II [83] |
Phật nói với A-nan:
“Này A-nan! Đời có tám chúng: một là chúng Sát-lỵ; hai là chúng Bà-la-môn; ba là chúng cư sĩ; bốn là chúng Sa-môn; năm là chúng Tứ thiên vương; sáu là chúng Đao-lỵ thiên; bảy là chúng Ma; tám là chúng Phạm thiên.
“Ta nhớ xưa kia, Ta từng qua lại trong chúng Sát-lỵ, cùng họ nói năng, ngồi đứng, chẳng biết đă bao nhiêu lần. Nhờ sức thiền định tinh tấn mà nơi nào Ta hiện đến, hễ họ có sắc đẹp th́ sắc Ta đẹp hơn. Họ có tiếng hay th́ tiếng Ta hay hơn. Họ từ giă Ta mà đi, nhưng Ta không từ giă họ. Điều họ nói được, Ta cũng nói được. Điều họ không thể nói được, Ta cũng nói được. Ta thường thuyết pháp cho họ, chỉ bày, giáo huấn, khiến cho lợi ích, hoan hỷ[84], rồi biến mất khỏi nơi đó, mà họ không biết Ta là trời hay là người. Như thế cho đến, Ta từng qua lại trong chúng Phạm thiên không biết là bao nhiêu lần để thuyết pháp cho họ, mà họ cũng đều chẳng biết Ta là ai.”
“A-nan bạch Phật:
“Thế Tôn, thật là kỳ diệu, chưa từng có, mới có thể thành tựu đuợc như thế.”
Phật nói:
“Pháp vi diệu chưa từng có như vậy, này A-nan, thật là kỳ diệu, thật là hy hữu, duy chỉ Như Lai mới thành tựu được.”
Phật lại bảo A-nan:
“Như Lai có thể biết rơ sự sanh khởi, tồn tại và biến mất của thọ; biết rơ sự sanh khởi, tồn tại và biến mất của tưởng; sự sanh khởi, tồn tại và biến mất của quán[85]. Đó mới thật là pháp kỳ diệu chưa từng có của Như Lai, ngươi nên ghi nhớ.”
Bấy giờ đức Thế Tôn lại bảo A-nan cùng đi đến Hương tháp[86], rồi tới một gốc cây trải tọa ngồi và bảo A-nan nhóm hết các Tỳ-kheo hiện có mặt chung quanh Hương tháp lại giảng đường. A-nan vâng lời Phật dạy, tập họp tất cả, rồi bạch Phật:
“Đại chúng đă tụ tập. Cúi xin đức Thánh biết thời.”
Thế Tôn bèn đi đến giảng đường, ngồi trên chỗ dọn sẵn. Rồi Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Các ngươi nên biết, Ta do những pháp sau đây mà tự thân tác chứng, thành Tối chánh giác. Đó là bốn niệm xứ, bốn ư đoạn[87], bốn thần túc, bốn thiền định, năm căn, năm lực, bảy giác ư[88] và tám thánh đạo. Các ngươi hăy nên cùng nhau tu tập ở trong pháp đó, cùng nhau ḥa đồng kính thuận, chớ sinh tranh tụng. Cùng đồng một thầy học hăy cùng đồng ḥa hợp như nước với sữa. Ở trong pháp Ta, hăy tinh cần tu học, cùng soi sáng cho nhau, cùng nhau hoan hỷ.
