|
長 阿 含 經 Phần i 1. KINH ĐẠI BẢN DUYÊN[1] |
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở động Hoa lâm[2] vườn cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngh́n hai trăm năm mươi người.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo sau khi khất thực[3], tụ họp ở Hoa lâm đường[4], cùng nhau bàn luận rằng:
“Các hiền giả Tỳ-kheo, duy chỉ đấng Vô thượng tôn, rất kỳ diệu, oai lực lớn lao, thần thông viễn đạt, mới biết rơ quá khứ vô số đức Phật nhập Niết-bàn, dứt sạch các kết sử, tiêu diệt các hư luận, và cũng biết rơ kiếp số các đức Phật ấy dài hay ngắn, cho đến danh hiệu, ḍng họ thác sinh, sự ăn uống, thọ mệnh dài ngắn, cảm thọ lạc và cảm thọ khổ như thế nào[5]; lại biết rơ các đức Phật ấy có giới như vậy, có pháp như vậy, có trí tuệ như vậy, có giải thoát như vậy, an trụ như vậy. Thế nào, này chư hiền? Đó là do đức Như Lai thông rơ các pháp tính mà biết được hay do chư thiên kể lại?”
Bấy giờ, Đức Thế Tôn đang ở chỗ thanh vắng, bằng thiên nhĩ thanh tịnh, nghe rơ các Tỳ-kheo luận bàn như thế, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Hoa lâm đường, ngồi vào chỗ ngồi dọn sẵn. Bấy giờ, đức Thế Tôn tuy đă biết nhưng vẫn hỏi:
“Này chư Tỳ-kheo, các ngươi tụ tập nơi đây bàn luận chuyện ǵ?”
Các Tỳ-kheo bèn đem hết mọi việc bạch lại với Phật. Rồi th́, đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Lành thay, lành thay! Các ngươi đă với tâm chánh tín[6] xuất gia học đạo, nên làm hai việc: một là nói năng theo pháp Hiền Thánh, hai là im lặng theo pháp Hiền Thánh. Những điều các ngươi luận bàn phải nên như thế. Như Lai thần thông oai lực lớn lao, biết khắp mọi việc từ vô số kiếp quá khứ, như thế là do thông rơ các pháp tính, đồng thời cũng do chư thiên nói lại.”
Bấy giờ Phật nói bài tụng:
Tỳ-kheo họp pháp đường
Giảng luận pháp Hiền Thánh.
Như Lai từ am vắng
Nghe rơ bằng thiên nhĩ.
Mặt trời Phật rọi khắp,
Phân tích nghĩa pháp giới.
Cũng biết việc quá khứ,
Chư Phật[7] bát Niết-bàn,
Tên, ḍng họ, chủng tộc.
Cũng biết thọ sanh phần.
Vị ấy ở nơi nào,
Ghi nhận bằng tịnh nhăn.
Chư thiên uy lực lớn,
Dung mạo rất đoan nghiêm,
Cũng đến bẩm báo Ta
Chư Phật bát Niết-bàn,
Chỗ sinh, tên, chủng tộc
Âm thanh vi diệu tỏ[8].
Đấng Chí Tôn trong đời
Biết rơ Phật quá khứ.
Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo! Các ngươi có muốn Như Lai, bằng trí túc mạng biết nhơn duyên của chư Phật quá khứ, nói cho nghe chăng?”
Các Tỳ-kheo liền bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, nay chính là lúc. Chúng con muốn nghe. Lành thay, Thế Tôn, lúc này thích hợp để giảng thuyết. Chúng con phụng hành.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Hăy lắng nghe, hăy suy gẫm kỹ. Ta sẽ phân biệt giải thuyết cho các ngươi nghe.”
Lúc bấy giờ, các Tỳ-kheo vâng lời, lắng nghe.
Phật nói:
“Này các Tỳ-kheo! Quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp có đức Phật hiệu là Tỳ-bà-thi[9], Như Lai, Chí chân, xuất hiện ở thế gian.
“Lại nữa, Tỳ-kheo, trong quá khứ cách đây ba mươi mốt kiếp có đức Phật hiệu là Thi-khí[10], Như Lai, Chí chân, xuất hiện ở thế gian.
“Lại nữa, Tỳ-kheo, cũng trong ba mươi mốt kiếp đó có đức Phật hiệu là Tỳ-xá-bà[11] Như Lai, Chí chân, xuất hiện ở thế gian.
