維 摩 詰 所 說

KINH DUY-MA-CẬT SỞ THUYẾT

Bản dịch Việt Tuệ Sỹ

CHƯƠNG MỘT
QUỐC ĐỘ PHẬT[1]

 

Tôi nghe như vậy.

Một thời, Phật ở trong vườn Am-la[1] trong thành Tỳ-da-ly[2] cùng với đại chúng gồm tám ngàn Tỳ-kheo,[3] ba mươi hai ngàn Bồ-tát, là những vị được mọi người biết đến,[4] đã thành tựu bản hạnh của đại trí,[5] đã được xác lập bởi oai thần của chư Phật, là thành trì hộ Pháp, thọ trì Chính Pháp,[6] có khả năng cất tiếng rống của sư tử vang dội khắp mười phương, là những người bạn không đợi mời gọi của mọi người, đem an lạc đến cho mọi người, kế thừa và làm rạng rỡ Tam bảo không để đoạn tuyệt, hàng phục bọn ma và thù nghịch,[7] chế ngự các tà đạo; đã hoàn toàn thanh tịnh; vĩnh viễn lìa các cái và triền;[8] tâm thường an trụ nơi giải thoát không còn các chướng ngại; có niệm, định, tổng trì, biện tài không gián đoạn; bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, định và tuệ, cùng khả năng của phương tiện,[9] tất cả đều được thành tựu; đạt đến pháp nhẫn bất khởi vốn vô sở đắc.[10] Các ngài có thể tùy thuận mà quay bánh xe không thối chuyển;[11] có khả năng giải thích mọi hiện tượng;[12] biết rõ căn tính của mọi chúng sinh, bao trùm cả đại chúng[13] mà đắc pháp vô úy.[14] Các ngài tu dưỡng tâm bằng công đức và trí tuệ, lấy đó điểm trang cho thân tướng thù thắng, vứt bỏ mọi thứ trang sức thế gian. Thanh danh lồng lộng của các ngài cao hơn núi Tu-di.[15] Tín tâm của các ngài thâm sâu[16] kiên cố như kim cương. Bảo vật chính Pháp của các ngài lấp lánh soi rọi, và tuôn xuống những trận mưa cam lộ.[17] Âm thanh của các ngài vi diệu bậc nhất trong mọi thứ âm thanh. Các ngài thâm nhập duyên khởi, đoạn trừ các tà kiến, không còn tập khí tàn dư của hai biên kiến hữu và vô.[18] Các ngài tuyên dương chính Pháp một cách không sợ hãi như sư tử gầm rống; những điều được thuyết giảng vang dội như sấm. Không thể đánh giá các ngài vì các ngài vượt ngoài sự đánh giá.[19] Các ngài tích lũy kho tàng Chính Pháp như những thuyền trưởng trên biển cả.[20] Các ngài tinh thông nghĩa lý thâm diệu của các Pháp; hiểu rõ chỗ đi và đích đến của chúng sinh[21] cũng như các sở hành của tâm tư của chúng. Các ngài đã đạt gần trí tuệ tự tại của chư Phật,[22] sở đắc mười lực,[23] vô úy,[24] và mười tám bất cộng.[25] Tuy đã đóng chặt cánh cửa dẫn xuống các cõi bất hạnh,[26] các ngài vẫn hiện thân trong năm đường làm vị đại lương y để điều trị các thứ bệnh, theo bệnh mà cho thuốc khiến cho bình phục; thành tựu vô biên công đức, trang hoàng vô lượng cảnh giới chư Phật. Mỗi chúng sinh đều được lợi ích lớn khi nhìn thấy và được nghe các ngài, vì hànhvi của các ngài đều không vô ích. Các ngài đã thành tựu đầy đủ công đức như vậy.