“Này các Tỳ-kheo, các ngươi nên biết, Ta từ các pháp này mà tự ḿnh chứng ngộ, rồi công bố ra nơi đây. Tức là, Khế kinh, Kỳ dạ kinh, Thọ kư kinh, Kệ kinh, Pháp cú kinh, Tương ưng kinh, Bản duyên kinh, Thiên bản kinh, Quảng kinh, Vị tằng hữu kinh, Chứng dụ kinh, Đại giáo kinh. Các ngươi hăy ghi nhớ kỹ, tùy khả năng mà phân tích, tùy sự mà tu hành. V́ sao vậy? Như Lai không bao lâu nữa, sau ba tháng nữa, sẽ vào Niết-bàn.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe lời ấy, rất đỗi kinh ngạc, sửng sốt hoang mang, vật ḿnh xuống đất, cất tiếng kêu than:
“Nhanh chóng làm sao, Thế Tôn diệt độ! Đau đớn làm sao, con mắt của thế gian sắp tắt! Chúng ta từ nay măi măi mất mát!” Hoặc có Tỳ-kheo vật vă buồn khóc, lăn lộn kêu ca, không tự kềm chế được, khác nào như rắn bị đứt làm hai khúc, lăn lộn ngắc ngoải, không biết đi về đâu.[89]
Phật bảo:
“Này các Tỳ-kheo, các ngươi chớ ôm ḷng ưu bi như vậy. Từ trời đất đến người vật, không có cái ǵ sanh ra mà không kết thúc. Muốn các pháp hữu vi không bị biến dịch, th́ không thể nào được. Trước đây Ta đă từng dạy ân ái là vô thường, có hội hiệp tất có chia ly. Thân này không phải của ḿnh, mạng này không ở lâu được.”
Bấy giờ Thế Tôn nói bài kệ:
Ta nay tự tại
Đến chỗ an ổn;
Nói rơ nghĩa nầy
Cho chúng ḥa hợp.
Ta nay già rồi,
Việc làm đă xong,
Nay nên xả thọ.
Niệm không buông lung,
Tỳ-kheo giới đủ;
Thâu nhiếp định ư,
Thủ hộ tâm ḿnh.
Ở trong Pháp Ta,
Ai không buông lung,
Sẽ dứt gốc khổ,
Khỏi sanh già chết.
Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
“Ta nay sở dĩ khuyên dạy các ông như thế, v́ Thiên ma Ba-tuần, vừa rồi đến thỉnh cầu ta, nói: ‘Ư Phật[90] chưa muốn vào Niết--bàn sớm. Nay đă phải thời rồi, xin ngài mau diệt độ.’ Ta bảo Ma Ba-tuần: ‘Hăy thôi! Hăy thôi! Ta tự biết thời. Ta c̣n đợi chúng Tỳ-kheo của Ta hội đủ… cho đến, khiến cho chư thiên và loài người thảy đều thấy được sự thần diệu.’ Bấy giờ Ma Ba-tuần lại nói với Ta rằng: ‘Thuở xưa, ở Uất-bệ-la, bên ḍng sông Ni-liên-thuyền, dưới gốc cây a-du-ba ni-câu-luật, Phật khi mới thành chánh giác, tôi đă thưa Ngài rằng: ‘Ư Phật không muốn Niết-bàn sớm. Nay thật là đúng lúc. Ngài hăy nhanh chóng nhập Niết-bàn.’ Khi ấy Như Lai trả lời tôi rằng: ‘Hăy thôi đi, này Ba-tuần. Ta tự biết thời. Như Lai nay chưa nhập Niết-bàn, v́ c̣n đợi đệ tử Ta hội đủ đă,... cho đến, chư thiên và loài người thấy được sự thần thông biến hóa, khi ấy Ta mới nhập Niết-bàn.’ Nay đây, đệ tử của Như Lai đă hội đủ,… cho đến, chư thiên và loài người đều thấy được sự thần thông biến hóa. Nay chính là lúc ấy, sao Ngài không nhập Niết--bàn?’ Ta nói: ‘Hăy thôi đi, này Ba-tuần. Phật tự biết thời. Ta không trụ thế bao lâu nữa. Sau ba tháng nữa, Ta sẽ diệt độ.’ Lúc ấy Ma Ba-tuần nghĩ rằng Phật tất không nói dối, bèn vui mừng phấn khởi, hốt nhiên biến mất. Ma đi chưa bao lâu, ở nơi tháp Giá-bà-la, bằng định ư tam-muội, Ta xả thọ hành. Ngay lúc đó, đại địa chấn động. Trời người thảy đều kinh sợ, lông tóc dựng ngược. Phật phóng ánh sáng rọi suốt vô cùng, nơi chỗ tối tăm cũng được soi sáng, thảy đều trông thấy nhau. Bấy giờ Ta nói kệ tụng rằng:
Trong hai hành hữu vô,
Ta nay xả hữu vi.
