|
1. Rồi thì, Phật nói
với Bồ-tát Di-lặc:
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Di-lặc đáp:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đến thăm bệnh
ông ấy. Vì sao? Nhớ lại xưa kia, có lần con đang giảng cho Thiên vương
Đâu-suất
và quyến thuộc về sự thực hành ở địa vị bất thối chuyển,
Duy-ma-cật bỗng đến và nói với con: ‘Thưa Di-lặc, khi đức Thế tôn thọ ký
Nhân giả còn một đời nữa
sẽ chứng đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề. Sự thọ ký ấy nhắm vào đời
nào? Đời quá khứ chăng? Đời vị lai chăng? Đời hiện tại chăng? Nếu là đời
quá khứ, thì đời quá khứ đã diệt. Nếu là đời vị lai thì đời vị lai chưa
đến. Nếu ở đời hiện tại, thì đời hiện tại không đình trú. Như Phật đã
nói: Này tì kheo, ngươi nay tức thời
vừa sinh, vừa già, vừa diệt. Nếu bằng vô sinh
mà đươc thọ ký, thì vô sinh là chính vị.
Mà trong chính vị thì không có thọ ký, cũng không có sự chứng đắc
A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề.
Vậy làm sao Di-lặc được thọ ký còn một lần tái sinh?
Ấy là bằng Như sinh
mà được thọ ký, hay bằng Như diệt mà được thọ ký? Nếu bằng Như sinh mà
được thọ ký, thì Như vốn không sinh. Nếu bằng Như diệt mà được thọ ký,
thì Như vốn không diệt. Vì hết thảy chúng sinh đều là Như tính vậy. Hết
thảy pháp cũng là Như tính vậy. Các Hiền Thánh cũng là Như tính vậy.
Di-lặc cũng là Như tính vậy.
Như vậy, nếu Di-lặc được thọ ký, thì hết thảy chúng sinh cũng đều được
thọ ký. Vì sao? Vì Như vốn không hai, không khác.
Nếu Di-lặc chứng đắc giác ngộ tối thượng, thì hết thảy chúng sinh cũng
chứng đắc giác ngộ tối thượng. Vì sao? Vì hết thảy chúng sinh tức là
tướng của Bồ-đề.
Nếu Di-lặc mà diệt độ, thì hết thảy chúng sinh cũng diệt độ.
Vì sao? Chư Phật biết rõ hết thảy chúng sinh rốt ráo tịch diệt, tức là
tướng bồ-đề, không còn gì để diệt nữa.
Thưa Di-lặc, vì thế không nên dụ
chư Thiên bằng pháp này.
“Thật sự không có người phát tâm vô thượng bồ-đề
cũng chẳng có người thối lui. Di-lặc hãy nên khiến cho các thiên tử này
xả bỏ những quan niệm phân biệt về bồ-đề. Vì sao? Vì bồ-đề không thể
được chứng đắc bằng thân, không thể được chứng đắc bằng tâm. Tịch diệt
là bồ-đề, vì diệt các tướng.
Không có quán là bồ-đề vì nó lìa ngoài nhân duyên.
Không hành là bồ-đề vì nó dứt tuyệt nghĩ tưởng.
Đoạn là bồ-đề, vì xả ly các kiến.
Xả ly là Bồ-đề, vì xả ly vọng tưởng.
Chướng là Bồ-đề, vì chướng các nguyện.
Không nhập là Bồ-đề vì không tham trước.
Tùy thuận
là bồ-đề vì thuận với Như.
Trụ là Bồ-đề vì trụ pháp tính.
Đến là bồ-đề, vì đi đến thực tế.
Bất nhị là bồ-đề, vì nó xa lìa ý và pháp.
Bình đẳng là bồ-đề, vì đồng đẳng với hư không.
Vô vi là bồ-đề vì không sinh, tru, diệt.
Tri
là bồ-đề, vì liễu tri tâm hành của hết thảy chúng sinh. Không hội
là bồ-đề vì các nhập
không hội.
Không hiệp
là bồ-đề, vì lìa tập quán phiền não.
Không xứ sở
là bồ-đề, vì không hình sắc.
Giả danh
là bồ-đề, vì tên gọi vốn rỗng không.
