Phần iv

30. KINH THẾ KƯ

Phẩm 9: TAM TAI[283]

| 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 | 11 | 12 |


 

Phật bảo Tỳ-kheo:

“Có bốn sự kiện[284] trường cửu, không lường, không giới hạn, không thể dùng năm, tháng, ngày để mà tính kể được. Bốn sự kiện, đó là: Một, ở thế gian có những thứ tai nạn khởi lên từ từ; khi thế giới này tan hoại, trung gian là một khoảng thời gian trường cửu, không lường, không giới hạn, không thể dùng năm, tháng, ngày để mà tính kể được. Hai, sau khi thế giới này tan hoại rồi, th́ trung gian là một khoảng trống vắng mênh mông, không có thế giới; thời gian này là mịt mù trường cửu, không thể dùng số lượng năm, tháng, ngày để mà tính được. Ba, khi trời đất mới bắt đầu khởi hướng nhắm đến sự h́nh thành tựu, th́ khoảng thời gian này là trường cửûu, không thể dùng số lượng năm, tháng, ngày để mà tính được. Bốn, sau khi trời đất đă hoàn thành rồi, tồn tại lâu dài không hoại, không thể dùng số lượng năm, tháng, ngày để mà tính được. Đó là bốn sự kiện trường cửu, không lường, không có giới hạn, không thể dùng số lượng năm, tháng, ngày để tính toán được.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“Ở thế gian có ba thứ tai kiếp[285]; đó là: Một, tai kiếp lửa. Hai, tai kiếp nước. Ba, tai kiếp gió. Có giới hạn phía trên của ba tai kiếp. Thế nào là ba? Đó là: một, Quang âm thiên[286]; hai, Biến tịnhthiên[287]; ba, Quả thật thiên[288]. Khi tai kiếp lửa khởi lên, cháy lên cho đến Quang âm thiên, th́ Quang âm thiên là giới hạn. Khi tai kiếp nước khởi lên, ngập cho đến Biến tịnh thiên, th́ Biến tịnh thiên là giới hạn. Khi tai kiếp gió khởi lên, thổi cho đến Quả thật thiên, th́ Quả thật thiên là giới hạn.

“Thế nào là tai kiếp lửa? Khi tai kiếp lửa bắt đầu sắp sửa khởi, th́ con người thế gian này lúc đó đều thực hành chánh pháp, đều chánh kiến không điên đảo, đều tu thập thiện hành[289]. Khi thực hành pháp này, có người đạt được nhị thiền, liền có thể cất ḿnh bay lên ở giữa hư không, trụ vào Thánh nhơn đạo, Thiên đạo, Phạm đạo[290], và lớn tiếng xướng lên rằng: ‘Các hiền giả! Sung sướng thay, đệ nhị thiền không giác không quán! Sung sướng thay, đệ nhị thiền![291] ’ Lúc ấy, người thế gian nghe những lời này rồi, liền ngửa mặt lên trời nói với họ rằng: ‘Lành thay! Lành thay! xin v́ tôi mà nói đạo của đệ nhị thiền không giác, không quán.’ Lúc này, người ở giữa hư không nghe những lời của người kia rồi liền nói về đạo của nhị thiền không giác, không quán. Sau khi người thế gian nghe nói rồi, liền tu đạo của nhị thiền không giác, không quán, nên khi thân hoại mạng chung được sinh về Quang âm thiên.

“Lúc ấy, những chúng sanh có tội trong địa ngục, sau khi mạng chung lại được sinh vào cơi Người, và tu tập pháp của đệ nhị Thiền không giác, không quán, nên sau khi thân hoại mạng chung được sinh về Quang âm thiên. Những chúng sanh ở trong các loài Súc sanh, Ngạ quỷ, A-tu-la, Tứ thiên vương, Đao-lợi thiên, Diệm-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hóa tự tại thiên, Tha hóa tự tạithiên, Phạm thiên, sau khi thân hoại mạng chung sanh lại cơi nhơn gian; sau đó tu tập nhị Thiền không giác, không quán, th́ sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh về Quang âm thiên. V́ những nhân duyên này nên đường địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, A-tu-la, cho đến Phạm thiên tất cả đều diệt. Ngay lúc bấy giờ, trước tiên là địa ngục diệt, sau đó súc sanh diệt; súc sanh diệt rồi th́ ngạ quỷ diệt; ngạ quỷ diệt rồi th́ A-tu-la diệt; A-tu-la diệt rồi th́ Tứ thiên vương diệt; Tứ thiên vương diệt rồi th́ Đao-lợi thiên diệt; Đao-lợi thiên diệt rồi th́ Diệm-ma thiên diệt; Diệm-ma thiên diệt rồi th́ Đâu-suất thiên diệt; Đâu-suất thiên diệt rồi th́ Hóa tự tại thiên diệt; Hóa tự tại thiên diệt rồi th́ Tha hóa tự tại thiên diệt; Tha hóa tự tại thiên diệt rồi th́ Phạm thiên diệt; Phạm thiên diệt rồi th́ sau đó con người diệt, không c̣n sót ǵ lại sau này. Khi con người đă diệt, không c̣n ǵ nữa, th́ thế gian này sẽ hủy hoại cho đến thành là tai nạn. Sau đó trời không mưa, trăm thứ lúa thóc, cỏ cây tự nhiên chết khô.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát, vượt qua thế gian.

