|
1. Lúc bấy giờ, Duy-ma-cật trong lòng
suy nghĩ, “Nay ta nằm bệnh; há đức Thế Tôn đại từ không rủ lòng thương
tưởng?”
Phật biết ý tưởng đó, nói với Xá-lợi-phất:
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Xá-lợi-phất đáp:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng để đi thăm
bệnh ông ấy. Vì sao vậy? Con nhớ lại, có lần, con đang ngồi tĩnh niệm
dưới tàn cây trong rừng,
Duy-ma-cật đến đó, và bảo con rằng,
‘Kính thưa
ngài Xá-lợi-phất, bất tất
ngồi như vậy mới là ngồi tĩnh niệm. Không hiện thân và ý
ở trong ba cõi, ấy mới là tĩnh tọa.
Hiện các oai nghi
mà vẫn không xuất khỏi diệt tận định, ấy mới là tĩnh tọa. Hiện thân làm
các việc phàm phu
mà không xả Đạo pháp,
ấy mới là tĩnh tọa. Tâm không trụ trong, không trụ ngoài, ấy mới là tĩnh
tọa. Không bị dao động trong các kiến chấp mà tu hành ba mươi bảy phẩm,
ấy mới là tĩnh tọa. Không đoạn trừ phiền não mà nhập Niết-bàn,
ấy mới là tĩnh tọa. Ngồi được như vậy, thì mới được Phật ấn khả.’
“Bấy giờ, bạch Thế tôn, khi nghe ông nói những lời
này, con ngồi im lặng, không trả lời được. Cho nên con không đủ khả năng
để đi thăm bệnh.”
2. Phật nói với Đại
Mục-kiền-liên:
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Mục-kiền-liên bạch Phật:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng để đi thăm
bệnh ông
ấy. Vì sao vậy? Con nhớ lại, có lần, khi con đang giảng pháp cho hàng
tục gia đệ tử trên đường phố thành Tỳ-da-ly, Duy-ma-cật đến bảo con
rằng, ‘Kính thưa ngài Đại Mục-liên, giảng pháp cho cư sĩ bạch y không
phải như Nhân giả đang thuyết. Thưa ngài, khi thuyết pháp, hãy như pháp
mà thuyết. Pháp không chúng sinh, vì xa lìa cáu bẩn của chúng sinh.
Pháp không thọ mạng,
vì xa lìa sinh tử. Pháp không có con người,
vì tiền tế và hậu tế đều cắt đứt. Pháp thường tịch nhiên, vì diệt các
tướng. Pháp lìa ngoài tướng, vì không sở duyên.
Pháp không ngôn thuyết, vì lìa giác quán.
Pháp không hình tướng, vì như hư không.
Pháp không hý luận vì rốt ráo không.
Pháp không ngã sở, vì lìa ngã sở. Pháp không phân biệt, vì lìa các thức.
Pháp không so sánh,
vì không tương đãi.
Pháp không thuộc nhân vì không ở trong duyên. Pháp đồng pháp tính, vì
nhập vào các pháp. Pháp đi theo Như
vì không có gì để đi theo. Pháp trụ thực tế, vì không động các biên.
Pháp không động dao, vì không y sáu trần. Pháp không đến đi vì thường
không trụ. Pháp thuận với Không, tùy theo vô tướng và ứng với vô tác.
Pháp lìa đẹp xấu. Pháp không tăng giảm. Pháp không sinh diệt.
Pháp không chỗ về. Pháp vượt qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm.
Pháp không cao thấp; thường trụ, bất động. Pháp lìa hết thảy quán hạnh.
“Kính thưa ngài Mục-liên, tướng của pháp như vậy,
làm sao diễn giảng? Thưa ngài, người thuyết pháp thì không diễn thuyết,
không khai thị. Ngời nghe thì không nghe, không sở đắc.
Như con người huyễn
giảng pháp cho người huyễn nghe. Ngài nên xác lập tâm ý này mà giảng
Pháp; cần phải hiểu rõ căn tính nhạy bén hay chậm lụt của chúng sinh;
tri kiến thiện xảo không có gì ngăn ngại; bằng tâm đại bi mà tán dương
Đại thừa; vì nhớ nghĩ báo đáp ân đức của Phật, không để Tam bảo đoạn
tuyệt; vì như vậy mà thuyết pháp.’
