維 摩 詰 所 說

KINH DUY-MA-CẬT SỞ THUYẾT

Bản dịch Việt Tuệ Sỹ

CHƯƠNG BỐN
BỒ TÁT[1]

1. Rồi thì, Phật nói với Bồ-tát Di-lặc:[2]

“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”

Di-lặc đáp:

“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đến thăm bệnh ông ấy. Vì sao? Nhớ lại xưa kia, có lần con đang giảng cho Thiên vương Đâu-suất[3] và quyến thuộc về sự thực hành ở địa vị bất thối chuyển,[4] Duy-ma-cật bỗng đến và nói với con: ‘Thưa Di-lặc, khi đức Thế tôn thọ ký Nhân giả còn một đời nữa[5] sẽ chứng đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề. Sự thọ ký ấy nhắm vào đời nào? Đời quá khứ chăng? Đời vị lai chăng? Đời hiện tại chăng? Nếu là đời quá khứ, thì đời quá khứ đã diệt. Nếu là đời vị lai thì đời vị lai chưa đến. Nếu ở đời hiện tại, thì đời hiện tại không đình trú. Như Phật đã nói: Này tì kheo, ngươi nay tức thời[6] vừa sinh, vừa già, vừa diệt. Nếu bằng vô sinh[7] mà đươc thọ ký, thì vô sinh là chính vị.[8] Mà trong chính vị thì không có thọ ký, cũng không có sự chứng đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề.[9]

Vậy làm sao Di-lặc được thọ ký còn một lần tái sinh[10]? Ấy là bằng Như sinh[11] mà được thọ ký, hay bằng Như diệt mà được thọ ký? Nếu bằng Như sinh mà được thọ ký, thì Như vốn không sinh. Nếu bằng Như diệt mà được thọ ký, thì Như vốn không diệt. Vì hết thảy chúng sinh đều là Như tính vậy. Hết thảy pháp cũng là Như tính vậy. Các Hiền Thánh cũng là Như tính vậy. Di-lặc cũng là Như tính vậy.[12] Như vậy, nếu Di-lặc được thọ ký, thì hết thảy chúng sinh cũng đều được thọ ký. Vì sao? Vì Như vốn không hai, không khác.[13] Nếu Di-lặc chứng đắc giác ngộ tối thượng, thì hết thảy chúng sinh cũng chứng đắc giác ngộ tối thượng. Vì sao? Vì hết thảy chúng sinh tức là tướng của Bồ-đề.[14] Nếu Di-lặc mà diệt độ, thì hết thảy chúng sinh cũng diệt độ.[15] Vì sao? Chư Phật biết rõ hết thảy chúng sinh rốt ráo tịch diệt, tức là tướng bồ-đề, không còn gì để diệt nữa.[16] Thưa Di-lặc, vì thế không nên dụ[17] chư Thiên bằng pháp này.

“Thật sự không có người phát tâm vô thượng bồ-đề[18] cũng chẳng có người thối lui. Di-lặc hãy nên khiến cho các thiên tử này xả bỏ những quan niệm phân biệt về bồ-đề. Vì sao? Vì bồ-đề không thể được chứng đắc bằng thân, không thể được chứng đắc bằng tâm. Tịch diệt là bồ-đề, vì diệt các tướng.[19] Không có quán là bồ-đề vì nó lìa ngoài nhân duyên.[20] Không hành là bồ-đề vì nó dứt tuyệt nghĩ tưởng.[21] Đoạn là bồ-đề, vì xả ly các kiến.[22] Xả ly là Bồ-đề, vì xả ly vọng tưởng.[23] Chướng là Bồ-đề, vì chướng các nguyện.[24] Không nhập là Bồ-đề vì không tham trước.[25] Tùy thuận[26] là bồ-đề vì thuận với Như[27]. Trụ là Bồ-đề vì trụ pháp tính.[28] Đến là bồ-đề, vì đi đến thực tế.[29] Bất nhị là bồ-đề, vì nó xa lìa ý và pháp.[30] Bình đẳng là bồ-đề, vì đồng đẳng với hư không.[31] Vô vi là bồ-đề vì không sinh, tru, diệt.[32] Tri[33] là bồ-đề, vì liễu tri tâm hành của hết thảy chúng sinh. Không hội [34] là bồ-đề vì các nhập[35] không hội.[36] Không hiệp[37] là bồ-đề, vì lìa tập quán phiền não.[38] Không xứ sở[39] là bồ-đề, vì không hình sắc.[40] Giả danh[41] là bồ-đề, vì tên gọi vốn rỗng không.[42] Như hóa[43] là bồ-đề, vì không thủ xả. Không loạn là bồ-đề, vì thường tịch tĩnh. Thiện tịch[44] là bồ-đề vì tự tính thuần tịnh. Vô thủ là bồ-đề không thể vin nắm.[45] Vô dị[46] là bồ đề, vì bình đẳng các pháp vốn bình đẳng.[47] Không so sánh[48] là bồ-đề, vì không thể thí dụ. Vi diệu là bồ-đề, vì các pháp khó biết.’[49]