“Sau đó, qua một thới gian rất lâu, có một trận băo lớn[292] bạo khởi, thổi nước biển lớn, làm cho nước biển, sâu tám vạn bốn ngàn do-tuần, bị tách làm hai; mang cung điện mặt trời đem đặt lưng chừng núi Tu-di; cách mặt đất bốn vạn hai ngh́n do-tuần, đặt làm quỹ đạo của mặt trời[293]. Do nhân duyên này mà thế gian có hai mặt trời xuất hiện. Sau khi hai mặt trời xuất hiện, th́ những gịng sông, ng̣i, kênh, rạch nhỏ có được trên thế gian này, đều khô kiệt.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt qua thế gian.

“Sau đó một thời gian rất lâu có một trận băo lớn bạo khởi, thổi nước biển lớn, làm cho nước biển, sâu tám vạn bốn ngàn do-tuần, bị tách làm hai; mang cung điện mặt trời, đem đặt lưng chừng núi Tu-di; cách mặt đất bốn vạn hai ngh́n do-tuần, an trí quỹ đạo mặt trời. Do nhân duyên này mà thế gian có ba mặt trời xuất hiện. Sau khi ba mặt trời xuất hiện, th́ những nơi có nước nhiều như: sông Hằng, sông Da-bà-na, sông Bà-la, sông A-di-la-bà-đề, sông A-ma-khiếp, sông Tân-đà, sông Cố-xá tất cả đều khô cạn, không c̣n một giọt.

“V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ, Các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt qua thế gian.

“Sau đó một thời gian rất lâu có một trận băo lớn bạo khởi, thổi nước biển lớn, làm cho nước biển, sâu tám vạn bốn ngàn do-tuần, bị tách làm hai; mang cung điện mặt trời, đem đặt lưng chừng núi Tu-di; cách mặt đất bốn vạn hai ngh́n do-tuần, an trí quỹ đạo mặt trời. Do nhân duyên này mà thế gian có bốn mặt trời xuất hiện. Sau khi bốn mặt trời xuất hiện, th́ những con suối, nguồn nước, hồ, vực, trong thế gian như ao lớn Thiện kiến, ao lớn A-nậu-đạt, ao Tứ-phương-đà-diên, ao Ưu-bát-la, ao Câu-vật-đầu, ao Phân-đà-lợi, ao Ly; dọc ngang rộng năm mươi do-tuần, thảy đều khô cạn hết.

“V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt qua thế gian.

“Sau đó, một thời gian lâu dài, có một trận băo lớn bạo khởi, thổi nước biển lớn, làm cho nước biển, sâu tám vạn bốn ngàn do-tuần, bị tách làm hai; mang cung điện mặt trời, đem đặt lưng chừng núi Tu-di; cách mặt đất bốn vạn hai ngh́n do-tuần, an trí quỹ đạo mặt trời. Do nhân duyên này mà thế gian có năm mặt trời xuất hiện. Sau khi năm mặt trời xuất hiện, th́ nước trong biển lớn bị vơi dần từ một trăm do-tuần cho đến bảy trăm do-tuần.

“V́ vậy nên biết rằng: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt qua thế gian.

“Bấy giờ, nước biển lớn vơi dần hết chỉ c̣n có từ bảy trăm do-tuần, rồi sáu trăm do-tuần, rồi năm trăm do-tuần, rồi bốn trăm do-tuần, và… cho đến chỉ tồn tại một trăm do-tuần. V́ vậy nên biết rằng: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt qua thế gian.

“Bấy giờ, nước biển lớn từ từ vơi dần chỉ c̣n từ bảy do-tuần, rồi sáu do-tuần, rồi năm do-tuần, và… cho đến chỉ c̣n tồn tại một do-tuần.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“V́ vậy nên biết: ‘Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt qua thế gian.

“Sau đó nước biển vơi dần chỉ c̣n từ bảy cây đa-la, rồi sáu cây Đa-la, và… cho đến chỉ c̣n bằng một cây đa-la.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy, nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt qua thế gian.

“Sau đó nước biển chuyển cạn dần từ bảy người, rồi sáu người, rồi năm người, rồi bốn người, rồi ba người, rồi hai người, rồi một người, cho đến chỉ c̣n từ thắt lưng, rồi đầu gối, rồi đến… mắt cá chân người.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng để cho con người chán nản và lo sợ, nên t́m đạo giải thoát độ thế gian.

“Sau đó, nước biển chỉ c̣n giống như sau cơn mưa xuân; cũng giống như nước trong dấu chân trâu, từ từ cạn hết, không đủ thấm ướt ngón tay người’.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

-V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt qua thế gian.

“Sau đó, qua một thời gian lâu dài, có trận băo lớn bạo khởi, thổi cát đáy biển, độ sâu tám vạn bốn ngh́n do-tuần, dạt lên hai bờ; mang cung điện mặt trời đem đặt lưng chừng núi Tu-di, an trí quỹ đạo mặt Trời. Do nhân duyên này mà thế gian có sáu mặt trời xuất hiện. Sau khi sáu mặt trời xuất hiện, th́ bốn châu thiên hạ, cùng tám vạn núi trong thiên hạ, núi lớn, Tu-di sơn vương… đều bốc khói cháy xém, giống như thợ gốm khi bắt đầu đun đồ gốm, th́ lúc sáu mặt trời xuất hiện lại cũng như vậy.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt qua thế gian.