Nội chuyên tam-muội định
Như chim ra khỏi trứng.
Bấy giờ, hiền giả A-nan đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, quỳ gối phải sát đất, chấp tay bạch Phật:
“Cúi mong đức Thế Tôn, lưu trú một kiếp, chớ vội diệt độ, v́ ḷng thương tưởng chúng sanh, để làm ích lợi cho trời, người.”
Đức Thế Tôn yên lặng không đáp. A-nan thưa thỉnh đến ba lần. Phật bảo:
“A-nan! Ngươi có tin đạo chính giác của Như Lai không?”
A-nan đáp:
“Thưa vâng, con tin chắc thật lời Phật nói.”
Phật nói:
“Nếu ngươi có tin, sao ba lần quấy rầy Ta? Ngươi đă trực tiếp nghe từ Phật, trực tiếp lănh thọ từ Phật rằng, những ai đă tu tập bốn thần túc, tu tập nhiều lần, chuyên niệm không quên, th́ có thể tùy ư muốn mà kéo dài tuổi thọ trong một kiếp hoặc một kiếp hơn. Phật đă tu tập bốn thần túc, tu tập nhiều lần, chuyên niệm không quên, tùy theo ư muốn có thể sống hơn một kiếp, để trừ sự tối tăm cho đời, làm lợi ích nhiều người, cho trời và người được an lạc. Tại sao lúc đó ngươi không thỉnh cầu Như Lai chớ diệt độ? Nghe lần thứ hai, c̣n khả thứ. Cho đến lần thứ ba, ngươi cũng không khuyến thỉnh Như Lai sống thêm một kiếp hoặc một kiếp hơn, để trừ tối tăm cho đời, đem lại lợi ích an lạc cho hàng thiên nhân. Nay ngươi mới nói, há chẳng muộn lắm ư? Ta ba lần hiện tướng, ngươi ba lần im lặng. Sao lúc ấy ngươi không nói với Ta rằng ‘Như Lai hăy sống thêm một kiếp hoặc một kiếp hơn, để trừ sự tối tăm cho đời, v́ lợi ích cho nhiều người, để cho trời người được an lạc’?
“Hăy thôi, A-nan, nay Ta đă xả tuổi thọ, đă bỏ, đă nhổ rồi. Muốn Như Lai trái với lời đă nói ra, th́ không bao giờ có trường hợp đó. Ví như một người hào quí đă nhổ đồ ăn xuống đất, họ c̣n lấy ăn trở lại được không?”
A-nan đáp: “Không.”
“Nay Như Lai cũng vậy, đă bỏ, đă nhổ rồi đâu c̣n tự ḿnh ăn lại nữa.”
Phật lại bảo A-nan cùng đi đến thôn Am-bà-la. A-nan xếp y ôm bát, cùng với đại chúng đi theo Thế Tôn, do theo đường từ Bạt-kỳ đến Am-bà-la. Khi đến thôn Am-bà-la, tới một đồi cây, Phật dạy các Tỳ-kheo về giới, định, tuệ; tu giới đắc định, được quả báo[91] lớn; tu định đắc trí, được quả báo lớn; tu trí tâm tịnh, được giải thoát hoàn toàn[92], dứt hết ba thứ lậu hoặc là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Sau khi đă giải thoát liền phát sanh trí về sự giải thoát[93], sanh tử dứt hết, phạm hạnh đă vững, điều cần làm đă làm xong, không c̣n phải tái sinh nữa.”
Bấy giờ, sau khi tùy nghi an trú ở thôn Am-bà-la, đức Thế Tôn lại bảo A-nan: “Hăy sửa sọan để đi thôn Chiêm-bà, thôn Kiền-đồ, thôn Ba-lê-ta và thành Phụ-di[94]. A-nan đáp: “Thưa vâng”. Rồi xếp y ôm bát, cùng đại chúng theo hầu Thế Tôn, theo con đường từ Bạt-kỳ đi lần đến các thành khác, đến phía Bắc thành Phụ-di[95], nghỉ lại trong rừng Thi-xá-bà[96].