“Lại nữa, Tỳ-kheo, trong hiền kiếp này có Phật hiệu là Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm, Ca-diếp.[12] Ta nay cũng ở trong hiền kiếp này mà thành Tối Chánh giác.”
Bấy giờ, Phật nói bài tụng:
Qua chín mươi mốt kiếp
Có Phật Tỳ-bà-thi.
Ba mươi mốt kiếp kế
Có Phật hiệu Thi-khí.
Cũng ở trong kiếp này,
Xuất hiện Phật Tỳ-xá.
Nay trong Hiền kiếp này,
Vô số na-duy tuổi[13],
Có bốn Đại Tiên nhân,
Xuất hiện v́ thương đời:
Câu-lưu-tôn, Na-hàm,
Ca-diếp, Thích-ca-văn.
“Các ngươi nên biết, thời đức Phật Tỳ-bà-thi, nhân loại sống đến tám vạn tuổi; thời đức Phật Thi-khí, nhân loại sống đến bảy vạn tuổi; thời đức Phật Tỳ-xá-bà, nhân loại sống đến sáu vạn tuổi; thời đức Phật Câu-lưu-tôn, nhân loại sống đến bốn vạn tuổi; thời đức Phật Câu-na-hàm, nhân loại sống đến ba vạn tuổi; thời đức Phật Ca-diếp, nhân loại sống đến hai vạn tuổi, và nay Ta ra đời, nhân loại sống đến một trăm tuổi, tăng th́ ít mà giảm th́ nhiều.[14]”
Rồi Phật nói bài tụng:
Người thời Tỳ-bà-thi,
Thọ tám vạn bốn ngh́n,
Người thời Phật Thi-khí
Thọ mạng bảy vạn tuổi.
Người thời Tỳ-xá-bà
Thọ mạng sáu vạn tuổi.
Người thời Câu-lâu-tôn
Thọ mạng bốn vạn tuổi.
Người thời Câu-na-hàm
Thọ mạng ba vạn tuổi.
Người thời Phật Ca-diếp
Thọ mạng hai vạn tuổi.
Người thời Ta hiện nay
Tuổi thọ không quá trăm.
“Đức Phật Tỳ-bà-thi sinh về ḍng Sát-lỵ[15], họ Câu-lị-nhă[16]. Phật Thi-khí và Phật Tỳ-xá-bà, ḍng họ cũng vậy. Phật Câu-lưu-tôn sinh về ḍng Bà-la-môn họ Ca-diếp[17]. Phật Câu-na-hàm, Phật Ca-diếp, ḍng họ cũng vậy. C̣n nay Ta, Như Lai, Chí chân th́ sinh về ḍng Sát-lỵ, họ Cồ Đàm[18].”
Phật lại nói bài tụng:
Tỳ-bà-thi Như Lai,
Thi-khí, Tỳ-xá-bà,
Ba vị Đẳng chánh giác,
Sinh họ Câu-lị-nhă.
Ba đức Như Lai kia,
Sinh vào họ Ca-diếp
Ta nay, bậc Vô thượng,
Dẫn dắt các chúng sanh,
Bậc nhất trong trời người,
Họ Cù-đàm dũng mănh.
Ba đức Chánh giác đầu,
Sinh vào ḍng Sát-lỵ.
Ba đức Như Lai sau
Thuộc ḍng Bà-la-môn.
Ta nay đấng Tối tôn,
Ḍng Sát-lỵ dũng mănh.
“Đức Phật Tỳ-bà-thi ngồi dưới cây ba-ba-la[19] chứng thành bậc Tối chánh giác. Phật Thi-khí ngồi dưới cây phân-đà-lỵ[20], thành bậc Tối chánh giác. Phật Tỳ-xá-bà ngồi dưới cây sa-la[21] thành bậc Tối chánh giác. Phật Câu-lâu-tôn ngồi dưới cây thi-lị-sa[22] thành bậc chánh giác. Phật Câu-na-hàm ngồi dưới cây ô-tạm-bà-la[23] thành bậc chánh giùác. Phật Ca-diếp ngồi dưới cây ni-câu-luật[24] thành bậc chánh giác.
Ta nay, Như Lai, Chí chân, ngồi dưới cây bát-đa[25] thành bậc Chánh giác.”
Rồi Phật nói bài tụng:
Tỳ-bà-thi Như Lai
Đi đến cây ba-la
Và ngay tại chỗ ấy
Đắc thành Tối Chánh giác.
Thành đạo, dứt nguồn hữu.
Tỳ-xá-bà Như Lai
Ngồi dưới gốc sa-la
Đắc giải thoát tri kiến.
