維 摩 詰 所 說

KINH DUY-MA-CẬT SỞ THUYẾT

Bản dịch Việt Tuệ Sỹ

CHƯƠNG CHÍN
PHÁP MÔN BẤT NHỊ[1]

Bấy giờ, Duy-ma-cật nói với các Bồ-tát hiện diện: “Thưa các nhân giả, thế nào là Bồ-tát vào cửa pháp bất nhị?[1] Mong các vị hãy tùy chỗ sở thích của mình mà trình bày.”

1. Trong hội có Bồ-tát Pháp Tự Tại[2] nói: “Thưa chư nhân giả, sinh và diệt là hai.[3] Pháp trước vốn không sinh, nay tất không diệt. Lãnh hội pháp nhẫn vô sinh này là vào cửa pháp bất nhị.”

2. Bồ-tát Đức Thủ[4] nói: “Ngã và ngã sở là hai.[5] Nhân bởi có ngã nên có ngã sở.[6] Nếu không có ngã thì không có ngã sở. Đó là vào cửa pháp bất nhị.”

3. Bồ-tát Bất Huyến[7] nói: “Thọ và bất thọ[8] là hai. Nếu không thọ các pháp thì không khả đắc.[9] Vì không khả đắc cho nên không thủ, không xả, không tác, không hành. Đó là vào cửa pháp bất nhị.”

4. Bồ-tát Đức Đỉnh[10] nói: “Cáu bẩn và thanh tịnh là hai. Thấy được tính của cáu bẩn thì không còn tướng tịnh, thuận theo tướng tịch diệt. Đó là vào cửa pháp bất nhị.”

5. Bồ-tát Thiện Tú[11] nói: “Động và niệm[12] là hai. Không động thì không niệm. Không niệm thì không phân biệt.[13] Đạt đến chỗ này là vào cửa pháp bất nhị.”

6. Bồ-tát Thiện Nhãn[14] nói: “Nhất tướng với vô tướng là hai. Hiểu được nhất tướng rốt ráo là vô tướng, không chấp vào vô tướng để thể nhập bình đẳng, đó là vào cửa pháp bất nhị.”

7. Bồ-tát Diệu Tý[15] nói: “Tâm Bồ-tát với tâm Thanh văn là hai. Quán tướng của tâm vốn rỗng không, hư ảo, thì chẳng có tâm nào là tâm Bồ-tát hay tâm Thanh văn. Đó là vào cửa pháp bất nhị.”

8. Bồ-tát Phất-sa[16] nói: “Thiện và bất thiện là hai. Nếu không khởi thiện hay bất thiện là nhập thật tế của vô tướng. Thông suốt như vậy là vào cửa pháp bất nhị.”

9. Bồ-tát Sư Tử[17] nói: “Tội, phước[18] là hai. Hiểu được tính của tội chẳng khác tính của phước. Lấy trí huệ kim cang mà quyết rõ tướng này, không ràng buộc, chẳng giải mở; đó là vào cửa pháp bất nhị.”

10. Bồ-tát Sư Tử Ý[19] nói: “Hữu lậu và vô lậu là hai. Nếu chứng các pháp là bình đẳng thì chẳng khởi tưởng hữu lậu hay vô lậu, không vướng vào tướng, không trụ vô tướng, đó là vào cửa pháp bất nhị.”

11. Bồ-tát Tịnh Giải[20] nói: “Hữu vi, vô vi là hai.[21] Nhưng nếu lìa các số[22] thì tâm như hư không,[23] trí huệ thanh thịnh chẳng còn chỗ trở ngại, đó là vào cửa pháp bất nhị.”

12. Bồ-tát Na-la-diên[24] nói: “Thế gian và xuất thế gian là hai nhưng tính của thế gian là không thì cũng là xuất thế gian. Ở trong đó không vào, không ra, không đầy,[25] không tan, đó là vào cửa pháp bất nhị.”

13. Bồ-tát Thiện Ý[26] nói: “Sinh tử và Niết-bàn là hai. Nếu thấy được tính của sinh tử thì chẳng còn sinh tử, không trói buộc không cởi mở, không sinh, không diệt.[27] Hiểu được vậy là vào cửa pháp bất nhị.”

