Phần iv

30. KINH THẾ KƯ

Phẩm 6: A-TU-LUÂN[220]

| 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 | 11 | 12 |


 

Phật bảo các tỳ kheo:

“Trong đáy nước biển lớn ở phía Bắc của núi Tu-di, có một thành của La-ha A-tu-luân[221], bề ngang rộng khoảng tám vạn do-tuần, thành của nó có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang điểm chung quanh đều bằng bảy thứ báu tạo thành. Chiều cao của thành là ba ngh́n do-tuần, rộng hai ngh́n do-tuần. Cửa thành của nó cao một ngh́n do-tuần, rộng cũng một ngh́n do-tuần. Thành vàng th́ cửa bạc, thành bạc th́ cửa vàng,… cho đến, vô số các loài chim cùng nhau ríu rít cũng lại như trên[222]. Tiểu thành, chỗ ngự trị của vị vua A-tu-luân này ở ngay trong thành lớn có tên là Luân-thâu-ma-bạt-tra[223], dọc ngang sáu vạn do-tuần. Thành của nó gồm bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang điểm chung quang bằng bảy thứ báu tạo thành. Thành cao ba ngh́n do-tuần, rộng hai ngh́n do-tuần. Cửa thành của nó cao hai ngh́n do-tuần, rộng một ngh́n do-tuần. Thành vàng th́ cửa bạc, cửa bạc th́ thành vàng,… cho đến, vô số các loài chim cùng nhau ríu rít cũng lại như trên.

“Ở trong thành này, xây dựng riêng nhà hội nghị có tên là Thất-thi-lợi-sa[224], bảy lớp tường hào, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang điểm chung quanh bằng bảy thứ báu tạo thành. Nền nhà hội nghị hoàn toàn dùng bằng xa cừ; cột nhà, sà nhà hoàn toàn đều dùng bảy báu. Chu vi những trụ cột ở chính giữa một ngh́n do-tuần, cao một vạn do-tuần. Ở dưới những trụ cột này có ṭa Chánh pháp[225], dọc ngang bảy trăm do-tuần, đều dùng bảy báu chạm trổ mà thành. Nhà này có bốn cửa, được bao quanh bằng bảy lớp đ́nh thềm lan can[226], bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy báu,… cho đến, các loài chim cùng nhau ríu rít, cũng lại như đă kể.

“Ở phía Bắc nhà hội nghị này có cung điện A-tu-luân, dọc ngang một vạn do-tuần. Cung điện có bảy lớp tường, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy báu, cho đến, vô số các loài chim cùng nhau ríu rít, cũng như đă kể.

“Phía Đông nhà hội nghị này có một khu rừng vườn tên là Sa-la[227], dọc ngang một vạn do-tuần. Vườn có bảy lớp tường, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy báu,… cho đến, vô số các loài chim cùng nhau ríu rít, cũng lại như đă kể.

“Phía Nam nhà hội nghị này có một khu vườn rừng tên là Cực diệu[228], dọc ngang một vạn do-tuần như vườn Sa-la.

“Phía Tây nhà hội nghị có một khu vườn rừng tên là Thiểm ma[229], dọc ngang một vạn do-tuần cũng như vườn rừng Ta la.

“Phía Bắc nhà hội nghị này có một khu vườn rừng, tên là Nhạc lâm[230], bề ngang một vạn do-tuần cũng như vườn rừng Sa-la.