“Sau đó, qua một thời gian lâu dài, có trận băo lớn bạo khởi, thổi cát đáy biển, độ sâu tám vạn bốn ngh́n do-tuần, dạt lên hai bờ; mang cung điện mặt trời đem đặt lưng chừng núi Tu-di, an trí quỹ đạo mặt trời. Do nhân duyên này mà. thế gian có bảy mặt trời xuất hiện. Sau khi bảy mặt trời xuất hiện, th́ bốn châu thiên hạ này, cùng tám vạn núi trong thiên hạ, các núi lớn, Tu-di sơn vương… tất cả đều rực lửa. Cũng như thợ gốm khi đốt to, ngọn lửa bốc lên, lúc bảy mặt trời xuất hiêïn lại cũng như vậy.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt qua thế gian. Bốn châu thiên hạ này, cùng tám vạn núi trong thiên hạ, các núi lớn, Tu-di sơn vương… tất cả đều rực lửa. Cùng lúc, cung điện Tứ thiên vương, cung điện Đao-lợi thiên, cung điện Diệm-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hóa tự tại thiên, Tha hóa tự tại thiên, cung điện Phạm thiên cũng đều rực lửa.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt qua thế gian.

“Sau khi bốn châu thiên hạ này… cho đến Phạm thiên, thảy đều rực lửa, gió thổi ngọn lửa đến cơi Quang âm thiên. Các Thiên tử sơ sinh khi thấy ngọn lửa này đều sanh ḷng sợ hăi, nói rằng: ‘Ối! Vật ǵ đây?’ Chư thiên sinh trước nói với chư thiên sinh sau rằng: ‘Chớ sợ hăi! Lửa kia đă từng đến và dừng lại ngang đó.’ V́ nghĩ đến ánh lửa trước nên gọi là Quang niệm thiên[294].

“Khi bốn thiên hạ này,… cho đến Phạm thiên, bốc lửa, th́ Tu-di sơn vương dần dần sụp lở, từ một trăm do-tuần, hai trăm do-tuần,… cho đến bảy trăm do-tuần.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt qua thế gian.

“Sau khi bốn châu thiên hạ này,… cho đến Phạm thiên đều bị lửa đốt sạch, sau đó đại địa cùng Tu-di sơn không c̣n chút tro tàn nào hết. V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt qua thế gian.”

“Sau khi đại địa bị lửa đốt cháy sạch rồi, th́ nước ở bên dưới đất cũng hết; gió ở bên dưới nước cũng hết. V́ vậy nên biết: V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, biến dịch, mục nát hư hoại, không thể tin cậy nương nhờ. Phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt qua thế gian.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“Khi tai kiếp lửa khởi lên, th́ trời không mưa xuống, trăm thứ lúa, cỏ, cây tự nhiên bị khô chết. Ai sẽ tin? Chỉ có ai đă thấy th́ sẽ tự biết mà thôi! Cũng vậy, cho đến, nước ở bên dưới đất hết, gió ở bên dưới nước cũng hết; ai sẽ tin? Chỉ có ai đă thấy th́ sẽ tự biết mà thôi!

“Đó là tai kiếp lửa.

“Thế nào là sự phục hồi của kiếp lửa[295] ? Sau đó rất lâu, rất lâu, có đám mây đen lớn ở giữa hư không, cho đến cơi Quang âm thiên; mưa đổ xuống khắp nơi, giọt mưa như bánh xe. Mưa như vậy trải qua vô số trăm ngh́n năm, nước mưa lớn dần, cao đến vô số trăm ngh́n do-tuần, cho đến cơi Quang âm thiên.

“Bấy giờ, có bốn trận gió lớn nổi lên, giữ nước này trụ lại. Những ǵ là bốn? Một là trụ phong, hai là tŕ phong, ba là bất động, bốn là kiên cố[296]. Sau đó nước này vơi bớt một trăm ngh́n do-tuần, rồi vô số trăm ngh́n vạn do-tuần. Bốn mặt của nước này khởi lên trận gió lớn tên gió là tăng già[297], thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại; đám bọt nước tích tụ này bị gió thổi ĺa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng rắn chắc, biến thành Thiên cung. Thiên cung trang sức bằng bảy báu. Do nhân duyên này mà có thiên cung Phạm-ca-di[298]. Khi nước kia vơi măi cho đến vô số trăm ngh́n vạn do-tuần, th́ bốn mặt của nước này lại nổi lên gió lớn, được gọi là tăng già, thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại; đám bọt nước tích tụ này bị gió thổi ĺa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng rắn chắc, biến thành Thiên cung. Thiên cung này trang sức bằng bảy báu. Do nhân duyên này mà có thiên cung Tha hóa tự tại.

“Khi nước kia vơi bớt măi cho đến vô số ngh́n vạn do-tuần, th́ bốn mặt nước này nổi lên gió lớn, có gió tên là tăng già, thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại; đám bọt nước tích tụ này bị gió thổi ĺa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng rắn chắc, biến thành Thiên cung. Thiên cung này trang sức bằng bảy báu. Do nhân duyên này mà có thiên cung Hóa tự tại.

“Khi nước kia rút xuống vô số trăm ngh́n do-tuần, th́ có gió tên là tăng già, thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại; đám bọt nước tích tụ này bị gió thổi ĺa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng rắn chắc, biến thành Thiên cung. Thiên cung này trang sức bằng bảy báu. Do nhân duyên này mà có thiên cung Đâu-suất.

