai khéo ci m s trói buc trong tâm, tc là đi vi dc vy.

“Li na, có mt hng người, đi vi nhng điu được thuyết ging, tương ưng vi Thánh nghĩa, nhu nhuyến, không trin cái nghi hoc, nghĩa là nói v gii, đnh, tu, gii thoát, gii thoát tri kiến, nói v tn gim, nói v s không t hi, nói v thiu dc, nói v tri túc, nói v đon tr, nói v vô dc, nói v dit, nói v tĩnh ta, nói v duyên khi, nhng điu như vy được thuyết ging bi Sa-môn hay T-kheo, mà người y tâm thú hướng tnh tín, an tr, thng gii, n lc tinh tn, chuyên cn tĩnh ta. Nếu ai có tâm này, thú hướng, tnh tín, an tr, thng gii, n lc tinh tn, chuyên cn tĩnh ta. Đó là hng người th ba khéo ci m s trói buc trong tâm, tc là đi vi thuyết vy.

“Li na, không thường t hi vi đo hay tc, không náo lon, không kiêu xa, nhưng hc hi. Nếu ai không thường t hi vi đo hay tc, không náo lon, không kiêu xa, nhưng hc hi. Người y có tâm thú hướng tnh tín, an tr, thng gii, n lc tinh tn, chuyên cn tĩnh ta. Đó là hng người th tư khéo ci m s trói buc trong tâm, tc là đi vi s không t hi.

“Li na, vi mt ít s đc mà na đường không dng li, nhưng mong cu thăng tiến. Nếu ai vi mt ít s đc mà na đường không dng li nhưng mong cu thăng tiến. Người y [781b] tâm thú hướng, tnh tín, an tr, thng gii, n lc, tinh tn, chuyên cn tĩnh ta. Đó gi là hng người th năm khéo ci m s trói buc trong tâm, tc là đi vi s thăng tiến vy.

“Nếu T-kheo hay T-kheo-ni nào khéo nh sch năm th tp uế trong tâm khéo ci m năm th trói buc trong tâm, T-kheo hay T-kheo-ni y được nói đến vi pháp thanh tnh. V y an tr nơi mười chi này ri, li tu tp thêm năm pháp. Thế nào là năm?

“Tu dc đnh thành tu đon như ý túc[78], y vin ly, y vô dc, y dit, y x, thú hướng phi phm. Tu tinh tn đnh, tâm đnh, tư duy định thành tu đon như ý túc, y vin ly, y vô dc, y dit y x, thú hướng phi phm, và kham nhim là th năm. V y thành tu kham nhim cho đến mười lăm pháp này thành tu t th[79], chc chn đt đến tri, đến kiến, đến Chánh đng chánh giác, đến ca cam l, cn tr Niết-bàn. Ta nói không có s kin không đi đến Niết-bàn.

“Cũng như gà sanh mười trng, hoc mười hai trng, luôn luôn p , luôn luôn sưởi m, luôn luôn trông chng. Gi s con gà mái y buông trôi, nhưng bên trong đã có gà con, nó s ly chân mà chi, ly m mà m v trng, t nó bình an chui ra. Nó là con gà con đ nht. Cũng vy, T-kheo thành tu, kham nhim cho đến mười lăm pháp này, t th, chc chn đt đến tri kiến, đến chánh đng giác, đến ca cam l, cn tr Niết-bàn. Ta nói, không có s kin không đi đến Niết-bàn.”

Pht thuyết như vy. Các T-kheo sau khi nghe Pht thuyết, hoan h phng hành.[80]

 

[1] Đông viên, Lộc tử mẫu giảng đường 東園鹿子母講堂. No 87: Đông Thừa tướng gia điện 東丞相家殿. No 88: Vu-da-lâu mẫu gia điện 蕪耶樓母家殿. Pāli: Pubbārāme Migāramātupāsāde.

[2] Lộc tử mẫu Tì-xá-khư 鹿子母毗舍佉. No 87: Thừa tướng mẫu Duy-da 丞相母維耶.  No 88: Tùy-xá-ca 墮舍迦. Pāli: Visākhā Migāramātā. Cf. A. i. 205

[3] No 88: dẫn 7 người con dâu.

[4] Nguyên Hán: Cư sĩ phụ .

[5] Phóng ngưu nhi trai 放牛兒齋. Pāli: gopālakūposatha. Cf. A. i. 205 (Uposatha)

[6] Ni-kiền trai 尼犍齋. Pāli: nigaṇṭhūposatha. (A. i. 205).