“Nghe Duy-ma-cật nói pháp này xong, tám trăm cư sĩ
đã phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Bạch Thế Tôn, con không có biện tài
như vậy, nên không đủ khả năng thăm đi bệnh.”
3. Phật nói với Ma-ha
Ca-diếp:
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Ma-ha Ca-diếp bạch Phật:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả
năng để đi thăm bệnh ông ấy. Vì sao vậy? Nhớ lại, có lần con đang khất
thực nơi xóm nghèo, Duy-ma-cật đến nói: ‘Kính thưa ngài Ma-ha Ca-diếp,
có tâm từ bi mà không rộng khắp, nên ngài bỏ nhà hào phú mà xin nhà bần
hàn.
“Thưa ngài Ca-diếp, an trụ nơi pháp
bình đẳng thì nên hành khất thực theo thứ lớp.
Vì sự không ăn,
cho nên cần phải hành khất thực. Vì để làm rã sự kết hợp
mà cầm lấy nắm thức ăn.
Vì không thọ nhận
mà nhận lấy thực phẩm của người kia.
Bằng ấn tượng về xóm hoang
mà đi vào xóm.
Nhìn sắc mà cũng đồng như mù. Nghe âm thanh cũng đồng như tiếng vọng.
Ngữi mùi thơm cũng đồng như gió thoảng. Nếm vị thức ăn, mà không phân
biệt. Tiếp thọ các xúc như trí chứng.
Biết các pháp đều là tướng như huyễn; không có tự tính, chẳng có tha
tính; từ xưa tự nó vốn không bốc chấy thì nay không lặng tắt.
“Ca-diếp nếu có thể không bỏ tám tà
mà nhập tám pháp giải thoát;
bằng tà tướng mà nhập Chính pháp;
bằng một miếng ăn
mà bố thí tất cả; cúng dường chư Phật và Hiền Thánh Tăng. Được vậy mới
nên ăn. Ăn như vậy không phải có phiền não
cũng không lìa phiền não, không nhập định ý
cũng không xuất khỏi định ý; không phải trụ thế gian
cũng không phải trụ Niết-bàn; ai thí cho,
công đức không nhiều cũng không ít, không vì thế mà thêm, không vì thế
mà bớt. Đó là cách chân chính đi vào Phật đạo, không nương Thanh-văn.
Thưa Ca-diếp, ăn như vậy mới là không ăn suông của người bố thí.’
“Bạch Thế tôn, khi nghe những lời
này, được điều chưa từng có này, trong con khởi niềm tôn kính sâu sắc
hết thảy chư Bồ-tát, và con nghĩ: ‘Con người có gia đình mà có thể có
trí tuệ biện tài như vậy, ai nghe mà không khởi tâm cầu giác ngộ?’ Từ đó
con thôi không khuyên người bằngThanh-văn hay Bích-chi-phật. Vì vậy cho
nên con biết mình không đủ khả năng đi thăm bệnh.”
4. Phật
lại bảo Tu-bồ-đề:
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Tu-bồ-đề bạch Phật:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả
năng để đi thăm bệnh ông ấy. Vì sao vậy? Nhớ lại, có lần con đến nhà ông
khất thực. Duy-ma-cật lấy bát
của con cho đầy cơm rồi bảo: ‘Thưa ngài Tu-bồ-đề, nếu đối với sự ăn mà
bình đẳng, thì đối với các pháp cũng bình đẳng. Các pháp bình đẳng thì
đối với sự ăn cũng bình đẳng. Hành khất thực như vậy mới đáng nhận thức
ăn.
“Thưa ngài Tu-bồ-đề, nếu có thể
không dứt trừ dâm dục, sân nộ, ngu si, mà cũng không cộng tồn với chúng;
không hoại nơi thân mà tùy nhất tướng;
không diệt si và ái
mà đạt được minh và giải thoát;
bằng tướng của năm tội đại nghịch mà được giải thoát, không được cởi,
không bị trói;
không thấy bốn Thánh đế, cũng không phải không thấy Thánh đế;
không phải đắc quả, không phải phàm phu, không phải lìa pháp phàm phu;
không phải Thánh nhân, không phải phi Thánh nhân; tuy thành tựu hết thảy
pháp mà vẫn xa lìa pháp tướng.
Có như thế mới đáng nhận thức ăn.