Thần túc không trở ngại.
Câu-lâu-tôn Như Lai
Ngồi gốc thi-lị-sa
Vô nhiễm, vô sở trước.
Câu-na-hàm Mâu-ni
Ngồi dưới gốc ô-tạm
Và ngay tại chỗ ấy
Diệt các tham, ưu năo.
Đức Ca-diếp Như Lai
Ngồi dưới Ni-câu-luật
Và ngay tại chỗ ấy
Trừ diệt gốc rễ hữu.
Ta nay, Thích-ca Văn
Ngồi dưới cây Bát-đa
Đấng Như Lai, mười lực,
Đoạn diệt các kết sử,
Hàng phục đám ma oán,
Diễn ánh sáng giữa chúng.
Bảy Phật, sức tinh tấn,
Phóng quang, diệt tăm tối;
Mỗi mỗi ngồi gốc cây,
Ở đó thành Chánh giác.
“Đức Phật Tỳ-bà-thi có ba hội thuyết pháp. Hội đầu có mười sáu vạn tám ngàn đệ tử. Hội hai có mười vạn đệ tử. Hội ba có tám vạn đệ tử. Phật Thi-khí cũng có ba hội thuyết pháp: Hội đầu có mười vạn đệ tử. Hội hai có tám vạn đệ tử. Hội ba có bảy vạn đệ tử. Phật Tỳ-xá-bà có hai hội thuyết pháp. Hội đầu có bảy vạn đệ tử. Hội hai có sáu vạn đệ tử. Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, một hội thuyết pháp, đệ tử bốn vạn người. Đức Câu-na-hàm Như Lai, một hội thuyết pháp, đệ tử ba vạn người. Đức Ca-diếp Như Lai, một hội thuyết pháp, đệ tử hai vạn người. Ta nay một hội thuyết pháp, đệ tử một ngh́n hai trăm năm mươi người.”
Bấy giờ Phật nói bài tụng rằng:
Tỳ-bà-thi tên Quán,
Trí tuệ không thể lường,
Thấy khắp[26], không sợ hăi,
Ba hội chúng đệ tử.
Thi-khí, sáng, bất động,
Diệt trừ các kiết sử,
Vô lượng đại oai đức,
Không thể trắc lượng được,
Ngài cũng có ba hội,
Tụ hội các đệ tử.
Tỳ-xá-bà đoạn kết[27],
Đấng Đại tiên tụ hội,
Tiếng tăm khắp các phương,
Pháp mầu được tán thán;
Chúng đệ tử hai hội,
Diễn rộng nghĩa thâm áo.
Câu-lưu-tôn một hội,
Thương xót trị các khổ,
Đạo sư dạy chúng sanh,
Chúng đệ tử một hội.
Câu-na-hàm Như Lai,
Bậc vô thượng cũng vậy,
Thân sắc vàng ṛng tía,
Dung mạo thảy toàn hảo,
Chúng đệ tử một hội,
Rộng diễn pháp nhiệm mầu.
Ca-diếp, mỗi sợi lông[28],
Nhất tâm không loạn tưởng,
Một lời không phiền trọng,
Chúng đệ tử một hội.
Năng nhân Ư Tịch Diệt,[29]
Ta, Sa-môn họ Thích,
Chí Tôn, Trời trên Trời,
Có một hội đệ tử;
Hội ấy, Ta hiện nghĩa,
Quảng diễn giáo thanh tịnh.
Trong tâm thường hoan hỷ,
Lậu tận[30], không tái sinh,
Tỳ Bà, Thi-khí, ba;
Phật Tỳ-xá-bà, hai;
Bốn Phật mỗi vị một
Hội tiên nhân diễn thuyết.
“Đức Phật Tỳ-bà-thi có hai đệ tử là Khiên-trà[31] và Đề-xá[32]. Đức Phật Thi-khí có hai đệ tử là A-tỳ-phù và Tam-bà-bà[33]. Phật Tỳ-xá-bà có hai đệ tử là Pḥ-du và Uất-đa-ma[34]. Phật Câu-lưu-tôn có hai đệ tử là Tát-ni và Tỳ-lâu[35]. Đức Phật Câu-na-hàm có hai đệ tử là Thư-bàn-na và Uất-đa-lâu[36]. Đức Phật Ca-diếp có hai đệ tử là Đề-xá[37] và Bà-la-bà. C̣n nay Ta có hai đệ tử là Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên[38].”