14. Bồ-tát Hiện Kiến[28] nói: “Tận và bất tận là hai. Trong cứu cánh, pháp tận cũng như bất tận đều chính là tướng vô tận.[29] Tướng vô tận tức là Không.[30] Không thì không có tướng tận hay bất tận. Vào chỗ đó là vào cửa pháp bất nhị.”

15. Bồ-tát Phổ Thủ[31] nói: “Ngã và vô ngã là hai. Ngã còn không thể nắm bắt được, phi ngã làm sao nắm bắt? Nhìn ra thật tính này của ngã thì không khởi nhị nguyên nữa; đó là vào cửa pháp bất nhị.”

16. Bồ-tát Điện Thiên[32] nói: “Minh, vô minh là hai. Nhưng thật tính của vô minh chính là minh. Minh cũng không thể thủ, lìa hết thảy số.[33] Ở trong đó mà bình đẳng không hai, đó là vào cửa pháp bất nhị.”

17. Bồ-tát Hỷ Kiến[34] nói: “Sắc và Sắc Không là hai.[35] Sắc chính là Không, không phải do sắc diệt mà Không, nhưng tính của Sắc tự nó là Không. Thọ, Tưởng, Hành và Thức cũng vậy. Thức và Không là hai. Thức cũng chính là Không, không phải do Thức diệt mà Không, vì tính của Thức chính là Không vậy. Thông đạt chỗ này là vào cửa pháp bất nhị.”

18. Bồ-tát Minh Tướng[36] nói: “Bốn đại chủng và không đại chủng[37] là hai. Tính của bốn đại chủng chính là không đại chủng. Cũng như tiền tế và hậu tế đều là không, cho nên trung tế cũng là không. Thấu suốt tính này của bốn đại chủng là vào cửa pháp bất nhị.”

19. Bồ-tát Diệu Ý[38] nói: “Con mắt, và sắc là hai. Nếu biết tính của con mắt, thì ở nơi sắc chẳng khởi tham, sân, si, đó là tịch diệt. Cũng vậy, tai với âm thanh, mũi với mùi, lưỡi với vị, thân với xúc, ý với các pháp là hai. Nếu biết thật tính của ý, thì ở nơi pháp chẳng khởi tham, sân, si, đó là tịch diệt. An trụ trong đây là vào cửa pháp bất nhị.”

20. Bồ-tát Vô Tận Ý[39] nói: “Bố thí và hồi hướng đến Nhất thiết trí là hai. Nhưng tính của bố thí chính là sự hồi hướng đến Nhất thiết trí. Cũng vậy, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ với hồi hướng Nhất thiết trí là hai. Nhưng tính của trí tuệ là tính của hồi hướng Nhất thiết trí. Ở trong đây mà thâm nhập nhất tướng, là vào cửa pháp bất nhị.”

21. Bồ-tát Thâm Huệ[40] nói: “Đây là Không, đây là Vô tướng, đây là Vô tác, là hai. Nhưng Không tức là Vô tướng. Vô tướng tức là Vô tác. Không, Vô tướng, Vô tác tức không tâm, không ý, cũng không thức. Ở trong một giải thoát môn cũng chính cả ba giải thoát môn. Đó là vào cửa pháp bất nhị.”

22. Bồ-tát Tịch Căn[41] nói: “Phật, Pháp, Chúng là hai. Phật tức là Pháp. Pháp tức là Chúng. Tam bảo này tướng vô vi, bình đẳng với hư không, hết thảy các pháp cũng vậy. Thấu suốt pháp này là vào cửa pháp bất nhị.”

23. Bồ-tát Tâm Vô Ngại[42] nói: “Thân với thân diệt[43] là hai. Thân cũng chính là thân diệt. Vì sao? Vì thấu rõ thật tính của thân thì không còn khởi ý niệm về thân hay thân diệt, vì cả hai rốt ráo là bất nhị, không khác. Ở trong đó mà không kinh, không sợ, là vào cửa pháp bất nhị.”