“Bạch Thế tôn, Duy-ma-cật giảng xong pháp này, hai trăm thiên tử chứng vô sinh pháp nhẫn. Vì vậy con không đủ khả năng đến thăm bệnh ông.”

2. Phật nói với Quang Nghiêm Đồng tử[50]:

“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”

Quang-nghiêm đáp:

“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đến thăm ông. Vì, nhớ lại, có lần con đang trong thành Tỳ-da-ly đi ra, gặp Duy-ma-cật vừa ở ngoài đi vào. Con cúi chào[51] ông và hỏi: ‘Quý cư sĩ đi đâu về?’ Ông đáp: ‘Từ đạo tràng[52] về.’ Con mới hỏi ông: ‘Đạo tràng này ở đâu?’ Ông đáp: ‘Tâm chính trực[53] là đạo tràng, vì không giả dối. Phát hành[54] là đạo tràng, vì có khả năng hoàn tất mọi sự. Thâm tâm[55] là đạo tràng, vì tăng ích công đức.[56] Tâm bồ-đề là đạo tràng, vì không thể sai lầm.[57]

“Bố thí[58] là đạo tràng, vì không cầu đáp trả.[59] Trì giới là đạo tràng, vì giúp hoàn thành tâm nguyện. Nhẫn nhục là đạo tràng, vì tâm vô ngại[60] đối với hết thảy chúng sinh. Tinh tấn là đạo tràng, vì lìa xa biếng nhác. Thiền định là đạo tràng, vì là tâm điều thuận nhu hòa.[61] Trí tuệ là đạo tràng, vì trực kiến các pháp.

“Từ là đạo tràng, vì đối xử bình đẳng với tất cả chúng sinh. Bi là đạo tràng, vì nhẫn nại các khổ nhọc. Hỷ là đạo tràng, vì là pháp an vui khóai lạc. Xả là đạo tràng, vì dứt bỏ yêu hay ghét.

“Thần thông là đạo tràng, vì thành tựu sáu thần thông. Giải thoát là đạo tràng, vì hay dứt bỏ.[62] Phương tiện là đạo tràng, vì giáo hóa chúng sinh. Bốn nhiếp pháp là đạo tràng, vì nhiếp chúng sinh. Đa văn là đạo tràng, vì y như điều đã nghe mà thực hành. Tâm được chế ngự là đạo tràng, vì chính quán các pháp. Ba mươi bảy phẩm là đạo tràng, vì xả bỏ các pháp hữu vi. Chân đế[63] là đạo tràng, vì không dối gạt thế gian. Duyên khởi[64] là đạo tràng, vì từ vô minh cho đến già-chết, thảy đều không bị diệt tận.[65] Phiền não là đạo tràng,[66] vì biết như thật.[67] Chúng sinh là đạo tràng, vì biết vô ngã.[68] Tất cả pháp là đạo tràng, vì biết các pháp vốn không. Hàng phục chúng ma là đạo tràng, vì không khuynh động. Ba cõi[69] là đạo tràng, vì không định hướng phải đến.[70] Tiếng sư tử hống là đạo tràng, vì là không có gì để sợ. Lực, bốn vô sở úy, bất cộng[71] là đạo tràng, vì không khuyết điểm. Ba minh là đạo tràng, vì vô ngại.[72] Một niệm[73] biết tất cả pháp là đạo tràng, vì  thành nhất thiết trí.