“Nếu Tu-bồ-đề không thấy Phật cũng
không nghe Pháp;
sáu đại sư ngoại đạo kia, là Phú-lan-na Ca-diệp, Mạt-già-lê Câu-xa-lê
Tử, San-xà-dạ Tỳ-la-chi Tử, A-kỳ-đa Sí-xá-khâm-bà-la, và Ni-kiền-đà
Nhã-đề Tử,
là Thầy của ngài; nhân họ mà ngài xuất gia. Nếu các vị Thầy ấy đọa lạc
thì ngài cũng đọa lạc theo. Như vậy ngài mới nên nhận thức ăn.
“Nếu Tu-bồ-đề đi vào các tà kiến,
không sang bờ bên kia;
trụ trong tám nạn chứ không thoát khỏi tám nạn;
đồng với phiền não,
xa rời pháp thanh tịnh; nếu ngài chứng đắc Vô tránh tam-muội
thì hết thảy chúng sinh cũng chứng đắc định ấy; những ai bố thí ngài,
không nói là gieo vào ruộng phước; những ai cúng dường ngài sẽ rơi vào
cõi dữ; ngài cùng bọn Ma nắm tay nhau làm bạn lữ trong trần lao;
ngài cùng với bọn Ma và các trần lao giống nhau không khác;
đối với hết thảy chúng sinh mà có tâm oán hận; báng bổ chư Phật, hủy
hoại chánh pháp, không nhập tăng số,
không được diệt độ.
Nếu được như vậy, ngài mới đáng nhận thức ăn.’
“Bạch Thưa Thế tôn, nghe những lời
này mà con hoang mang; không biết đó là ngôn ngữ gì; không biết phải trả
lời thế nào. Con bèn bỏ lại bình bát, định ra khỏi nhà. Duy-ma-cật kêu
lại: ‘Thưa ngài Tu-bồ-đề, hãy nhận lấy bình bát, chớ có sợ hãi.
Ngài nghĩ sao, nếu Như Lai khiến một hóa nhân
đến nạn vấn, khi ấy ngài có sợ chăng?’ Con đáp, ‘Không sợ.’ Duy-ma-cật
tiếp, ‘Hết thảy pháp đều là tướng như huyễn hóa.
Cho nên ở đây ngài không nên sợ hãi. Vì sao? Vì hết thảy ngôn thuyết đều
không xa lìa tướng ấy.
Cho đến, bậc trí không dính mắc văn tự, vì vậy chẳng có gì để sợ. Tại
sao? Tại vì lìa tự tính của văn tự, không có văn tự, đó là giải thoát.
Tướng của giải thoát, đó là các pháp.’
“Khi Duy-ma-cật nói xong pháp này,
hai trăm người con của chư thiên chứng được sự minh tịnh của pháp nhãn.
Vì thế con biết mình chưa đủ khả năng đi thăm ông.”
5. Phật lại bảo Phú-lâu-na
Di-đa-la-ni-tử:
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Phú-lâu-na thưa với Phật:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả
năng đến thăm bệnh ông ấy. Là vì, một hôm, trong rừng Đại lâm,
con đang thuyết pháp cho các tì kheo mới thọ giới, Duy-ma-cật chợt đến
và nói: ‘Thưa ngài Phú-lâu-na, trước tiên ngài nên nhập định để quán sát
tâm tính người này rồi mới nên giảng Pháp. Chớ để đồ ôi thiu trong bát
quí. Ngài nên hiểu rõ tâm niệm
của các tỳ kheo này chứ đừng nhầm lẫn pha lê với thủy tinh.
Nếu ngài chưa rõ căn nguyên của chúng sinh thì đừng nên phát khởi chúng
bằng pháp Tiểu thừa. Kia chưa bị lở lói, chớ làm họ trầy xước. Với người
muốn đi trên đường lớn đừng chỉ họ lối hẹp. Đừng trút biển cả trong dấu
lõm chân trâu; đừng ví ánh mặt trời với lửa đom đóm.
“Phú-lâu-na, các tì kheo này đã
phát tâm Đại thừa từ lâu nhưng nửa chừng quên mất. Sao ngài lại hướng
dẫn họ bằng pháp Tiểu thừa? Tôi thấy trí của Tiểu thừa nông cạn, như
người mù, không thể phân biệt căn tính bén nhạy hay chậm lụt của chúng
sinh.’