[7] A. ibid.: ekaccānaṃ pāṇānaṃ anuddāya anukampāya samāpenti, ekaccānamṃ pāṇānaṃ nānuddāya nānukampāya samāpenti, “họ huấn giới thương tưởng đối với một số sanh vật, không thương tưởng đối với một số sanh vật.

[8] A. ibid. thêm: idaṃ tassa musāvādasmiṃ vadāmi, “Ta nói điều này người ấy nói dối.”

[9] A.ibid.: so tassā rattiyā accayena bhoge adinnaṃyeva paribhuñjati, người ấy, ngày hôm sau, thọ dụng tài sản chưa được cho. Đại ý: hôm tước, khi trì trai, người ấy nói không có gì là sở hữu của mình; nhưng ngày hom sau tự ý thọ dụng những thứ ấy. Như vậy là lấy của không cho (idaṃ tassa adinnādānasmiṃ vāmi).

[10] Thánh bát chi trai . Pāli: atthaṅga samannāgato upasatho hay ariyūposatha.

[11] Nguyên Hán: tận hình thọ 盡形壽, “suốt đời.” Bản Hán có sự nhầm lẫn ở đây. Cái giơii sau hán dịch lại nói: “một ngày nay và một một đêm nay.” Giới bát quan trai có thể tự phát nguyện trong một ngày một đêm No.87 và bản Pāli cũng nói chỉ phát nguyện trong một ngày một đêm. Pāli: yāvajīvaṃ arahanto pāṇātipātaṃ pahāya... ahaṃ pajja imañca rattiṃ imañca divasaṃ pāṇtipātaṃ pahāya..., A-la-hán trọn đời không sát sanh... tôi nay một ngày một đêm không sát sanh... Việt dịch theo đó sửa lại cho đúng.

[12] Câu chót này theo văn mạch bản Hán, phải hiểu lời kết của Phật. Nhưng theo bản Pāli nó nằm trong lời phát nguyện. Pāli: imināpaṅgena arahantaṃ anukaromi uposatho ca me upavuttho, “Tôi noi gương A-la-hán với chi này, tôi sẽ thọ trì trai giới.”

[13] Nguyênhán như vậy.

[14] Nguyên Hán: ác tứ 惡伺.

[15] Phạm trai 梵齋.

[16] Tư duy về Pháp bảo, đọc theo Pháp uẩn 2 (tr.462a) như vầy: “Phật Chánh pháp thiện thuyết hiện kiến, vô nhiệt, ứng thời, dẫn đạo, cận quán, trí giả nội chứng 佛正法善說現見無熱應時引
<lb n="0462a09"/>導近觀智者內證.”

[17] Tư duy về Tăng bảo, theo Pháp uẩn ibid. như vầy: “Phật đệ tử, cụ túc diệu hành, chất trực hành, như lý hành, pháp tùy pháp hành, hòa kỉnh hành, ở trong tăng này có Dự lưu hướng, Dự lưu quả, Nhất lai hướng, Nhất lai quả, Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả. Như vậy tổng có bốn đôi tám hạng Bổ-đặc-già-la. Phật đệ tử chúng giới cụ túc, ứng thỉnh, ứng khuất, ứng cung kính, vô thượng phước điền, thế sở ứng cúng 佛弟子 具足妙行質直行如理
<lb n="0463a07"/>行法隨法行和敬行隨法行 於此僧中 有預
<lb n="0463a08"/>流向 有預流果 有一來向 有一來果 有不還
<lb n="0463a09"/> 有不還果 有阿羅漢向 有阿羅漢果
<lb n="0463a10"/>是總有四雙八隻補特伽羅 佛弟子眾 戒具
<lb n="0463a11"/> 定具足 慧具足 解脫具足 解脫智見具
<lb n="0463a12"/> 應請應屈應恭敬無上福田世所應供.”

[18] Danh sách 16 vương quốc lớn thời Phật: Ương-ca 鴦迦, Ma-kit-đà 摩竭陀, Ca-thi 迦尸, Câu-tát-la 拘薩羅, Câu-lâu 拘樓, Ban-xà-la般闍羅, A-nhiếp-bi 阿攝貝, A-hòa-đàn-đ 阿和檀提Chi-đ枝提, Bt-k 跋耆, Bt-ta 跋蹉, Bt-la 跋羅,Tô-ma 蘇摩, Tô-la-tra 蘇羅吒, D-ni 喻尼, Kiếm-phù 劍浮. Danh sách theo Pāli, A. i. 213: Aṅgā, Magadha, Kāsi, Kosala, Vajji, ṃalla, Ceti, Vaṅga, Kuru, Pañcāla, Maccha, Surasena, Assaka, Avanti, Gandhāra, Kamboja.