Bấy giờ, Phật nói bài tụng:
Khiên-trà và Đề-xá
Đệ tử Tỳ-bà-thi.
A-Tỳ-Phù, Tam-bà,
Đệ tử Phật Thi-khí.
Pḥ-du, Uất-đa-ma,
Bậc nhất hàng đệ tử.
Cả hai hàng ma oán,
Đệ tử Tỳ-xá-bà.
Tát-ni và Tỳ-lâu,
Đệ tử Câu-lâu-tôn.
Thư-bàn, Uất-đa-lâu,
Đệ tử Câu-na-hàm.
Đề-xá, Bà-la-bà,
Đệ tử Phật Ca-diếp.
Xá-lợi-phất, Mục-liên,
Bậc nhất đệ tử Ta.
“Đức Phật Tỳ-bà-thi có vị đệ tử chấp sự[39] là Vô Ưu[40]; Phật Thi-khí có vị đệ tử chấp sự là Nhẫn Hành[41]; Phật Tỳ-xá-bà có vị đệ tử chấp sự là Tịch Diệt[42]; Phật Câu-lưu-tôn có vị đệ tử chấp sự là Thiện Giác[43]; Phật Câu-na-hàm có vị đệ tử chấp sự là An Ḥa[44]; Phật Ca-diếp có vị đệ tử chấp sự là Thiện Hữu[45]; c̣n Ta có vị đệ tử chấp sự là A-nan[46].”
Vô Ưu và Nhẫn Hành,
Tịch Diệt và Thiện Giác,
An Ḥa và Thiện Hữu
Thứ bảy là A-nan.
Ấy là thị giả Phật
Đầy đủ các nghĩa thú;
Ngày đêm không buông lung.
Bảy Thánh đệ tử ấy
Hầu tả hữu bảy Phật
Hoan hỷ và cúng dường,
Tịch nhiên vào diệt độ[47].
“Đức Phật Tỳ-bà-thi có con tên Phương Ưng[48]. Phật Thi-khí có con tên Vô Lượng. Tỳ-xá-bà có con tên Diệu Giác. Câu-lâu-tôn có con tên Thượng Thắng. Câu-na-hàm có con tên Đạo Sư. Ca-diếp có con tên Tập Quân[49]. Ta nay có con tên là La-hầu-la[50].”
Phật lại nói bài tụng:
Phương Ưng, và Vô Luợng,
Diệu Giác và Thượng Thắng,
Đạo Sư và Tập Quân,
Thứ bảy La-hầu-la.
Các con hào quư ấy
Nối dơi hạt giống Phật;
Yêu Pháp, ưa bố thí,
Trong Thánh Pháp, vô úy.
“Đức Phật Tỳ-bà-thi có cha tên Bàn-đầu[51], ḍng vua Sát-lỵ; mẹ tên Bàn-đầu-bà-đề[52]. Quốc thành của vua trị tên là Bàn-đầu-bà-đề[53].”
Phật bèn nói bài tụng:
Biến Nhăn[54], cha Bàn-đầu,
Mẹ Bàn-đầu-bà-đề.
Thành Bàn-đầu-bà-đề,
Phật thuyết pháp trong đó.
“Đức Phật Thi-khí có cha tên Minh Tướng, ḍng vua Sát-lỵ; mẹ tên Quang Diệu; quốc thành vua cai trị tên là Quang tướng[55].”
Phật lại nói tụng:
Thi-khí, cha Minh Tướng,
Mẹ tên gọi Quang Diệu;
Ở trong thành Quang tướng,
Uy đức dẹp ngoại địch.
“Đức Phật Tỳ-xá-bà có cha tên Thiện Đăng, ḍng vua Sát-lỵ; mẹ tên Xưng Giới, quốc thành vua cai trị tên Vô dụ[56].”
Phật nói tụng:
Cha Phật Tỳ-xá-bà,
Vua Sát-lỵ Thiện Đăng;
Mẹ tên gọi Xưng Giới;
Quốc thành tên Vô dụ.
“Đức Phật Câu-lưu-tôn có cha tên Tự Đắc[57], ḍng Bà-la-môn; mẹ tên Thiện Chi; vua tên An Ḥa và quốc thành cũng theo đó mà có tên là An ḥa.[58]”
Bà-la-môn Tự Đắc,
Mẹ tên gọi Thiện Chi.
Vua tên là An Ḥa,
Cai trị thành An ḥa.
“Đức Phật Câu-na-hàm có cha tên Đại Đức, ḍng Bà-la-môn; mẹ tên Thiện Thắng, vua tên Thanh tịnh và quốc thành này cũng theo đó mà có tên là Thanh tịnh[59].”