“Liền đó, Duy-ma-cật nhập tam-muội
khiến các tì kheo nhớ lại các đời trước, họ đã từng gặp năm trăm vị
Phật, gieo trồng gốc rễ công đức, hồi hướng tâm giác ngộ tối thượng;
khiến họ bỗng nhớ lại bản tâm. Khi ấy các Tỳ kheo liền cúi đầu lễ dưới
chân Duy-ma-cật. Nhân đó Duy-ma-cật thuyết pháp cho họ, khiến không còn
thối chuyển đối với vô thượng chính đẳng bồ-đề.
“Con nghĩ, hàng Thanh-văn chưa quán
sát rõ căn tính của người nghe
thì không nên thuyết Pháp.
Nên con thấy mình chưa đủ khả năng đến thăm bệnh ông.”
6. Phật
bảo Ma-ha Ca-chiên-diên:
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Ma-ha Ca-chiên-diên thưa:
“Bạch đức Thế tôn, con không đủ khả
năng đến thăm bệnh ông ấy. Vì có lần, sau khi Phật giảng các yếu nghĩa
của pháp cho các tỳ kheo, con đã theo đó giải thích cho các tì kheo
nghĩa vô thường, nghĩa khổ, nghĩa không, nghĩa vô ngã, và nghĩa tịch
diệt.
“Bấy giờ Duy-ma-cật đi dến và bảo
con rằng: ‘Thưa ngài Ma-ha Ca-chiên-diên, đừng lấy tâm hành sinh diệt mà
giải nghĩa pháp thật tướng. Ma-ha Ca-chiên-diên, các pháp rốt ráo không
sinh không diệt;
đó là nghĩa vô thường. Năm thủ uẩn rỗng suốt, trống không, không có gì
sinh khởi; là nghĩa của khổ. Các pháp rốt ráo không có gì; là nghĩa của
Không. Ngã và vô ngã không hai; là nghĩa vô ngã. Các pháp nguyên lai
không bùng cháy, nay chẳng có gì là dập tắt;
đó là nghĩa tịch diệt.’
“Duy-ma-cật nói xong, các tì kheo
hiện diện tâm được giải thoát.
Cho nên con thấy mình chưa đủ khả năng đến thăm bệnh ông.”
7.
Phật bèn nói với A-na-luật:
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
A-na-luật thưa:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đến thăm bệnh
ông ấy. Vì có lần con đang đi kinh hành,
một Phạm vương tên là Nghiêm Tịnh,
cùng mười ngàn chư thiên, hào quang chiếu rọi, đến gặp con, cúi chào và
hỏi: ‘Thiên nhãn của ngài nhìn xa đến đâu?’ Con
đáp: ‘Thưa Nhân giả, tôi nhìn thấy ba nghìn đại
thiên quốc độ của Phật Thích-ca-mâu-ni như trái am-ma-lặc
trong lòng bàn tay.’ Khi ấy Duy-ma-cật xuất hiện, nói rằng:
‘Thưa ngài A-na-luật, cái thấy bằng thiên nhãn
của ngài là có tướng tác hành hay không có tướng tác hành?
Giả sử có tướng tác hành, thì chẳng hơn hàng ngoại đạo đã tập thành năm
phép thần thông. Nếu không có tướng tác hành, thì đó là vô vi, không có
sự thấy.’
“Bạch Thế tôn, lúc ấy con lặng thinh không trả lời
được. Các Phạm thiên khi nghe những điều chưa từng nghe, liền làm lễ rồi
cung kính hỏi: ‘Vậy trên thế gian này ai có chân
thiên nhãn?’ Ông đáp: ‘Phật Thế Tôn có chân thiên
nhãn, vì thường trụ trong tam-muội,
nhìn thấy hết thảy cõi Phật không do bởi hai tướng.’
“Ngay lúc ấy, Phạm vương Nghiêm Tịnh và năm trăm
chư thiên quyến thuộc đã phát tâm vô thượng chính đẳng chính giác. Họ
cung kính đảnh lễ dưới chân Duy-ma-cật rồi biến mất. Đó là lý do con nói
mình chưa đủ khả năng để thăm bệnh ông.”