Danh xưng của các ngài là: Đẳng Quán Bồ-tát,[27] Bất Đẳng Quán Bồ-tát,[28] Đẳng Bất Đẳng Quán Bồ-tát,[29] Định Tự Tại Vương Bồ-tát,[30] Pháp Tự Tại Vương Bồ-tát,[31] Pháp Tướng Bồ-tát,[32] Quang Tướng Bồ-tát,[33] Quang Nghiêm Bồ-tát,[34] Đại Nghiêm Bồ-tát,[35] Bảo Tích Bồ-tát,[36] Biện Tích Bồ-tát,[37] Bảo Thủ Bồ-tát,[38] Bảo Ấn Thủ Bồ-tát,[39] Thường Cử Thủ Bồ-tát,[40] Thường Hạ Thủ Bồ-tát,[41] Thường Thảm Bồ-tát,[42] Hỷ Căn Bồ-tát,[43] Hỷ Vương Bồ-tát,[44] Biện Âm Bồ-tát,[45] Hư Không Tạng Bồ-tát,[46] Chấp Bảo Cự Bồ-tát,[47] Bảo Dõng Bồ-tát,[48] Bảo Kiến Bồ-tát,[49] Đế Võng Bồ-tát,[50] Minh Võng Bồ-tát,[51] Vô Duyên Quán Bồ-tát,[52] Huệ Tích Bồ-tát,[53] Bảo Thắng Bồ-tát,[54] Thiên Vương Bồ-tát,[55] Hoại Ma Bồ-tát,[56] Điện Đức Bồ-tát,[57] Tự Tại Vương Bồ-tát,[58] Công Đức Tướng Nghiêm Bồ-tát,[59] Sư Tử Hống Bồ-tát,[60] Lôi Âm Bồ-tát,[61] Sơn Tương Kích Âm Bồ-tát,[62] Hương Tượng Bồ-tát,[63] Bạch Hương Tượng Bồ-tát,[64] Thường Tinh Tấn Bồ-tát,[65] Bất Hưu Tức Bồ-tát,[66] Diệu Sinh Bồ-tát,[67] Hoa Nghiêm Bồ-tát,[68] Quán Thế Âm Bồ-tát,[69] Đắc Đại Thế Bồ-tát,[70] Phạm Võng Bồ-tát,[71] Bảo Trượng Bồ-tát,[72] Vô Thắng Bồ-tát,[73] Nghiêm Độ Bồ-tát,[74] Kim Kế Bồ-tát,[75] Châu Kế Bồ-tát,[76] Di-lặc Bồ-tát,[77] Văn-thù-sư-lợi Pháp vương Tử Bồ-tát.[78] Cả thảy là ba mươi hai ngàn vị như vậy.

Ngoài ra còn có mười ngàn Phạm thiên,[79] như Đại Phạm thiên Thi-khí,[80] từ nhiều cõi bốn thiên hạ khác[81] về chỗ Phật để nghe Pháp.

Có mười hai ngàn Thiên đế cũng từ nhiều cõi bốn thiên hạ khác về dự hội.

Và các loài có đại-oai-lực khác như Chư thiên, Long thần, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la và Ma-hầu-la-già cũng về dự.

Về dự hội còn có nhiều tì kheo, tì kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di.

Bấy giờ Phật nói pháp cho vô lượng trăm nghìn đại chúng đang cung kính vây quanh. Như ngọn núi Tu-di[82] nổi lên giữa đại dương, Phật ngồi ung dung trên tòa sư tử bằng các loại trân bảo,[83] chói lọi che trùm tất cả các đại chúng đang đến.