“Giữa hai khu vườn Sa-la và Cực-diệu có cây trú độ[231], thấp là bảy do-tuần cao th́ một trăm do-tuần, cành lá vươn ra bốn phía cỡ năm mươi do-tuần, cây có bảy lớp bờ tường, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy báu,… cho đến, vô số các loài chim cùng nhau ríu rít, cũng lại như đă kể. Lại nữa, giữa hai khu vườn Thiểm-ma và Nhạc-lâm này có ao Bạt-nan-đà[232], nước của nó trong mát, không có cáu bẩn, hào báu bảy lớp, chung quanh cạnh thềm là bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu. Ở trong ao này sinh ra bốn loài hoa, lá hoa bề ngang rộng một do-tuần, hương thơm bay phảng phất cũng một do-tuần; rễ như ổ trục xe, nhựa của nó lưu xuất ra có màu trắng như sữa, vị ngọt như mật, và vô số các loài chim cùng nhau hót líu lo. Hơn nữa, bên cạnh ao này có bảy lớp đ́nh thềm, bảy lớp tường cửa, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,… cho đến, vô số các loài chim cùng nhau hót líu lo, cũng lại như vậy.

“Cung điện thần hạ của vua A-tu-luân, dọc ngang một vạn do-tuần, rồi chín ngh́n, tám ngh́n, và cho đến cung điện nhỏ nhất là một ngh́n do-tuần. Cung điện có bảy lớp tường, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,… cho đến, vô số các loài chim cùng nhau hót líu lo, cũng lại như vậy.

“Cung điện của Tiểu A-tu-luân, dọc ngang một ngh́n do-tuần, rồi chín trăm, tám trăm, và cho đến cung điện cực nhỏ là một trăm do-tuần. Cung điện có bảy lớp tường, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,… cho đến, vô số các loài chim cùng nhau hót líu lo, cũng lại như vậy.

“Phía Bắc nhà hội nghị có bảy đường cấp báu dẫn vào trong cung điện; lại có đường cấp dẫn đến vườn Sa-la; có đường cấp dẫn đến vườn Cực diệu; có đường dẫn đến vườn Thiểm-ma; có đường cấp dẫn đến vườn Nhạc lâm; có đường cấp dẫn đến cây trú độ; có đường cấp dẫn đến ao Bạt-nan-đà; có đường cấp dẫn đến cung điện đại thần; có đường cấp dẫn đến cung điện của Tiểu A-tu-luân.

“Nếu khi nào vua A-tu-luân muốn đến vườn Sa-la để ngoạn cảnh, chỉ cần nghĩ đến vua Tỳ-ma-chất-đa A-tu-luân[233], th́ vua Tỳ-ma-chất-đa A-tu-luân lại tự nghĩ rằng: ‘vua La-ha A-tu-luân đang nghĩ đến ta.’ Liền tự sửa soạn trang bị, đóng ngựa vào xe báu, cùng vô số người hầu kẻ hạ vây quanh theo sau, đến trước vua La-ha A-tu-luân, đứng một bên.

“Lại khi vua A-tu-luân lại nghĩ đến vua Ba-la-ha A-tu-luân[234], th́ vua Ba-la-ha A-tu-luân nghĩ rằng: ‘Nay vua đang nghĩ đến ta.’ Liền tự sửa soạn trang bị, đóng ngựa vào xe báu, cùng với vô số kẻ hầu người hạ vây quanh theo sau đến đứng một bên trước vua La-ha.

“Khi vua A-tu-luân lại nghĩ đến vua Thiểm-ma A-tu-luân[235], th́ vua Thiểm-ma A-tu-luân lại tự nghĩ rằng: ‘Hiện nay vua đang nghĩ đến ta.’ Liền tự sửa soạn trang bị đóng ngựa vào xe báu, cùng vô số kẻ hầu người hạ vây quanh theo sau, đến đứng một bên trước vua La-ha.

“Khi vua lại nghĩ đến đại thần của vua A-tu-luân, th́ đại thần của A-tu-luân lại nghĩ rằng: ‘Nay vua đang nghĩ đến ta.’ Liền tự sửa soạn trang bị đóng ngựa vào xe báu, cùng vô số kẻ hầu người hạ vây quanh theo sau, đến đứng một bên trước vua La-ha. Lúc này, vua lại nghĩ đến Tiểu A-tu-luân, th́ Tiểu A-tu-luân lại nghĩ rằng: ‘Nay vua đang nghĩ đến ta.’ Liền tự sửa soạn trang bị cùng mọi người đến đứng một bên trước vua La-ha.