Bà-la-môn Đại Đức,
Mẹ tên là Thiện Thắng;
Vua tên là Thanh Tịnh,
Ở trong thành Thanh tịnh.
“Đức Phật Ca-diếp có cha tên Phạm Đức, ḍng Bà-la-môn; mẹ tên Tài Chủ; vua thời đó tên Cấp-tỳ[60], trị v́ quốc thành tên Ba-la-nại.”
Bà-la-môn Phạm Đức,
Mẹ tên là Tài Chủ;
Thời vua tên Cấp-tỳ,
Trị thành Ba-la-nại.
“C̣n Ta có thân phụ tên là Tịnh Phạn ḍng vua Sát-lỵ, mẹ tên Đại Thanh Tịnh Diệu[61]; trị sở thành của vua là Ca-t́-la-vệ.”
Cha, Sát-lỵ Tịnh Phạn,
Mẹ tên Đại Thanh Tịnh;
Đất rộng, dân sung túc;
Ta sinh ra ở đó.
“Đó là nhơn duyên, danh hiệu, chủng tộc và chỗ xuất sinh của chư Phật. Kẻ trí nào nghe đến nhơn duyên đó mà không vui mừng sinh tâm ưa muốn!”
Bấy giờ[62], Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo! Nay Ta muốn, bằng túc mạng trí, sẽ nói về sự tích của chư Phật quá khứ. Các thầy muốn nghe không?”
Các Tỳ-kheo trả lời:
“Nay thật đúng lúc. Chúng con muốn nghe.”
Phật nói:
“Này các Tỳ-kheo, hăy nghe kỹ, hăy suy ngẫm kỹ. Ta sẽ phân biệt giải thuyết cho các thầy.
“Này các Tỳ-kheo, nên biết pháp thường của chư Phật.
“Đức Bồ-tát Tỳ-bà-thi từ cơi trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ, do hông phải mà vào, chánh niệm không tán loạn. Ngay lúc ấy cơi đất rung chuyển; ánh sáng rực rỡ soi khắp thế gian; những chỗ mặt trời mặt trăng không soi tới cũng đều mong nhờ chiếu sáng. Chúng sinh chốn u minh nhờ đó được trông thấy lẫn nhau và tự biết ḿnh hiện đang sinh ở chỗ nào. Ánh quang minh đó lại soi đến cung điện Ma vương. Phạm thiên, Đế Thích, Sa-môn, Bà-la-môn và các chúng sanh khác, cũng đều được mong nhờ ánh sáng. Ánh sáng của chư thiên tự nhiên biến mất.”
Rồi Phật nói bài tụng:
Mây dày kín hư không,
Ánh chớp chiếu thiên hạ;
Tỳ-bà-thi giáng thai,
Ánh sáng chiếu cũng vậy.
Chỗ nhật nguyệt không tới,
Thảy đều được chiếu sáng,
Thai thanh tịnh, vô nhiễm,
Pháp chư Phật đều vậy.
“Này các Tỳ-kheo, nên biết pháp thường của chư Phật[63]. Bồ-tát Tỳ-bà-thi, lúc ở thai mẹ, chuyên niệm không tán loạn, thường có bốn vị thiên thần tay cầm qua mâu, hộ vệ cho mẹ ngài, dẫu loài người hay loài phi nhân đều không thể xâm phạm. Đó là pháp thường.”
Rồi Phật nói bài tụng:
Bốn phương bốn thiên thần,
Có tiếng tăm, uy đức,
Thiên Đế Thích sai khiến,
Khéo thủ hộ Bồ tát.
Tay thường cầm qua mâu,
Hộ vệ không chút rời.
Nhân, phi nhân không hại;
Ấy pháp thường chư Phật.
Được chư thiên hộ vệ,
Như thiên nữ hầu Trời,
Quyến thuộc đều hoan hỷ,
Ấy pháp thường chư Phật.
“Lại nữa, này các Tỳ-kheo, đây là pháp thường của chư Phật: Bồ-tát Tỳ-bà-thi từ trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ, chuyên niệm không tán loạn, khiến thân mẹ được an ổn, không có các năo loạn, trí tuệ ngày càng thêm. Mẹ tự xem thai ḿnh thấy rơ thân Bồ-tát đủ các căn tốt đẹp như chất vàng tía không chút tỳ tích, khác nào kẻ có mắt sáng, xem vào đồ lưu ly trong sạch, thấy suốt cả trong ngoài không chút ngăn ngại. Này các Tỳ-kheo, đó là pháp thường của chư Phật.”