Lúc bấy giờ con trai của một vị trưởng giả, tên Bảo Tích,[84] cùng với năm trăm người con của các trưởng giả[85] khác cầm năm trăm tán lọng được trang hoàng bằng bảy loại ngọc quí, đi đến chỗ Phật, đầu mặt lễ sát chân Phật, rồi mỗi người dâng tàn lọng ấy cúng dường Phât. Do thần lực siêu việt của Phật, tất cả số tán lọng đó tập hợp thành một cái duy nhất che rợp cả ba nghìn đại thiên thế giới. Chiều kích dài rộng của các thế giới này thảy đều ánh hiện trong đó. Và trong ba nghìn đại thiên thế giới này, hết thảy núi Tu-di, núi Tuyết,[86] núi Mục-chân-lân-dà, núi Ma-ha-mục-chân-lân-đà,[87] Hương sơn, Bảo sơn, Hắc sơn,[88] núi Thiết vi, núi Đại Thiết vi,[89] cùng với biển, sông, suối, mặt trời, mặt trăng, các vì tinh tú, cung điện chư thiên, cung điện các rồng, cung điện các tôn thần; tất cả đều ánh hiện trong lọng báu. Và khắp trong mười phương, chư Phật, và chư Phật đang thuyết pháp cũng thảy đều ánh hiện trong đó.

Khi đại chúng được chứng kiến thần lực của Phật, đều tán dương sự kiện hy hữu chưa từng thấy, cùng chắp tay lễ Phật và chiêm ngưỡng tôn nhan không rời mắt.

Rồi thì, Bảo Tích, con trai của trưởng giả, đến trước Phật, đọc bài kệ ca ngợi:

Con kính đảnh lễ Ngài,

Vị dẫn đạo chúng sinh bằng con đường tịch tĩnh.[90]

Mắt trong vắt, dài rộng như sen xanh;

Tâm tịnh, đã vượt qua các thiền định;[91]

Lâu dài tích chứa nghiệp thanh tịnh,

Danh xưng không thể lường;[92]

Đã thấy Đại Thánh, bằng thần biến,[93]

Hiện khắp mười phương vô lượng cõi;

Trong đó, chư Phật diễn nói Pháp;

Hết thảy hội chúng đều thấy nghe.

Pháp lực Pháp vương siêu quần sinh;

Ban tài sản Pháp ban cho tất cả.[94]

Khéo hay phân biệt các pháp tướng,

Mà đệ nhất nghĩa chẳng dao động;[95]

Vị đã được tự tại trong các pháp;

Nên con đảnh lễ Pháp vương này.[96]

Thuyết pháp hữu, không phi hữu;

Bởi do nhân duyên các pháp sinh.

Vô ngã, không tác, không người thọ.

Nhưng nghiệp thiện ác không hề mất.

Bắt đầu dưới cội bồ-đề đánh bại Ma,

Được cam lộ diệt,[97] thành giác đạo.[98]

Đã không tâm ý, không thọ hành,[99]

Mà lại chiết phục các ngoại đạo.[100]

Ba lần chuyển luân trong Đại thiên;

Pháp luân bản lai thường thanh tịnh,

Trời, người đắc đạo, do đây chứng;

Tam bảo do đó hiện thế gian.

Bằng Pháp mầu này cứu chúng sinh;

Đã thọ, không thối, thường tịch nhiên.[101]

Là bậc đại y vương diệt trừ lão, bệnh, tử.

Con đảnh lễ công đức vô biên của biển Pháp.

Chê, khen chẳng động,[102] như Tu-di;

Lòng từ trải rộng cho người hiền lẫn kẻ ác.[103]

Tâm hành bình đẳng như hư không,

Ai nghe mà không kính phục con người cao qúy[104] này?

Nay dâng Thế Tôn lọng hèn mọn,[105]

Trong đó, ánh hiện cho con Tam thiên giới;

Với cung điện Trời, rồng, quỷ thần,

Càn-thát-bà lẫn của Dạ-xoa;

Và hết thảy mọi vật trên thế gian.

Đấng Mười lực từ tâm hiện biến hóa;

Đại chúng thấy việc hy hữu, tán thán Phật.

Nay con đảnh lễ đấng Chí tôn trong ba cõi.

Đại chúng quy ngưỡng Đại Pháp vương,

Tâm tịnh, quán Phật, ai cũng vui.

Mỗi người tự thấy Phật trước mặt;

Ấy do thần lực pháp bất cộng.[106]

Phật bằng một âm diễn thuyết Pháp;

Chúng sinh tùy loại đều hiểu được;

Đều nói Thế tôn cùng tiếng của mình;

Ấy do thần lực pháp bất cộng.