[19] Tương-già . Pāli: saṃkha, vỏ sò hay xa-cừ.

[20] Lưu-thiệu , không rõ ngọc gì. Có lẽ Skt. lohita(muktikā), ngọc xích châu.

[21] Tì-lưu , không rõ ngọc gì. Có lẽ Skt. vaiḍūrya, ngọc lưu-ly.

[22] Tì-lặc , không rõ ngọc gì. Có lẽ Skt. vairāja, ngọc thạch vương

[23] Na-nan-đại 那難大, tức Pali: Nalanda. Nhưng M 54: Aṅguttarāpesu.

[24] Ba-hòa-lị-nại viên 波和利奈園 (Pāli: Pāvārikambavana). M 54: tại thôn Āpaṇa, Aṅguttarāpa.

[25] Nguyên Hán chép: Bô-lị-đa, tương đương Pāli: M.54. Poṭaliya. Đây y theoâm Pāli đọc lại.

[26] Pl.: gahapati, gia chủ.

[27] Hán: tham trước 貪著. Pl.: giddhilobho.

[28] Hán:hại nhuế 害恚.  Pl. kodhūpāyāso.

[29] Hán: tắng tật não 憎嫉惱, Pl. nindāroso.

[30] Hán: tăng thượng mạn 增上慢. Pl. atimāno.

[31] Nguyên Hán: thế gian ẩm thực 世間飲食. Pāli: lokāmisupādānā: Ssự chấp thủ vật dục trần gian.

[32] “Có tầm có tứ” là Sơ thiền, “tầm tứ đã dứt” là ở Nhị thiền. Ở đây không nói đến Sơ thiền. M 54 lược bỏ cả bốn thiền.

[33] Bản Hán, hết quyển 55.

[34] A-di-la-bà-đề  阿夷羅婆提. Pāli: Aciravatī. M 26: Pubbakoṭṭhaka.

[35] La-ma . Pāli: Rammaka.

[36] Một vài chi tiết trong đoạn này không được mạch lạc.

[37] M 26, đây là một am cốc (assamo: thảo am) của Bà-la-môn Rammaka chứ không phải là nhà theo nghĩa thông thường (gaha).

[38] Thánh cầu . Pāli: ariyāpariyesanā.

[39] Bệnh pháp . Pāli: vyādhidhamma.

[40] Lão pháp . Pāli: jarādhamma.

[41] A-la-la Già-la-ma 阿羅羅伽羅摩. Pāli: Āḷāra Kālāma.

[42] Nguyên hán: vô lượng thức xứ.

[43] Uất-đà-la La-ma Tử 鬱陀羅羅摩子. Pāli: Udduka Rāmaputta.

[44] Nhữ phụ La-ma 汝父羅摩; đáng lẽ gọi là La-ma Tử, không hiểu tại sao ở đây lại nói như vậy. M 26 cũng chỉ gọi Rāma (tên cha) thay vì gọi Uddaka hay Rāmaputta (tên con).

[45] Tượng đỉnh sơn 象頂山. Pāli: Gayāsisa.

[46] Uất-tì-la . Pāli: Uruvelā.

[47] Tư-na 斯那. Pāli: Senā.

[48] Ni-liên-thuyền 尼連禪. Pāli: Nerañjarā.

[49] Giác thọ 覺樹, tức cây bồ-đề.

[50] Định đạo phẩm pháp , bản Pāli: akuppā me vimutti, sự giải thoát của Ta không dao động.

[51] Bản Hán có thể nhảy sót một đoạn, về Phạm thiên thỉnh Phật. Cf. M 26, i. 167-170.

[52] Nguyên bản Hán: pháp thứ pháp 法次法. Đoạn Pāli tương đương không có từ liên hệ, nhưng thông thường là dhammānudhamma.

[53] Ba-la-nại, Tiên nhơn trụ xứ, Lộc giả uyển 波羅奈仙人住處鹿野苑. Pāli: Bārāṇasi Isipatanaṃ Migadāyo.

[54] Gia-thi đô ấp 加尸都邑. Tức Pl. Kāsi,vương quốc. Nhưng trong bản Hán, nó là một thị trấn. Có thể là Kāsinigama, một thị trấn trong āsi.

[55] Ưu-đà . Pāli: Upaka, một tu sỹ Tà mạng (ājīvaka).

[56] Hán: khanh ư ngã 卿於我. Pāli: āvusovādena ca samudācaranti, họ xưng hô với Ta là “āvuso” (Bạn, hay Hiền giả).