Như hóa
là bồ-đề, vì không thủ xả. Không loạn là bồ-đề, vì thường tịch tĩnh.
Thiện tịch
là bồ-đề vì tự tính thuần tịnh. Vô thủ là bồ-đề không thể vin nắm.
Vô dị
là bồ đề, vì bình đẳng các pháp vốn bình đẳng.
Không so sánh
là bồ-đề, vì không thể thí dụ. Vi diệu là bồ-đề, vì các pháp khó biết.’
“Bạch Thế tôn, Duy-ma-cật giảng xong pháp này, hai
trăm thiên tử chứng vô sinh pháp nhẫn. Vì vậy con không đủ khả năng đến
thăm bệnh ông.”
2. Phật nói với Quang
Nghiêm Đồng tử[50]:
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Quang-nghiêm đáp:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đến thăm ông.
Vì, nhớ lại, có lần con đang trong thành Tỳ-da-ly đi ra, gặp Duy-ma-cật
vừa ở ngoài đi vào. Con cúi chào
ông và hỏi: ‘Quý cư sĩ đi đâu về?’ Ông đáp: ‘Từ đạo tràng
về.’ Con mới hỏi ông: ‘Đạo tràng này ở đâu?’ Ông đáp: ‘Tâm chính trực
là đạo tràng, vì không giả dối. Phát hành
là đạo tràng, vì có khả năng hoàn tất mọi sự. Thâm tâm
là đạo tràng, vì tăng ích công đức.
Tâm bồ-đề là đạo tràng, vì không thể sai lầm.
“Bố thí
là đạo tràng, vì không cầu đáp trả.
Trì giới là đạo tràng, vì giúp hoàn thành tâm nguyện. Nhẫn nhục là đạo
tràng, vì tâm vô ngại
đối với hết thảy chúng sinh. Tinh tấn là đạo tràng, vì lìa xa biếng
nhác. Thiền định là đạo tràng, vì là tâm điều thuận nhu hòa.
Trí tuệ là đạo tràng, vì trực kiến các pháp.
“Từ là đạo tràng, vì đối xử bình đẳng với tất cả
chúng sinh. Bi là đạo tràng, vì nhẫn nại các khổ nhọc. Hỷ là đạo tràng,
vì là pháp an vui khóai lạc. Xả là đạo tràng, vì dứt bỏ yêu hay ghét.
“Thần thông là đạo tràng, vì thành tựu sáu thần
thông. Giải thoát là đạo tràng, vì hay dứt bỏ.
Phương tiện là đạo tràng, vì giáo hóa chúng sinh. Bốn nhiếp pháp là đạo
tràng, vì nhiếp chúng sinh. Đa văn là đạo tràng, vì y như điều đã nghe
mà thực hành. Tâm được chế ngự là đạo tràng, vì chính quán các pháp. Ba
mươi bảy phẩm là đạo tràng, vì xả bỏ các pháp hữu vi. Chân đế
là đạo tràng, vì không dối gạt thế gian. Duyên khởi
là đạo tràng, vì từ vô minh cho đến già-chết, thảy đều không bị diệt
tận.
Phiền não là đạo tràng,
vì biết như thật.
Chúng sinh là đạo tràng, vì biết vô ngã.
Tất cả pháp là đạo tràng, vì biết các pháp vốn không. Hàng phục chúng ma
là đạo tràng, vì không khuynh động. Ba cõi
là đạo tràng, vì không định hướng phải đến.
Tiếng sư tử hống là đạo tràng, vì là không có gì để sợ. Lực, bốn vô sở
úy, bất cộng
là đạo tràng, vì không khuyết điểm. Ba minh là đạo tràng, vì vô ngại.
Một niệm
biết tất cả pháp là đạo tràng, vì thành nhất thiết trí.
“Như vậy, này Thiện nam tử, Bồ-tát thích ứng theo
các Ba-la-mật mà giáo hóa chúng sinh, thì mọi hành vi, cho đến từng bước
chân đi, nên biết, đều từ đạo tràng mà đến;
an trú trong Pháp Phật vậy.’
“Duy-ma-cật giảng Pháp như vậy, bạch Thế tôn, năm
trăm trời và người đã phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Vì thế con không
đủ khả năng đến thăm bệnh ông.”