24. Bồ-tát Thượng Thiện[44] nói: “Thân, khẩu, ý thiện[45] là hai. Tướng của ba nghiệp này là vô tác. Tướng vô tác của thân tức là tướng vô tác của miệng. Tướng vô tác của miệng tức là tướng vô tác của ý. Tướng vô tác của ba nghiệp này tức là tướng vô tác của hết thảy pháp. Nếu có thể tùy theo trí huệ vô tác như vậy là vào cửa pháp bất nhị.”

25. Bồ-tát Phước Điền[46] nói: “Phước hành, tội hành và bất động hành[47] là hai. Thật tính của ba hành là không. Không thì không phước hành, không tội hành, không bất động hành. Không khởi ba hành này là vào cửa pháp bất nhị.”

26. Bồ-tát Hoa Nghiêm[48] nói: “Từ ngã mà khởi nhị nguyên,[49] đó là hai. Thấy thật tướng của ngã, nhị nguyên này sẽ không khởi. Nếu không trụ nơi pháp nhị nguyên thì không có thức. Không có gì được nhận thức, đó là vào cửa pháp bất nhị.”

27. Bồ-tát Đức Tạng[50] nói: “Tướng của hữu sở đắc là phân hai.[51] Nếu không sở đắc thì không thủ cũng không xả. Không thủ, không xả là vào cửa pháp bất nhị.”

28. Bồ-tát Nguyệt Thượng nói:[52] “Tối, sáng là hai. Không tối, không sáng thì không hai. Vì sao? Như nhập diệt thọ tưởng định thì chẳng còn tối hay sáng. Tướng của hết thảy các pháp cũng như vậy. Ở trong đó bình đẳng mà vào, đó là vào cửa pháp bất nhị.”

29. Bồ-tát Bảo Ấn Thủ[53] nói: “Vui thích Niết-bàn, không vui thích thế gian là sự hai. Nếu không vui thích Niết-bàn, không chán ghét thế gian, thế thì không có hai. Vì sao? Nếu có buộc mới có cởi. Nhưng nếu chẳng có buộc ràng thì ai mong cầu cởi trói? Không ràng buộc, không cởi mở, tức không thích cũng không chán; đó là vào cửa pháp bất nhị.”

30. Bồ-tát Châu Đỉnh Vương[54] nói: “Chính đạo và tà đạo là hai. Người trụ ở chính đạo tất không phân biệt chính, tà.[55] Lìa hai thái cực này là vào cửa pháp bất nhị.”

31. Bồ-tát Lạc Thật[56] nói: “Thật, bất thật là hai. Người thấy sự thật còn không cho đó là thật, huống gì là cái bất thật. Vì sao? Đó là cái mà mắt thịt không thể thấy, chỉ có con mắt huệ mới nhìn ra. Nhưng con mắt huệ thì không có sự thấy, cũng không có sự không thấy. Đó là vào cửa pháp bất nhị.”

32. Chư Bồ-tát đã lần lượt từng vị trình bày xong, liền hỏi Văn-thù-sư-lợi: “Thế nào là Bồ-tát vào cửa pháp bất nhị?”

Văn-thù-sư-lợi nói: “Theo ý tôi, đối với hết thảy pháp không nói, không thuyết, không chỉ thị, không nhận thức;[57] vượt ngoài vấn đáp. Đó là vào bất nhị pháp môn.”

33. Đoạn Văn-thù hỏi Duy-ma-cật: “Chúng tôi mỗi người đã nói rồi, xin Nhân giả cho biết thế nào là Bồ-tát vào cửa pháp bất nhị?”

Bấy giờ, Duy-ma-cật lặng im không nói.

Văn-thù-sư-lợi tán thán: “Lành thay, lành thay! Cho đến không còn văn tự và ngôn thuyết, ấy mới thật là vào cửa pháp bất nhị.”

Khi thuyết phẩm vào cửa pháp bất nhị này, năm ngàn Bồ-tát trong hội đều vào cửa pháp bất nhị, đắc vô sinh pháp nhẫn.*

 


[1] VKN: advayadharmamukhapraveśaḥ, đi vào cửa khẩu của pháp không hai.