8. Phật bảo Ưu-ba-li:
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Ưu-ba-li thưa:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đến thăm bệnh
ông ấy. Vì sao? Con nhớ lại, xưa kia có hai tì kheo phạm giới, xấu hỗ
không dám đến hỏi Phật, đến nói với con: ‘Thưa
ngài Ưu-ba-li, chúng tôi đã phạm luật và rất hỗ thẹn vì tội này, không
dám đến hỏi Phật, xin hỏi ông cách sám hối để giũ sạch tội lỗi.’ Con bèn
theo như pháp maf giảng giải cho họ.
“Lúc ấy Duy-ma-cật đến nói với con:
‘Thưa ngài Ưu-ba-li, đừng làm nặng thêm tội của hai tỳ kheo này
mà hãy ngay thẳng trừ diệt, chớ làm rối loạn tâm của họ. Vì sao? Vì bản
chất tội không ở trong không ở ngoài,
cũng không ở giữa. Như Phật đã dạy, chúng sinh cáu bẩn vì tâm cáu bẩn;
nếu tâm trong sạch hết thảy đều trong sạch. Tâm cũng không ở trong không
ở ngoài, không ở giữa. Tâm như nhiên, tội cũng như nhiên; các pháp cũng
như nhiên, không vượt ngoài Như. Như ngài Ưu-ba-li, nếu tâm tướng
được giải thoát, há có cáu bẩn chăng?’ Con đáp: ‘Không.’
Ông ấy nói: ‘Cũng vậy, tâm tướng của chúng sinh
thảy đều vô cấu. Thưa ngài Ưu-ba-li, vọng tưởng là cáu bẩn; không vọng
tưởng là thanh tịnh.
Điên đảo là cáu bẩn; không còn điên đảo là thanh tịnh. Chấp ngã là cáu
bẩn; không chấp ngã là thanh tịnh. Ưu-ba-li, hết thảy pháp khởi và diệt
không đình trú, như huyễn, như tia chớp. Các pháp không đối đãi nhau,
không đình trú trong mỗi tâm niệm. Chúng đến từ những cái thấy nhầm lẫn,
như chiêm bao, như quáng nắng, như trăng trong đáy nước, như bóng trong
gương, vì chúng sinh ra từ vọng tưởng.
Hiểu được như vậy là người phụng trì giới luật. Hiểu như vậy là hiểu
biết thiện xảo.’
“Ngay lúc ấy, hai vị tì kheo thán phục:
‘Siêu việt thay trí tuệ, mà ngài Ưu-ba-li không
thể sánh bằng. Tuy là bậc trì luật đệ nhất nhưng không thể nói được như
vậy.’ Con mới nói
: ‘Duy trừ Phật ra, chưa từng có một Thanh văn
hay Bồ-tát nào vượt hơn biện tài vô ngại
của người này vì trí tuệ minh đạt của ông thù thắng như vây.’
“Hai vị tì kheo nhờ đó đã dứt đoạn nghi tình và hối
hận, phát tâm cầu giác ngộ tối thượng và lập nguyện cho hết thảy chúng
sinh đều được biện tài như vậy. Cho nên con không đủ khả năng đến thăm
bệnh ông ấy.”
9. Phật bèn nói với La-hầu-la:
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
La-hầu-la thưa:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đến thăm ông
ấy. Vì nhớ lại, có lần các con trai nhà trưởng giả thành Tỳ-da-ly
đến gặp con, cúi chào và hỏi: ‘La-hầu-la, ông là
con của Phật, đã bỏ ngôi vị Chuyển luân vương mà xuất gia học đạo. Xuất
gia như vậy được lợi ích gì?’ Con bèn như pháp mà nói các lợi ích của
công đức xuất gia, thì Duy-ma-cật bỗng đến, nói: ‘Thưa
ngài La-hầu-la, ông chớ nên nói về các lợi ích của công đức xuất gia. Vì
sao? Vì không lợi ích, không công đức; đó là xuất gia. Chỉ pháp hữu vi
mới nói đến lợi ích và công đức. Xuất gia là pháp vô vi. Trong pháp vô
vi, không có lợi ích, không có công đức. La-hầu-la, xuất gia là vượt
khỏi cái sự chỗ này, chỗ kia, hay ở giữa;
là vượt khỏi sáu mươi hai kiến chấp, an trú Niết-bàn,
được người trí lãnh thọ, là lối đi của bậc Thánh,
hàng phục các ma, thoát ngoài năm đạo, thanh tịnh năm con mắt, thành tựu
năm lực, xác lập năm căn, không gây não hại cho đời, xa lìa mọi điều
xấu, đẩy lui ngoại đạo, siêu việt giả danh tự, ra khỏi vũng sình,
không bị ràng buộc, không ngã sở; không có gì để chấp thủ, không bị
nhiễu loạn, nội tâm hoan hỷ, hộ trì tâm ý kẻ khác,
tùy thuận thiền định,
và thoát khỏi mọi sai lầm. Làm được như vậy mới là đích thực xuất gia.’