Phật nói với các Tỳ-kheo:
“Ta sẽ nói cho các ngươi nghe bốn đại giáo pháp[97]. Hăy lắng nghe, hăy suy ngẫm kỹ.”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Kính vâng, bạch Thế Tôn! Chúng con muốn nghe.”
Phật nói:
“Bốn pháp ấy là ǵ? Nếu có vị Tỳ-kheo nào nói như vầy: ‘Này chư hiền, tôi từng ở tại thôn kia, thành kia, nước kia, đích thân theo Phật được nghe, được lănh thọ giáo pháp này.’ Nghe như vậy th́ các ngươi cũng không nên vội tin, cũng không nên bài bác. Hăy nương theo kinh mà xét chỗ hư thật. Nương theo luật, nương theo pháp mà xét rơ gốc ngọn. Nếu thấy lời nói ấy không trúng kinh, không trúng luật, không trúng pháp, th́ các ngươi hăy nói lại người kia rằng: ‘Phật không nói như thế, ngươi đă nhớ lầm chăng? Bởi v́ chúng tôi nương kinh, nương luật, nương pháp. Mà lời ngươi vừa nói trái với chánh pháp. Vậy này hiền sĩ, ngươi chớ có thọ tŕ và chớ đem nói cho người khác. Hăy từ bỏ nó đi.’ Trái lại nếu xét thấy lời kia trúng kinh, trúng luật, trúng pháp th́ hăy nói với người kia rằng: ‘Lời ngươi vừa nói, đúng là lời Phật nói. V́ chúng tôi nương kinh, nương luật, nương pháp. Mà lời ngươi vừa nói phù hợp với chánh pháp. Vậy hiền sĩ! Hăy cẩn thận thọ tŕ và rộng nói cho người nghe, chớ có từ bỏ.’ Đó là đại pháp thứ nhất.
“Lại nữa, nếu có Tỳ-kheo nào nói như vầy: ‘Này chư hiền, tôi từng ở tại thôn kia, thành kia, nước kia, đích thân nghe từ chúng Tăng hoà hợp với các vị kỳ cựu đa văn, được lănh thọ pháp, luật này, giáo này.’ Nghe như vậy th́ các ngươi cũng không nên vội tin, cũng không nên bài bác. Hăy nương theo kinh mà xét chỗ hư thật. Nương theo luật, nương theo pháp mà xét rơ gốc ngọn. Nếu thấy lời nói ấy không trúng kinh, không trúng luật, không trúng pháp, th́ các ngươi hăy nói lại người kia rằng: ‘Phật không nói như thế, ngươi đă nghe, nhớ lầm chăng? Bởi v́ chúng tôi nương kinh, nương luật, nương pháp. Mà lời ngươi vừa nói trái với Chánh pháp. Vậy này hiền sĩ, ngươi chớ có thọ tŕ và chớ đem nói cho người khác. Hăy từ bỏ nó đi.’ Trái lại nếu xét thấy lời kia trúng kinh, trúng luật, trúng pháp th́ hăy nói với người kia rằng: ‘Lời ngươi vừa nói, đúng là lời Phật nói. V́ chúng tôi nương kinh, nương luật, nương pháp. Mà lời ngươi vừa nói phù hợp với Chánh pháp. Vậy hiền sĩ! Hăy cẩn thận thọ tŕ và rộng nói cho người nghe, chớ có từ bỏ.’ Đó là đại pháp thứ hai.