[2] Pháp Tự Tại 法自在. Ckh., Pháp Tác 法作. VKN: Dharma-vikurvaṇa; cf. Śikṣasamuccaya.

[3] VKN: utpādabhaṅgau dvayam, xuất hiện và tan vỡ là hai.

[4] Đức Thủ 德守. Htr., Thắng Mật 勝密. Ckh., Thủ Bế 首閉. Skt. Śrīgupta.

[5] VKN: aham mameti dvayam, tôi (là) và của tôi là hai.

[6] VKN: ātmāsamāropān mameti na bhavati, không có sự tăng thịnh của tự ngã thì không tồn tại cái của tôi.

[7] Lth., Ckh., Bất Huyến 不眴. Htr., Vô Thuấn 無瞬. VKN: Animisa. Nhảy xuống hàng thứ sáu so với các bản Hán.

[8] Thọ bất thọ 受不受. Htr.. hữu thủ vô thủ 有取無取. La thập: “Thọ và bất thọ, tức chấp thủ tướng và không chấp thủ tướng.” VKN: upādānaṃ anupādānam.

[9] Htr.: “Không chấp thủ thì không có gì là sở đắc. Không sở đắc nên không tăng không giảm” VKN: yatropādadāti tan nopalabhate, không tiếp nhận thì không thủ đắc.

[10] Đức Đỉnh 德頂; Htr.: Thắng Phong 勝峰. Ckh. Thủ Lập 首立. VKN: Śrīkuṭa.

[11] Ckh., Lth., Thiện Tú 善宿; Htr.: Diệu Tinh 妙星. VKN: Sunakṣatra.

[12] La-thập: “Tâm mê hoặc chớm khởi là động. Nắm bắt tướng một cách dính sâu, đó là niệm.” Htr.: tán động và tư duy 散動思惟. Khuy Cơ: “Tâm dong ruổi ngoại cảnh là tán động. Niệm thâu vào nội duyên là tư duy.” VKN: iñjanā maneti dvayam, động và ý, đây là hai.

[13] VKN: yat punar neñjate na manasikaroty iti anadhikāraḥ adhi-kāraviharahito ‘yam advapraveśaḥ, không động thì không tác ý, đó là không có lực ưu thắng. Loại trừ lực ưu thắng, đây là vào chỗ không hai.

[14] Lth., Ckh., Thiện Nhãn 善眼; Htr.: Diệu Nhãn 妙眼. Skt. Sunetra; nhảy xuống hàng thứ bảy so các bản Hán.

[15] Lth., Htr., Diệu Tý 妙臂. Ckh., Thiện Đa 善多(Subahu, a ngắn). VKN. Subāhu (ā dài).

[16] Phất-sa 弗沙; La-thập nói: Đây là sao Quỷ 鬼星 trong 28 tinh tú, tức Skt. Puṣya(nakṣatra). Ckh., Phụng Dưỡng 奉養. Htr.: Dục Dưỡng 育養; theo đây thì Skt. là Puṣa (nuôi lớn). VKN: Puṣya.

[17] Lth., Htr., Sư Tử 師子. Ckh., Sư Tử Ý 師子意. VKN: Siṃha.

[18] Htr.: “Có tội và không tội.” VKN: avadyānavadyatā.

[19] Sư Tử Ý 師子意; Htr.: Sư Tử Tuệ 師子慧. Ckh., Dũng Ý 勇意. VKN: Siṃhamati.

[20] Lth., Ckh. Tịnh Giải 淨解; Htr.: Tịnh Thắng Giải 淨勝解 (Skt. Śuddhādhimukta trong các bản Hán). VKN Sukhādhimukta (Lạc Thắng Giải).

[21] VKN: idaṃ sukham idam asukham iti dvayam, đây là lạc, đây là không lạc, là hai. Ckh.: “Đây là có số (saṃkhyā, thay cho saṃskṛta), đây là không có số, là hai.”