“Như vậy, này Thiện nam tử, Bồ-tát thích ứng theo các Ba-la-mật mà giáo hóa chúng sinh, thì mọi hành vi, cho đến từng bước chân đi, nên biết, đều từ đạo tràng mà đến;[74] an trú trong Pháp Phật vậy.’

“Duy-ma-cật giảng Pháp như vậy, bạch Thế tôn, năm trăm trời và người đã phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Vì thế con không đủ khả năng đến thăm bệnh ông.”

3. Phật bảo Bồ-tát Trì Thế:[75]

“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”

Trì Thế đáp:

 “Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng để thăm bệnh ông. Con nhớ, có lần đang ở trong tĩnh thất,[76] khi ấy Ma Ba-tuần[77] hình trạng như Đế Thích xuất hiện cùng với mười hai ngàn thiên nữ theo sau đàn hát, đi đến chỗ con. Sau khi cúi đầu đảnh lễ dưới chân con, họ chắp tay đứng sang một bên. Con tưởng đó là Đế Thích nên nói: ‘Xin chào Kiều-thi-ca.[78] Dù ông đã thành tựu nhiều phước báo, nhưng không nên phóng túng. Ông nên quán ngũ dục là vô thường để tìm cầu gốc rễ thiện. Hãy tìm cầu pháp chắc thật cho thân thể, sinh mạng và tài sản này.’ Ma liền nói: ‘Thưa Đại Chính sỹ, xin ngài nhận lấy mười hai ngàn thiên nữ này để hầu hạ ngài, lo việc quét dọn.’ Con bảo: ‘Này Kiều-thi-ca, chớ đem cho Sa-môn họ Thích món quà phi pháp như vậy. Nó không thích hợp với tôi.’

“Con chưa dứt lời thì Duy-ma-cật chợt đến và nói: ‘Nó đâu phải là Đế Thích. Nó là Ma đến quấy nhiễu ngài đấy.’ Rồi ông quay sang bảo Ma: ‘Hãy cho ta các cô gái này. Như ta thì có thể nhận.’ Ma kinh sợ, nghĩ rằng, ‘Duy-ma-cật có thể gây hại ta chăng?’ Nó bèn muốn ẩn hình nhưng không được. Nó vận dụng hết thần lực cũng không thể bỏ đi được. Chợt trên không có tiếng vọng xuống: ‘Này Ba-tuần, hãy cho ông ấy các thiên nữ thì mới có thể đi được.’ Sợ quá, Ma đành dâng hết các thiên nữ cho Duy-ma-cật. Ông mới nói với các người nữ: ‘Ma đã đem các cô cho ta. Bây giờ các cô hãy phát tâm cầu vô thượng chính đẳng bồ-đề.’

“Đoạn ông tùy chỗ thích hợp giảng pháp cho họ nghe, giúp họ phát đạo ý.[79] Ông bảo: ‘Các cô đã phát đạo ý,[80] có thể tìm thấy niềm vui nơi pháp[81] thay vì nơi ngũ dục thế gian.’

“Các Thiên nữ liền hỏi ông: ‘Vui nơi pháp là thế nào?’

“Ông đáp: ‘Là vui thường tin Phật; vui muốn được nghe Pháp; vui cúng dường Tăng; và vui dứt bỏ năm dục;[82] vui quán sát năm uẩn là kẻ thù, vui quán sát bốn đại[83] như rắn độc, vui quán sát các nội xứ như xóm hoang; vui tùy thuận hộ trì đạo ý[84]; vui thấy mình lợi ích cho chúng sinh; vui kính dưỡng Thầy; vui rộng rãi thực hành bố thí;[85] vui kiên trì tịnh giới;[86] vui nhẫn nhục khoan hòa; vui siêng tu thiện căn; vui thiền định không loạn tưởng; vui có tuệ sáng suốt sạch không cáu bẩn;[87] vui trải rộng tâm bồ-đề; vui vượt thắng tà ma; vui nhổ gốc phiền não; vui làm thanh tịnh cõi đất Phật; vui tu tập các công đức để thành tựu thân tướng tốt đẹp; vui làm đẹp đạo tràng; vui nghe Pháp thậm thâm mà không sợ hãi; vui trong ba cửa giải thoát;[88] không vui với phi thời tiết; vui gần gũi đồng học,[89] vui tâm không hận thù ác hại giữa những người phi đồng học; vui ngăn ngừa[90] bằng hữu tri thức xấu; vui khi ở gần thiện tri thức;[91] vui vì tâm hoan hỷ thanh tịnh;[92] vui thực hành vô lượng pháp đạo phẩm. Đó là những niềm vui nơi Pháp của Bồ-tát.’