“Khi nước kia rút xuống vô số trăm ngh́n do-tuần, th́ có gió tên là tăng già, thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại; đám bọt nước tích tụ này bị gió thổi ĺa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng rắn chắc, biến thành Thiên cung. Thiên cung này trang sức bằng bảy báu. Do nhân duyên này mà có thiên cung Diệm-ma.

“Khi nước kia rút xuống vô số trăm ngh́n do-tuần, th́ trên nước có bọt, và sâu sáu mươi vạn tám ngh́n do-tuần, các biên của nó không có bờ mé. Cũng như ḍng nước suối nguồn hang động ở thế gian này, trên nước của nó có bọt; th́ kia cũng như vậy.

“V́ nhân duyên ǵ mà có núi Tu-di? V́ có cuồng phong nổi dậy, nên thổi bọt nước này tạo thành núi Tu-di, cao sáu mươi vạn tám ngh́n do-tuần, dọc ngang tám vạn bốn ngh́n do-tuần, và do bốn báu tạo thành: Vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly.

“V́ nhân duyên ǵ mà có bốn cung điện A-tu-luân? Sau đó, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn, ở tại bốn mặt của núi Tu-di nổi lên cung điện lớn; mỗi cung điện dọc ngang tám vạn do-tuần, tự nhiên biến thành cung điện bảy báu.

“Lại v́ nhân duyên ǵ mà có cung điện của Tứ thiên vương? Về sau, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên lưng chừng nửa núi Tu-di, độ bốn vạn hai ngh́n do-tuần, tự nhiên biến thành cung điện bảy báu. V́ vậy cho nên gọi là cung điện Tứ thiên vương.

“V́ nhân duyên ǵ có cung điện Đao-lợi thiên? Về sau, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên tới đỉnh núi Tu-di, tự nhiên biến thành cung điện bảy báu.

“Lại v́ nhân duyên ǵ mà có núi Già-đà-la[299]? Về sau, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên cách núi Tu-di không xa, tự nhiên hóa thành núi báu, chân núi ăn sâu vào trong đất bốn vạn hai ngh́n do-tuần, dọc ngang bốn vạn hai ngh́n do-tuần, biên ngoài th́ không hạn, sắc tạp bên cạnh do bảy báu mà thành, v́ nhân duyên này nên có núi Già-đà-la.

“Lại v́ nhân duyên ǵ mà có núi Y-sa[300]? Về sau, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên cách núi Già-đà-la không xa, tự nhiên hóa thành núi Y-sa, cao hai vạn một ngh́n do-tuần, dọc ngang hai vạn một ngh́n do-tuần, ngoài biên th́ không hạn, nhiều màu sắc xen nhau, do bảy báu mà thành. V́ nhân duyên này nên có núi Y-sa. Sau khi cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên cách núi Y-sa không xa, tự nhiên hóa thành núi Thọ thần đà-la[301], cao một vạn hai ngh́n do-tuần, dọc ngang một vạn hai ngh́n do-tuần, ngoài biên th́ không hạn, nhiều màu xen nhau, do bảy báu mà thành. V́ nhân duyên này nên có núi Thọ-thần-đà-la.

“Về sau, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên cách núi Thọ thần-đà-la không xa, tự nhiên hóa thành núi A-bát-ni-lâu[302], cao sáu ngh́n do-tuần, dọc ngang sáu ngh́n do-tuần, biên ngoài th́ không hạn, nhiều sắc xen nhau, do bảy báu mà thành. V́ nhân duyên này nên có núi A-bát-ni-lâu.

“Sau đó, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên cách núi A-bát-ni-lâu không xa, tự nhiên hóa thành núi Ni-lân-đà-la[303], cao ba ngh́n do-tuần, dọc ngang ba ngh́n do-tuần, biên ngoài th́ không hạn, nhiều sắc tạp xen, do bảy báu mà thành. V́ nhân duyên này nên có núi Ni-lân-đà-la.

“Sau đó, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên cách núi Ni-lân-đà-la không xa, tự nhiên hóa thành núi Tỳ-ni-đà[304], cao một ngh́n hai trăm do-tuần, dọc ngang một ngh́n hai trăm do-tuần, biên ngoài th́ không hạn, sắc tạp xen nhau, do bảy báu mà thành, v́ nhân duyên này nên có núi Tỳ-ni-đà.

“Sau đó, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn lên cách núi Tỳ-ni-đà không xa, tự nhiên hóa thành núi Kim cương luân[305], cao ba trăm do-tuần, dọc ngang ba trăm do-tuần, biên ngoài th́ không hạn, sắc tạp xen nhau, do bảy báu mà thành, v́ nhân duyên này nên có núi Kim cương luân.

“V́ sao có một cung điện mặt trăng, bảy cung điện mặt trời? Một thời gian sau, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn, th́ tự nhiên biến thành một cung điện mặt trăng, bảy cung điện mặt trời, sắc tạp xen nhau, do bảy báu mà thành, v́ bị băo thổi ngược trở lại chỗ cũ nên v́ nhân duyên này mà có cung điện mặt trời và cung điện mặt trăng.

“Sau đó, cuồng phong thổi đám bọt nước lớn, th́ tự nhiên biến thành bốn châu thiên hạ, cùng tám vạn thiên hạ. V́ nhân duyên này nên có bốn châu thiên hạ cùng tám vạn thiên hạ.