[22] Ly nhất thiết số 離一切數. Htr.: viễn ly các hành 遠離諸行. Trong bản La-thập, Skt. đọc là saṃkhyā, con số, sự tính đếm, hay tư duy. Trong bản Htr., Skt. saṃskāra, hành, tác hành. VKN: yat punar sarvasaukhyāpagato gaganasamabuddhiḥ, lìa bỏ tất cả những gì là lạc, trí giác như hư không.

[23] Htr.: giác tuệ như không 覺慧如空. VCS (tr. 1092a11): “Khởi giác tuệ, tức trí quán vô vi như không.”

[24] Lth., Htr., Na-la-diên 那羅延. Ckh., Nhân Thừa 人乘. VKN. Nārāyaṇa.

[25] Bất dật 不溢. La-thập: “Bản Phạn nói là lưu (sāryate).” Htr.: vô lưu 無流. VCS (tr. 1092a16): “Cựu dịch là dật, có nghĩa là lưu dật 流溢 (chảy tràn).”

[26] Thiện Ý 善意. Htr.: Điều Thuận Tuệ 調順慧. Ckh., khuyết. VKN: Dāntamati.

[27] Htr.: “Liễu tri sinh tử, tự tính vốn không; không lưu chuyển, cũng không tịch diệt.”

[28] Lth., Htr., Hiện Kiến 現見. Ckh., Mục Kiến 目見. VKN: Pratyakṣadarśī.

[29] La-thập: “Pháp bị hủy diệt mà không hoàn toàn diệt tận, nên nói là bất tận.” Khuy Cơ (tr. 1092b02): “Cựu dịch... không còn cái gì để có thể tận cùng hơn nữa, cho nên cái hữu tận chính là cái vô tận.”

[30] Đoạn không có trong bản của La-thập, Htr.: “Lại nữa, hữu tận là thuộc một sát na. Trong một sát na, không có cái hữu tận, thì đó là vô tận. Không có cái hữu tận, nên cái vô tận cũng không. Thấu hiểu tự tính của hữu tận và vô tận vốn không, đó là nhập bất nhị pháp môn.”

[31] Phổ Thủ 普守. Htr.: Phổ Mật 普密. Ckh., Phổ Bế 普閉. Skt. Samantagupta.

[32] Lth., Htr., Điện Thiên 電天. Ckh., Minh Thiên 明天. VKN: Vidyuddeva.

[33] Htr.: “Minh và vô minh đều bất khả đắc. Không thể tính toán; siêu việt con đường tính toán.”

[34] Lth., Htr., Hỷ Kiến 喜見. Ckh., Ái Cẩn 愛覲. VKN: Priyadarāno.

[35] VKN: rūpaṃ śūnyam iti dvayam, sắc là Không, là hai.

[36] Lth., Minh Tướng 明相. Htr.: Quang Tràng 光幢. Ckh., Quang Tạo 光造. VKN: Prabhāketu.

[37] Tứ chủng 四種. La-thập, đây chỉ tứ đại tức bốn đại chủng (mahābhūtāni). Htr.: “Bốn giới (dhātu) và không giới (ākāśadhātu) là hai.”

[38] Lth., Diệu Ý 妙意. Htr.: Diệu Huệ 妙慧. Ckh., Thiện Ý 善意. VKN: Sumati.

[39] Lth., Ckh., Vô Tận Ý 無盡意. Htr.: Vô Tận Tuệ 無盡慧. VKN: Akṣayamati.

[40] Lth., Thâm Tuệ 深慧. Htr.: Thậm Thâm Giác 甚深覺. Ckh., Thâm Diệu 深妙. VKN: Gambīrabuddhi.

[41] Lth., Ckh., Tịch Căn 寂根. Htr.: Tịch tĩnh căn 寂靜根. VKN: Śāntendriya (Cf. Gaṇḍ., Rāstr., Śikṣ.)

[42] Tâm Vô Ngại 心無閡. Htr.: Vô Ngại Nhãn 無礙眼. Ckh., Bất Hủy Căn 不毀根. Apraticakṣu.