“Lại nữa, nếu có Tỳ-kheo nào đến nói như vầy: ‘Này chư hiền, tôi từng ở tại thôn kia, thành kia, nước kia, đích thân nghe từ nhiều vị Tỳ-kheo, là những người tŕ pháp, tŕ luật, tŕ luật nghi, được lănh thọ pháp này, luật này, giáo này.’Nghe như vậy th́ các ngươi cũng không nên tin, cũng không nên bài bác. Hăy nương theo kinh mà xét chỗ hư thật. Nương theo luật, nương theo pháp mà xét rơ gốc ngọn. Nếu thấy lời nói ấy không trúng kinh, không trúng luật, không trúng pháp, th́ các ngươi hăy nói lại người kia rằng: ‘Phật không nói như thế, ngươi đă nghe, nhớ lầm chăng? Bởi v́ chúng tôi nương kinh, nương luật, nương pháp. Mà lời ngươi vừa nói trái với Chánh pháp. Vậy này hiền sĩ, ngươi chớ có thọ tŕ và chớ đem nói cho người khác. Hăy từ bỏ nó đi.’ Trái lại nếu xét thấy lời kia trúng kinh, trúng luật, trúng pháp th́ hăy nói với người kia rằng: ‘Lời ngươi vừa nói, đúng là lời Phật nói. V́ chúng tôi nương kinh, nương luật, nương pháp. Mà lời ngươi vừa nói phù hợp với Chánh pháp. Vậy hiền sĩ! Hăy cẩn thận thọ tŕ và rộng nói cho người nghe, chớ có từ bỏ.’ Đó là đại pháp thứ ba.
“Lại nữa, nếu có Tỳ-kheo nào đến nói như vầy: ‘Này chư hiền, tôi từng ở tại thôn kia, thành kia, nước kia, đích thân từ một vị Tỳ-kheo kia, là người tŕ pháp, tŕ luật, tŕ luật nghi, được lănh thọ giáo pháp này.’ Nghe như vậy th́ các ngươi cũng không tin, cũng không nên bài bác. Hăy nương theo kinh mà xét chỗ hư thật. Nương theo luật, nương theo pháp mà xét rơ gốc ngọn. Nếu thấy lời nói ấy không trúng kinh, không trúng luật, không trúng pháp, th́ các ngươi hăy nói lại người kia rằng: ‘Phật không nói như thế, ngươi đă nhớ lầm chăng? Bởi v́ chúng tôi nương kính, nương luật, nương pháp. Mà lời ngươi vừa nói trái với Chánh pháp. Vậy này hiền sĩ, ngươi chớ có thọ tŕ và chớ đem nói cho người khác. Hăy từ bỏ nó đi.’ Trái lại nếu xét thấy lời kia trúng kinh, trúng luật, trúng pháp th́ hăy nói với người kia rằng: ‘Lời ngươi vừa nói, đúng là lời Phật nói. V́ chúng tôi nương kinh, nương luật, nương pháp. Màlời ngươi vừa nói phù hợp với chánh pháp. Vậy hiền sĩ! Hăy cẩn thận thọ tŕ và rộng nói cho người nghe, chớ có từ bỏ.’ Đó là đại pháp thứ tư.”
Bấy giờ đức Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở thành Phụ-di lại bảo A-nan cùng đi đến thành Ba-bà[98]. A-nan đáp: “Kính vâng”, rồi xếp y ôm bát, với đại chúng đi theo Thế Tôn, theo con đường Mạt-la đi vườn Xà-đầu[99], thành Ba-bà. Nơi đây có con trai của một người thợ tên là Châu-na[100] nghe Phật từ Mạt-la kia đến thành này, liền y phục chỉnh tề t́m đến chỗ Phật, đầu mặt lễ chân Phật, rồi ngồi lại một bên. Phật theo thứ lớp thuyết pháp cho Châu-na, chỉ bày, giáo huấn, khiến cho lợi ích hoan hỷ. Châu-na sau khi nghe phát tín tâm hoan hỷ, bèn thỉnh Phật ngày mai đến nhà cúng dường. Phật làm thinh nhận lời. Châu-na biết Phật đă nhận lời, liền đứng dậy lễ Phật, rồi lui về. Ngay đêm đó ông sửa soạn thức ăn. Ngày mai, vào thời gian thích hợp, ông trở lại thỉnh Phật.
Bấy giờ, Thế Tôn khoác y cầm bát cùng với đại chúng tùy tùng đến nhà ông, ngồi lên chỗ ngồi dọn sẵn. Sau khi Phật và đại chúng đă an tọa, Châu-na đem món ăn dâng Phật và chúng tăng. Ông lại nấu riêng một thứ nấm chiên-đàn[101] là thức ăn trân quư kỳ lạ ít thấy, đem dâng riêng cho Phật. Phật bảo Châu-na chớ đem thứ nấm ấy cho chúng tăng ăn. Châu-na vâng lời, không dám dọn cho chúng Tăng.