“Sau đó, cuồng phong thổi bọt nước lớn, th́ tại tứ thiên hạ ïcùng tám vạn thiên hạ, tự nhiên biến thành núi Đại Kim cương luân, cao mười sáu vạn tám ngh́n do-tuần, dọc ngang rộng mười sáu vạn tám ngh́n do-tuần, biên giới của nó th́ không có hạn; kim cương rắn chắc không thể hủy hoại. V́ nhân duyên này nên có núi Đại Kim cương luân.

“Sau đó một thời gian rất lâu, rất lâu, có mây tự nhiên phủ đầy không trung, và mưa lớn khắp nơi, những giọt nước mưa như bánh xe; nước này tràn đầy khắp nơi d́m bốn châu thiên hạ cùng núi Tu-di v. v…

“Sau đó, cuồng phong thổi đất làm thành hầm hố lớn; nước khe suối đều chảy vào hết trong đó, nhân đây mà làm thành biển. V́ nhân duyên này nên có bốn biển nước lớn. Nước biển mặn đắng có ba nhân duyên. Những ǵ là ba? Một, mây tự nhiên giăng khắp hư không cho đến Quang âm thiên, mưa khắp mọi nơi, tẩy rửa cung trời, rửa sạch thiên hạ; từ cung trời Phạm-ca-di, cung trời Tha hóa tự tại xuống đến cung trời Diệm-ma, bốn thiên hạ, tám vạn thiên hạ, các núi, núi lớn, Tu-di sơn vương, thảy đều được tẩy rửa sạch sẽ; trong những nơi này, tất cả các thứ nước dịch bất tịnh, dơ dáy và mặn, đều trôi xuôi xuống mà vào trong biển cả hợp thành một vị, nên nước biển có vị mặn. Hai, v́ xưa kia có vị đại Tiên tŕ cấm chú vào nước biển, muốn cho lúc nào nó cũng mặn đắng, người không uống được, cho nên chúng mặn đắng. Ba, v́ trong nước biển lớn này có nhiều loại chúng sanh cư trú, thân h́nh chúng to dài đến, hoặc trăm do-tuần, hai trăm do-tuần… cho đến bảy trăm do-tuần, thở hít, ăn vào mửa ra, đại tiểu tiện đều ở trong đó, nên nước biển mặn.

“Đó là tai kiếp lửa[306].”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“Thế nào là tai kiếp nước?

“Khi tai kiếp nước bắt đầu, con người trong thế gian này đều phụng hành chánh pháp, đều chánh kiến, không theo tà kiến, mà tu tập mười thiện nghiệp. Sau khi tu tập thiện hành, có người đạt được đệ tam thiền không có hỷ, thân họ có thể cất lên ở giữa hư không, an trụ Thánh nhơn đạo, Thiên đạo, Phạm đạo, và lớn tiếng xướng lên rằng: ‘Các hiền giả! Sung sướng thay, đệ tam thiền không có hỷ!’ Lúc ấy, người thế gian nghe những lời này rồi, liền ngửa mặt lên trời nói với họ rằng: ‘Lành thay! Lành thay! xin v́ tôi mà nói đạo của Tam thiền không có hỷ.’ Lúc này, người ở giữa hư không nghe những lời của người kia rồi liền nói về đạo của Tam thiền không có hỷ. Sau khi người thế gian nghe nói rồi, liền tu đạo của Tam thiền không có hỷ, nên khi thân hoại mạng chung họ được sinh về Biến tịnh thiên.

“Bấy giờ, những chúng sanh ở trong địa ngục, sau khi tội nghiệp của họ đă măn, thân hoại mạng chung tái sinh vào nhơn gian. Rồi cũng tu tập đạo của đệ Tam thiền; sau khi tu tập đạo thiền, thân hoại mạng chung, được sinh về Biến tịnh thiên. Những chúng sanh của các loài súc sanh, ngạ quỷ, A-tu-luân, Tứ thiên vương, Đao-lợi thiên, Diệm-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hóa tự tại thiên, Tha hóa tự tại thiên, Phạm thiên, Quang âm thiên sau khi thân hoại mạng chung cũng tái sinh vào cơi nhơn gian; nếu họ cũng tu tập đạo của đệ tam Thiền, khi thân hoại mạng chung họ cũng sẽ được sinh về Biến tịnh thiên. V́ nhân duyên này nên đạo địa ngục bị diệt tận, và súc sanh, ngạ quỷ, A tu luân, Tứ thiên vương,… cho đến cơi Quang âm thiên cũng đều diệt tận. Vào lúc bấy giờ, trước tiên là địa ngục biến mất, sau đó súc sanh biến mất; súc sanh biến mất rồi, th́ ngạ quỷ biến mất; ngạ quỷ biến mất rồi, th́ A-tu-luân biến mất; khi A-tu-luân biến mất rồi, th́ Tứ thiên vương biến mất; khi Tứ thiên vương biến mất rồi, th́ Đao-lợi thiên biến mất, khi Đao-lợi thiên biến mất rồi, th́ Diệm-mathiên biến mất; Diệm-ma thiên biến mất rồi, th́ Đâu-suất thiênbiến mất; khi Đâu-suất thiên biến mất rồi, th́ Hóa tự tại thiên biến mất; khi Hóa tự tại thiên biến mất rồi, th́ Tha hóa tự tại thiên biến mất; khi Tha hóa tự tại thiên biến mất rồi, th́ Phạm thiên biến mất; khi Phạm thiên biến mất rồi, th́ Quang âm thiên biến mất; khi Quang âm thiên biến mất, sau đó th́ loài người hoàn toàn biến mất. Sau khi loài người hoàn toàn biến mất, thế gian này hủy diệt. Như thế là hoàn thành tai kiếp.[307]

“Rất lâu sau đó, rất lâu, có đám mây đen lớn bạo khởi, trên cho đến Biến tịnh thiên, mưa khắp mọi nơi, mưa xuống hoàn toàn là nước nóng. Thứ nước này sôi sục, đun nấu thiên hạ, làm cho các cung điện cơi trời thảy đều bị tiêu hết, không c̣n sót thứ ǵ, giống như đặt chất béo váng sữa[308] vào trong lửa, đều bị chảy tiêu hết, không c̣n sót thứ ǵ, th́ cung điện Quang âm thiên cũng lại như vậy. V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt khỏi thế gian.