Phật bằng một âm diễn thuyết Pháp;

Chúng sinh mỗi mỗi theo chỗ hiểu,

Đều được thọ hành, đại lợi ích;[107]

Ấy do thần lực pháp bất cộng.[108]

Phật bằng một âm diễn thuyết Pháp;

Có kẻ nghe sợ, có kẻ vui,

Có kẻ chán bỏ, kẻ hết nghi;

Ấy do thần lực pháp bất cộng.

 

Cúi lạy đấng Mười lực, Đại tinh tấn;

Cúi lạy đấng đã đạt vô sở úy;

Đảnh lễ bậc trụ pháp Bất cộng;

Đảnh lễ Đại đạo sư của tất cả;

Đảnh lễ đấng dứt mọi trói buộc;[109]

Đảnh lễ đấng đến bờ bên kia;

Đảnh lễ đấng cứu độ thế gian;

Đảnh lễ đấng thoát vòng sinh tử.

Biết lẽ đến, đi của chúng sinh,[110]

Thâm nhập vạn pháp, được giải thoát,

Không vướng thế gian, như hoa sen,

Thường khéo thâm nhập hạnh Không tịch,

Thấu đạt pháp tướng không trở ngại;

Cúi lạy đấng vô sở y như hư không.[111]

Đọc kệ xong, Bảo Tích thưa với Phật:

“Bạch Thế tôn, năm trăm người con của các trưởng giả[112] này đã phát tâm tầm cầu giác ngộ tối thượng chính đẳng chính giác, nguyện được nghe[113] sự thanh tịnh của quốc độ Phật. Xin Thế tôn chỉ dạy chúng con những hành tướng tịnh độ của Bồ-tát.”[114]

Phật bảo:

“Lành thay, Bảo Tích! Con đã vì chư Bồ-tát hỏi Như Lai những hành tướng thanh tịnh của quốc độ Phật. Hãy lắng nghe và suy nghĩ. Ta sẽ nói cho con nghe.”

Bảo Tích và năm trăm thanh niên trưởng giả chăm chú nghe. Phật dạy:

“Bảo Tích, loại của chúng sinh là quốc độ Phật của Bồ-tát.[115] Vì sao như vậy? Vì Bồ-tát tùy theo loại chúng sinh được giáo hóa[116] mà tiếp nhận quốc độ Phật;[117] tùy theo loại chúng sinh được điều phục[118] mà tiếp nhận quốc độ Phật; tùy theo loại quốc độ nào thích hợp để chúng sinh thâm nhập trí của Phật mà tiếp nhận quốc độ Phật; tùy theo loại quốc độ nào thích hợp để chúng sinh làm chỗi dậy căn tính của Bồ-tát[119] mà tiếp nhận quốc độ Phật. Là vì sao? Vì Bồ-tát tiếp nhận quốc độ thanh tịnh chỉ vì lợi ích của chúng sinh. Ví như một người có thể xây dựng đền đài nhà cửa trên khoảng đất trống, tùy ý không trở ngại; nhưng không thể xây dựng như vậy ở giữa hư không. Cũng vậy,[120] Bồ-tát vì muốn thành tựu chúng sinh mà ước nguyện tiếp nhận quốc độ Phật. Ước nguyện tiếp nhận quốc độ Phật không thể tìm thấy giữa hư không.

“Bảo Tích, con nên biết, trực tâm[121] là tịnh độ của Bồ-tát.[122] Khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh không dua vạy sẽ tái sinh vào đó.

“Thâm tâm là tịnh độ của Bồ-tát.[123] Khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh nào có đủ đầy công đức sẽ tái sinh vào đó.

“Bồ-đề tâm là tịnh độ của Bồ-tát.[124] Khi Bồ-tát thành Phật, hết thảy chúng sinh tầm cầu Đại thừa sẽ tái sinh vào cõi đó.