“Nghe vậy, Ma bảo các thiên nữ: ‘Ta muốn các ngươi cùng ta trở về Thiên cung.’

“Các thiên nữ nói: ‘Ông đã đem chúng tôi cho cư sĩ. Chúng tôi thấy vui nơi Chính Pháp, chẳng còn ham muốn thú vui nơi năm dục.’

“Ma nói với Duy-ma-cật: ‘Cư sĩ hãy buông thả những thiên nữ này. Vì Bồ-tát là người sẵn lòng ban cho tất cả những gì mình có.’         

“Duy-ma-cật nói: ‘Ta đã buông bỏ rồi. Ngươi có thể mang họ đi để hết thảy chúng sinh có thể thành tựu ước nguyện như pháp.’

“Các thiên nữ quay hỏi Duy-ma-cật: ‘Ở Ma cung chúng tôi phải sống như thế nào?’

“Duy-ma-cật đáp: ‘Này các cô, có Pháp môn được gọi là Ngọn đèn vô tận;[93] các cô nên học. Ví như, một ngọn đèn có thể được dùng để mồi sáng hàng trăm ngàn ngọn đèn khác, do đó bóng tối sẽ được soi sáng và ánh sáng này sẽ không bao giờ tắt. Cũng vậy, các cô, một Bồ-tát dẫn đường hàng trăm ngàn chúng sinh khiến cho họ phát tâm cầu giác ngộ tối thượng; mà Đạo ý của Bồ-tát không hề tắt ngúm.Cứ mỗi lần thuyết pháp là mỗi lần tăng thêm tất cả pháp thiện cho mình. Cho nên gọi là Vô tận đăng. Dù các cô có ở nơi cung điện của Ma, các cô hãy nên dùng Pháp Vô tận đăng này để dẫn dắt vô lượng con trai, con gái của Trời khiến phát tâm cầu giác ngộ, vừa để báo Phật ân vừa làm lợi chúng sinh.’

“Khi ấy các thiên nữ cúi đầu lễ dưới chân Duy-ma-cật rồi theo Ma về cung điện. Trong phút chốc họ biến mất cả. Bạch Thế tôn, Duy-ma-cật thần thông siêu việt, biện tài và trí tuệ như vậy, con không đủ khả năng viếng thăm người.”

4. Phật bảo một người con trai của trưởng giả tên Thiện Đức:[94]

“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”

Thiện Đức đáp:

“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đi thăm bệnh ông ấy. Vì nhớ lại có lần con tổ chức một đại hội bố thí[95] tại nhà thân phụ để cúng dường hết thảy Sa-môn, Bà-la-môn, các ngoại đạo, các người bần cùng, hạ tiện, cho đến cả ăn mày. Đại hội kéo dài đến bảy ngày, và khi kết thúc Duy-ma-cật đã đến nói với con: ‘Ồ, con trai nhà trưởng giả! Đại hội bố thí không phải như ông đã tổ chức. Nó phải là đại hội bố thí pháp.[96] Đại hội bố thí vật chất[97] như vậy có ích gì.’

“Con hỏi: ‘Thưa Cư sĩ, thế nào là Hội Pháp thí?’

“Ông đáp: ‘Pháp thí không có trước cũng không có sau.[98] Trong một lúc mà cúng dường hết thảy chúng sinh. Đó là Đại hội Pháp thí.’

“ ‘Nghĩa là sao?’ - Con hỏi.

“Ông mới đáp: ‘Nghĩa là, bằng bồ-đề mà phát khởi từ tâm;[99] bằng sự cứu độ chúng sinh mà khởi bi tâm;[100] bằng sự duy trì Chính pháp mà khởi hỷ tâm;[101] bằng sự nhiếp thủ trí tuệ[102] mà hành xả tâm.