Lúc bấy giờ, trong đại chúng Tỳ-kheo có một Tỳ-kheo già, xuất gia lúc tuổi xế chiều, ngay trên mâm ăn, dùng đồ đựng dư để lấy.[102]
Châu-na, sau khi thấy chúng tăng thọ trai xong, cất b́nh bát, và dùng nước rửa xong, liền đến trước Phật mà hỏi bằng bài kệ rằng:
Xin hỏi Đại Thánh Trí,
Đấng Chánh giác Chí Tôn:
Đời có mấy Sa-môn,
Khéo huấn luyện điều phục?
Phật đáp bằng bài kệ:
Theo như ngươi vừa hỏi,
Có bốn hạng Sa-môn,
Chí hướng không đồng nhau,
Ngươi hăy nhận thức rơ:
Một hành đạo thù thắng;
Hai khéo giảng đạo nghĩa;
Ba y đạo sinh sống;
Bốn làm ô uế đạo.
Sao gọi ‘đạo thù thắng’?
Sao ‘khéo nói đạo nghĩa’?
Sao ‘y đạo sanh hoạt’?
Sao ‘làm đạo ô uế’?
Bẻ gai nhọn ân ái,
Quyết chắc vào Niết-bàn;
Vượt khỏi đường Thiên nhân,
Là hành đạo thù thắng.
Khéo hiểu đệ nhất nghĩa
Giảng đạo không cấu uế,
Nhân từ giải nghi ngờ,
Là hạng khéo thuyết đạo.
Khéo tŕnh bày pháp cú
Nương đạo mà nuôi sống,
Xa mong cơi vô cấu;
Là hạng sống y đạo.
Trong ơm ḷng gian tà,
Ngoài như tuồng thanh bạch.
Hư dối không thành thật,
Là hạng làm nhơ đạo.
Sao gọi ‘gồm thiện ác’,
Tịnh, bất tịnh xen lẫn.
Mặt ngoài hiện tốt đẹp,
Như chất đồng mạ vàng,
Người tục thấy liền bảo:
“Đó là thánh đệ tử,
Các vị khác không bằng,
Ta chớ bỏ ḷng tin”.
Người ǵn giữ đại chúng,
Trong trược giả ngoài thanh.
Che dấu điều gian tà,
Kỳ thật ḷng phóng đăng.
Chớ trông dáng bề ngoài,
Đă vội đến thân kính.
Che dấu điều gian tà,
Kỳ thật ḷng phóng đăng.
Rồi Châu-na lấy một cái giường nhỏ đặt ngồi trước Phật. Phật lần lượt thuyết pháp, chỉ bày, khuyến khích, khiến cho lợi ích, hoan hỷ. Sau đó, với đại chúng theo hầu, Phật trở về. Vừa đến giữa đường, Phật dừng lại dưới một gốc cây và bảo A-nan:
“Ta đau lưng, ngươi hăy trải chỗ ngồi.”
A-nan đáp vâng, rồi trải chỗ ngồi. Phật nghỉ ngơi. Bấy giờ, A-nan lại trải một chỗ ngồi thấp hơn và ngồi trước Phật. Phật hỏi A-nan:
“Vừa rồi ông thấy Châu-na có ư ǵ hối hận không? Nếu có hối hận là tự đâu?” A-nan đáp:
“Châu-na vừa cúng dường Phật như vậy không được phúc lợi ǵ cả. V́ sao? Tại v́ sau khi đức Như Lai thọ trai ở nhà ông th́ Ngài vào Niết-bàn!”.
Phật nói:
“A-nan chớ nói như vậy, chớ nói như vậy! Hiện nay Châu-na được nhiều lợi lớn, được sống lâu, được sắc đẹp, được sức lực, được tiếng tốt, được nhiều tài lợi, chết được lên trời, cầu điều ǵ đều được. Tại sao vậy? V́ người cúng dường cho Phật lúc mới thành đạo với người cúng dường cho Phật lúc sắp Niết-bàn, công đức hai bên ngang nhau không khác. Ngươi hăy đến nói với Châu-na rằng: ‘Tôi trực tiếp nghe từ Phật, trực tiếp lănh thọ từ Phật, rằng Châu-na nhờ công đức cúng dường Phật mà được lợi lớn, quả báo lớn’.”