”Bố thí là tịnh độ của Bồ-tát.[125] Khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh nào có thể ban phát sẽ tái sinh vào đó.

“Trì giới là tịnh độ của Bồ-tát.[126] Khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh tu hành mãn nguyện mười thiện nghiệp đạo sẽ tái sinh vào đó.

“Nhẫn nhục là tịnh độ của Bồ-tát.[127] Khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh nào trang nghiêm bằng ba mươi hai tướng tốt sẽ tái sinh vào đó.

“Tinh tấn là tịnh độ của Bồ-tát.[128] Khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh nào cần mẫn thực hiện mọi công đức sẽ tái sinh vào đó.

“Thiền định là tịnh độ của Bồ-tát.[129] Khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh nào nhiếp tâm không tán loạn sẽ tái sinh vào đó.

“Trí tuệ là tịnh độ của Bồ-tát.[130] Khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh có chính định[131] sẽ tái sinh vào đó.

“Bốn vô lượng tâm[132] là tịnh độ của Bồ-tát. Khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh nào thành tựu từ, bi, hỷ, xả sẽ tái sinh vào đó.

“Bốn nhiếp pháp[133] là tịnh độ của Bồ-tát. Khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh nào được nhiếp thọ bởi giải thoát sẽ tái sinh vào đó.[134]

“Phương tiện là tịnh độ của Bồ-tát.[135] Khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh nào biết diệu dụng phương tiện một cách vô ngại đối với hết thảy các pháp sẽ tái sinh vào đó.

“Ba mươi bảy đạo phẩm[136] là tịnh độ của Bồ-tát. Khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh có đủ niệm xứ, chính cần, thần túc, căn, giác chi, và chính đạo, sẽ tái sinh vào đó.

“Tâm hồi hướng[137] là tịnh độ của Bồ-tát. Khi Bồ-tát thành Phật, quốc độ sẽ trang nghiêm đầy đủ công đức cao quí.

“Diễn thuyết để diệt trừ tám nạn[138] là tịnh độ của Bồ-tát. Khi Bồ-tát thành Phật, quốc độ sẽ không có ba ác, tám nạn.

“Tự mình giữ giới, không phê bình người phá giới, là tịnh độ của Bồ-tát. Khi Bồ-tát thành Phật, quốc độ không nghe danh từ phạm cấm.

“Mười thiện là tịnh độ của Bồ-tát.[139] Khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh tái sinh vào đó sẽ không yểu mạng, sẽ giàu có, sống phạm hạnh, nói lời chân xác, ngôn ngữ dịu dàng, quyến thuộc không ly tán vì khéo hòa giải tranh chấp; lời nói tất lợi lạc cho người, không đố kỵ, sân hận, giữ gìn chính kiến.

“Như vậy, Bảo Tích, tùy theo trực tâm ấy mà Bồ-tát mới có thể phát khởi hành.[140] Tùy theo sự phát khởi hành mà được thâm tâm. Tùy theo thâm tâm mà ý được điều phục tùy theo sự điều phục ý mà hành được như thuyết. Tùy theo hành như thuyết mà có thể hồi hướng. Tùy theo hồi hướng như vậy mà có thể diệu dụng các phương tiện. Thùy theo phương tiện thích hợp thành tựu chúng sinh. Tùy theo sự thành tựu chúng sinh mà quốc dộ Phật thanh tịnh. Tùy theo sự thanh tịnh của quốc độ mà thuyết Pháp thanh tịnh. Tùy theo sự thuyết pháp thanh tịnh mà trí tuệ thanh tịnh. Tùy theo trí tuệ thanh tịnh mà tâm thanh tịnh. Tùy theo tâm thanh tịnh mà hết thảy công đức đều thanh tịnh.[141]

“Cho nên, Bảo Tích, nếu Bồ-tát muốn làm thanh tịnh quốc độ, hãy làm thanh tịnh tự tâm. Tùy theo tâm tịnh mà Phật độ tịnh.”[142]

Bấy giờ, nương theo oai thần của Phật, Xá-lợi-phất chợt nghĩ: “Khi tâm của Bồ-tát thanh tịnh thì quốc độ Phật thanh tịnh. Vậy tâm của đức Thế tôn nguyên lai khi còn là Bồ-tát há không thanh tịnh hay sao mà quốc độ Phật này chẳng hề thanh tịnh?”

