中 阿 含 經
KINH TRUNG A-HÀM
|
PHẨM 19: BÔ-ĐA-LỊ TỤNG NGÀY THỨ NĂM Hậu tụng 持齋晡利多 羅摩五下分 心穢箭毛二 隨摩那修學 法樂比丘尼 拘絺羅在後 Kệ tóm tắt: Trì trai, Bô-đa-lị, La-ma, Ngũ hạ phần, Tâm uế, hai Tiễn mao, Tùy-ma-na-tu học, Pháp Lạc Tỳ kheo ni, Câu-hi-la cuối cùng. 207. KINH TIỄN MAO (I)Tôi nghe như vầy: Một thời Phật trú tại thành Vương xá, ở Trúc lâm, vườn Ca-lan-đà cùng đại chúng Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người, [781b] đang an cư mùa mưa. Bấy giờ trải qua đêm, lúc vừa sáng, Thế Tôn mang y cầm bát vào thành Vương xá để khất thực. Khất thực xong, thu dọn y bát, rửa chân tay, Ngài khoác ni-sư-đàn trên vai và đi đến vườn Dị học trong rừng Khổng tước[81]. Tại rừng Khổng tước, trong vườn Dị học, bấy giờ có một người Dị học tên là Tiễn Mao[82] là một vị danh đức, là bậc Tông chủ, được nhiều người tôn làm Thầy, có tiếng tăm lớn, nhiều người kính trọng. Ông đang ở giữa đám đông ồn ào, lớn tiếng, âm thanh huyên náo, luận bàn đủ mọi đề tài súc sanh[83], như: bàn chuyện vua chúa, bàn chuyện trộm cướp, bàn chuyện đấu tranh, bàn chuyện ăn uống, bàn chuyện áo chăn, bàn chuyện phụ nữ, bàn chuyện đàn bà, bàn chuyện con gái, bàn chuyện dâm nữ, bàn chuyện thế gian, bàn chuyện tà đạo, bàn chuyện trong biển; đại loại như thế, chúng tụ tập luận bàn đủ mọi đề tài súc sanh. Dị học Tiễn Mao thấy Phật từ xa đến, liền dặn dò chúng của mình rằng: “Này các ông, hãy ngồi im lặng. Người đang đến kia là Sa-môn Cù-đàm. Đồ chúng của ông ấy im lặng, thường ưa sự im lặng, khen ngợi sự im lặng. Ông ấy nếu thấy chúng ta im lặng, có thể sẽ đến thăm.” Dị học Tiễn Mao dặn chúng im lặng, chính mình cũng im lặng mà ngồi. Thế Tôn đi đến chỗ Dị học Tiễn Mao. Dị học Tiễn Mao liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo, chắp tay mà bạch Phật rằng: “Kính chào Sa-môn Cù-đàm! Sa-môn Cù-đàm đã lâu không đến đây. Mời Ngài ngồi xuống chỗ này.” Thế Tôn liền ngồi xuống chỗ ngồi Tiễn Mao đã trải sẵn. Dị học Tiễn Mao và Thế Tôn sau khi cùng nhau chào hỏi, rồi lui ngồi một bên. Thế Tôn hỏi rằng: “Ưu-đà-di[84], các ông vừa bàn luận những gì, do việc gì mà cùng nhóm họp ở đây?” Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, xin bỏ qua vấn đề này. Vấn đề này không hay ho gì. Sa-môn Cù-đàm nếu muốn nghe vấn đề này để sau này nghe cũng không khó gì.” Thế Tôn hỏi như vậy ba lần rằng: “Ưu-đà-di, các ông vừa bàn luận những vấn đề gì? Do việc gì mà cùng nhóm họp nơi đây?” Dị học Tiễn Mao cũng đáp lại ba lần rằng: “Bạch Cù-đàm, xin bỏ qua vấn đề này. Nó không hay ho gì. Sa-môn Cù-đàm nếu muốn nghe sau này nghe cũng không khó. Nhưng Sa-môn Cù-đàm ba lần muốn nghe, nay tôi phải nói. “Bạch Cù-đàm, chúng tôi cùng với số đông các Bà-ma-môn nước Câu-tát-la cùng tụ tập ngồi ở học đường Câu-tát-la[85] bàn luận như vầy, ‘Thật tốt đẹp và lợi ích cho dân nước Ương-già Ma-kiệt-đà[86]! Thật tốt đẹp và lợi ích [782a] cho người nước Ương-già Ma-kiệt-đà! Chúng đại phước điền[87] như thế cùng an cư mùa mưa tại thành Vương xá.’ Đó là có ngài Phất-lan Ca-diếp[88]. Vì sao? Bạch Cù-đàm, Phất-lan Ca-diếp là bậc Tông chủ danh đức, làm Thầy mọi người, có tiếng tăm lớn, mọi người kính trọng, lãnh đạo đồ chúng lớn, được năm trăm dị học tôn trọng, cùng an cư mùa mưa tại thành Vương xá này. Cũng vậy, Ma-tức-ca-lợi Cù-xá-lợi Tử, Sa-nhã Tì-la-trì Tử, Ni-kiền Thân Tử, Ba-phục Ca-chiên, A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lị. Bạch Cù-đàm, A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lị là danh đức Tông chủ, làm Thầy mọi người, có tiếng tăm lớn, mọi người đều kính trọng, thống lãnh đồ chúng lớn, được năm trăm dị học tôn trọng, cùng an cư mùa mưa ở thành Vương xá. “Vừa rồi cùng bàn đến Sa-môn Cù-đàm rằng, ‘Sa-môn Cù-đàm này là bậc danh đức Tông chủ, làm Thầy mọi người có tiếng tăm lớn, mọi người kính trọng, thống lĩnh đại chúng Tỳ-kheo được một ngàn hai trăm người tôn trọng, cũng cùng nhau an cư mùa mưa tại thành Vương xá này. “Bạch Cù-đàm, chúng tôi lại nghĩ, ‘Nay trong các Sa-môn, Bà-ma-môn được tôn trọng này, ai là người được đệ tử cung kính, cúng dường, không bị đệ tử đúng theo pháp mắng nhiếc, cũng không bị đệ tử vấn nạn rằng ‘Điều này hoàn toàn không thể có, không tương ưng, không chính đáng.’ Nói thế rồi bỏ đi?’ “Bạch Cù-đàm, chúng tôi lại nghĩ, Phất-lan Ca-diếp này không được đệ tử hầu hạ, tôn trọng, cúng dường; bị đệ tử theo pháp mà mắng nhiếc, rất nhiều đệ tử nạn vấn rằng ‘Điều này hoàn toàn không thể được, không tương ưng, không chính đáng.’ Nói thế rồi bỏ đi. “Bạch Cù-đàm, thuở xưa Phất-lan Ca-diếp đã có lần ở trong chúng đệ tử đưa tay lên la lớn, ‘Các ông hãy dừng lại! Không có ai đến hỏi các ông. Người ta hỏi tôi. Các ông không thể giải quyết việc này, nhưng ta có thể giải quyết được việc này.’ Nhưng các đệ tử ngay trong lúc đó lại bàn luận việc khác nữa, không chờ vị ấy nói xong vấn đề. Bạch Cù-đàm, chúng tôi lại nghĩ, như vậy, Phất-lan Ca-diếp này không được đệ tử hầu hạ, cung kính, tôn trọng, cúng dường. Bị đệ tử theo pháp mạ lỵ mắng nhiếc, rất nhiều đệ tử vấn nạn rằng: ‘Điều này hoàn toàn không thể được, không tương ưng, không chính đáng.’ Nói thế rồi liền bỏ đi. “Ma-tức-ca-lợi Cù-xá-lợi Tử, Sa-nhã Bệ-la-trì Tử, Ni-kiền [782b] Thân Tử, Ba-phục Ca-chiên, A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lị. Cũng vậy, bạch Cù-đàm, chúng tôi lại nghĩ, ‘A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lị này không được đệ tử hầu hạ, cung kính, tôn trọng, cúng dường, bị đệ tử dùng pháp mạ lỵ mắng nhiếc, rất nhiều đệ tử vấn nạn rằng ‘Điều này hoàn toàn không thể được, không tương ưng, không chính đáng.’ Nói thế rồi bỏ đi. “Bạch Cù-đàm, thuở xưa A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lị đã có lần ở trong chúng đệ tử giơ tay la lớn rằng, ‘Các ông hãy dừng lại. Không có ai đến hỏi các ông. Người ta hỏi tôi. Các ông không thể giải quyết được việc này.’ Nhưng các đệ tử ngay trong lúc đó, lại bàn luận việc khác không chờ ngươi nói xong. Bạch Cù-đàm, chúng tôi lại nghĩ, như vậy, A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lị, không được đệ tử hầu hạ, cung kính, tôn trọng, cúng dường mà bị đệ tử dùng pháp mạ lỵ mắng nhiếc, rất nhiều đệ tử vấn nạn rằng ‘Điều này hoàn toàn không thể được, không tương ưng, không chính đáng.’ Nói thế rồi bỏ đi. “Bạch Cù-đàm, chúng tôi lại nghĩ, Sa-môn Cù-đàm này được đệ tử hầu hạ, cung kính, tông trọng, cúng dường, cũng không bị đệ tử vấn nạn rằng ‘Điều này hoàn toàn không thể được, không tương ưng, không chính đáng.’ Không nói thế rồi bỏ đi. “Bạch Cù-đàm, thuở xưa Sa-môn Cù-đàm đã có lần nói pháp tại đại chúng, vô lượng trăm ngàn người vây quanh. Ngay bấy giờ có một người ngủ mà ngáy. Lại có một người bảo người kia rằng ‘Đừng có ngủ ngáy. Ông không muốn nghe Thế Tôn nói pháp vi diệu như cam lồ sao?’ Người kia liền im lặng không gây tiếng động nữa. “Bạch Cù-đàm, chúng tôi lại nghĩ, như vậy Sa-môn Cù-đàm được đệ tử hầu hạ cung kính, tôn trọng, cúng dường, không bị đệ tử dùng pháp mạ lỵ mắng nhiếc, cũng không bị đệ tử vấn nạn rằng ‘Điều đó hoàn toàn không thể được, không tương ưng, không chính đáng.’ Không nói thế rồi liền bỏ đi.” Thế Tôn nghe rồi liền hỏi Tiễn Mao rằng: “Ưu-đà-di, ông thấy Ta có bao nhiêu pháp khiến cho các đệ tử hầu hạ cung kính, tôn trọng và cúng dường, thường theo Ta không rời?” Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Tôi thấy Cù-đàm có năm pháp khiến đệ tử hầu hạ, cung kính, tôn trọng, cúng dường phụng sự, thường theo không rời. Những gì là năm? Sa-môn Cù-đàm tri túc với thô y, khen ngợi tri túc với thô y. Bởi vì [782c] Sa-môn Cù-đàm tri túc với thô y, khen ngợi tri túc với thô y, nên tôi thấy tri túc, đó là pháp thứ nhất mà Sa-môn Cù-đàm có thể khiến cho hàng đệ tử phụng sự cung kính, tôn trọng cúng dường, thường theo không rời. “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm tri túc với sự ăn uống đạm bạc, khen ngợi tri túc đạm bạc. Bởi vì Sa-môn Cù-đàm tri túc về ăn uống đạm bạc, khen ngợi tri túc ăn uống đạm bạc, nên tôi thấy Sa-môn Cù-đàm có pháp thứ hai khiến các đệ tử cung kính, tôn trọng cúng dường, phụng sự thường theo không rời. “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm ăn ít, khen ngợi sự ăn ít. Vì Sa-môn Cù-đàm ăn ít và khen ngợi sự ăn ít, nên tôi thấy Sa-môn Cù-đàm có pháp thứ ba khiến các đệ tử cung kính tôn trọng, cúng dường phụng sự, thường theo không rời. “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm tri túc về chỗ nghỉ ngơi và giường chõng thô sơ, khen ngợi tri túc về chỗ nghỉ ngơi và giường chõng thô sơ. Vì Sa-môn Cù-đàm tri túc như vậy, nên tôi thấy đó là pháp thứ tư mà Sa-môn Cù-đàm có thể khiến các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, thường theo không rời. “Lại nữa Sa-môn Cù-đàm tĩnh tọa và ngợi khen tĩnh tọa[89]. Vì vậy tôi thấy đó là pháp thứ năm mà Sa-môn Cù-đàm có thể khiến các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng hành thường theo không rời. “Đó là năm pháp mà tôi thấy Sa-môn Cù-đàm có thể khiến các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng hành, thường theo không rời.” Thế Tôn bảo rằng: “Này Ưu-đà-di, Ta không phải do năm pháp ấy mà khiến các đệ tử cung kính tôn trọng, cúng dường thừa sự, thường theo không rời. Này Ưu-đà-di, áo ta mặc được cắt theo con dao Thánh[90] và nhuộm màu sắc xấu xa. Như vậy, y Thánh được nhuộm màu sắc xấu xa. Ưu-đà-di! Nhưng đệ tử Ta cũng có người trọn đời chỉ mặc áo phấn tảo do người ta bỏ, và cũng nói thế này, ‘Thế Tôn ta tri túc với thô y, khen ngợi sự tri túc thô y.’ Này Ưu-đà-di, nếu đệ tử ta nhận sự tri túc thô y mà khen ngợi Ta, thì người đó do sự kiện này đã không cung kính tôn trọng, cúng dường phụng sự Ta, cũng không theo Ta. “Lại nữa, này Ưu-đà-di, Ta ăn thức ăn gạo nếp, nấu chín và không có hạt xép, vô lượng tạp vị. Ưu-đà-di, nhưng đệ tử Ta có người trọn đời khất thực, ăn thức ăn đã bỏ, cũng lại nói [783a] rằng, ‘Thế Tôn ta tri túc với thô thực, khen ngợi tri túc thô thực.’ Ưu-đà-di, nếu đệ tử Ta nhân sự tri túc ăn uống thô sơ, mà khen ngợi Ta, người ấy nhân sự kiện này đã không cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Ta, cũng không theo Ta. “Lại nữa, Ưu-đà-di, Ta chỉ ăn bằng một trái cây tì-la[91] hoặc bằng nửa tì-la. Nhưng đệ tử của Ta có người ăn bằng một câu-tha[92], hoặc bằng nửa câu-tha, cũng nói như vầy, ‘Thế Tôn ăn ít, khen ngợi sự ăn ít.’ Nếu đệ tử Ta nhân sự ăn ít mà khen ngợi Ta, người ấy do sự kiện này đã không cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự và theo Ta. “Lại nữa, Ưu-đà-di, Ta hoặc ở trên lầu cao, hoặc trên nhà rạp. Ưu-đà-di, nhưng đệ tử của Ta có người trải qua chín mười tháng, suốt đêm ngủ ngoài trời, cũng nói như vầy, ‘Thế Tôn của Ta tri túc về chỗ nghỉ ngơi và giường chõng thô sơ, khen ngợi tri túc về chỗ nghỉ ngơi và giường chõng thô sơ.’ Ưu-đà-di, nếu đệ tử Ta khen ngợi tri túc về chỗ nghỉ ngơi và giường chõng thô sơ nên khen ngợi Ta, thì người ấy do sự kiện này đã không cung kính, tôn trọng, cúng dường phụng sự Ta và cũng không theo Ta. “Lại nữa, Ưu-đà-di, Ta thường sống trong sự náo nhiệt giữa Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Nhưng đệ tử của Ta có người quá nửa tháng mới nhập chúng một lần vì pháp thanh tịnh[93] cũng nói như vầy, ‘Thế Tôn của Ta tĩnh tọa và khen ngợi sự tĩnh tọa.’ Ưu-đà-di, nếu đệ tử Ta nhân sự tĩnh tọa mà khen ngợi Ta, vị ấy do sự kiện này đã không cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Ta, cũng không theo Ta. “Ưu-đà-di, Ta không do năm pháp này, khiến hàng đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo không rời. Ưu-đà-di, Ta lại có năm pháp khác, khiến các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường phụng sự, thường theo không rời. “Những gì là năm? Này Ưu-đà-di, Ta có đệ tử do giới vô thượng[94], khen ngợi Ta rằng, ‘Thế Tôn có giới, đại giới, lời nói đúng theo việc làm, việc làm đúng theo lời nói.’ Ưu-đà-di, nếu đệ tử Ta nhân giới vô thượng mà khen ngợi Ta thì vị ấy nhân điều này mà cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ta không rời. “Lại nữa, này Ưu-đà-di, Ta có đệ tử, do vô thượng trí tuệ[95], khen ngợi Ta, ‘Thế Tôn có trí tuệ, cực đại trí tuệ, nếu có ai đến bàn luận hay đối đáp, [783b] Ngài đều khuất phục được. Nghĩa là đối với Chánh pháp luật, họ không thể nói; đối với điều chính mình nói, họ cũng không thể nói.’ Ưu-đà-di, nếu đệ tử nhân vô thượng trí tuệ, mà khen ngợi Ta, vị ấy nhân sự kiện này mà cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Ta, theo Ta không rời. “Lại nữa, Ưu-đà-di, Ta có đệ tử do vô thượng tri kiến[96], khen ngợi Ta rằng, ‘Thế Tôn biết khắp chứ không phải không biết; thấy khắp chứ không phải không thấy. Ngài nói pháp cho đệ tử có nhân chứ không phải không nhân, có duyên chớ không phải không duyên, có thể đáp chứ không phải không thể đáp, có xả ly chứ không phải không xả ly.’ Ưu-đà-di, nếu đệ tử Ta nhân vô thượng tri kiến mà khen ngợi Ta, người ấy nhân sự kiện này mà cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo ta không rời. “Lại nữa, Ưu-đà-di, Ta có đệ tử, do nhờm tởm mũi tên ái dục mà đến hỏi Ta về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo. Ta liền trả lời về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo. Ưu-đà-di, nếu có đệ tử đến hỏi Ta được trả lời xứng ý, khiến được hoan hỷ, người đó nhân sự kiện này mà cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Ta, thường theo Ta không rời. “Lại nữa, Ưu-đà-di, Ta vì các đệ tử hoặc nói tác chứng túc mạng trí thông, hoặc nói tác chứng lậu tận trí thông minh đạt. Ưu-đà-di, nếu đệ tử Ta trong Chánh pháp luật này được thọ được độ, được đến bờ bên kia, không nghi không hoặc, ở trong thiện pháp không có do dự, người ấy nhân sự kiện này mà cung kính, cúng dường, tôn trọng, phụng sự Ta, thường theo ta không rời. “Này Ưu-đà-di, Đó là năm pháp Ta có khiến cho các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Ta, thường theo không rời.” Bấy giờ Dị học Tiễn Mao, liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch vai áo mặt, chắp tay hướng về Phật bạch rằng: “Kỳ diệu thay! Hy hữu thay! Ngài khéo nói những điều vi diệu thấm nhuần thân thể con cũng như cam lồ. Bạch Cù-đàm, cũng như mưa lớn, cõi đất này từ cao đến thấp thảy được thắm nhuần khắp cả. Cũng vậy, Sa-môn Cù-đàm nói cho chúng tôi những điều vi diệu, thấm nhuần thân thể chúng tôi cũng như cam lồ. “Bạch Thế Tôn, tôi đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu. Bạch Thế Tôn, hôm nay con tự quy Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Mong Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc, kể từ hôm nay con trọn đời tự quy y cho đến mạng chung.” Phật thuyết như vậy. Dị học Tiễn Mao sau khi nghe [783c] Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành. 208. KINH TIỄN MAO (II)Tôi nghe như vầy: Một thời Phật trú tại thành Vương xá, ở Trúc lâm vườn Ca-lan-đa cùng đại chúng Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người, an cư mùa mưa. Bấy giờ, trải qua đêm, lúc vừa sáng, Thế Tôn mang y cầm bát vào thành Vương xá để khất thực. Khất thực xong, thu dọn y bát, rửa chân tay, Ngài khoác ni-sư-đàn trên vai và đi đến vườn Dị học, trong rừng Khổng tước. Tại rừng Khổng tước, trong vườn Dị học, bấy giờ có một người Dị học tên là Tiễn Mao là một danh đức, bậc tông chủ, được mọi người tôn làm thầy, có tiếng tăm lớn, mọi người kính trọng, thống lãnh đồ chúng đông đảo, được năm trăm vị dị học tôn trọng. Vị này ở giữa một đại chúng đang ồn ào, nhiễu loạn, nói năng lớn tiếng, bàn luận đủ mọi vấn đề súc sanh, tức là vấn đề vua chúa, về giặc, về việc đấu tranh, việc ăn uống, về y phục, về đàn bà, về con gái, về dâm nữ, về thế gian, về đồng trống, về dưới biển và việc nước, việc dân. Những người ấy cùng nhau nhóm họp ngồi bàn luận về những vấn đề như súc sanh vậy. Dị học Tiễn Mao thấy Phật từ xa đến, liền dặn đồ chúng của mình rằng: “Này các ông, hãy ngồi im lặng. Người đang đến kia là Sa-môn Cù-đàm, đồ chúng của ông ấy im lặng, thường ưa sự im lặng, khen ngợi sự im lặng. Ông ấy nếu thấy chúng ta im lặng, có thể đến thăm. Dị học Tiễn Mao dặn đồ chúng im lặng, chính mình cũng im lặng mà ngồi. Thế Tôn đi đến chỗ Dị học Tiễn Mao. Dị học Tiễn Mao liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo, chắp tay hướng về Phật bạch rằng: “Kính chào Sa-môn Cù-đàm! Sa-môn Cù-đàm đã lâu không đến đây, mời Ngài ngồi xuống chỗ này.” Thế Tôn liền ngồi xuống chỗ ngồi Tiễn Mao đã trải sẵn. Dị học Tiễn Mao và Thế Tôn, sau khi cùng nhau chào hỏi, rồi lui ngồi một bên. Thế Tôn hỏi rằng: “Ưu-đà-di, các ông vừa bàn luận những gì? Do việc gì mà cùng nhau ngồi họp ở đây? Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, xin bỏ qua vấn đề này, vấn đề này không hay ho gì. Sa-môn Cù-đàm muốn nghe vấn đề này để sau này nghe cũng không khó gì.” Thế Tôn hỏi như vậy ba lần rằng: “Ưu-đà-di, vừa bàn luận những gì? Do việc gì mà nhóm họp ngồi đây?” Dị học Tiễn Mao cũng đáp lại ba lần rằng: “Bạch Cù-đàm, xin bỏ qua vấn đề này, nó không hay ho gì, Sa-môn Cù-đàm nếu muốn nghe, sau này [784a] nghe cũng không khó. Nhưng nếu Sa-môn Cù-đàm ba lần muốn nghe, nay tôi phải nói[97]. “Bạch Cù-đàm, tôi có sách lự, có tư duy; trụ trong trạng thái sách lự, trụ trong trạng thái tư duy, có trí tuệ, có biện tài, khi nghe có người nói: ‘Thật sự có Nhất thiết trí[98], thấy tất cả, biết tất cả, không cái gì không biết, không cái gì không thấy. Tôi liền vấn sự vị ấy, nhưng vị ấy không biết. Bạch Cù-đàm, tôi nghĩ như vầy: Đây là những ai?” Thế Tôn hỏi rằng: “Này Ưu-đà-di, ông có sách lự, có tư duy; trụ trong trạng thái sách lự, trụ trong trạng thái tư duy, có trí tuệ, có biện tài. Nhưng ai nói, ‘Thật sự có Nhất thiết trí, biết tất cả, thấy tất cả, không có gì không biết, không có gì không thấy’ mà khi ông đến vấn sự, thì vị ấy không biết?” Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, đó là Bất-lan Ca-diếp. Vì sao? Bạch Cù-đàm, vì Bất-lan Ca-diếp tự cho là thật có Nhất thiết trí, biết tất cả, thấy tất cả, không gì không biết, không gì không thấy. Tôi có sách lự, có tư duy, trụ trong sách lự, trụ trong tư duy có trí tuệ, có biện tài; tôi đến vấn sự. Nhưng vị ấy không biết. Bạch Cù-đàm, vậy nên tôi nghĩ thế này, ‘Đây là những ai?’ “Ma-tức-ca-lợi Cù-xá-lợi Tử, Bà-nhã Bệ-la-trì Tử, Ni-kiền Thân Tử, Ba-phù Ca-chiên, A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lị, các vị này cũng vậy. Bạch Cù-đàm, A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lị tự cho thật sự có Nhất thiết trí, biết tất cả thấy tất cả, không cái gì không biết, không cái gì không thấy. Tôi có sách lự, có tư duy, trú trong sách lự, trú trong tư duy, có trí tuệ, có biện tài, tôi đến vấn sự những vị ấy không biết. Bạch Cù-đàm, vậy nên tôi khởi ý nghĩ rằng, ‘Đây là những ai?’ “Bạch Cù-đàm, vậy nên tôi lại suy nghĩ: Như vậy ta phải đến chỗ Sa-môn Cù-đàm để hỏi những việc quá khứ. Sa-môn Cù-đàm ắt có thể đáp những việc quá khứ của ta. Ta phải đến chỗ Sa-môn Cù-đàm, hỏi những việc vị lai, Sa-môn Cù-đàm ắt sẽ đáp những việc vị lai của ta. Lại nữa, ta tùy những việc mà hỏi cùng Sa-môn Cù-đàm, ắt Sa-môn Cù-đàm cũng tùy mà trả lời những việc ta hỏi.” Thế Tôn đáp rằng: “Ưu-đà-di! Thôi! Thôi! Ông trong lâu dài có dị kiến, dị nhẫn, dị lạc, dị dục, dị ý, nên không thấu triệt ý nghĩa những điều Ta nói. Ưu-đà-di, Ta có đệ tử, có nhân, có duyên, nhớ được [784b] vô lượng đời sống về trước, trong quá khứ; nghĩa là một đời, hai đời, trăm đời, ngàn đời, thành kiếp, bại kiếp, vô lượng thành bại kiếp, ăn uống như vậy, thọ khổ vui như vậy, sống lâu như vậy, trụ lâu như vậy, chết như vậy, chết nơi này sanh nơi kia, chết kia sanh đây. Ta sanh tại đây, họ như vậy, tên như vậy, sống như vậy, ăn uống như vậy, thọ khổ lạc như vậy, sống lâu như vậy, trú lâu như vậy, thọ chung như vậy. Vị ấy đến hỏi ta việc quá khứ, Ta đáp việc quá khứ cho vị ấy. Ta cũng đến hỏi việc quá khứ, vị ấy cũng đáp việc quá khứ cho Ta. Ta tùy theo sự việc đó mà hỏi, vị đó cũng tùy theo việc Ta hỏi mà đáp. “Lại nữa, Ưu-đà-di, Ta có đệ tử có thanh tịnh thiên nhãn, vượt quá người thường, thấy chúng sanh này, khi sanh khi chết, sắc đẹp sắc xấu, sắc diệu hay bất diệu, qua lại chỗ thiện hay bất thiện, tùy theo sự thọ nghiệp của chúng mà thấy đúng như thật. Nếu chúng sanh này thành tựu thân ác hành, thành tựu khẩu và ý ác hành, vu báng Thánh nhân, tà kiến, thành tựu nghiệp tà kiến, người ấy do nhân duyên này, khi thân hoại mạng chung ắt đến chỗ dữ, sanh vào trong địa ngục. Nếu chúng sanh này thành tựu thân diệu hành, thành tựu khẩu và ý diệu hành, không vu báng Thánh nhân, chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh kiến; người ấy do nhân duyên này, khi thân hoại mạng chung ắt sanh lên chỗ thiện, được sanh lên trời. Người đó đến hỏi Ta việc vị lai, Ta đáp việc vị lai cho họ. Ta cũng hỏi việc vị lai nơi họ, họ cũng đáp việc vị lai cho ta. Ta tùy theo việc người ấy hỏi mà đáp, người ấy cũng tùy theo việc ta hỏi mà đáp.” Dị học Tiễn Mao bạch rằng: “Bạch Cù-đàm, nếu như vậy, tôi càng trở thành không biết, không thấy, càng trở thành ngu si, rớt vào ngu si. Nghĩa là vì Sa-môn Cù-đàm nói như vầy, ‘Ưu-đà-di! Thôi! Thôi! Ông trong lâu dài có dị kiến, dị nhân, dị lạc, dị dục và dị ý, nên không thấu triệt ý nghĩa những điều ta nói. Ưu-đà-di, Ta có đệ tử, có nhân có duyên, nhớ được vô lượng đời sống về trước trong quá khứ, nghĩa là một đời, hai đời, trăm đời, ngàn đời, thành kiếp, bại kiếp, vô lượng thành kiếp, vô lượng bại kiếp, ăn uống như vậy, thọ khổ vui như vậy, sống lâu như vậy, trụ lâu như vậy, mạng chung như vậy, chết đây sanh kia, chết kia [784c] sanh đây, ta sanh tại đây, họ như vậy, tên như vậy, sống lâu như vậy, ăn uống như vậy, thọ khổ lạc như vậy, trú lâu như vậy, mạng chung như vậy. Vị ấy đến hỏi ta việc quá khứ, ta đáp việc quá khứ cho vị ấy; ta cũng đến hỏi vị ấy việc quá khứ, vị ấy cũng đáp việc quá khứ cho ta. Ta theo sự việc người đó hỏi mà đáp, người đó cũng tùy theo sự việc ta hỏi mà đáp. Lại nữa, Ưu-đà-di, Ta có đệ tử thanh tịnh thiên nhãn, vượt quá người thường, thấy chúng sanh này khi sanh khi tử, sắc đẹp sắc xấu, sắc diệu hay bất diệu, qua lại chỗ thiện hay chỗ bất thiện, tùy theo sự tạo nghiệp của chúng sanh này mà thấy như thật. Nếu chúng sanh này thành tựu thân ác hành, thành tựu khẩu, ý ác hành, vu báng Thánh nhân, tà kiến, thành tựu nghiệp tà kiến, người ấy do nhân duyên này khi thân hoại mạng chung, ắt đến chỗ ác, sanh trong địa ngục. Nếu chúng sanh này thành tựu thân diệu hành, khẩu, ý diệu hành, không vu báng Thánh nhân, chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh kiến, người ấy do nhân duyên này khi thân hoại mạng chung ắt sanh lên chỗ thiện, được sanh lên trời. Người đó đến hỏi ta việc vị lai, ta đáp việc vị lai cho họ. Ta cũng hỏi việc vị lai nơi vị ấy, vị ấy cũng đáp việc vị lai cho ta. Ta tùy theo việc người ấy hỏi mà đáp, người ấy cũng tùy việc ta hỏi mà đáp.’ “Bạch Cù-đàm, tôi đối với đời sống này làm những gì đã làm, được những gì đã được, nhưng vẫn không thể nhớ huống gì có thể nhớ được sự việc trong vô lượng đời sống về trước, có nhân có duyên sao? Bạch Cù-đàm, tôi còn không thể thấy con quỷ Phiêu phong[99] thì làm gì mà được thiên nhãn thanh tịnh vượt qua người thường, thấy chúng sanh này khi chết, khi sống, sắc tốt, sắc xấu, đẹp hoặc không đẹp, đưa đến chỗ thiện hoặc chỗ bất thiện tùy sự tạo nghiệp của chúng sanh này, thấy đó như thật. “Bạch Cù-đàm, tôi lại nghĩ như vầy: Nếu Sa-môn Cù-đàm hỏi ta vấn đề theo Thầy học pháp, hoặc giả có thể đáp khiến Ngài vừa ý.” Thế Tôn hỏi rằng: “Ưu-đà-di, ông theo Thầy học những pháp gì?” Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, người đó nói: Sắc vượt quá sắc, sắc kia tối thắng, sắc kia tối thượng[100].” Thế Tôn hỏi rằng: “Ưu-đà-di, sắc là gì?” Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, nếu sắc nào không có sắc khác tối thượng hơn, tối diệu hơn là tối thắng hơn; vậy sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng.” Thế Tôn bảo rằng: “Ưu-đà-di, cũng như có người [785a] nói như vầy, ‘Nếu trong nước có người con gái rất đẹp, ta muốn được người con gái đó.’ Nếu có người hỏi người đó như vầy, ‘Ông biết trong nước có người con gái rất đẹp, nhưng có biết tên gì, họ gì, sanh sống như thế nào? Là cao hay thấp, thô hay tế, trắng hay đen, hoặc không trắng không đen, là con gái Sát-lị, con gái Bà-ma-môn, Cư sĩ, hay người thợ, ở phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc?’ Người đó đáp, ‘Tôi không biết.’ Người kia lại hòi, ‘Ông không biết, không thấy trong nước có người con gái rất đẹp, tên họ như vậy, sanh sống như vậy, dài, ngắn, thô, tế, trắng, đen, không trắng không đen, con gái Sát-lị, con gái Bà-ma-môn, Cư sĩ, hay người thợ, ở phương Đông, phương Tây, phương Nam hay phương Bắc, mà lại nói như vầy, ‘Ta muốn được người con gái đó được ư’?” “Cũng vậy, Ưu-đà-di, ông nói như vầy, ‘Người đó nói sắc vượt quá sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thắng.’ Nhưng khi hỏi sắc đó thì ông lại không biết.” Dị học Tiễn Mao thưa rằng: “Bạch Cù-đàm, cũng như tinh vàng tử ma là thứ cực diệu, người thợ vàng khéo mài dũa, sửa sang khiến cho trong suốt, nhờ dùng tấm lụa trắng đem giữa nắng, sắc của nó cực diệu, ánh sáng chiếu sáng lấp lánh. Cũng vậy, bạch Cù-đàm, tôi nói, ‘Sắc đó vượt hơn sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng.’” Thế Tôn bảo rằng: “Ưu-đà-di, nay Ta hỏi ông, tùy theo chỗ hiểu mà đáp. Ưu-đà-di, ý ông nghĩ sao? Vàng ròng tử ma nhờ dùng lụa trắng, để giữa nắng mà sắc của nó cực diệu chiếu sáng lấp lánh, và ánh sáng con đom đóm trong đêm tối chiếu sáng lấp lánh, trong hai ánh sáng đó, cái nào tối thượïng, tối thắng?” Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, ánh sáng con đom đóm đối với ánh sáng của vàng ròng tử ma thì ánh sáng đom đóm tối thượng, tối thắng.” Thế Tôn hỏi rằng: “Ưu-đà-di, ý ông nghĩ sao? Ánh sáng lấp lánh của đom đóm trong đêm tối và ánh sáng lấp lánh của đèn dầu trong đêm tối, trong hai ánh sáng đó, cái nào tối thượng, tối thắng?” Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, ánh sáng đèn dầu đối với ánh sáng đom đóm, thì ánh sáng đèn dầu tối thượng, tối thắng.” Thế Tôn hỏi rằng: “Ưu-đà-di, ý ông nghĩ sao? Ánh sáng đèn dầu trong đêm tối và lửa đống cây lớn trong đêm tối, trong hai ánh sáng đó, cái nào tối thượng, tối thắng?” Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, ánh sáng lửa cây lớn [785b] đối với ánh sáng đốt đèn dầu thì ánh sáng lửa đống cây lớn tối thượng, tối thắng.” Thế Tôn hỏi rằng: “Ưu-đà-di, ý ông thế nào? Ánh sáng chiếu của lửa đống cây lớn, trong đêm tối và ánh sáng chiếu của sao Thái bạch vào buổi sáng, trời không u ám, hai ánh sáng ấy, ánh sáng nào tối thượng, tối thắng?” Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, ánh sáng của saoThái bạch đối với ánh sáng của lửa đống cây lớn, thì ánh sáng của sao Thái bạch tối thượng, tối thắng.” Thế Tôn hỏi rằng: “Này Ưu-đà-di, ý ông nghĩ sao? Ánh sáng chiếu tỏa của sao Thái bạch vào buổi sáng trời không u ám và ánh sáng tỏa chiếu của mặt trăng nửa đêm không u ám, trong ánh sáng ấy, cái nào tối thượng, tối thắng?” Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, ánh sáng của mặt trăng đối với ánh sáng của sao Thái bạch thì ánh sáng của mặt trăng tối thượng, tối thắng.” Thế Tôn hỏi rằng: “Này Ưu-đà-di, ý ông nghĩ sao? Ánh sáng chiếu tỏa của mặt trăng nửa đêm trời không u ám, và ánh sáng chiếu tỏa của mặt trời vào mùa thu, đứng ngay giữa bầu trời trong suốt, không u ám, trong hai ánh sáng ấy cái nào tối thượng, tối thắng?” Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, ánh sáng mặt trời so với ánh sáng mặt trăng thì ánh sáng mặt trời tối thượng, tối thắng.” Thế Tôn bảo rằng: “Này Ưu-đà-di, có rất nhiều chư Thiên; mà nay ánh sáng của mặt trời và ánh sáng của mặt trăng này, tuy có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, nhưng ánh sáng đó cũng không bằng ánh sáng của chư Thiên. Ta ngày xưa đã cùng với chư Thiên tụ tập luận sự, nhưng những điều ta nói đều vừa ý chư Thiên ấy, tuy vậy Ta không nói: ‘Sắc vượt quá sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng.’ Này Ưu-đà-di, còn ông đối với ánh lửa đom đóm, lửa sâu bọ, sắc rất tệ, rất xấu mà nói ‘Sắc đó vượt quá sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng,’ và khi được hỏi lại không biết.” Dị học Tiễn Mao thưa rằng: “Bạch Cù-đàm, con xin hối lỗi về lời nói này. Bạch Thiện Thệ, con xin hối lỗi về lời nói này[101].” Thế Tôn hỏi rằng: “Này Ưu-đà-di, ý ông nghĩ sao mà nói như vầy: Bạch Thế Tôn, con xin hối lỗi về lời nói đó, bạch Thiện Thệ, con xin hối lỗi về lời nói đó?” Dị học Tiễn Mao đáp: “Bạch Cù-đàm, con nói như vầy, ‘Sắc kia vượt quá sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng.’ Sa-môn Cù-đàm nay khéo tra xét tôi, khéo dạy dỗ và khéo quở trách, khiến sự hư vọng của tôi không còn nữa. Bạch Cù-đàm, vậy nên con nói như vầy: Bạch Thế Tôn, con xin hối lỗi về lời nói này. Bạch Thiện thệ con xin hối lỗi về lời nói này.” Dị học Tiễn Mao lại thưa rằng: “Bạch Cù-đàm, ‘Đời sau thuần túy lạc[102], có một đạo tích để thuần túy chứng nghiệm thế giới[103].” Thế Tôn hỏi rằng: “Ưu-đà-di, thế nào gọi là đời sau thuần túy lạc? Thế nào là có một đạo tích để chứng nghiệm thế giới thuần túy lạc?” Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, giả sử có một người xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh; xa lìa trộm cắp, tà dâm, nói láo; cho đến, xa lìa tà kiến được chánh kiến. Bạch Cù-đàm, đó gọi là đời sau tuyệt đối lạc, đó gọi là chứng nghiệm thế giới thuần túy lạc.” Thế Tôn lại bảo rằng: “Ưu-đà-di, nay Ta hỏi ông, theo sự hiểu biết mà đáp. Này Ưu-đà-di, ý ông nghĩ thế nào? Một người trong khi xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, với người ấy, là thuần túy lạc, hay là hỗn tạp khổ[104]?” Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, hỗn tạp khổ.” “Một người trong khi xa lìa trộm cắp, tà dâm, nói láo, cho đến xa lìa tà kiến có chánh kiến, với người ấy là thuần túy lạc, hay là hỗn tạp khổ?” Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, là hỗn tạp khổ.” Thế Tôn hỏi rằng: “Ưu-đà-di, há không phải rằng hỗn tạp khổ lạc như vậy là đạo tích chứng nghiệm thế giới?” Dị học Tiễn Mao đáp: “Bạch Cù-đàm, hỗn tạp khổ lạc như vậy là đạo tích chứng nghiệm thế giới vậy.” Dị học Tiễn Mao lại thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, con hối lỗi lời nói này. Bạch Thiện Thệ, con hối lỗi lời nói này.” Thế Tôn hỏi rằng: “Ưu-đà-di, ông nghĩ thế nào mà nói như vầy: Bạch Thế Tôn, con hối lỗi lời nói này. Bạch Thiện Thệ, con hối lỗi lời nói này?” Dị học Tiễn Mao đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, con vừa nói, ‘Đời sau thuần túy lạc, có một đạo tích chứng nghiệm thế giới thuần túy lạc.’ Nay Sa-môn Cù-đàm khéo tra xét con, khéo dạy dỗ và khéo quở trách, khiến cho sự hư vọng của con không còn nữa. Bạch Cù-đàm, do đó con nói như vầy: Bạch Thế Tôn, con hối lỗi lời nói này. Bạch Thiện Thệ, con hối lỗi lời nói này.” Thế Tôn bảo rằng: “Ưu-đà-di, quả thật có thế giới thuần túy lạc, có một đạo tích để chứng nghiệm thế giới thuần túy lạc.” Dị học Tiễn Mao hỏi rằng: “Bạch Cù-đàm, thế nào là quả thật có thế giới thuần túy lạc? Thế nào là có một đạo tích để chứng nghiệm thuần túy lạc?” Thế Tôn đáp rằng: “Ưu-đà-di, nếu khi Như Lai xuất thế, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn; vị ấy đoạn trừ năm triền cái, là thứ làm tâm tạp uế, tuệ yếu kém, ly dục, ly ác bất thiện pháp; có tầm, có tứ, hỷ lạc do ly dục sanh, chứng Sơ thiền, thành tựu an trụ, không cùng với chư Thiên kia tương đồng về giới, về tâm, về kiến vậy. Vị ấy tầm tứ đã dứt, nội tâm tịch tĩnh, không tầm, không tứ, hỷ lạc do định sanh, [785a] chứng đệ Nhị thiền, thành tựu an trụ, không cùng với chư Thiên kia tương đồng về giới, về tâm, và về kiến vậy. Vị đó ly hỷ dục, an trú xả vô cầu, chánh niệm chánh trí, thân giác lạc, điều mà bậc Thánh nói là Thánh xả, có niệm, an trú lạc, chứng Tam thiền thành tựu an trú, không cùng với chư Thiên kia tương đồng về giới, về tâm và về kiến vậy. Ưu-đà-di, đó gọi là thế giới thuần túy lạc.” Dị học Tiễn Mao hỏi: “Bạch Cù-đàm, trong đời, thuần túy lạc chỉ cùng cực là thế chăng?” Thế Tôn nói: “Trong đời, thuần túy lạc không chỉ cùng cực là thế. Ưu-đà-di, còn có đạo tích nữa chứng đắc thế giới thuần túy lạc.” Dị học Tiễn Mao hỏi: “Bạch Cù-đàm, thế nào là có đạo tích nữa chứng đắc thế giới thuần túy lạc?” Thế Tôn đáp: “Ưu-đà-di, Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp; có tầm, có tứ, hỷ lạc do ly dục sanh, chứng Sơ thiền, thành tựu an trụ, cùng với chư Thiên kia tương đồng về giới, về tâm, về kiến vậy. Vị ấy tầm tứ đã dứt, nội tâm tịch tĩnh, không giác, không quán, hỷ lạc do định sanh, chứng đệ Nhị thiền, thành tựu an trụ, cùng với chư Thiên kia tương đồng về giới, về tâm, và về kiến vậy. Vị đó ly hỷ dục, an trú xả vô cầu, chánh niệm chánh trí, thân giác lạc, điều mà bậc Thánh nói là Thánh xả, có niệm, an trú lạc, chứng Tam thiền thành tựu an trú, cùng với chư Thiên tương đồng về giới, về tâm và về kiến vậy. Ưu-đà-di, đó gọi là thế giới thuần túy lạc.” Dị học Tiễn Mao hỏi rằng: “Bạch Cù-đàm, phải chăng đệ tử của Sa-môn Cù-đàm vì thế giới thuần túy lạc, và vì đạo tích chứng đắc thế giới thuần túy lạc ấy mà theo Sa-môn Cù-đàm học phạm hạnh chăng?” Thế Tôn đáp rằng: “Đệ tử của Ta không phải chỉ vì thế giới thuần túy lạc và vì để chứng nghiệmc thế giới thuần túy lạc ấy mà theo học phạm hạnh. Nhưng còn có sự tối thắng, tối diệu, tối thượng khác để chứng đắc nữa.” Bấy giờ cả đại chúng này cùng lớn tiếng nói: “Cái ấy là tối thượng, tối diệu, tối thắng; vì để chứng đắc cái ấy mà đệ tử Sa-môn Cù-đàm theo Sa-môn Cù-đàm học phạm hạnh.” Sau khi làm cho đại chúng của mình im lặng rồi, Bà-ma-môn Tiễn Mao lại thưa rằng: “Bạch Cù-đàm, cái gì là tối thượng, tối diệu, tối thắng, vì để chứng đắc như vậy, mà đệ tử Sa-môn Cù-đàm theo Sa-môn Cù-đàm học phạm hạnh?” Thế Tôn đáp rằng: “Ưu-đà-di, Tỳ-kheo diệt lạc, diệt khổ, và ưu, hỷ [786b] từ trước cũng diệt, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đắc Tứ thiền, thành tựu an trụ. Ưu-đà-di, đó gọi là tối thượng tối diệu, tối thắng, vì để chứng đắc như vậy mà đệ tử Ta theo học phạm hạnh.” Bấy giờ Dị học Tiễn Mao liền từ chỗ ngồi đứng dậy, muốn cúi đầu sát chân Phật. Ngay lúc đó các đệ tử dị học phạm hạnh của Dị học Tiễn Mao thưa với Dị học Tiễn Mao rằng: “Tôn giả nay đáng làm bậc Thầy mà muốn làm đệ tử Sa-môn Cù-đàm ư? Khi nào Tôn giả không đáng làm Thầy, rồi hãy làm đệ tử Sa-môn Cù-đàm vậy.” Đó là các đệ tử của Dị học Tiễn Mao là chướng ngại cho Dị học Tiễn Mao đối với sự tu học phạm hạnh. Phật thuyết như vậy. Dị học Tiễn Mao sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành. 209. KINH TÌ-MA-NA-TUTôi nghe như vầy: Một thời Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Dị học Tì-ma-na-tu[105], sau giữa trưa, thung dung đến chỗ Phật, chào hỏi xong, hỏi rằng: “Bạch Cù-đàm, sắc này hơn, sắc này hơn. Này Cù-đàm, sắc này hơn[106].” Thế Tôn hỏi: “Này Ca-chiên[107], đó là những sắc nào?” Dị học Tì-ma-na-tu đáp: “Bạch Cù-đàm, nếu sắc nào không có sắc khác tối thượng, tối diệu, tối thắng hơn, Cù-đàm, sắc đó là tối thượng, sắc đó là tối thắng.” Thế Tôn bảo: “Ca-chiên, cũng như có người nói như vầy, ‘Nếu trong nước có người con gái rất đẹp, ta muốn được người con gái đó.’ Nếu có người hỏi người đó như vầy, ‘Ông biết trong nước có người con gái rất đẹp, nhưng có biết cô ấy tên gì, họ gì, sanh sống như thế nào? Là cao hay thấp, thô hay tế, trắng hay đen, hoặc không trắng không đen, là con gái Sát-lị, con gái Bà-ma-môn, Cư sĩ, hay người thợ, ở phương Đông, phương Tây, phương Nam phương Bắc?’ Người đó đáp, ‘Tôi không biết.’ Người kia lại hỏi, ‘Ông không biết, không thấy trong nước có người con gái rất đẹp, tên họ như vậy, sanh sống như vậy, dài, ngắn, thô, tế, trắng, đen, không trắng không đen, con gái Sát-lị, con gái Bà-ma-môn, Cư sĩ, hay người thợ, ở phương Đông, phương Tây, phương Nam hay phương Bắc, mà lại nói như vầy, ‘Ta muốn được người con gái đó được ư’?” “Cũng vậy, Ca-chiên, ông nói như vầy, [786c] ‘Sắc kia là vi diệu, tối vi diệu; sắc kia là tối thắng; sắc kia là tối thượng.’ Nhưng khi hỏi sắc đó thì ông lại không biết.” Dị học Tì-ma-na-tu thưa: “Bạch Cù-đàm, cũng như tinh vàng tử ma[108] là thứ cực diệu, người thợ vàng khéo mài dũa, sửa sang khiến cho trong suốt, nhờ dùng tấm lụa trắng đem giữa nắng, sắc của nó cực diệu, ánh sáng chiếu sáng lấp lánh. Cũng vậy, bạch Cù-đàm, tôi nói ‘Sắc kia là vi diệu, tối vi diệu; sắc kia là tối thắng; sắc kia là tối thượng.’” Thế Tôn bảo: “Ca-chiên, nay Ta hỏi ông, tùy theo chỗ hiểu biết mà đáp. Ý ông nghĩ sao? Vàng ròng tử ma nhờ dùng lụa trắng, để giữa nắng mà sắc của nó cực diệu chiếu sáng lấp lánh, và ánh sáng con đom đóm trong đêm tối chiếu sáng lấp lánh, trong hai ánh sáng đó, cái nào tối thượng, tối thắng?” Dị học Tì-ma-na-tu đáp rằng: “Bạch Cù-đàm, ánh sáng con đom đóm đối với ánh sáng của vàng ròng tử ma thì ánh sáng đom đóm tối thượng, tối thắng.” Thế Tôn hỏi: “Ca-chiên, ý ông nghĩ sao? Ánh sáng đèn dầu trong đêm tối và ánh lửa đống cây lớn trong đêm tối; trong hai ánh sáng ấy, cái nào sáng hơn?” Dị học Tì-ma-na-tu đáp: “Bạch Cù-đàm, ánh sáng lửa đống cây lớn trong đêm tối đối với ánh sáng đèn dầu thì ánh sáng lửa đống cây lớn sáng hơn.” Thế Tôn hỏi: “Ca-chiên, ý ông nghĩ thế nào? Ánh sáng chiếu của lửa đống cây lớn trong đêm tối và ánh sáng chiếu của sao Thái bạch[109] vào buổi sáng trời không u ám, ánh sáng nào sáng hơn?” Dị học Tì-ma-na-tu đáp: “Bạch Cù-đàm, ánh sáng của sao Thái bạch đối với ánh sáng lửa đống cây lớn, thì ánh sáng sao Thái bạch sáng hơn.” Thế Tôn hỏi: “Ca-chiên, ý ông nghĩ sao? Ánh sáng chiếu tỏa của sao Thái bạch vào buổi sáng trời không u ám và ánh sáng chiếu tỏa của mặt trăng nửa đêm trời không u ám, trong hai ánh sáng ấy, cái nào sáng hơn?” Dị học Tì-ma-na-tu đáp: “Bạch Cù-đàm, ánh sáng của mặt trăng đối với ánh sáng của sao Thái bạch thì [787a] ánh sáng của mặt trăng sáng hơn.” Thế Tôn hỏi: “Ca-chiên, ý ông nghĩ sao? Ánh sáng chiếu tỏa của mặt trăng vào nửa đêm trời không u ám và ánh sáng chiếu tỏa mặt trời vào mùa thu đứng ngay giữa bầu trời trong suốt không u ám, trong hai ánh sáng đó cái nào sáng hơn?” Dị học Tì-ma-na-tu đáp: “Bạch Cù-đàm, ánh sáng của mặt trời, so với ánh sáng của mặt trăng thì ánh sáng mặt trời sáng hơn.” Thế Tôn bảo rằng: “Ca-chiên, có rất nhiều chư Thiên, nay ánh sáng của mặt trời và ánh sáng của mặt trăng này tuy có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, nhưng ánh sáng đó cũng không bằng ánh sáng của chư Thiên. Ta ngày xưa đã từng cùng chư Thiên tụ tập luận sự. Những điều Ta nói đều vừa ý chư Thiên ấy, nhưng Ta không nói, ‘Sắc vượt quá sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng.’ Này Ca-chiên, còn ông, với lửa đóm, lửa sâu, sắc rất tệ xấu mà nói ‘Sắc kia là vi diệu, tối vi diệu; sắc kia là tối thắng; sắc kia là tối thượng.’ Và khi được hỏi lại nói không biết.” Ngay lúc đó dị học Tì-ma-na-tu bị Thế Tôn quở trách trước mặt trong lòng buồn bã, cúi đầu im lặng, không còn lời nào biện bạch. Sau khi Thế Tôn quở trách, muốn khiến ông ta hoan hỷ nên bảo: “Này Ca-chiên, có năm công đức của dục[110], khả hỷ, khả ái, khả niệm, khả ái, có lạc tương ưng với dục[111]. Sắc nhận biét bởi mắt, tiếng nhận biết bởi tai, hương nhận biết bởi mũi, vị nhận biết bởi lưỡi, xúc chạm biết bởi thân. Này Ca-chiên, sắc hoặc có ái, hoặc không ái. Nếu có một người đối với sắc này mà khả ý, xứng ý, thích ý, thỏa ý, mãn nguyện ý, người ấy đối với sắc khác dù tối thượng, tối thắng vẫn không ham muốn, không tư duy, không nguyện cầu. Người đó cho sắc này là tối thắng tối thượng. Này Ca-chiên, thanh, hương, vị, xúc cũng lại như vậy. Này Ca-chiên, xúc hoặc có ái, hoặc không ái. Nếu có một người đối với xúc này mà khả ý, xứng ý, thích ý, thỏa ý, mãn nguyện ý, người đó đối với những xúc khác, dù tối thượng, tối thắng vẫn không ham muốn, không tư duy, không nguyện, không cần. Người đó cho xúc này là tối thượng, tối thắng vậy.” Bấy giờ Dị học Tì-ma-na-tu chấp tay hướng về Phật bạch rằng: “Bạch Cù-đàm! Thật kỳ diệu thay! Thật hy hữu thay. Sa-môn Cù-đàm vì tôi mà dùng vô lượng phương tiện nói, ‘Dục lạc, dục lạc đệ nhất’[112]. Bạch Cù-đàm, cũng như do lửa cỏ mà đốt lửa cây, do lửa cây mà đốt lửa cỏ. Cũng vậy, Sa-môn Cù-đàm vì [787b] tôi mà dùng vô lượng phương tiện, nói: ‘Dục lạc, dục lạc đệ nhất.’” Thế Tôn bảo: “Thôi! Thôi! Này Ca-chiên! Ông là người trong lâu dài có sở kiến dị biệt, nhẫn thọ dị biệt, sở thích dị biệt, ý dục dị biệt, ý hướng dị biệt[113], cho nên không thấu triệt ý nghĩa những điều Ta nói. “Này Ca-chiên, đệ tử Ta đầu hôm và cuối đêm thường không nằm ngủ, mà chánh định, chánh ý, tu tập đạo phẩm, biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’ Những người ấy mới thấu triệt những điều Ta nói.” Ngay lúc đó dị học Tì-ma-na-tu nổi giận đối với Phật, nổi ghen ghét, không vừa ý, muốn vu báng Thế Tôn, muốn hạ nhục Thế Tôn, và ông vu báng Thế Tôn như vầy, hạ nhục Thế Tôn như vầy: “Cù-đàm, có Sa-môn, Bà-ma-môn, không biết biên tế đời trước, không biết biên tế đời sau, không biết sanh tử vô cùng mà tự cho là chứng đắc Cứu cánh trí, biết như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’ Cù-đàm, tôi nghĩ như vầy, ‘Vì sao Sa-môn, Bà-ma-môn này không biết biên tế đời trước, không biết biên tế đời sau, không biết sanh tử vô cùng mà tự cho là chứng đắc Cứu cánh trí, biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’?” Lúc đó Thế Tôn liền nghĩ rằng: “Dị học Tì-ma-na-tu nổi giận đối với Ta, nổi ghen ghét, không vừa ý, muốn vu báng Ta, muốn hạ nhục Ta, và vu báng Ta như vậy, hạ nhục Ta như vậy mà nói với Ta như vầy, ‘Cù-đàm, có Sa-môn, Bà-ma-môn, không biết biên tế đời trước, không biết biên tế đời sau, không biết sanh tử vô cùng mà tự cho là chứng đắc Cứu cánh trí, biết như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’ Cù-đàm, tôi nghĩ như vầy, ‘Vì sao Sa-môn, Bà-ma-môn này không biết biên tế đời trước, không biết biên tế đời sau, không biết sanh tử vô cùng mà tự cho là chứng đắc Cứu cánh trí, biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’?’” Thế Tôn biết thế rồi, bèn nói rằng: “Này Ca-chiên, nếu có Sa-môn, Bà-ma-môn nào không biết biên tế đời trước, không biết biên tế đời sau, không biết sanh tử vô cùng mà tự cho là chứng đắc Cứu cánh trí, biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’; thì hãy nói với người đó như vầy, ‘Hãy gác qua biên tế đời trước, hãy gác qua biên tế đời sau.’ Này Ca-chiên, Ta cũng nói như vầy, ‘Hãy gác qua biên tế đời trước, hãy gác qua biên tế đời sau, [787c] giả sử không nhớ đến một đời.’ Khi đệ tử Tỳ-kheo của Ta đến; đó là nngười không nịnh hót, không lừa gạt, mà thẳng thắng, Ta giáo hóa họ. Nếu cứ theo sự giáo hóa của Ta mà thực hành đúng như vậy, nhất định biết được Chánh pháp. “Này Ca-chiên, cũng như một đứa trẻ nhỏ thân còn yếu, nằm ngửa. Cha mẹ nó buộc tay chân nó lại. Đứa bé đó sau lớn lên, các căn thành tựu, cha mẹ lại cởi trói tay chân cho nó ra. Nó chỉ nhớ khi được cởi trói, chớ không nhớ khi bị trói. “Cũng vậy, này Ca-chiên, Ta nói như vầy, ‘Hãy gác lại biên tế đời trước, hãy gác lại biên tế đời sau, giả sử không nhớ một đời.’ Khi đệ tử Tỳ-kheo Ta đến; người đó không nịnh hót, không lừa dối, mà thẳng thắn thì Ta giáo hóa họ. Nếu cứ theo sự giáo hóa của Ta mà thực hành đúng như vậy thì nhất định biết được Chánh pháp. “Này Ca-chiên, cũng như do dầu, do tim, mà đốt đèn, không có người thêm dầu, không có người đổi tim, dầu trước đã hết, sau lại không rót thêm thì không thể còn, mà chóng tự tắt vậy. “Cũng vậy, này Ca-chiên, Ta nói như vầy, ‘Hãy gác lại biên tế đời trước, hãy gác lại biên tế đời sau, giả sử không nhớ một đời.’ Khi đệ tử của Ta đến; người đó không nịnh hót, không lừa dối mà thẳng thắn thì Ta giáo hóa họ. Nếu cứ theo sự giáo hóa của Ta mà thực hành đúng như vậy thì nhất định biết được Chánh pháp. “Này Ca-chiên, cũng như có mười đống cây, hoặc hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi hay sáu mươi đống cây, dùng lửa mà đốt, tất cả đều bùng cháy. Khi ấy ngọn lửa được thấy. Đống lửa ấy nếu không có người thêm cỏ cây, hoặc đổ thêm vỏ trấu vào; củi trước đã hết, cũi sau không được thêm nữa, thì lửa không thể còn mà chóng tự tắt vậy. “Cũng vậy, này Ca-chiên, Ta nói như vầy, ‘Hãy gác lại biên tế đời trước, hãy gác lại biên tế đời sau, giả sử không nhớ một đời.’ Khi đệ tử của Ta đến;người đó không nịnh hót, không lừa dối mà thẳng thắn thì Ta giáo hóa họ. Nếu cứ theo sự giáo hóa của Ta mà thực hành đúng như vậy thì nhất định biết được Chánh pháp.” Khi thuyết pháp này Dị học Tì-ma-na-tu xa lìa trần cấu, pháp nhãn của các pháp phát sanh. Lúc đó, Dị học Tì-ma-na-tu thấy pháp, chứng pháp, giác ngộ bạch tịnh pháp, không còn thấy ai hơn, lại không do kẻ khác mà độ nghi, đoạn hoặc, không còn do dự, đã an trú quả chứng đối với pháp của Thế Tôn, chứng được vô sở úy, cúi đầu sát chân Phật mà thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, con xin được theo Phật xuất gia học đạo, thọ giới cụ túc, được làm Tỳ-kheo, thực hành phạm hạnh.” Thế Tôn dạy: “Thiện lai Tỳ-kheo, hãy hành phạm hạnh! [788a] Dị học được theo Phật xuất gia học đạo, thọ cụ túc giới, được làm Tỳ-kheo, thực hành phạm hạnh. Tôn giả Tì-ma-na-tu xuất gia học đạo, thọ giới cụ túc rồi, biết pháp, thấy pháp, cho đến chứng được quả vị A-la-hán. Phật thuyết như vậy. Tôn giả Tì-ma-na-tu và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.[114] 210. KINH TỲ-KHEO-NI PHÁP LẠCTôi nghư như vầy: Một thời Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc[115]. Bấy giờ có bà Ưu-bà-di Tì-xá-khư[116], đến chỗ Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc[117], cúi đầu lê dưới chân, rồi lui ngồi một bên, thưa rằng: “Bạch Thánh ni[118], tôi có điều muốn hỏi, mong Thánh ni nghe cho chăng?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Tì-xá-khư, có điều gì xin cứ hỏi, sau khi nghe xong tôi sẽ suy nghĩ.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư liền hỏi: “Bạch Thánh ni, hữu thân[119], nói là hữu thân; vậy thế nào là hữu thân? Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp: “Thế Tôn nói năm thủ uẩn[120]. Hữu thân là năm thủ uẩn. Đó là sắc thủ uẩn, là thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn. Đó là năm thủ uẩn được Thế Tôn nói.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch ni.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Bạch Thánh ni, sao gọi là hữu thân kiến[121]?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp: “Phàm phu ngu si, không đa văn, không gặp thiện tri thức, không biết Thánh pháp, không chế ngự theo Thánh pháp[122], kẻ ấy thấy sắc là tự ngã, thấy tự ngã có sắc, thấy trong tự ngã có sắc, thấy trong sắc có tự ngã.[123] Thấy thọ, tưởng, [788b] hành, thức là ngã, thấy ngã có thức, thấy trong ngã có thức, thấy trong thức có ngã. Đó gọi là tự thân kiến.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Bạch Thánh ni, sao gọi là không thân kiến?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp: “Đa văn Thánh đệ tử, gặp thiện tri thức, biết Thánh pháp, khéo léo chế ngự trong Thánh pháp, kẻ ấy không thấy sắc là ngã, không thấy ngã có sắc, không thấy trong sắc có ngã, không thấy trong ngã có sắc. Không thấy thọ, tưởng, hành, thức là ngã, không thấy trong ngã có thức, không thấy trong thức có ngã. Đó gọi là không thân kiến.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Bạch Thánh ni, sao gọi là diệt tự thân?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp: “Sắc thủ uẩn bị đoạn trừ không dư tàn, xả, nhả sạch, không ô nhiễm, diệt, tịch tịnh. Thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn bị đoạn trừ không dư tàn, xả, nhả sạch, không ô nhiễm, diệt, tịch tịnh. Đó là tự thân diệt.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Bạch Thánh ni, uẩn nói là thủ uẩn, thủ uẩn nói là uẩn. Uẩn tức là thủ uẩn, hay thủ uẩn tức là uẩn? Uẩn khác với thủ uẩn chăng?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp: “Hoặc uẩn tức là thủ uẩn. Hoặc uẩn chẳng phải là thủ uẩn. Thế nào là uẩn tức là thủ uẩn? Sắc hữu lậu, được chấp thủ[124]; thọ, tưởng, hành, thức hữu lậu, được chấp thủ, nói uẩn tức là thủ uẩn. “Thế nào nói uẩn tức chẳng phải là thủ uẩn? Sắc vô lậu, không bị chấp thủ, nói uẩn chẳng phải là thủ uẩn.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Bạch Thánh ni, thế nào là Thánh đạo tám chi?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp: “Thánh đạo tám chi là từ chánh kiến đến chánh định là tám. Đó gọi là Thánh đạo tám chi.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, Thánh đạo tám chi [788c] là hữu vi chăng?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Đúng vậy, Thánh đạo tám chi là hữu vi.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Bạch Thánh ni, có bao nhiêu tụ?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp: “Có ba tụ là giới tụ, định tụ và tuệ tụ.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong, khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: Bạch Thánh ni, Thánh đạo tám chi thâu nhiếp ba tụ hay ba tụ thâu nhiếp Thánh đạo tám chi?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp: “Không phải Thánh đạo tám chi thâu nhiếp ba tụ, nhưng ba tụ thâu nhiếp Thánh đạo tám chi. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, ba chi Thánh đạo này được nhiếp về Thánh giới tụ. Chánh niệm, chánh định, hai chi này được thâu nhiếp vào Thánh định tụ. Chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, ba chi này được thâu nhiếp vào Thánh tuệ tụ. Đó là nói rằng không phải Thánh đạo tám chi ba tụ, nhưng ba tụ nhiếp Thánh đạo tám chi.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại thưa: “Bạch Thánh ni, diệt là hữu đối chăng?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp: “Diệt là vô đối.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành, lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, Sơ thiền có bao nhiêu chi?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp: “Sơ thiền có năm chi là tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm[125]. Đó là năm chi của Sơ thiền.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại thưa: “Bạch Thánh ni, sao gọi là đoạn, sao gọi là tưởng, sao gọi là định lực, sao gọi là định công, sao gọi là tu định[126]?” Pháp Lạc Tỳ-kheo-ni đáp rằng: “Nếu có thiện tâm thuần nhất[127] được gọi là định. Bốn niệm xứ được gọi là định tưởng. Bốn chánh đoạn được gọi là định lực. Bốn như ý túc được gọi là định công. Nếu tu tập các thiện pháp này rồi lại thường chuyên tu tập tinh cần, đó gọi là tu định.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. [789a] Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, có bao nhiêu pháp mà sanh thân sau khi chết rồi, thân bị liệng ngoài gò đống như cây gỗ vô tình?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Có ba pháp khiến sanh thân sau khi chết, thân bị liệng ngoài gò đống như cây gỗ vô tình. Những gì là ba? Một là tuổi thọ, hai là hơi ấm, ba là thức. Đó là ba pháp khiến sanh thân sau khi chết thân bị liệng ngoài gò đống như cây gỗ vô tình.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong, khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, một người chết và nhập diệt tận định khác nhau như thế nào?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Chết là mạng đã dứt, hơi ấm lìa thân, các căn bại hoại. Còn Tỳ-kheo nhập diệt tận định thì tuổi thọ chưa dứt, hơi ấm cũng không lìa thân, các căn không bại hoại. Đó là sự khác biệt giữa một người chết và nhập diệt tận định.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, một người diệt tận định và một người nhập vô tưởng định khác nhau thế nào?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Một người nhập diệt tận định thì tưởng và tri[128] đều diệt còn một người nhập vô tưởng định thì tưởng và tri không diệt. Đó là sự khác biệt giữa một người nhập diệt tận định và nhập vô tưởng định.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, một người từ diệt tận định ra và từ vô tưởng định ra, khác nhau như thế nào?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Tỳ-kheo từ diệt tận định ra không khởi suy nghĩ này, ‘Ta từ diệt tận định ra.’ Tỳ-kheo khi từ vô tưởng định ra, khởi ý nghĩ này, ‘Ta là hữu tưởng? Hay ta là vô tưởng?’ Đó là sự khác nhau giữa một người từ diệt tận định ra và từ vô tưởng định ra.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Tỳ-kheo khi nhập diệt tận định có khởi ý nghĩ rằng, ‘Ta nhập diệt tận định’ hay không?” Pháp lạc Tỳ-kheo đáp: “Tỳ-kheo khi nhập diệt tận định không khởi ý nghĩ rằng, ‘Ta nhập diệt tận định.’ Nhưng do theo tâm thức đã tu tập từ trước, y như vậy [789b] mà tiến tới.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, tỳ-kheo từ diệt tận định ra có khởi ý nghĩ rằng, ‘Ta từ diệt tận định ra’ hay không?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Tỳ-kheo khi từ diệt tận định ra không khởi ý nghĩ, ‘Ta từ diệt tận định ra.’ Nhưng bởi thân này và sáu xứ duyên mạng căn, cho nên từ định mà ra.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, Tỳ-kheo từ diệt tận định ra, tâm lạc những gì? Thú hướng những gì? Và thuận những gì?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Tỳ-kheo từ diệt tận định ra, tâm lạc đối với viễn ly, thú hướng viễn ly và tùy thuận viễn ly.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, có bao nhiêu thọ[129]?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Có ba thọ, là cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không lạc không khổ. Chúng duyên vào đâu mà có? Duyên vào xúc[130].” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, thế nào là cảm thọ lạc? Thế nào là cảm thọ khổ, và thế nào là cảm thọ không khổ không lạc?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Nếu lạc được cảm xúc bởi lạc xúc[131] mà sanh, thân và tâm cảm giác rất khoái lạc, thọ này gọi là cảm thọ lạc. Nếu khổ được cảm xúc bởi khổ xúc mà sanh, thân và tâm cảm thọ khổ, không khoái lạc, thọ này gọi là cảm thọ khổ. Nếu không khổ không lạc được cảm xúc bởi xúc không khổ không lạc mà sanh, thân và tâm cảm thọ không khổ không lạc, không phải khoái cảm hay không khoái cảm, thọ này gọi là cảm thọ không lạc không khổ.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, đối với cảm thọ lạc, thế nào là lạc? Thế nào là khổ? Thế nào là vô thường? Thế nào là tai hoạn? Thế nào là sử? Đối với cảm thọ khổ, thế nào là lạc, thế nào là khổ, thế nào là vô thường, thế nào là tai hoạn, thế nào là sử? Đối với cảm thọ không khổ không lạc, thế nào là lạc, thế nào là khổ, thế nào là vô thường, thế nào là tai hoạn, thế nào là sử[132]?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc [789c] đáp rằng: “Đối với cảm thọ lạc, sanh là lạc, trụ là lạc; biến dịch là khổ; vô thường tức là tai hoạn, và dục là sử. Đối với cảm thọ khổ, sanh là khổ, trụ là khổ, biến dịch là lạc, vô thường tức là tai hoạn, sân nhuế là sử. Đối với cảm thọ không khổ không lạc, khổ hay lạc không được biết đến, vô thường tức là biến dịch và vô minh là sử vậy.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, phải chăng tất cả cảm thọ lạc đều là dục sử[133]? Tất cả cảm thọ khổ đều là nhuế sử[134]? Tất cả cảm thọ không khổ không lạc đều là vô minh sử[135]?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Không phải tất cả cảm thọ lạc đều là dục sử, không phải tất cả cảm thọ khổ đều là nhuế sử; không phải tất cả cảm thọ không khổ không lạc đều là vô minh sử. Vì sao cảm thọ lạc không phải là dục sử? Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, có tầm có tứ, hỷ lạc do ly dục sanh, chứng Sơ thiền, thành tựu an trụ. Đó là cảm thọ lạc không phải là dục sử. Vì sao vậy? Vì đã đoạn dục. Vì sao cảm thọ khổ không phải là nhuế sử? Như mong cầu vô thượng giải thoát lạc, do sự nguyện cầu canh cánh mà sanh ra ưu khổ. Đó là cảm thọ khổ không phải là nhuế sử. Vì sao? Vì nó đoạn sân nhuế. Vì sao cảm thọ không khổ không lạc không phải là vô minh sử? Khi lạc diệt, khổ diệt, ưu hỷ trước cũng diệt, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, đắc đệ Tứ thiền, thành tựu an trụ. Đó là cảm thọ không khổ không lạc không phải là vô minh sử. Vì sao? Vì nó đoạn vô minh.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, cảm thọ lạc đối đãi với cái gì?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Cảm thọ lạc lấy cảm thọ khổ làm đối đãi.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, cảm thọ khổ đối đãi với cái gì?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Cảm thọ khổ lấy cảm thọ lạc làm đối đãi.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, cảm thọ vừa lạc vừa khổ đối đãi với cái gì?” [790a] Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Cảm thọ lạc khổ lấy không khổ không lạc làm đối đãi.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, cảm thọ không khổ không lạc đối đãi với cái gì?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Cảm thọ không khổ không lấy vô minh làm đối đãi.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, vô minh đối đãi với gì?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Vô minh lấy minh làm đối.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, minh đối đãi với gì?” Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Minh lấy Niết-bàn làm đối.” Ưu-bà-di Tì-xá-khư nghe xong khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Bạch Thánh ni!” Ưu-bà-di Tì-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi rằng: “Bạch Thánh ni, Niết-bàn đối đãi với cái gì?” “Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp rằng: “Ông[136] muốn hỏi những việc vô cùng, nhưng việc ông hỏi không thể cùng tận giới hạn của tôi được. Niết-bàn không có đối đãi. Niết-bàn không có quái ngại, vượt qua quái ngại, diệt trừ quái ngại, do nghĩa này nên tôi theo Thế Tôn hành phạm hạnh.” Bấy giờ Ưu-bà-di Tì-xá-khư, khi nghe Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc nói, khéo léo thọ trì, tụng tập, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu lễ dưới chân Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc, đi nhiễu ba vòng rồi lui về. Bấy giờ Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc sau khi tiễn Ưu-bà-di Tì-xá-khư đi cách đó không lâu, bà đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật, rồi lui đứng một bên, đem hết những điều thảo luận cùng Ưu-bà-di Tì-xá-khư bạch lại với Phật, chấp tay thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, con nói như vậy, đáp như vậy, không vu báng Thế Tôn chăng? Nói chân thật, nói như pháp, không có trái nhau, không có tranh cãi, nhầm lẫn chăng?” Thế Tôn đáp rằng: “Này Tỳ-kheo-ni, cô nói như vậy, đáp như vậy, không vu báng Ta. Cô nói chân thật. Cô nói như pháp. Cô nói theo thứ lớp của pháp. Đối với như pháp, không có chống trái nhau, không tranh, không lỗi vậy. Này Tỳ-kheo-ni, nếu [790b] Ưu-bà-di Tì-xá-khư đến hỏi Ta, Ta cũng bằng những văn cú như vậy, Ta cũng trả lời Ưu-bà-di Tì-xá-khư bằng nghĩa này, bằng văn cú này. Này Tỳ-kheo-ni, nghĩa này đúng như ngươi đã nói, ngươi cứ như vậy mà thọ trì. Vì sao, những lời này tức là giáo nghĩa vậy.” Phật thuyết như vậy, Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc và chư Tỳ-kheo nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành. 211. KINH ĐẠI CÂU-HY-LATôi nghe như vầy: Một thời Phật trú tại thành Vương xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất vào lúc xế từ tĩnh tọa dậy, đi đến chỗ Tôn giả Đại Câu-hy-la[137], chào hỏi nhau xong rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Xá-lợi-phất nói rằng: “Này Hiền giả Đại Câu-hy-la, tôi có điều muốn hỏi, Hiền giả nghe cho chăng? Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp rằng: “Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, muốn hỏi xin cứ hỏi, tôi nghe xong sẽ suy nghĩ.” Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi rằng: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, bất thiện, được nói là bất thiện; bất thiện căn, được nói là bất thiện căn. Thế nào là bất thiện? Thế nào là bất thiện căn?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Thân ác hành, khẩu và ý ác hành, đó là bất thiện vậy. Tham, nhuế, si, đó là bất thiện căn vậy. Đó là bất thiện và bất thiện căn.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Hay thay! Lành thay! Hiền giả Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Câu-hy-la, thiện, được nói là thiện; thiện căn, được nói là thiện căn. Thế nào là thiện? Thế nào là thiện căn?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Thân diệu hành, khẩu và ý diệu hành, đó là thiện vậy. Không tham, không nhuế, không si, đó là thiện căn vậy. Đó là thiện và thiện căn.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Trí tuệ, được nói là trí tuệ. Thế nào là trí tuệ?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp rằng: “Biết như vậy, cho nên nói là trí tuệ. [790c] Biết những gì? Biết như thật ‘Đây là Khổ’, biết như thật ‘Đây là Khổ tập’, ‘Đây là Khổ diệt’, ‘Đây là Khổ diệt Đạo.’ Biết như vậy cho nên được nói là trí tuệ.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, thức, được nói là thức; thế nào là thức?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Thức, nhận thức, cho nên nói là thức[138]. Nhận thức những gì? Nhận thức, sắc, nhận thức thanh, hương, vị, xúc, pháp. Thức, nhận thức, cho nên nói là thức.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, trí tuệ và thức, hai pháp này hiệp nhất hay riêng biệt? Có thể thi thiết hai pháp này riêng biệt chăng[139]?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Hai pháp này hiệp nhất chứ không riêng biệt. Không thể thi thiết hai pháp ấy riêng rẽ. Vì sao vậy? Những gì được biết bởi trí tuệ cũng được biết bỡi thức. Cho nên hai pháp này hiệp nhất chứ không riêng biệt, và không thể cho rằng hai pháp này riêng rẽ.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, người biết, ngài lấy gì để biết?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Biết, tôi do trí tuệ mà biết.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Tôn giả Đại Câu-hy-la!” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, trí tuệ có nghĩa gì? Có sự thù thắng gì? Có công đức gì?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Trí tuệ có nghĩa yểm ly, có nghĩa vô dục, có nghĩa thấy như thật[140].” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, thế nào là chánh kiến?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Biết như thật về Khổ, biết như thật về Khổ tập, Khổ diệt và Khổ diệt đạo. Đó gọi là chánh kiến.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân, có bao nhiêu duyên sanh chánh kiến?” [791a] Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Có hai nhân, có hai duyên sanh chánh kiến. Những gì là hai? Một là duyên từ người khác, hai là nội tâm tư duy. Đó là có hai nhân, có hai duyên sanh chánh kiến.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu chi thâu nhiếp chánh kiến để đạt được tâm giải thoát quả, tuệ giải thoát quả, đạt được tâm giải thoát công đức, tuệ giải thoát công đức?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Có năm chi thâu nhiếp chánh kiến để đạt được tâm giải thoát quả, tuệ giải thoát quả; đạt được tâm giải thoát công đức, tuệ giải thoát công đức. Những gì là năm? Một là được thâu nhiếp bởi chân đế, hai là được thâu nhiếp bởi giới, ba là được thâu nhiếp bởi bác văn, bốn là được thâu nhiếp bởi chỉ, năm là được thâu nhiếp bởi quán.[141] Đó gọi là năm chi thâu nhiếp chánh kiến để đạt được tâm giải thoát quả, tuệ giải thoát quả, đạt được tâm giải thoát công đức, tuệ giải thoát công đức.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, như thế nào sanh khởi hữu trong tương lai[142]?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Phàm phu ngu si, vô tri, không đa văn, bị vô minh che lấp, bị ái kết trói buộc, không gặp thiện tri thức, không hiểu biết Thánh pháp, không được điều ngự trong Thánh pháp, đó gọi là làm sanh khởi hữu trong tương lai.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, thế nào là không sanh khởi hữu trong tương lai?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Nếu vô minh đã diệt, minh đã sanh, tất diệt tận khổ. Đó gọi là không sanh khởi hữu trong tương lai.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu thọ?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Có ba thọ, là khổ thọ, lạc thọ và không khổ không lạc thọ. Thọ này duyên đâu mà có? Duyên xúc mà có.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la!” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả [791b] Đại Câu-hy-la, thọ, tưởng, tư, ba pháp này hiệp nhất hay riêng biệt? Có thể thi thiết ba pháp này riêng biệt chăng?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp rằng: “Thọ, tưởng, tư, ba pháp này hiệp nhất không riêng biệt. Không thể thi thiết ba pháp này là riêng biệt. Vì sao? Những gì được cảm thọ bởi thọ, cũng được tưởng bởi tưởng, được tư bởi tư. Cho nên nói ba pháp này hiệp nhất không riêng biệt, và không thể thi thiết ba pháp này riêng biệt.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Diệt có sự đối ngại gì?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Diệt không có sự đối ngại.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, có năm căn với sở hành dị biệt[143], cảnh giới dị biệt, mỗi căn lãnh thọ cảnh giới riêng. Nhãn căn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân căn. Năm căn với sở hành dị biệt, cảnh giới dị biệt, mỗi căn tự lãnh thọ cảnh giới riêng. Vậy cái gì lãnh thọ tất cả cảnh giới cho chúng? Cái gì làm sở y cho chúng?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp rằng: “Năm căn với sở hành dị biệt, với cảnh giới dị biệt, mỗi căn lãnh thọ cảnh giới riêng. Nhãn căn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân căn. Năm căn này với sở hành riêng biệt, với cảnh giới riêng biệt, mỗi căn lãnh thọ cảnh giới riêng; ý lãnh thọ tất cả cảnh giới cho chúng. Ý làm sở y cho chúng.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Ý nương tựa vào đâu mà tồn tại?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Ý nương tựa vào tuổi thọ mà tồn tại.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, tuổi thọ nương vào đâu mà tồn tại?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp rằng: “Tuổi thọ nương vào hơi ấm mà tồn tại.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, tuổi thọ và hơi ấm, hai pháp này hiệp nhất hay riêng biệt? Có thể thi thiết hai pháp này riêng biệt chăng?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Tuổi thọ và hơi ấm hai pháp này hiệp nhất không riêng biệt. Không thể cho rằng hai pháp này riêng biệt. [791c] Vì sao? Nhân tuổi thọ mà có hơi ấm; nhân hơi ấm mà có tuổi thọ. Nếu không có tuổi thọ thì không có hơi ấm, nếu không có hơi ấm thì không có tuổi thọ. Cũng như do dầu do bấc mà đốt được đèn; và ở đây do ngọn mà có ánh sáng, do ánh sáng mà có ngọn. Nếu không có ngọn thì không có ánh sáng, không có ánh sáng thì không có ngọn. Cũng vậy, nhân tuổi thọ mà có hơi ấm, nhân hơi ấm mà có tuổi thọ. Nếu không có tuổi thọ thì không có hơi ấm, không có hơi ấm thì không có tuổi thọ. Cho nên hai pháp này hiệp nhất không riêng biệt, và không thể cho rằng hai pháp này riêng biệt.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu pháp khi sanh thân chết rồi bỏ xác ngoài bãi tha ma như cây gỗ vô tình?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Có ba pháp khi sanh thân chết rồi bỏ xác ngoài bãi tha ma như cây gỗ vô tình. Những gì là ba? Một là tuổi thọ, hai là hơi ấm, ba là thức. Ba pháp này sau khi sanh thân chết rồi, bỏ xác ngoài bãi tha ma như cây gỗ vô tình.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, chết và nhập diệt tận định khác nhau như thế nào?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Chết là thọ mạng đã diệt, hơi nóng ấm đã đi, các căn tan rã. Tỳ-kheo nhập diệt tận định, tuổi thọ chưa hết, hơi ấm cũng chưa đi, các căn chưa tan rã. Chết và nhập diệt tận định khác nhau như vậy.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, nhập diệt tận định và nhập vô tưởng định khác nhau như thế nào?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Tỳ-kheo nhập diệt tận định thì tưởng và tri đã diệt. Tỳ-kheo nhập vô tưởng định thì tưởng và tri không diệt. Nhập diệt tận định và nhập vô tưởng định khác nhau như vậy.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, ra khỏi diệt tận định và ra khỏi vô tưởng định, khác nhau như thế nào?” [792a] Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Tỳ-kheo ra khỏi diệt tận định không nghĩ như vầy, ‘Ta ra khỏi diệt tận định.’ Tỳ-kheo ra khỏi vô tưởng định suy nghĩ như vầy, ‘Ta có tưởng hay ta không có tưởng?’ Ra khỏi diệt tận định và vô tưởng định khác nhau như vậy.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, Tỳ-kheo nhập diệt tận định trước hết diệt pháp nào, thân hành, khẩu hành hay ý hành?