“Sau đó, mưa này lại xâm phạm đến cung điện cơi trời Phạm-ca-di, cũng đun chảy tiêu hết, không sót thứ ǵ, giống như béo sữa đem đặt vào trong lửa, không c̣n sót thứ ǵ, th́ cung điện Phạm-ca-di lại cũng như vậy.

“Sau đó, nước mưa này lại xâm phạm đến các cung điện Tha hóa tự tại thiên, Hóa tự tại thiên, Đâu-suất thiên, Diệm-ma thiên, cũng bị đun chảy tiêu hết, không c̣n sót thứ ǵ, giống như béo sữa đem đặt vào trong lửa, không c̣n sót thứ ǵ, th́ các cung điện chư thiên lại cũng như vậy.

“Sau đó, nước mưa này lại xâm phạm đến bốn châu thiên hạ, cùng tám vạn thiên hạ, các núi, núi lớn, Tu-di sơn vương cũng đều bị đun nấu tiêu hết, không c̣n sót thứ ǵ, giống như béo sữa đem đặt vào trong lửa, đều bị nung chảy tiêu hết, không c̣n sót thứ ǵ, th́ những thứ này lại cũng như vậy. V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt khỏi thế gian.

“Sau đó, nước này đă đun nấu đại địa không c̣n sót ǵ nữa rồi, th́ nước bên dưới đất cũng hết, gió bên dưới nước cũng hết. V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m đạo giải thoát vượt khỏi thế gian.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“Sự nung chảy, tiên tận ngang đến cung điện Biến tịnh thiênnày, ai là người có thể tin? Chỉ có ai thấy mới có thể biết mà thôi!

“Từ cung điện Phạm-ca-di bị nung chảy tiêu hết… cho đến, nước bên dưới đất cũng hết, gió bên dưới nước cũng hết, ai là người có thể tin? Chỉ có ai thấy, mới có thể biết mà thôi!

“Đó là tai họa do nước.

“Thế nào là sự hồi phục của tai kiếp nước? Sau đó một thời gian rất lâu, rất lâu, xuất hiện đám mây đen lớn bao phủ khắp hư không, lên đến cơi Biến tịnh thiên, mưa khắp nơi, những giọt nước mưa như bánh xe. Mưa kéo dài vô số trăm ngh́n vạn năm như vậy, nước mưa này lớn dần dần cho đến cơi Biến tịnh thiên. Có bốn loại gió lớn giữ nước này lại một chỗ đó là: một là trụ phong, hai là tŕ phong, ba là bất động, bốn là kiên cố[309].

“Sau đó, nước này vơi giảm vô số trăm ngh́n do-tuần, bốn mặt gió lớn nổi dậy gọi là tăng-già, thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại, rồi bị gió thổi ĺa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng biến thành cung điện Quang âm thiên, trang sức bằng bảy báu. V́ nhân duyên này mà có cung điện Quang âm thiên.

“Khi nước kia vơi giảm dần cho đến vô số trăm ngh́n do-tuần, th́ gió tăng già thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại, rồi bị gió thổi ĺa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng biến thành cung điện Phạm-ca-di, trang sức bằng bảy báu. Như đă kể, cho đến, nước biển có cùng một vị mặn đắng, cũng như lúc tai họa do lửa phục hồi, đó là tai kiếp nước.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“Thế nào là tai kiếp gió[310]? Khi tai kiếp gió bắt đầu khởi, con người trong thế gian này đều phụng hành chánh pháp, đều chánh kiến, không theo tà kiến, mà tu tập mười thiện nghiệp. Khi tu tập hành vi thiện, th́ có người đạt được đệ Tứ thiền với xả và niệm thanh tịnh[311], họ ở giữa hư không, trụ vào Thánh nhơn đạo, Thiên đạo, Phạm đạo, và lớn tiếng xướng lên rằng: ‘Các hiền giả! Nên biết, sung sướng thay, đệ Tứ thiền với xả và niệm thanh tịnh! Sung sướng thay, đệ Tứ thiền với xả và niệm thanh tịnh!’ Lúc ấy, người thế gian nghe những lời này rồi, liền ngửa mặt lên trời nói với họ rằng: ‘Lành thay! Lành thay! xin v́ tôi mà nói về đạo của Tứ Thiền với xả và niệm thanh tịnh!’ Lúc này, người ở giữa hư không nghe những lời của người kia rồi liền nói về đạo của Tứ Thiền. Sau khi người thế gian nghe nói rồi, liền tu đạo của Tứ Thiền, nên khi thân hoại mạng chung được sinh về Quả thậtthiên[312].