Phật biết ý nghĩ ấy, nói với Xá-lợi-phất:

“Ý ngươi nghĩ sao, mặt trời, mặt trăng há không tịnh chăng khi người mù chẳng thấy chúng?”

Xá-lợi-phất đáp:

“Bạch Thế tôn, đó là tại lỗi của người mù chứ không phải tại mặt trời mặt trăng.”

Phật nói:

“Này Xá-lợi-phất, do bởi tội của chúng sinh nên không thấy vẻ trang nghiêm thanh tịnh của quốc độ Phật; đó không phải do lỗi của Như Lai. Xá-lợi-phất, cõi đất này của Ta thanh tịnh nhưng ngươi không nhận thấy đó thôi.”

Khi ấy, Phạm thiên Loa Kế[143] nói với Xá-lợi-phất:

“Chớ nghĩ rằng quốc độ này không thanh tịnh. Vì sao? Vì tôi thấy quốc độ Phật Thích-ca thanh tịnh, chẳng khác gì cung điện của trời Tự Tại.[144]

Xá-lợi-phất bảo:

“Tôi thấy cõi này nào là gò nỗng, hầm hố, chông gai, đất đá, núi non, toàn là dơ bẩn.”

Phạm thiên bảo:

“Là vì tâm của Nhân giả có thấp có cao, chưa y theo tuệ của Phật, nên thấy cõi đất này bất tịnh. Xá-lợi-phất, vì Bồ-tát bình đẳng với hết thảy chúng sinh, thâm tâm thanh tịnh, nương theo trí tuệ của Phật, nên có thể nhìn thấy cõi Phật này thanh tịnh.”[145]

Bấy giờ, Phật ấn ngón chân của Ngài xuống đất. Thế giới ba nghìn đại thiên bỗng hóa rực rỡ với muôn vàn châu báu quí hiếm, trang nghiêm như cõi tịnh độ của Phật Bảo Trang Nghiêm,[146] được trang hoàng bằng vô lượng công đức mà hội chúng ca ngợi là chưa từng thấy. Hơn nữa, mọi người đều thấy mình được ngồi trên một tòa sen lộng lẫy.

Phật nói với Xá-lợi-phất:

“Ông hãy quán sát vẻ thuần tịnh trang nghiêm của quốc độ Phật này.”

Xá-lợi-phất thưa:

“ Vâng, bạch Thế tôn, đây là những gì con chưa từng thấy và nghe. Nay sự trang nghiêm thanh tịnh của quốc độ thảy đều hiện rõ.”

Bấy giờ Phật bảo Xá-lợi-phất:

“Cõi Phật này của Ta thường thanh tịnh như vậy. Nhưng hiển hiện vô lượng các thứ xấu xa uế tạp là để dẫn dắt những người căn trí thấp kém. Cũng giống chư thiên cùng ăn chung một bát bằng báu, tùy theo công đức của người ăn mà màu sắc thức ăn khác nhau.[147] Cho nên, Xá-lợi-phất, người có tâm thanh tịnh sẽ thấy đất này được trang hoàng bằng các công đức.”

Khi Phật hiển hiện toàn vẻ trang nghiêm thanh tịnh của quốc độ này, năm trăm người con của các trưởng giả cùng đi với Bảo Tích chứng vô sinh pháp nhẫn,[148] và tám mươi bốn ngàn người[149] phát tâm cầu vô thượng chính đẳng chính giác.