Bấy giờ Thế Tôn nói bài kệ:
Như ngọc lưu li sáng,
Ánh sáng như trời trăng,
Nhân Tôn trong thai mẹ,
Khiến mẹ không năo hoạn
Trí tuệ càng tăng thêm,
Xem thai như vàng ṛng;
Mẹ mang thai an lạc,
Ấy pháp thường chư Phật.
“Này các Tỳ-kheo, Bồ-tát Tỳ-bà-thi từ trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ, chuyên niệm không tán loạn, khiến tâm mẹ lúc nào cũng thanh tịnh, không có các dục tưởng, không bị lửa dục thiêu đốt. Ấy là pháp thường của chư Phật.”
Thế Tôn lại nói bài kệ:
Bồ-tát trụ thai mẹ;
Phước trời trên cơi trời;
Tâm mẹ Ngài thanh tịnh,
Không có các dục tưởng.
Dứt bỏ các dâm dục,
Không nhiễm, không gần gũi,
Không bị lửa dục thiêu,
Mẹ chư Phật thường tịnh.
“Này các Tỳ-kheo, pháp thường của chư Phật, Bồ-tát Tỳ-bà-thi từ trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ, chuyên niệm không tán loạn, khiến mẹ Ngài giữ trọn năm giới, phạm hạnh thanh tịnh, thuần tín và nhân từ, thành tựu mọi điều lành, an lạc không sợ hăi và khi thân hoại mệnh chung, được sanh cơi trời Đao-lợi. Ấy là pháp thường của chư Phật.”
Bấy giờ Thế Tôn lại nói kệ:
Hoài thai đấng Chí Tôn,
Tinh tấn, Giới đầy đủ,
Mạng chung lại sinh thiên;
Duyên ấy, nói mẹ Phật.
“Này các Tỳ-kheo, pháp thường của chư Phật, Bồ-tát Tỳ-bà-thi, khi sanh từ hông phải của mẹ mà ra, cơi đất rung động, ánh sáng chiếu khắp nơi. Khi mới vào thai, những chỗ tối tăm thảy đều được chiếu sáng. Ấy là pháp thường của chư Phật.”
Thái tử sinh, đất động,
Ánh sáng rọi khắp nơi,
Cơi này và cơi khác,
Trên dưới và các phương.
Phóng quang, cho mắt sáng,
Trọn đủ nơi thân trời,
Bằng tịnh tâm hoan hỷ,
Chuyển xưng tên Bồ-tát
“Này các Tỳ-kheo, pháp thường của chư Phật, Bồ-tát Tỳ-bà-thi, lúc sanh, do hông phải của mẹ mà ra, chuyên niệm không tán loạn. Khi ấy mẹ Bồ-tát tay vin cành cây, không ngồi không nằm, có bốn thiên thần bưng nước hương đứng trước mẹ mà thưa rằng: “Tâu Thiên mẫu, nay Ngài sanh thánh tử, chớ có ưu lo. Đó là pháp thường của chư Phật.”
Mẹ Phật không nằm, ngồi;
Trụ giới, tu phạm hạnh;
Không lười; sinh Chí Tôn,
Được trời người phụng thờ.
“Này các Tỳ-kheo, pháp thường chư Phật, Bồ-tát Tỳ-bà-thi lúc sanh, do hông phải của mẹ mà ra, chuyên niệm không tán loạn, thân Ngài thanh tịnh không bị ô nhiễm bởi các thứ ô uế. Ví như kẻ có mắt sáng, liệng hạt minh châu sáng sạch lên lụa trắng, thấy rơ cả hai đều không làm bẩn nhau, v́ cả hai đều sạch. Bồ-tát ra khỏi thai cũng như vậy. Đó là pháp thường của chư Phật.”
Như minh châu sáng sạch,
Trên lụa, không vấy bẩn;
Bồ-tát khi xuất thai,
Thanh tịnh, không nhiễm ô.
“Này các Tỳ-kheo, pháp thường của chư Phật, Bồ-tát Tỳ-bà-thi, khi sanh, do hông phải của mẹ mà ra, chuyên niệm không tán loạn. Ngài từ hông phải ra, vừa đến đất, không cần người đỡ, liền đùi bảy bước, ngó khắp bốn phương, rồi đưa tay lên nói rằng: ‘Trên trời dưới đất, duy Ta là tôn quư’, Ta sẽ cứu