“Bằng sự vượt thắng lòng tham lam bủn xỉn[103] mà khởi bố thí ba-la-mật; bằng sự giáo hóa người phạm giới mà tu giới ba-la-mật; bằng vô ngã mà khởi nhẫn nhục ba-la-mật; bằng sự lìa tướng thân tâm mà khởi tinh tấn ba-la-mật;[104] bằng bồ-đề tướng[105] mà khởi thiền ba-la-mật;[106] bằng nhất thiết trí[107] mà khởi bát-nhã ba-la-mật.

“Bằng sự giáo hóa chúng sinh mà khởi Không; bằng sự không xả hữu vi[108] mà phát khởi Vô tướng; bằng sự thị hiện thọ sinh[109] mà khởi Vô tác.[110]

“Bằng sự hộ trì chính Pháp mà khởi phương tiện lực; vì để cứu độ chúng sinh mà khởi bốn nhiếp pháp;[111] bằng sự kính thờ tất cả[112] mà quyết tâm quét sạch kiêu mạn; ở nơi thân, mạng, tài sản mà khởi ba pháp chắc thật;[113] ở trong sáu niệm[114] mà khởi pháp tư niệm; ở nơi sáu điểm hòa kính mà khởi tâm chất trực;[115] vì chân chính tu hành pháp thiện mà khởi tịnh mạng;[116] vì sự hoan hỷ thanh tịnh của tâm[117] mà khởi lên sự gần gũi Hiền Thánh trí; bằng sự không ghét bỏ người xấu mà khởi lên sự chế ngự tâm;[118] vì pháp xuất gia mà khởi thâm tâm;[119] bằng như thuyết mà hành[120] mà khởi đa văn; vì pháp vô tránh[121] mà phát khởi đời sống nhàn tĩnh;[122] bằng thú hướng Phật đạo mà phát khởi đời sống độc cư;[123] vì để cởi trói chúng sinh mà phát khởi các giai đoạn tu hành;[124] vì để được các hình tướng tốt đẹp và làm thanh tịnh đất Phật mà phát khởi nghiệp phước đức;[125] vì để biết tâm niệm hết thảy chúng sinh để tùy nghi nói Pháp mà phát khởi nghiệp của trí;[126] vì để hiểu rõ các pháp vốn không thủ cũng không xả, thâm nhập cánh cửa nhất tướng,[127] mà phát khởi nghiệp của tuệ;[128] vì để tận diệt mọi phiền não, mọi chướng ngại và bất thiện pháp, mà phát khởi tất thảy thiện nghiệp; vì để chứng nghiệm tất cả trí tuệ và tất cả thiện pháp mà phát khởi các pháp trợ Phật đạo.[129]

“Hết thảy những điều trên, này Thiện nam tử, là Đại hội Pháp thí. Nếu Bồ-tát an trú nơi Đại hội Pháp thí, thì đó là Đại thí chủ, và cũng là ruộng phước cho hết thảy thế gian.’

“Bạch Thế tôn, khi Duy-ma-cật giảng Pháp này xong, trong chúng Bà-la-môn có hai trăm người lắng nghe đã phát tâm tầm cầu giác ngộ tối thượng. Bản thân con lúc đó cảm thấy tâm lắng đọng, thanh tịnh, tán thán là chưa từng có. Con bèn làm lễ bái tạ dưới chân ông và cởi ra vòng trân châu vô giá dâng tặng ông. Nhưng ông không nhận. Con nói: ‘Thưa Cư sĩ, xin ngài nhận lấy tặng phẩm này rồi muốn sử dụng sao tùy ý.’ Ông lấy vòng trân châu, chia ra hai phần, cho người ăn xin tồi tàn nhất một phần trong hội này; phần kia cho đức Nan Thắng Như Lai.[130] Hết thảy chúng hội hiện diện đều có thể nhìn thấy Nan Thắng Như Lai trong quốc độ Quang minh.[131] Lúc ấy họ cũng thấy phía trên đức Phật kia nửa vòng trân châu ấy biến thành đài báu trang nghiêm trên bốn cột trụ, bốn mặt đều được trang nghiêm, rõ ràng không che khuất nhau.

“Sau thị hiện biến hóa thần kỳ này, Duy-ma-cật nói: ‘Ai bố thí cho người hành khất nghèo hèn nhất với tâm bình đẳng, là hành động không khác với phước báo của Như Lai, vì nó xuất phát từ lòng đại bi không mong đáp trả. Đó chính là viên mãn Pháp thí vậy.’