Phật thâu lại thần túc, tức thì thế giới trở về hiện trạng cũ. Ba mươi hai ngàn chư thiên và người từng mong cầu quả vị Thanh-văn, nhận biết các pháp hữu vi thảy đều vô thường,[150] dứt lìa những cáu bẩn trần lao, được sự minh tịnh của con mắt pháp. Tám ngàn tì kheo không còn chấp thủ[151] các pháp, dứt sạch các lậu, được ý giải thoát.[152]  

 


[1] Am-la thọ viên 菴羅樹園. Htr.. Am-la-vệ lâm 菴羅衛林. Ckh. Nại thị thọ viên 奈氏樹園. Skt. Āmrapālī-vana.

[2] Tì-da-ly 毘耶離. Ckh. Duy-da-li 維耶離. Htr.. Quảng nghiêm thành廣嚴城. Skt. Vaiśālī (Pali: Vesāli) thủ phủ của bộ tộc Licchavi. Huyền Trang, Đại Đường Tây vực ký, q.7 (T.2087, tr.908a28ff): “Vệ-xa-ly 吠舍釐… từ cung thành đi về phía tây bắc 5, 6 dặm có một ngôi tăng-già-lam… đông bắc già-lam 3 dặm có một ngôi tháp. Đó là nền nhà cũ của Tỳ-ma-la-cật 毘摩羅詰 (Vimalakīrti: Vô Cấu Xưng), có nhiều linh dị. Cách đó không xa, có một miếu thần, hình trạng như đống gạch. Truyền thuyết gọi là Đá dồn (Tích thạch), là chỗ trưởng giả Vô Cấu Xưng hiện bệnh, thuyết pháp. Cách đó không xa, có một ngôi tháp, là nhà cũ của trưởng giả Bảo Tích. Cách đó không xa có một ngôi tháp, là nhà cũ của Yêm-một-la nữ 菴沒羅女 (Āmrapālī). Di mẫu của Phật và các bí-sô-ni chứng nhập Niết-bàn ở đây.”

[3] Từ đây trở xuống, tán thán công đức các Bồ-tát tương đồng trong các bản Hán; không có đoạn tán thán phẩm đức các tỳ kheo Như trong VMK: sarvair arhadbhiḥ kṣīṇāśravair vaśībhūtaiḥ suvimukta-cittaiḥ suvimuktaprajñair ājāneyair mahānāgaiḥ kṛtakṛtyaiḥ kṛta-karaṇīyair apahṛtabhārair anuprāptasvakārthaiḥ parikṣīṇabhava-saṃyojnaiḥ samyagājñāsuvimuktacittaiḥsarva-ceto vaśiparama-pāramiprāptaiḥ, tất cả đều là A-la-hán mà các lậu đã diệt sạch, không còn phiền não, đã được tự chủ, tâm hoàn toàn giải thoát, tuệ hoàn toàn giải thoát, như đại long tượng thuần thục, đã làm xong những việc cần làm, không còn điều gì phải làm nữa, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của chính mình, hoàn toàn diệt tận các kết sử của hữu, tâm hoàn toàn giải thoát với chính trí, đã đạt đến chỗ siêu việt cứu cánh của tất cả sự tự chủ của tâm. Cf. Đại bát nhã (Huyền Trang), q. 1, T5n220, tr.1b9.

[4] Lth., chúng sở tri thức 眾所知識. Ckh., giai thần thông Bồ-tát 皆神通菩薩, đều là các Bồ-tát có thần thông. Htr., giai vi nhất thiết chúng vọng sở thức 皆為一切眾望所識. VKN, abhijñātābhijñātaiḥ,

[5] Ckh., nhất thiết đại thánh năng tùy tục hóa 一切大聖能隨俗化Htr..: đại thần thông nghiệp tu dĩ thành biện 大神通業修已成辦, đã hoàn thành sự nghiệp đại thần thông CDM.: Bản Phạn nói, thần thông trí tuệ bản sự dĩ tác 神通智慧本事已作 đã hoàn thành bản sự của thần thông trí tuệ. VKN, mahābhi-jñāparikarmaniryātaiḥ.