“Bấy giờ, những chúng sanh ở trong địa ngục, sau khi tội nghiệpï đă măn, thân hoại mạng chung, tái sinh vào nhơn gian. Rồi cũng tu tập đạo của đệ Tứ thiền; sau khi tu tập đạo thiền, thân hoại mạng chung, tái sinh về Quả thật thiên. C̣n những chúng sanh của các loài súc sanh, ngạ quỷ, A-tu-luân, Tứ thiên vương,… cho đến Biến tịnh thiên, sau khi thân hoại mạng chung cũng sẽ tái sinh vào cơi nhơn gian; nếu cũng tu tập đạo của đệ Tứ thiền, khi thân hoại mạng chung cũng sẽ tái sinh về Quả thật thiên. V́ nhân duyên này nên đạo địa ngục được diệt tận, và súc sanh, ngạ quỷ, A-tu-luân, Tứ thiên vương,… cho đến cơi Biến tịnh thiên cũng đều diệt tận.

“Vào lúc bấy giờ, trước tiên là địa ngục diệt tận, sau đó súc sanh diệt tận; súc sanh diệt tận rồi, th́ ngạ quỷ diệt tận; khi ngạ quỷ diệt tận rồi, th́ A-tu-luân diệt tận; khi A-tu-luân diệt tận rồi, th́ Tứ thiên vương diệt tận; khi Tứ thiên vương diệt tận rồi… như vậy lần lượt cho đến Biến tịnh thiên diệt tận; khi Biến tịnh thiên diệt tận rồi, th́ sau đó, con người bị diệt tận không c̣n sót. Khi con người đă bị diệt tận không c̣n sót, th́ thế gian này bị tan hoại, thế là hoàn thành tai kiếp.

“Rất lâu, rất lâu sau đó, có gió lớn nổi lên, tên là đại tăng già,… cho đến Quả thật thiên. Gió lan khắp mọi nơi, thổi cung điện Biến tịnh thiên, Quang âm thiên, khiến cho các cung điện va chạm nhau tan vỡ ra thành phấn bụi, giống như lực sĩ cầm hai cái chày đồng, làm cho chúng va chạm nhau, cả hai đều vỡ vụn không c̣n ǵ hết, th́ hai cung điện va chạm nhau cũng lại như vậy. V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m đạo giải thoát vượt khỏi thế gian.’

“Sau đó, gió này thổi cung điện Phạm-ca-di thiên, Tha hóa tự tại thiên, các cung điện va chạm nhau, tan vỡ ra thành phấn bụi không c̣n ǵ hết, giống như lực sĩ cầm hai cái chày đồng, làm cho chúng va chạm nhau, cả hai đều vỡ không c̣n ǵ hết, th́ hai cung điện va chạm nhau cũng lại như vậy. V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m đạo giải thoát vượt thế gian.

“Sau đó, gió này thổi cung điện Hóa tự tại thiên, Đâu-suấtthiên, Diệm-ma thiên, các cung điện này va chạm nhau, tan vỡ ra thành phấn bụi không c̣n lại ǵ hết, giống như lực sĩ cầm hai cái chày đồng, làm cho chúng va chạm nhau, cả hai đều vỡ vụn không c̣n ǵ hết, th́ những cung điện này va chạm nhau không c̣n ǵ hết cũng lại như vậy. V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt khỏi thế gian.’

“Sau đó, gió này thổi bốn thiên hạ, cùng tám vạn thiên hạ, các núi, núi lớn, Tu-di sơn vương đem đặt giữa hư không, cao trăm ngh́n do-tuần, những ngọn núi này va chạm nhau, tan vỡ ra thành phấn bụi, giống như lực sĩ tay cầm vỏ trấu nhẹ rải vào không trung, th́ tứ châu thiên hạ, Tu-di, các núi này vỡ vụn, phân tán ra, cũng lại như vậy. V́ vậy nên biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm. Hăy nên t́m con đường giải thoát vượt khỏi thế gian.

“Sau đó, gió thổi đại địa; nước bên dưới đất hết, gió bên dưới nước hết. Cho nên phải biết: Tất cả hành là vô thường, là pháp biến dịch, không đáng tin cậy; phàm các pháp hữu vi rất đáng nhàm tởm nên t́m con đường giải thoát vượt khỏi thế gian.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“Khi hai cung điện Biến tịnhthiên và Quang âm thiên va chạm nhau, tan vỡ ra thành phấn bụi, ai là người có thể tin? Chỉ có độc nhất người thấy mới có thể biết mà thôi. Như vậy cho đến nước bên dưới đất hết, gió bên dưới nước hết, ai là người sẽ tin? Chỉ có độc nhất người thấy mới có thể biết mà thôi.

“Đó là tai kiếp gió.

“Thế nào là sự hồi phục của tai kiếp?

“Sau một thời gian rất lâu xuất hiện đám mây đen lớn bao phủ khắp hư không, lên đến cơi Quả thật thiên. Rồi mưa xuống khắp nơi; những giọt nước mưa như bánh xe, mưa kéo dài vô số trăm ngh́n vạn năm, nước này lớn dần, cho đến Quả thật thiên. Lúc bấy giờ, có bốn loại gió lớn giữ nước này lại một chỗ. Những ǵ là bốn? Một là trụ phong, hai là tŕ phong, ba là bất động, bốn là kiên cố. Sau đó, nước này dần dần rút xuống vô số trăm ngh́n do-tuần; bốn phía mặt nước gió lớn nổi dậy, gọi là tăng già, thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại, bị gió thổi ĺa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng biến thành cung điện Biến tịnh thiên, được trang sức bằng bảy báu, xen lẫn các loại tạp sắc. V́ nhân duyên này mà có cung điện Biến tịnh thiên.