3. Phật bảo Bồ-tát Trì
Thế:
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Trì Thế đáp:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng để thăm bệnh
ông. Con nhớ, có lần đang ở trong tĩnh thất,
khi ấy Ma Ba-tuần
hình trạng như Đế Thích xuất hiện cùng với mười hai ngàn thiên nữ theo
sau đàn hát, đi đến chỗ con. Sau khi cúi đầu đảnh lễ dưới chân con, họ
chắp tay đứng sang một bên. Con tưởng đó là Đế Thích nên nói: ‘Xin chào
Kiều-thi-ca.
Dù ông đã thành tựu nhiều phước báo, nhưng không nên phóng túng. Ông nên
quán ngũ dục là vô thường để tìm cầu gốc rễ thiện. Hãy tìm cầu pháp chắc
thật cho thân thể, sinh mạng và tài sản này.’ Ma liền nói: ‘Thưa Đại
Chính sỹ, xin ngài nhận lấy mười hai ngàn thiên nữ này để hầu hạ ngài,
lo việc quét dọn.’ Con bảo: ‘Này Kiều-thi-ca, chớ đem cho Sa-môn
họ Thích món quà phi pháp như vậy. Nó không thích hợp với tôi.’
“Con chưa dứt lời thì Duy-ma-cật chợt đến và nói:
‘Nó đâu phải là Đế Thích. Nó là Ma đến quấy nhiễu ngài đấy.’ Rồi ông
quay sang bảo Ma: ‘Hãy cho ta các cô gái này. Như ta thì có thể nhận.’
Ma kinh sợ, nghĩ rằng, ‘Duy-ma-cật có thể gây hại ta chăng?’ Nó bèn muốn
ẩn hình nhưng không được. Nó vận dụng hết thần lực cũng không thể bỏ đi
được. Chợt trên không có tiếng vọng xuống: ‘Này Ba-tuần, hãy cho ông ấy
các thiên nữ thì mới có thể đi được.’ Sợ quá, Ma đành dâng hết các thiên
nữ cho Duy-ma-cật. Ông mới nói với các người nữ: ‘Ma đã đem các cô cho
ta. Bây giờ các cô hãy phát tâm cầu vô thượng chính đẳng bồ-đề.’
“Đoạn ông tùy chỗ thích hợp giảng pháp cho họ nghe,
giúp họ phát đạo ý.
Ông bảo: ‘Các cô đã phát đạo ý,
có thể tìm thấy niềm vui nơi pháp
thay vì nơi ngũ dục thế gian.’
“Các Thiên nữ liền hỏi ông: ‘Vui nơi pháp là thế
nào?’
“Ông đáp: ‘Là vui thường tin Phật; vui muốn được
nghe Pháp; vui cúng dường Tăng; và vui dứt bỏ năm dục;
vui quán sát năm uẩn là kẻ thù, vui quán sát bốn đại
như rắn độc, vui quán sát các nội xứ như xóm hoang; vui tùy thuận hộ trì
đạo ý;
vui thấy mình lợi ích cho chúng sinh; vui kính dưỡng Thầy; vui rộng rãi
thực hành bố thí;
vui kiên trì tịnh giới;
vui nhẫn nhục khoan hòa; vui siêng tu thiện căn; vui thiền định không
loạn tưởng; vui có tuệ sáng suốt sạch không cáu bẩn;
vui trải rộng tâm bồ-đề; vui vượt thắng tà ma; vui nhổ gốc phiền não;
vui làm thanh tịnh cõi đất Phật; vui tu tập các công đức để thành tựu
thân tướng tốt đẹp; vui làm đẹp đạo tràng; vui nghe Pháp thậm thâm mà
không sợ hãi; vui trong ba cửa giải thoát;
không vui với phi thời tiết; vui gần gũi đồng học,
vui tâm không hận thù ác hại giữa những người phi đồng học; vui ngăn
ngừa
bằng hữu tri thức xấu; vui khi ở gần thiện tri thức;
vui vì tâm hoan hỷ thanh tịnh;
vui thực hành vô lượng pháp đạo phẩm. Đó là những niềm vui nơi Pháp của
Bồ-tát.’
“Nghe vậy, Ma bảo các thiên nữ: ‘Ta muốn các ngươi
cùng ta trở về Thiên cung.’