[6] Ckh., hộ trì Chính pháp 護持正法. Htr., năng nhiếp Chính pháp 能攝正法. VKN, saddharma-parigrāhakaiḥ.

[7] Hán: ma oán 魔怨, Skt. māra-pratyarthika.

[8] CDM. Triệu: cái , chỉ năm cái (5 thứ che lấp tuệ: tham dục, sân, hối-miên, điệu cử, nghi; Skt. pañca āvaraṇāni: rāga, pratigha, tyāna-middha, uddhatya-kaukṛtya), và triền , chỉ mười triền phược (10 thứ quấn chặt, tức 10 tùy phiền não). Htr..: chướng và cái triền 障及蓋. Skt. nivaraṇaparyutthāna.

[9] Htr., bố thí, điều phục, tịch tĩnh, thi-la, chính cần, tĩnh lự, bát-nhã, phương tiện thiện xảo, diệu nguyện, lực, trí, ba-la-mật-đa 布施調伏。寂靜尸羅安忍正勤靜慮般若方便善巧。妙願力智波羅蜜多. Ckh., bố thí, điều ý, tự tổn, giới, nhẫn, nhất tâm, trí tuệ, thiện quyền 布施調意自損戒忍精進一心智慧。善權. VKN: dānadamaniyamasaṃyamaśīlakṣāntivīryadgyānaprajñopāyaniryā-taiḥ.

[10] VKN: anupalaṃbhānutpattikadharmakṣāntisamanvāgataiḥ. CDM.: “Triệu nói, ..., có khả năng lãnh thọ thật tướng, nên nói là nhẫn.” VCS., dẫn Thanh Biện: “Theo thế tục, nói là hữu; theo thắng nghĩa, nó là không. Không, cho nên không có gì để nắm bắt (=vô sở đắc). Quán sát, pháp vốn là không, thì đâu có sự sinh khởi. Quán sát sự không sinh khởi này mà phát khởi quán trí để chấp nhận (= quán trí nhẫn); do đó, nói là vô sở đắc bất khởi pháp nhẫn.”

[11] Bất thối luân 不退輪; Lth..h. a-duy-việt trí pháp luân 阿惟越智法輪; VMK: avaivarttika-dharmacakrapravarttakaiḥ. Htr. tùy chuyển bất thối pháp luân 隨轉不退法輪.

[12] Thiện giải pháp tướng 善解法相; Htr..: đắc vô tướng diệu ấn 得無相妙印. VMK: alakṣaṇamudrā-mudritaḥ, được ghi dấu bằng dấu ấn vô tướng. VCS.: có hai loại diệu ấn, 1. có sai biệt, chỉ ba pháp ấn, chung cả Đại & Tiểu thừa: các hành vô thường, Niết-bàn tịch tĩnh, các pháp vô ngã; 2. diệu ấn không sai biệt: dấu ấn của các pháp là lý vô tướng.

[13] Cái chư đại chúng 蓋諸大眾; CDM., Thập nói: theo bản Phạn, đọc là chúng bất năng cái 眾不能蓋, đại chúng không thể che lấp. VMK: sarvaparṣadanabhibhūta. Htr..: nhất thiết đại chúng sở bất năng phục 一切 大眾所不能伏, không thể bị khuất phục bởi bất cứ chúng hội nào.

[14] vô sở úy 無所畏; Skt. vaiśāradya, sự không bối rối và sợ hãi trước đám đông, sự trầm tĩnh, tự tin trước đám đông. Có 4 vô sở úy của Bồ-tát (bodhisattvānāṃ catvāri vaiśāradyāni), và 4 vô sở úy của Phật (catvāri tathāgatasya vaiśrādyāni) khác nhau.

[15] Htr..: vượt trên cả Đế Thích (Skt. Śakradevānām Indra, Chúa tể các thiên thần). VMK: meruśikharābhyudgata.

[16] Thâm tín 深信. Htr..: ý lạc 意樂. Skt. āśaya, ý hướng cao thượng, xu hướng tinh thần/tâm linh cao thượng.