“Đoạn Duy-ma-cật nói với những người con của các
trưởng giả: ‘Các chú nên xuất gia trong Chính
Pháp. Vì sao? Vì không dễ gì được sống cùng thời với Phật.’
Các người này nói: ‘Thưa Cư sĩ tôn kính, chúng
tôi có nghe Phật dạy, nếu cha mẹ chưa cho phép thì con không được xuất
gia.’ Duy-ma-cật bảo: ‘Đúng vậy. Nhưng khi phát
tâm cầu giác ngộ vô thượng chính đẳng chính giác, là các chú đã xuất
gia.’
“Bấy giờ, ba mươi hai người con của các
trưởng giả đã phát tâm vô thượng chính đẳng chính giác. Vì vậy con chưa
đủ khả năng đến thăm bệnh ông.”
9. Phật bèn bảo A-nan:
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
A-nan nói:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đến thăm bệnh
ông ấy. Vì nhớ lại, có lần khi thân Thế Tôn có chút bệnh, cần sữa bò,
con lấy bát đến đứng trước cửa nhà người Bà-la-môn.
Khi ấy Duy-ma-cật đi đến
bảo con rằng: ‘Thưa ngài A-nan, có chuyện gì mà cầm bát đứng đây sớm
thế?’ Con đáp: ‘Cư sĩ, đức Thế tôn thân có chút
bệnh, cần sữa bò, vì vậy tôi mới đến đây.’ Duy-ma-cật chặn lại: ‘Thôi im
đi, ngài A-nan. Chớ nói những lời như vậy. Thân Như Lai là thể kim
cương.
Mọi điều xấu
đã bị đoạn trừ; mọi điều thiện hội đủ; làm gì có bệnh? Làm gì có não?
Ngài hãy im lặng mà đi. Chớ phỉ báng Như Lai. Đừng để người khác nghe
được lời thô tháo đó. Chớ để chư thiên có uy đức và Bồ-tát đến từ các
quốc độ thanh tịnh nghe thấy. Thưa ngài A-nan, Chuyển luân thánh vương
mới chỉ tích góp vài công đức nhỏ đã không còn bệnh não. Huống chi Như
Lai đã hội đủ vô lượng phước đức thù thắng lại còn bệnh sao? Nhất định
không có chuyện đó. Hãy đi đi, thưa ngài A-nan, đừng làm xấu hết cả
chúng tôi. Nếu người Bà-la-môn ngoại đạo nghe lời này, họ sẽ nghĩ: Sao
đáng gọi là Tôn Sư? Người này cứu được ai khi ông chưa cứu nỗi thân
mình? Hãy âm thầm mà đi nhanh đi, đừng để ai nghe lời ngài nói. A-nan,
nên biết, thân Như Lai là Pháp thân, không phải do tâm tư dục vọng.
Phật là đức Thế tôn, vượt ngoài ba cõi. Thân Phật là vô lậu, vì các lậu
đã dứt sạch. Thân Phật là vô vi không thể gọi tên.
Thân như vậy làm sao có bệnh?’
“Bạch Thế tôn, nghe ông nói con ngập tràn hỗ thẹn,
tự hỏi phải chăng con tuy gần Phật nhưng đã nghe nhầm chăng? Nhưng lúc
ấy, con nghe một tiếng nói từ không trung vọng xuống: ‘A-nan, Cư sĩ nói
đúng, nhưng vì Phật hiện thân trong đời năm trược ác, hiện hành pháp này
để cứu độ chúng sinh.
A-nan, cứ đi xin sữa, chớ hỗ thẹn.’
“Bạch Thế tôn, trí tuệ và tài biện
thuyết của Duy-ma-cật như vậy, con quả thật không đủ khả năng đến thăm
bệnh ông.”
Như vậy năm trăm
đại đệ tử đều kể lại với những cuộc gặp gỡ Duy-ma-cật và những điều ông
ấy đã nói, đều nói không đủ khả năng đi thăm bệnh ông.
|