A-nan vâng lời, đi đến chỗ Châu-na, nói rằng:
“Tôi trực tiếp nghe từ Phật, trực tiếp lănh thọ từ Phật, rằng ông Châu-na nhờ công đức cúng dường Phật mà được lợi lớn, quả báo lớn. Tại sao vậy? V́ người cúng dường Phật lúc mới thành đạo với người cúng dường Phật lúc sắp Niết-bàn, công đức hai bên ngang nhau không khác.
Thọ trai nhà Châu-na,
Mới nghe lời nói này:
Bịnh Như Lai thêm nặng,
Thọ mệnh đă sắp tàn,
Tuy ăn nấm chiên-đàn,
Mà bịnh vẫn càng tăng.
Ôm bệnh mà lên đường,
Lần đến thành Câu-thi.
Bấy giờ, Thế Tôn đứng dậy, đi về phía trước được một quăng ngắn, đến dưới một gốc cây, lại bảo A-nan:
“Ta đau lưng quá, hăy sửa chỗ ngồi.”
A-nan đáp: “Vâng”. Rồi dọn một chỗ ngồi. Như Lai nghỉ ngơi. A-nan lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên. Lúc đó, có người đệ tử A-la-hán tên là Phúc-quư[103], đi từ thành Câu-thi-na-kiệt[104] nhắm đến thành Ba-bà, khi vừa đến giữa đường, trông thấy Phật tại bên gốc cây, dung mạo đoan chính, các căn tịch tịnh, tâm ư nhu thuận trong cảnh tịch diệt tuyệt đối, ví như con rồng lớn, như hồ nước đứng trong không chút cáu bợn. Sau khi thấy, ông phát sinh thiện tâm hoan hỷ, đi đến gần Phật, đảnh lễ rồi ngồi lại một bên và bạch Phật rằng:
“Bạch đức Thế Tôn, người xuất gia, ở tại chỗ thanh tịnh, ưa thích sự nhàn cư, thật hy hữu thay, dẫu cả một đoàn xe có những năm trăm cỗ đi ngang qua một bên mà vẫn không hay biết! Thầy tôi có lần ngồi tĩnh tọa dưới một gốc cây bên đường thuộc địa phận giữa hai thành Câu-thi và Ba-ba. Lúc đó có đoàn xe năm trăm cỗ đi ngang qua một bên. Tiếng xe cộ rần rần. Tuy thức tỉnh nhưng không nghe thấy. Sau đó có người đến hỏi: ‘Có thấy đoàn xe vừa đi qua đây không?’ Đáp: ‘Không thấy.’Lại hỏi: ‘Có nghe không?’ Đáp: ‘Không nghe.’ Lại hỏi: ‘Năy giờ ông ở đây hay ở chỗ khác?’ Trả lời: ‘Ở đây.’ Lại hỏi: ‘Năy giờ ông tỉnh hay mê?’ Trả lời: ‘Tỉnh.’ Lại hỏi: ‘Năy giờ ông thức hay ngủ?’ Trả lời: ‘Không ngủ.’ Người kia thầm nghĩ: ‘Đây thật là hy hữu. Người xuất gia chuyên tinh mới như thế. Cho dẫu tiếng xe rần rộ, thức mà vẫn không hay.’Rồi nói với thầy tôi rằng: - Vừa có năm trăm cỗ xe rần rộ đi qua con đường này, tiếng xe chấn động mà c̣n không nghe thấy, có đâu lại nghe thấy chuyện khác!” Rồi người kia làm lễ, hoan hỷ từ tạ.”
q
(C̣n nữa)
chú thích:
[83] Bản Hán, Phật thuyết Trường A-hàm kinh, quyển đệ tam, “Du hành kinh đệ nhị trung”, Đại I tr. 16b-23b
[84] Thị, giáo, lợi, hỷ 示 教 利 喜: thứ tự thuyết pháp của Phật. Pāli: sandasseti samādapeti samuttejeti sampahamsati, khai thị, khích lệ, cổ vũ, làm cho hoan hỷ.