“Lúc này, vua La-ha ḿnh mặc áo báu, đóng ngựa vào xe báu, cùng với vô số mọi người vây quanh trước sau đến trong rừng Sa-la, th́ tự nhiên có gió thổi cửa tự mở, tự nhiên gió thổi đất sạch, tự nhiên gió thổi hoa rụng xuống đất, ngập đến đầu gối. Sau khi vua La-ha vào vườn này rồi, th́ cùng nhau vui đùa từ một ngày, hai ngày,… cho đến bảy ngày. Sau khi vua đùa xong, liền trở về lại cung điện ḿnh. Sau đó việc ngoạn cảnh đối với vườn Cực diệu, vườn Thiểm-ma, vườn Nhạc lâm, th́ cũng lại như vậy. Lúc này, vua La-ha luôn luôn có năm Đại A-tu-luân hầu cận và bảo vệ hai bên: một tên là Đề Tŕ, hai tên là Hùng Lực, ba tên là Vơ Di, bốn tên là Đầu Thủ, năm tên là Tồi Phục[236] Năm Đại A-tu-luân này luôn luôn hầu cận bảo vệ hai bên. Cung điện của vua La-ha này ở dưới nước biển lớn. Nước biển ở trên được duy tŕ bởi bốn thứ gió: một là trụ phong, hai là tŕ phong, ba là bất động, bốn là kiên cố[237]; chúng giữ cho nước biển lớn, treo ngược giữa hư không, giống như mây nổi, cách cung điện A-tu-luân một vạn do-tuần, không bao giờ bị rớt. Oai thần, công đức, và phước báo của vua A-tu-luân là như vậy.”

 

 

q

 


Chú thích:

 

[220] Bản Hán: Phật thuyết Trường A-hàm kinh, quyển 20, “Đệ tứ phần Thế kư kinh, A-tu-luân phẩm đệ lục.” A-tu-luân 阿 須 倫, phiên âm thông dụng: A-tu-la 阿 修 羅.

[221] La-ha A-tu-luân羅 呵 阿 須 倫; có lẽ Pāli: Rāhu-asura, A-tu-la gây nguyệt thực.

[222] Như các mẫu mô tả trong phẩm 1.

[223] Luân-thâu (du)-ma-bạt-đà 輪 輸 摩 跋 陀.

[224] Thất-thi lị (lợi)-sa 七 尸 利 沙.

[225] Chánh pháp ṭa 正 法 座.

[226] Lan thuẫn giai đ́nh欄 楯 階 亭.

[227] Sa-la viên lâm娑 羅 園 林.

[228] Cực diệu viên lâm極 妙 園 林.

[229] Thiểm-ma 晱 摩.

[230] Nhạc lâm樂 林.

[231] Trú đo (đạc) thọ晝 度 樹; Pāli: pāricchattaka. Xem cht. 54.

[232] Bạt-nan-đà 跋 難 陀.

[233] Tỳ-ma-chất-đa A-tu-luân 毗 摩 質 多 阿 須 倫; Pāli: VepacittiAsura.

[234] Ba-la-ha A-tu-luân波 羅 呵 阿 須 倫; Pāli: Pahārāda Asura, một trong ba thủ lănh của Asura.

[235] Thiểm-ma A-tu-luân晱 摩 阿 須 倫; Pāli: SambaraAsura.

[236] Ngũ đại A-tu-luân五 大 阿 須 倫: Đề Tŕ提 持, Hùng Lực雄 力, Vơ Di武 夷, Đầu Thủ 頭 首, Tồi Phục摧 伏.

[237] Tứ phong 四 風: trụ phong 住 風, tŕ phong持 風, bất động不 動 風, kiên cố 堅 固 風.