“Các thiên nữ nói: ‘Ông đã đem chúng tôi cho cư sĩ.
Chúng tôi thấy vui nơi Chính Pháp, chẳng còn ham muốn thú vui nơi năm
dục.’
“Ma nói với Duy-ma-cật: ‘Cư sĩ hãy buông thả những
thiên nữ này. Vì Bồ-tát là người sẵn lòng ban cho tất cả những gì mình
có.’
“Duy-ma-cật nói: ‘Ta đã buông bỏ rồi. Ngươi có thể
mang họ đi để hết thảy chúng sinh có thể thành tựu ước nguyện như pháp.’
“Các thiên nữ quay hỏi Duy-ma-cật: ‘Ở Ma cung chúng
tôi phải sống như thế nào?’
“Duy-ma-cật đáp: ‘Này các cô, có Pháp môn được gọi
là Ngọn đèn vô tận;
các cô nên học. Ví như, một ngọn đèn có thể được dùng để mồi sáng hàng
trăm ngàn ngọn đèn khác, do đó bóng tối sẽ được soi sáng và ánh sáng này
sẽ không bao giờ tắt. Cũng vậy, các cô, một Bồ-tát dẫn đường hàng trăm
ngàn chúng sinh khiến cho họ phát tâm cầu giác ngộ tối thượng; mà Đạo ý
của Bồ-tát không hề tắt ngúm.Cứ mỗi lần thuyết pháp là mỗi lần tăng thêm
tất cả pháp thiện cho mình. Cho nên gọi là Vô tận đăng. Dù các cô có ở
nơi cung điện của Ma, các cô hãy nên dùng Pháp Vô tận đăng này để dẫn
dắt vô lượng con trai, con gái của Trời khiến phát tâm cầu giác ngộ, vừa
để báo Phật ân vừa làm lợi chúng sinh.’
“Khi ấy các thiên nữ cúi đầu lễ dưới chân
Duy-ma-cật rồi theo Ma về cung điện. Trong phút chốc họ biến mất cả.
Bạch Thế tôn, Duy-ma-cật thần thông siêu việt, biện tài và trí tuệ như
vậy, con không đủ khả năng viếng thăm người.”
4. Phật bảo một người
con trai của trưởng giả tên Thiện Đức:
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Thiện Đức đáp:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đi thăm bệnh
ông ấy. Vì nhớ lại có lần con tổ chức một đại hội bố thí
tại nhà thân phụ để cúng dường hết thảy Sa-môn, Bà-la-môn, các ngoại
đạo, các người bần cùng, hạ tiện, cho đến cả ăn mày. Đại hội kéo dài đến
bảy ngày, và khi kết thúc Duy-ma-cật đã đến nói với con: ‘Ồ, con trai
nhà trưởng giả! Đại hội bố thí không phải như ông đã tổ chức. Nó phải là
đại hội bố thí pháp.
Đại hội bố thí vật chất
như vậy có ích gì.’
“Con hỏi: ‘Thưa Cư sĩ, thế nào là Hội Pháp thí?’
“Ông đáp: ‘Pháp thí không có trước cũng không có
sau.
Trong một lúc mà cúng dường hết thảy chúng sinh. Đó là Đại hội Pháp
thí.’
“ ‘Nghĩa là sao?’ - Con hỏi.
“Ông mới đáp: ‘Nghĩa là, bằng bồ-đề mà phát khởi từ
tâm;
bằng sự cứu độ chúng sinh mà khởi bi tâm;
bằng sự duy trì Chính pháp mà khởi hỷ tâm;
bằng sự nhiếp thủ trí tuệ
mà hành xả tâm.
“Bằng sự vượt thắng lòng tham lam bủn xỉn
mà khởi bố thí ba-la-mật; bằng sự giáo hóa người phạm giới mà tu giới
ba-la-mật; bằng vô ngã mà khởi nhẫn nhục ba-la-mật;
bằng sự lìa tướng thân tâm
mà khởi tinh tấn ba-la-mật;
bằng bồ-đề tướng
mà khởi thiền ba-la-mật;
bằng nhất thiết trí
mà khởi bát-nhã ba-la-mật.
“Bằng sự giáo hóa chúng sinh mà khởi Không; bằng sự
không xả hữu vi
mà phát khởi Vô tướng; bằng sự thị hiện thọ sinh
mà khởi Vô tác.