“Sau khi chứng kiến thần lực và nghe giảng pháp của Duy-ma-cật, người hành khất thấp hèn nhất trong thành cũng đã phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Cho nên con không đủ khả năng đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”

Các Bồ-tát từng mỗi vị trình bày những lần gặp Duy-ma-cật như vậy, đều nói không có khả năng đi thăm bệnh ông.*

 

[1] VKN: phần sau của phẩm III. xem cht.1 chương iii trên.

[2] Lth..: Di-lặc 彌勒. Htr.: Tiếng phạn là Mỗi-đát-lị-da 梅呾利耶, dịch là Từ Thị 慈氏. Xưa phiên là Xưng (Di?)-đế-lệ 稱帝麗 hay Di-lặc 彌勒, thảy đều nhầm. Skt. Maitreya.

[3] Đâu suất Thiên vương 兜率天王. Htr.: Đổ-sử-đa Thiên vương 睹史多天王. VCS: “Tầng thứ tư trong sáu tầng trời Dục giới. Đây dịch là Tri túc. Nghĩa là, hưởng thụ các dục lạc nhưng biết đủ một cách sâu xa.” VKN: Saṃtuṣita-devaputra.

[4] CDM (Đại 38, tr.360c20), Thập nói: “Tức là vô sinh pháp nhẫn.” VCS: “… Hoặc đây chỉ Pháp yếu thuộc giai đoạn của pháp luân bất thối ở địa thứ tám (Bất động địa).” VKN: kathāṃ kathayāmi yad idaṃ bodhisattvānāṃ mahāsattvānām avaivartyāṃ bhūmim ārabhya, giảng pháp thoại về việc làm thế nào để Bồ-tát đạt đến địa vị bất thối chuyển.

[5] Htr.: nhất sinh sở hệ. VKN: ekajātipratibaddha.

[6] VKN: kṣaṇe kṣaṇe, trong từng sát na.

[7] VKN: ajāti, vô sinh, chỉ sự không tái sinh, không có đời sống nào cả.

[8] CDM, Thập nói: “Thật tướng thường định, nên nói là chính vị.” Htr.: sở nhập chính tính 所入正性. VCS: “Nhập tức là chứng. Chính tính, là chân tính của pháp.” Câu-xá 23 (Đại 29, tr. 121b4); “Kinh nói, chính tính là Niết-bàn.” Chỉ trạng thái từ địa vị phàm phu bước vào địa vị Thánh giả. VKN: niyāmāvakrānti.

[9] VKN: na cājātir vyākriyate nāpy ajātir abhisaṃbudhyate, vô sinh (không tái sinh) thì không được thọ ký, cũng không chứng đắc giác ngộ.

[10] Lth..: nhất sinh 一生. Htr.: nhất sinh sở hệ. Skt. ekajātibaddha.

[11] Như sinh 如生… Như diệt 如滅. VKN: tathatotpadena … tathatānirodhena, (được thọ ký) bằng sự sinh khởi của Như tính, bằng sự tịch diệt của Như tính.

[12] Cf. Đại Bát-nhã 447 (Đại 7, tr. 252a7): “Hoặc Chân như của sắc, hoặc Chân như của Trí nhất thiết trí, hoặc Chân như của tất cả pháp; thảy đều là một Chân như, không hai, không khác, cũng không cùng tận ...” Cf. Tiểu phẩm Bát-nhã 5 (Đại 8, tr. 558b13): “ Tu-bồ-đề,..., Như (tính) của năm uẩn tức thị Như (tính) của hết thảy pháp. Như của hết thảy pháp tức thị Như của Tu-đà-hoàn. Như của Tu-đà-hoàn là Như của Tư-đà-hàm... Như của Bích-chi-phật đạo là Như của Như Lai. Các Như ấy đều là một Như, không hai, không khác, vô tận, vô lượng.“

[13] VKN: na hi tathatā dvayaprabhāvitā nānātvaprabhāvitā, thật vậy, Chân như không hiển hiện bởi nhị nguyên tính, không hiển hiện bởi đa thù tính.