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Tỳ-kheo nhập diệt tận định trước hết diệt thân hành, kế đến khẩu hành và sau hết là ý hành.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, Tỳ-kheo ra khỏi diệt tận định, pháp nào phát sanh trước hết? Thân hành, khẩu hành hay ý hành?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Tỳ-kheo ra khỏi diệt tận định, trước hết sanh thân hành, kế đến sanh khẩu hành và sau cùng sanh ý hành.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Tỳ-kheo khi ra khỏi diệt tận định, xúc bao nhiêu loại xúc?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Tỳ-kheo ra khỏi diệt tận định, xúc ba loại xúc. Những gì là ba? Một là xúc không di động; hai là xúc vô sở hữu; ba là xúc vô tướng. Tỳ-kheo khi ra khỏi diệt tận định xúc ba loại xúc này.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, không, vô nguyện, vô tướng, ba pháp này khác nhau về nghĩa, về văn? Hay cùng một nghĩa một văn?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Không, vô nguyện, vô tướng, ba pháp này khác nghĩa, khác văn.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên phát sanh bất động định[144]?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Có bốn nhân, bốn duyên [792b] phát sanh bất động định. Những gì là bốn? Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, cho đến chứng đắc Tứ thiền thành tựu an trụ. Đó gọi là bốn nhân bốn duyên phát sanh bất động định.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên phát sanh vô sở hữu định?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Có ba nhân, ba duyên phát sanh vô sở hữu định. Những gì là ba? Tỳ-kheo vượt tất cả sắc tưởng cho đến chứng đắc vô sở hữu xứ thành tựu an trụ. Đó gọi là ba nhân ba duyên phát sanh vô sở hữu định.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên phát sanh vô tưởng định[145]?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Có hai nhân, hai duyên phát sanh vô tưởng định. Những gì là hai? Một là không suy niệm tất cả mọi tưởng,[146] hai là suy niệm vô tưởng giới.[147] Đó gọi là có hai nhân, hai duyên phát sanh vô tưởng định.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên trụ vô tưởng định?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Có hai nhân, hai duyên trụ vô tưởng định. Những gì là hai? Một là không niệm tất cả tưởng, hai là niệm vô tưởng giới. Đó là hai nhân duyên hai duyên trụ vô tưởng định.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.” Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: “Hiền giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân bao nhiêu duyên ra khỏi vô tưởng định?” Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp: “Có ba nhân ba duyên ra khỏi vô tưởng định. Những gì là ba? Một là niệm tất cả tưởng; hai là không niệm vô tưởng giới; ba là do thân này và do sáu xứ duyên mạng căn. Đó gọi là có ba nhân, ba duyên ra khỏi vô tưởng định.” Như vậy, hai vị Tôn giả tán thán lẫn nhau rằng: “Lành thay! Lành thay!” và những điều được thảo luận đó, hoan hỷ phụng hành, rồi rời khỏi chỗ ngồi đứng dậy mà đi.[148] [81] Khổng tước lâm Dị học viên 孔雀林異學園, khu vườn cho các du sĩ, rừng nuôi công. M 77: Moranivāpa paribbājakārāma. [82] Tiễn Mao 箭 毛. M 77: Sakuḷudāyi, và kể thêm tên hai du sĩ khác: Varadhara, Anugāra. [83] Súc sanh luận 畜 生 論. Pāli: tiracchāna-kathā, đề tài phiếm, vô ích. Đoạn kế kể các đề tài được nói là súc sanh luận. [84] Ưu-đà-di 優 陀 夷, tức tên gọi lược của Tiễn Mao; xem cht.3 trên. Pāli: Udāyi. [85] Học đường 學 堂. Pāli: Kutūhalasāla, nghị luận đường; chỉ nơi xảy ra cuộc thảo luận. [86] Ương-già Ma-kiệt-đà 鴦 伽 摩 竭 陀. Pāli: Aṅga-Magadhā, lúc này hai nước đang liên minh chính trị nên gọi chung như vậy. [87] Chúng đại phước điền: những người là ruộng phước lớn, thường chỉ chúng Tỳ-kheo, nhưng ở đây cũng chỉ cho nhóm ngoại đạo khác. [88] Phất-lan Ca-diếp, Pāli: Pūrāṇa-Kassapa và năm vị kế tiếp: Makkhali-Gosāla. Sañjaya-Belaṭṭhiputta, Nigaṇṭha-Nātaputta, Pakudha-Kaccāyana, được mệnh danh là Lục sư ngoại đạo. Về chủ trương của họ, xem kinh Sa-môn quả, No.1 (27) và D. 2. [89] Yến tọa, ngồi nghỉ ngơi chỗ thanh vắng. [90] Để bản: Thánh lực 聖 力. TNM: Thánh đao 聖 刀. [91] Bệ-la thực 鞞 羅 食. Pāli: veḷuvāhāra, thức ăn bằng trái cây veḷuva, một loại dưa (tên khoa học Aegle marmelos). [92] Câu-tha thực 拘拖食, kosāhāra, một bát cơm. [93] Pháp thanh tịnh, đây chỉ Giới bổn Tỳ-kheo, Pāli: pātimokkhuddesāya, để tụng giới bổn Pātimokkha. [94] Vô thượng giới 無上戒. Pāli: adhisīla, tăng thượng giới. [95] Vô thượng trí tuệ 無上智慧. Pāli: adhipaññā, tăng thượng tuệ. [96] Vô thượng tri kiến 無上知見. Pāli: abhikkāntañāṇadassana, tri kiến siêu việt. [97] Toàn cả đoạn trên, giống kinh 208. [98] Tát-vân-nhiên 薩云然; Pāli: sabaññu, vị Nhất thiết trí; vị tòan trí. [99] Phiêu phong quỷ 飄 風 鬼; Pāli: Paṃsupisācaka, “quỷ bùn”, môt loại tì-xá-xà. [100] M 79 (ii. 32): ayaṃ paramo vaṇṇo ayaṃ paramo vaṇṇo ti, “sắc này là tối thượng, sắc này là tối thượng”. Sắc (vaṇṇa) ở đây có nghĩa màu sắc hay màu da. [101] Thế Tôn, hối quá thử thuyết. Pāli: acchidaṃ Bhagavā kathaṃ, Thế Tôn đã cắt đứt vấn đề. [102] Hậu thế nhất hướng lạc 後 世 一向 樂. Chỉ thuần có lạc, không có khổ. M 79: atthi ekantasukho loko. [103] Nhất hướng tác thế chứng. Cf. M 79: ekantasukhassa lokassa sacchkiriyāya, để chứng nghiệm thế giới thuần túy lạc. [104] Tạp khổ 雜 苦. Pāli: sukhadukkhī, vừa sướng vừa khổ. [105] Tì-ma-na-tu 鞞摩那修. No.90 Tì-ma-túc 鞞摩肅. M 80: Vekhanassa paribbājaka. Sớ giải: thầy của Sakuludāyi. Sau khi Sakuludāyi bị khuất phục bởi Phật (xem kinh 208 trên) ông thân hành đến tìm hiểu sự thật. [106] Tối sắc 最色; No.90: Hình sắc cực vô thượng diệu 形色極無上妙. M 80 (ii.40): paramo vaṇṇo, “màu sắc là trên hết”. Xem kinh 208 trên. [107] Ca-chiên 迦 旃. Pāli: Kaccana, họ của Vekhanassa. [108] No 90: diêm-phù-đàn kim 閻浮檀金. [109] Thái bạch tinh 太白. Pl. Osadhi. [110] Ngũ dục công đức 五欲功德. No.90: ngũ tánh dục. Pāli: pañca kāmagunā. [111] No.90: Cận dâm, nhiễm trước 近婬染著. Pāli: kāmūpasamhitā rajanīyā. [112] Dục lạc, dục lạc đệ nhất 欲樂欲樂第一. M 90: yaṃ kho ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ idaṃ vuccati kāmasukhaṃ. iti kāmehi kāmasukham; kāmasukhā kāmaggasukham tattha aggam akkhayāti, “Lạc và hỷ nào do duyên trên năn dục công đức mà sanh khởi, nó được gọi là dục lạc. Đó là, lạc do bởi các dục, từ lạc do dục, lạc do dục tối thượng ấy ở đây được nói là tối thượng.” [113] Dị kiến dị nhẫn dị lạc dị dục dị ý 異見異忍異樂異欲異意. Pāli, thành cú: aññadiṭṭhena aññakhantikena aññarucikena aññatrayogena aññatrācariyakena, do quan điểm dị biệt, tin tưởng dị biệt, sở thích dị biệt, sở hành dị biệt, tông sư dị biệt. [114] Bản Hán, hết quyển 57. [115] Pāli tương đương, M 44: tại Rājagaha, Veḷuvana, Kalandakanivāpa. [116] Tì-xá-khư Ưu-bà-di 毗舍佉優婆夷. M 44: Visākho upāsako, nam cư sĩ Visākha; chứ không phải nữ cư sĩ Visākha. [117] Pháp Lạc Tỳ-kheo-ni 法樂比丘尼. Pāli: Dhammadinnā bhikkhunī. Bà được xếp vào hàng những Tỳ-kheo-ni có tài biện thuyết. Sớ giải: trước kia bà là vợ của Visākha ở Rājigaha. Bản chữ Hán có thể nhầm Visākha này với Visākā, một nữ cư sĩ hộ đạo nhiệt thành ngang Cấp Cô Độc. [118] Nguyên Hán:Hiền Thánh 賢聖. Pāli: ayye. [119] Tự thân 有 身. Pāli: sakkāya, hữu thân, hay “tát-ca-da”. [120] Ngũ thạnh ấm五盛陰. Pāli: pañca upādānakkhandhā. [121] Tự thân kiến 自身見. Pāli: sakkāya-diṭṭhi. [122] Bất ngự Thánh pháp 不御聖法. Pāli: ariyadhamme avinīto, người không được chế ngự trong Thánh pháp. [123] Hán: thần 神. Pāli, thành cú: rūpam attato samanupassati, rūpavantaṃ vā attānaṃ, attani vā rūpaṃ, rūpasmiṃ vā attānaṃ, thấy sắc là tự ngã, tạ ngã có sắc, sắc trong tự ngã, tự ngã trong sắc. [124] Hán: hữu thọ 有受. [125] Giác, quán, hỷ, lạc, nhất tâm. Pāli: vitakka, vicāra, pīti, sukha, cittekaggatā. [126] Đoạn 斷, theo trả lời đây là định. Pāli: samādhi (định), samādhinimittā (định tướng), samādhiparikkhāra (định lực, định công hay tư trợ, tư cụ của định), samādhibhavana (định tu tập, tu định). [127] Đắc nhất 得 一 : tâm nhất cảnh tánh, tâm nhất thú tánh. Pāli: ekaggatā, sự tập trung trên một điểm. [128] Tưởng tri 想 知, hay tưởng và thọ. Pāli: saññā-vedayita. [129] Hán: giác 受, tức thọ, hay cảm thọ. Pāli: vedanā. [130] Hán: cánh lạc 更 樂. Pāli: phassa. [131] Lạc cánh lạc sở xúc sanh 樂更樂所觸生. [132] Sử 使, kết sử, tức tùy miên. Pāli: anusaya. [133] Dục sử 欲 使,: tham tùy miên. Pāli: rāgānusaya. [134] Nhuế sử 恚 使: sân tùy miên. Pāli: paṭighānusaya. [135] Vô minh sử 無 明 使: vô minh tùy miên. Pāli: avijjānusaya. [136] Hán: quân 君. Có thể nam, có thể nữ. Có sự bất nhất về phái tính nhân vật trong bản Hán. Pāli: avuso (nam tính). [137] Đại Câu-hy-la 摩訶拘絺羅. Pāli: Mahā-Koṭṭthika. [138] Thức thức, thị cố thuyết thức 識識是故說識. Pāli: vijānāti vijānātī’ti kho āvuso tasmā viññāṇan ti vuccati, nó nhận biết, nó nhận biết, nên nó được gọi là thức. [139] Pāli: labbhā ca panimesaṃ dhammānaṃ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṃ paññāpetun ti, có thể chăng sau khi phân tích, rồi phân tích các pháp này mà giả thiết hành tướng sai biệt của chúng? [140] Pāli: paññā kho āvuso abhiññatthā pariññatthā pahānatthā ti, trí tuệ có nghĩa thắng tri, có nghĩa biến tri, có nghĩa đoạn trừ. [141] Năm chi: chân đế 真諦, giới 戒, bác văn 博聞, chỉ 止, quán 觀. Pl.: sīla (giới), suta (văn), sākacchā (luận nghji), samatha (chỉ), vipassana (quán). Pāli sākacchā (luận nghị) trong bản hán được đọc là sacca (sự thật). [142] Sanh đương lai hữu 生當來有. Pāli: āyatiṃ punabbhavābhimibbatti, sự tái sanh xảy ra trong tương lai. [143] Hành dị 行 異. Pāli: nānāgocarāni, có môi trường hoạt động sai biệt, sai biệt sở hành cảnh giới. [144] Bất di động định , định không di động不移動定. [145] Vô tưởng định 無想定. Pl. animittā cetosamādhi, vô tướng tâm định. [146] Nhất thếit tưởng 一切想. Pl.: sabbanimittaṃ, nhất thiết tướng. [147] Vô tưởng giới 無想界. Pl.: animittā dhātu. [148] Bản Hán, hết quyển 58. |
|
Ban Tu Thư Phật Học |