“Bằng sự hộ trì chính Pháp mà khởi phương tiện lực;
vì để cứu độ chúng sinh mà khởi bốn nhiếp pháp;
bằng sự kính thờ tất cả
mà quyết tâm quét sạch kiêu mạn; ở nơi thân, mạng, tài sản mà khởi ba
pháp chắc thật;
ở trong sáu niệm
mà khởi pháp tư niệm; ở nơi sáu điểm hòa kính mà khởi tâm chất trực;
vì chân chính tu hành pháp thiện mà khởi tịnh mạng;
vì sự hoan hỷ thanh tịnh của tâm
mà khởi lên sự gần gũi Hiền Thánh trí; bằng sự không ghét bỏ người xấu
mà khởi lên sự chế ngự tâm;
vì pháp xuất gia mà khởi thâm tâm;
bằng như thuyết mà hành
mà khởi đa văn; vì pháp vô tránh
mà phát khởi đời sống nhàn tĩnh;
bằng thú hướng Phật đạo mà phát khởi đời sống độc cư;
vì để cởi trói chúng sinh mà phát khởi các giai đoạn tu hành;
vì để được các hình tướng tốt đẹp và làm thanh tịnh đất Phật mà phát
khởi nghiệp phước đức;
vì để biết tâm niệm hết thảy chúng sinh để tùy nghi nói Pháp mà phát
khởi nghiệp của trí;
vì để hiểu rõ các pháp vốn không thủ cũng không xả, thâm nhập cánh cửa
nhất tướng,
mà phát khởi nghiệp của tuệ;
vì để tận diệt mọi phiền não, mọi chướng ngại và bất thiện pháp, mà phát
khởi tất thảy thiện nghiệp; vì để chứng nghiệm tất cả trí tuệ và tất cả
thiện pháp mà phát khởi các pháp trợ Phật đạo.
“Hết thảy những điều trên, này Thiện nam tử, là Đại
hội Pháp thí. Nếu Bồ-tát an trú nơi Đại hội Pháp thí, thì đó là Đại thí
chủ, và cũng là ruộng phước cho hết thảy thế gian.’
“Bạch Thế tôn, khi Duy-ma-cật giảng Pháp này xong,
trong chúng Bà-la-môn có hai trăm người lắng nghe đã phát tâm tầm cầu
giác ngộ tối thượng. Bản thân con lúc đó cảm thấy tâm lắng đọng, thanh
tịnh, tán thán là chưa từng có. Con bèn làm lễ bái tạ dưới chân ông và
cởi ra vòng trân châu vô giá dâng tặng ông. Nhưng ông không nhận. Con
nói: ‘Thưa Cư sĩ, xin ngài nhận lấy tặng phẩm này rồi muốn sử dụng sao
tùy ý.’ Ông lấy vòng trân châu, chia ra hai phần, cho người ăn xin tồi
tàn nhất một phần trong hội này; phần kia cho đức Nan Thắng Như Lai.
Hết thảy chúng hội hiện diện đều có thể nhìn thấy Nan Thắng Như Lai
trong quốc độ Quang minh.
Lúc ấy họ cũng thấy phía trên đức Phật kia nửa vòng trân châu ấy biến
thành đài báu trang nghiêm trên bốn cột trụ, bốn mặt đều được trang
nghiêm, rõ ràng không che khuất nhau.
“Sau thị hiện biến hóa thần kỳ này, Duy-ma-cật nói:
‘Ai bố thí cho người hành khất nghèo hèn nhất với tâm bình đẳng, là hành
động không khác với phước báo của Như Lai, vì nó xuất phát từ lòng đại
bi không mong đáp trả. Đó chính là viên mãn Pháp thí vậy.’
“Sau khi chứng kiến thần lực và nghe giảng pháp của
Duy-ma-cật, người hành khất thấp hèn nhất trong thành cũng đã phát tâm
cầu giác ngộ tối thượng. Cho nên con không đủ khả năng đi thăm bệnh
Duy-ma-cật.”
Các Bồ-tát từng mỗi vị trình bày những lần gặp
Duy-ma-cật như vậy, đều nói không có khả năng đi thăm bệnh ông.
|