[14] Bồ-đề tướng 菩提相. Htr.: “Bồ đề (bodhi), là điều được giác tri (anubuddha) một cách đồng đẳng bởi tất cả hữu tình.“ VKN: sarvasattvānubodho hi bodhiḥ, bồ đề là sự chứng giác của tất cả chúng sinh.

[15] Htr.: bát-niết-bàn.

[16] Htr.: “Tính tịch tĩnh tự bản chất của hết thảy hữu tình tức là yếu tính của Niết-bàn, vì vậy Phật nói Chân như là Bát-niết-bàn.” VKN: tathāgatāḥ… te sattvāni paśyanti nirvāṇaprakṛtikāni, các Như Lai thấy mọi chúng sinh đều có bản tính tự nhiên là Niết-bàn.

[17] CDM, Thập nói: “Dụ, bản Phạn nói là cuống (dối gạt).” VKN: mā … ullāpaya mā visaṃvādaya, đứng dụ dỗ, đừng dối gạt. Htr.: dụ … trệ .

[18] VKN: na bodhau pratiṣṭhate, không có ai an trụ trong bồ-đề.

[19] Htr.: “Vì tướng của hết thảy hữu tình, hết thảy pháp thảy đều tịch diệt.”

[20] Htr.: “Không tăng (gia) là bồ-đề, vì hết thảy sở duyên (đối tượng) vốn không tăng ích.” Khuy Cơ (VCS) giải thích : “Cựu dịch bất quán 不觀, vì không thể quán sát bằng tâm biến kế.” VKN: asamāropo bodhiḥ sarvāramvaṇānām.

[21] Bất hành … vô ức niệm 不行無憶念. Htr.: “Vì hết thảy hý luận, hết thảy tác ý đều không (hiện) hành.” VKN: apracāro bodhiḥ sarvamanaskārāṇām, bồ-đề là không sở hành của tất cả mọi tác ý.

[22] Htr.: xả ly các thủ trước. VKN: paricchedo bodhiḥ sarvadṛṣṭigatānām, bồ đề là sự đoạn tuyệt tất cả mọi kiến chấp.

[23] Htr.: ly hệ (=diệt trừ kết sử phiền não) là bồ đề, vì vĩnh viễn xa lìa tất cả pháp động loạn. VKN: visaṃyogo bodhiḥ sarveñjita-manyayasyanditānām.

[24] CDM, Triệu nói: “Đạo chân chính là vô dục, vì ngăn cản các nguyện cầu.” Bản La-thập hình như có nhảy sót, so sánh Htr.: “ly hệ 離繫 là Bồ đề vì vĩnh viễn dứt lìa hết thảy các pháp động loạn. Tịch tĩnh là bồ đề vì hết thảy phân biệt hoàn toàn vắng bặt. Quảng đại là Bồ đề, vì hết thảy hoằng nguyện đều không thể trắc lượng.” VKN gần với Lth.: adhiṣṭhānaṃ bodhiḥ sarvapraṇidhānānām, bồ đề là y xứ, vì là y xứ của của tất cả các nguyện.

[25] Htr.: “Không tranh (bất tránh 不諍; Khuy Cơ đọc là bất chứng 不證); vì hết thảy thủ trước, hết thảy tranh luận đều xa lìa.” VKN: asaṃpraveśo bodhiḥ sarvo(pa)dhiḥ sarvodgrahavigatā, không (chứng) nhập là bồ-đề, vì không nhập tất cả chấp thủ, xả ly tất cả tham chấp.

[26] Htr.: tùy chí 隨至, đến theo sau; VKN: anugata.

[27] Htr.: chân như. Skt. tathatā.

[28] Htr.: trụ pháp giới . VKN: sthitā bodhiḥ dharmadhātusthāne, bồ đề là sự an trụ trong bản xứ của pháp giới.

[29] Htr.: “kiến lập là bồ đề vì kiến lập (trong) thật tế.” VKN: pratiṣṭhitā bodhiḥ bhūtakoṭyām.

[30] Htr.: “vì xa lìa pháp tính sai biệt.” VKN: manodharmavigatā, xả ly ý và pháp.

[31] Htr.: “vì con mắt và sắc, cho đến ý và pháp, thảy đều bình đẳng như hư không.” VKN: samā bodhiḥ ākaśasamatayā.

[32] Htr.: sinh, trụ, dị, diệt.