[43] La-thập: “Thân là năm thủ uẩn. Thân diệt là Niết bàn.” Htr.: tát-ca-da 薩迦耶, tát-ca-da diệt 薩迦耶滅; Skt. satkāya, satkāya-nirodha.

[44] Thượng Thiện 上善. Htr.: Thiện Điều Thuận 善調順. Ckh., Thiện Đoạn 善斷. VKN: Suvinīta.

[45] Htr.: ba luật nghi. VKN: kāyavāṅmanaḥsaṃvara, ba luật nghi thân, ngữ, ý.

[46] Lth., Htr. Phước Điền 福田. Ckh., Phước Thổ 福土. VKN: Puṇyakṣetra.

[47] Tội hành 罪行, chỉ các nghiệp bất thiện. Phước hành 福行: nghiệp thiện Dục giới. Bất động hành 不動行; nghiệp thuộc Sắc và Vô sắc giới.

[48] Lth., Htr., Hoa Nghiêm 華嚴. Ckh., khuyết. VKN: Padmavyūha.

[49] VKN: ātmasamutthānasamutthitaṃ dvayaṃ, đẳng khởi (nguyên khởi) và sở đẳng khởi (cái được phát khởi của ngã là hai. Htr.: “Tất cả pháp hai đều sinh khởi từ ngã.”

[50] Đức Tạng 德藏. Htr.: Thắng Tạng 勝藏. Ckh., khuyết. VKN: Śrīgarbha (Cf. Saddh., Mvyut.)

[51] Hữu sở đắc tướng 有所得相. Htr.: hữu sở đắc khởi 有所得起. VKN: upalambhaprabhāvitaṃ dvayam, cái được hiển thị như là sở đắc, là hai (vật nhị nguyên được hiển thị bằng sự thủ đắc).

[52] Lth., Htr.: Nguyệt Thượng 月上. Ckh.: Nguyệt Thạnh 月盛. VKN: Candrottara.

[53] Cả ba bản: Bảo Ấn Thủ 寶印手. VKN: Ratnamudrāhasta.

[54] Châu Đỉnh Vương 珠頂王. Htr.: Châu Kế Vương 珠髻王. Ckh., Tâm Châu Lập 心珠立. VKN: Maṇikūṭarāja.

[55] Htr.: “Người an trụ Chánh đạo thì cứu cánh không hành tà đạo. Vì không hành (không đi) cho nên không có hai tướng tà đạo và chính đạo.”

[56] Lạc Thật 樂實. Htr.: Đế Thật 諦實. Ckh., Thành Lạc Ngưỡng 誠樂仰. VKN: Satyanandī.

[57] La-thập: vô ngôn 無言, vô thuyết 無說, vô thị 無示, vô thức 無識. Htr.: vô ngôn, vô thuyết, vô biểu, vô thị 無表無示.

* Bản Hán, Lth. hết quyển trung; Htr. hết quyển 4.


Ban Tu Thư Phật Học

Cập nhật: 07/11/2006

ℼⴭ琠硥⁴敢潬⁷敧敮慲整⁤祢猠牥敶⹲倠䕌十⁅䕒位䕖ⴠ㸭ℼⴭ䌠畯瑮牥匯慴楴瑳捩⁳慤慴挠汯敬瑣潩潣敤ⴠ㸭猼牣灩⁴慬杮慵敧∽慊慶捓楲瑰•牳㵣栢瑴㩰⼯獵樮㉳礮浩⹧潣⽭獵樮⹳楹杭挮浯氯扩猯扭樯⽳潨瑳湩⽧灣樯彳潳牵散眯癨弲〰⸱獪㸢⼼捳楲瑰㰾捳楲瑰氠湡畧条㵥樢癡獡牣灩≴朾潥楶楳⡴㬩⼼捳楲瑰㰾潮捳楲瑰㰾浩⁧牳㵣栢瑴㩰⼯楶楳⹴敷桢獯楴杮礮桡潯挮浯瘯獩瑩朮晩甿ㅳ㈲㐸㘲㘶∲愠瑬∽敳獴慴獴•潢摲牥∽∰眠摩桴∽∱栠楥桧㵴ㄢ㸢⼼潮捳楲瑰