[85] Hán: quán khởi trụ diệt 觀 起 住 滅, không rơ nghĩa. D. 15 và No. 7 không có chi tiết này.
[86] Hương tháp 香 塔, không rơ địa danh. No. 7 (Đại I tr. 192b): giảng đường Trùng các, trong rừng Đại lâm. D. 15, sđd.: Kuṭagārasāla, Mahāvana.
[87] Ư đọan 意 斷, cũng nói là chánh đoạn 正 斷 hay chánh cần 正 勤. Pāli: sammappadhāna, Skt. samyak-prahānākhya.
[88] Giác ư 覺 意 hay giác chi 覺 支, hay bồ đề phần 菩 提 分. Pāli: bojjhaṅga; Skt. bodhyaṅga.
[89] Pāli và No. 7 đều không có chi tiết này.
[90] Xem cht. 73. trên
[91] Hán: tu giới hoạch định. Tham chiếu Pāli, D. 15, sđd.: sīlaparibhāvito samādhi; Trường (I, tr. 554): “định cùng tu với giới.” Xem cht. 21.
[92] Tham chiếu, Trường I, tr. 555: ” Tâm cùng tu vơí tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn…” Xem cht. 22. trên
[93] Nghĩa là, sau khi giải thoát, biết rơ ḿnh đă giải thoát.
[94] Am-bà-la 菴 婆 羅, Chiêm-bà 瞻 婆, Kiền-đồ 犍 荼, Bà-lê-bà, Phụ-di 負 彌.
[95] Lộ tŕnh theo No. 7 (Đại I tr. 195b): đến Tượng thôn, Am-ba-la thôn, Diêm-phù thôn, cuối cùng là Thiện già thành, tức Phù-di. Lộ tŕnh theo bản Pāli: Hatthigama, Ambagama, Jambugama, Bhoganagara.
[96] Thi-xá-bà 尸 舍 婆, tên loại cây lớn, Pāli: siṃsāpa.
[97] Tứ đại giáo pháp 四 大 教 法; Pāli: cattāro mahāpadesā
[98] Ba bà 波 婆; Pāli: Pāvā.
[99] Xà đầu viên 闍 頭 園; Pāli: Pāvāyaṃ viharati Cundassa kammāraputtassa ambavane, trú ở Pāvā trong vườn xoài của con trai người thợ sắt tên là Cunda.
[100] Hán: công sư tử danh viết Châu-na 工 師 子 名 曰 周 那. No. 7: công xảo tử danh viết Thuần Đà 純 陀 工 巧 子 名 曰. Pāli: cundo kammāraputto, Cunda, người thợ (hoặc con trai người thợ) luyện kim.
[101] Hán: chiên-đàn thọ nhĩ 旃 檀 樹 耳. Pāli: sūkara-maddava.
[102] Hán: dư khí thủ 餘 氣 取. Bản Tống, dư thủ khí 餘 取 氣. Các bản Nguyên Minh: dư nhĩ khí 餘 耳 氣. Các bản không thống nhất, nghĩa không rơ ràng. Có lẽ muốn nói Tỳ-kheo này lấy chỗ nấm Phật đă ăn c̣n lại. D. 15, sđd.: Trường I, tr. 624: Phật bảo Cunda đem chôn kỹ chỗ nấm c̣n lại.
[103] Hán: A-la-hán đệ tử danh viết Phúc-quư 阿 羅 漢 弟 子 名 曰 福 貴. Có lẽ dư chữ hán. No. 7: Măn La tiên nhân chi tử danh Phất-ca-sa 滿 羅 仙 人 之 子 名 弗 迦 沙. D. 15, sđd.: Trường I tr. 627: Pukkusa, đệ tử của Alāra Kālāma.
[104] Câu-thi-na-kiệt 拘 尸 那 傑, các phiên âm khác; Câu thi na kiệt la 拘 尸 那 桀 羅, Câu thi na già la 拘 尸 那 伽 羅, Câu thi na thành 拘 尸 那 城. Pāli: Kusinagara
|
|