[33] Htr.: biến tri. Skt. parijñā, nhận thức toàn diện hay tường tận. Cf. Câu-xá 22 (Đại 29, tr. 112a17): “biến tri có hai: trí biến tri (jñānaparijñā) và đoạn biến tri (prahānaparijñā). Trí biến tri (nhận thức toàn diện bằng trí tuệ) tức là trí vô lậu (anāsrava jñāna).”

[34] Bất hội 不會. Htr.: vô gián 無間. VKN: dvārā, không có cửa.

[35] Các nhập; Htr.: sáu nội xứ (Skt. saḍ adhyāmikāny āyatanāni).

[36] VKN: advārā bodhiḥ āyatanānām, bồ đề là lối vào không cửa của xứ.

[37] Bất hiệp 不合. Htr.: vô tạp 無雜. VKN: asaṃsṛṣṭa, không hỗn tạp.

[38] Phiền não tập. Htr.: tập khí của tương tục phiền não. VKN: vāsanānusandhikleśa.

[39] Vô xứ. VKN: na deśasthā na pradeśasthā, không phương vị, không xứ sở.

[40] Htr.: “vì trong Chân như, hết thảy phương vị, xứ sở đều xa lìa.“ Htr. còn thêm: „ Vô trụ là bồ đề, vì không thể thấy trong tất cả xứ.“ tathatāpratiṣṭhitā bodhiḥ sartodṛṣyā, bồ đề là vô trụ chân như, không được nhìn thấy từ tất cả mọi phía. Htr. đọc tathatā lên cụm từ trên.

[41] Giả danh 假名. Htr.: duy danh 唯名. VKN: nāmadheyamātraṃ.

[42] Htr.: “vì danh vốn không hoạt dụng.” VKN: tac ca nāma nirīhakaṃ.

[43] Như hóa 如化. CDM: Triệu nói, như cái vô tâm của con người huyễn hóa. Htr.: vô lãng 無浪, không gợn sóng. VKN: nirātimkā bodhiḥ āyūhaniryūhavigatā, bồ đề là không tự ngã, vì không mang đến cũng không lấy đi.

[44] Thiện tịch 善寂; Skt. suśānta, hoàn toàn (phi thường) tĩnh lặng.

[45] Phan duyên 攀緣; Skt. ālamba.

[46] Vô dị, không dị biệt, đây chỉ phi đa thù. VKN: nirnānātvā.

[47] Htr.: “Vì tính bình đẳng của các pháp được chứng giác.”

[48] Vô tỷ 無比. Htr.: vô dụ 無喻. VKN: anupama, không có thí dụ.

[49] Htr. còn thêm một đoạn nữa: “Biến hành (phổ biến, phổ quát) là bồ dề, vì tự tính phổ biến như hư không. Lên đến đỉnh cao là bồ đề, vì là tối thượng thủ của tất cả pháp. Vô nhiễm là bồ đề, vì hết thảy thế pháp không thể làm cho nhiễm ô. Như vậy, bồ đề không được chứng bởi thân, không được chứng bởi tâm.” VKN: sarvatrānugatā bodhir ākāśasvabhāvatvāt; sā na śakyā kāyena vācā cittenābhisam-bodhuṃ.

[50] Ckh.: Quang Tịnh Đồng tử 光淨童子. Lth. = Htr. VKN: Prabhāvyūha. Cf. Lalitavistara.

[51] Tác lễ. Khuy Cơ (VCS, Đại 38, tr.1060c8): “Đoạn trên, Duy-ma-cật cúi chào Di-lặc; vì Di-lặc hiện thân tướng xuất gia. Ở đây, Thiếu niên Quang Nghiêm cúi chào Duy-ma-cật; vì Quang Nghiêm hiện thân tướng thế tục. Người nhỏ tuổi cúi chào người lớn tuổi hơn.”

[52] Đạo tràng 道場; Htr.: diệu bồ đề 妙菩提. VKN. bodhimaṇḍa.

[53] Trực tâm 直心. Htr.: thuần trực ý lạc 淳直意樂. VKN: bodhimaṇḍa iti āśāyamaṇḍa, trường bồ-đề là trường chí hướng.

[54] Htr.: phát khởi gia hành 發起加行. VKN: prayoga.