[57] Đạo phẩm pháp 道品法, pháp dẫn đến phát sanh minh trí (Pl. vijjābhāgiya); xem kinh 81. Xem thêm kinh 72: trụ đạo phẩm pháp 住道品法.

[58] Nhân thượng pháp sai giáng Thánh tri Thánh kiến 人上法差降聖知聖見, Pl.: uttarimanussadhammā alamañāṇadassavisesaṃ. Hán: sai giáng 差降, dịch từ tương đương Pl.: alaṃ: hoàn toàn, chân thật; giới từ cường điệu.

[59] Bát chánh đạo 八正道.

[60] Ngũ hạ phần kết 五下分 , năm loại kết sử đưa đến sự tái sanh ở dục giới.Cf. Tập dị (tr. 419c7): ngũ thuận hạ phần kết 五順下分結. Pāli: pañcorambhāgiyāni saṃyojanāni. M 64 (i. 432).

[61] Man Đồng tử 鬘童子. Pāli: Māluṅkyāputta.

[62] Nguyên Hán:Dục sử 使. Nguyên Pāli (=Skt.) anusāya, do gốc động từ anu-seti (Skt. anuśayate): nằm phục theo, nhưng Hán dịch hiểu từ gốc anu-sevati: phục vụ theo. Ở dâytheo định nghĩa vừa thấy đoạn trên, dịch là tùy miên (dịch ngữ thông dụng của Huyền Trang).

[63] Nhuế sử 使; Pāli: vyāpādānusayo, sân tùy miên.

[64] Thân kiến sử 使; Pāli: sakkāyadiṭṭhānusayo, hữu thân kiến tùy miên.

[65] Giới thủ sử 使; Pāli: sīlabbataparāmāsānusayo, giới cấm thủ tùy miên.

[66] Nghi sử 使; Pāli: vicikicchānusayo, nghi tùy miên.

[67] Đạo, và tích 道跡. Pl.: maggo, paṭipadā.

[68] Thật ; Pāli: sāra, vừa có nghĩa chắc thật, vừa có nghĩa lõi cây.

[69] Nguyên Hán: sơn thủy, nước trên núi đổ xuống. Xem thí dụ về chiếc bè trong kinh 200 trên.

[70] Hữu ngại tưởng 有礙想; những nơi khác cũng trong bản Hán này, nói là hữu đối tưởng. Những tưởng tương ưng với nhãn thức thuộc sắc tưởng. Những tưởng tương ưng với bốn thức tiếp theo thuộc hữu đối tưởng, (giải thích của Pháp uẩn 8, No.1537 tr.488c). Pl.: paṭighasaññā.

[71] Tâm trung ngũ uế 心中五穢; Tập dị 11 (tr. 416b29): ngũ tâm tài 五心栽 (năm cọc nhọn của tâm). Pāli: pañca cetokhīla. M. 16 (i.101).

[72] Tâm trung ngũ phược 心中五縛者. Tập dị 11 (tr. 418a3): ngũ tâm phược]">五心縛者. Pāli: cetasovinibandha.

[73] Bất khai ý, bất giải ý, ý bất tĩnh 不開意不解意意不靜; Tập dị ibid: Bất ngộ nhập, vô thắng giải, vô tịnh tín 不悟入無勝解無淨信. Ý bất tĩnh 意不靜, ý không ổn định, không tin tưởng. Pāli: nādhimuccati na sampasīdati.

[74] Tập Dị (sđd., nt.): “Đối với Đại sư mà cọc nhọn trong tâm chưa đoạn, chưa biến tri.”

[75] Giáo . Trong bản Pāli, thứ ba, Saṃghe kaṅkhati, nghi ngờ Tăng, thứ tư, sikkhaøya kaṅkhati, nghi ngờ học giới.

[76] Được hiểu là không có sự quyết tâm.

[77] Nguyên Hán: tự phương tiện đoạn 便 .

[78] Dục định tâm thành tựu đoạn như ý túc 欲定心成就斷如意足, có thể dư chữ tâm, hoặc nói là Dục tam-ma-địa đoạn hành (hay thắng hành) (thành tựu thần túc). Thần túc thứ nhất xem kinh 86 trên.

[79] Thành tựu tự thọ 成就自受. M 16: ussoḷhīpannarasaṇṅgasamannāgato, thành tựu 15 chi (cùng với) tinh cần. Sớ giải: đoạn 5 tâm tài, 5 tâm phược, tu bốn như ý túc, và tjhứ năm là tinh cần nỗ lực (ussoḷhī). Có lẽ Hán dịch hiểu ussoḷhī là tự thọ ?

[80] Bản Hán, hết quyển 56.


Ban Tu Thư Phật Học

Cập nhật: 09/15/2009