“Khi nước kia rút dần cho đến vô số trăm ngh́n do-tuần, th́ gió tăng-già kia thổi nước khiến chúng dao động, nổi dậy ba đào, tạo thành bọt nước mà tích tụ lại, bị gió thổi ĺa khỏi mặt nước bắn lên không trung, và tự nhiên chúng biến thành cung điện Quang âm thiên, được trang sức bằng bảy báu, xen lẫn các loại tạp sắc… cho đến nước biển có cùng một vị mặn đắng, cũng như đă nói về tai kiếp lửa.

“Đó là tai kiếp gió. Đó là ba tai kiếp, và là ba lần phục hồi[313].”

 

 

q

 


Chú thích:

 

[283] Hán, Trường A-hàm kinh, quyển 21, “Đệ tứ phần, Thế kư kinh, Tam tai phẩm đệ cửu.”-Tam tai三 災; Skt. saṃvartanayah tisro, ba sự hủy diệt.

[284] Hán: tứ sự 四 事 chỉ bốn sự kiện, hay biến cố lớn xảy ra cho thế giới, gọi là bốn đạikiếp 四 大 劫 (Pāli: cattāro mahākappā): thành kiếp (Pāli: vivaṭṭa-kappa, Skt. vivarta-kalpa), trụ kiếp(Pāli: vivaṭṭaṭṭhāyin, Skt. vivṛṭṭāvasthā), hoại kiếp (Pāli: saṃvaṭṭa-kappa, Skt. saṃvartna-kalpa), không kiếp (Pāli: saṃvaṭṭathāyin, Skt. saṃvṛṭṭāvasathā).

[285] Tam tai三 災 (Skt. tisro saṃvartanyah): hỏa tai火 災 (Skt. tejahsaṃvartanī), thủy tai 水 災 (apsaṃvartanī), phong tai 風 災 (vāyusaṃvartanī).

[286] Quang âm thiên 光 音 天, cao nhất trong ba tầng trời Nhị thiền; Skt. Ābhāsvara, Pāli: Ābhassara, Huyền Tráng: Cực quang tịnh thiên 極 光 淨 天.

[287] Biến tịnh thiên 遍 淨 天, cao nhất trong ba tầng Tam thiền thiên; Skt. Śubhakṛtsana, Pāli: Subhakiṇṇa.

[288] Quả thật thiên 果 實 天, tầng thứ ba Tứ thiền thiên; Skt. Bṛhatphala, Pāli: Vehapphala; Huyền Tráng: Quảng quả thiên廣 果 天.

[289] Thập thiện hành 十 善 行, tức thập thiện nghiệp 十 善 業; Skt. daza kusala karmā, Pāli: dasa-kusala-kammā.

[290] Thiên đạo天 道 (Pāli: deva-yāniyo maggo) xem cht. 13 kinh số 24 “Kiên Cố;” Phạm đạo梵 道 (Pāli: Brahma-yāniyo maggo), xem cht. 19 kinh số 24 “Kiên Cố.”

[291] Tham chiếu Hán dịch, Huyền Tráng, Câu xá luận, q. 12: “Định sanh hỷ lạc, thậm lạc, thậm tĩnh!” 定 生 喜 樂 甚 樂 甚 靜

[292] Hán: đại hắc phong大 黑 風; Pāli: mahā-kāla-vāta

[293] Hán: an nhật đạo trung 安 日 道 中.

[294] Quang niệm thiên光 念 天, các đoạn trên Hán dịch Quang âm thiên, cho thấy Skt. Ābhāsvara (Pāli: Ābhassara) liên hệ giữa svara: âm thanh, và smara, kư ức. Xem cht. 30, kinh Thế kư, phẩm 1. Châu Diêm-phù-đề.

[295] Kiếp hỏa hoàn phục劫 火 還 復; nội dung, diễn tả chu kỳ thế giới được tái tạo sau tai kiếp của lửa. Pāli: tejo-vivaṭṭana, Skt. tejo-vivartani.

[296] Tứ đại phong 四 大 風: trụ phong 住 風, tŕ phong持 風, bất động不 動, kiên cố 堅 固

[297] Tăng già 僧 伽

[298] Phạm-ca-di, Skt., Pāli: Brahmakāyika.

[299] Xem cht. 55, kinh Thế kư, Phẩm 1: Châu-Diêm-phù-đề.

[300] Tức Y-sa-đa-la, xem cht. 58, kinh Thế kư, Phẩm 1. Châu-Diêm-phù-đề.

[301] Các bản: Thọ thần đà la 樹 辰 陀 羅; trên kia, Thọ Cự-đà-la樹 巨 陀 羅. Có lẽ nhầm lẫn tự dạng. Xem cht. 59 phẩm 1 châu Diêm-phù-đề.

[302] A-bát-ni-lâu阿 般 尼 樓, có lẽ trên kia gọi là núi Mă thực 馬 食, Skt. Aśvakarṇa. Xem cht. 61, phẩm 1 châu Diêm-phù-đề. 

[303] Ni (bản Cao-ly: di)-lân-đà-la () 鄰 陀 羅, trên kia âm là Ni-dân-đà-la尼 民 陀 羅. Xem cht. 62, phẩm 1 châu Diêm-phù-đề. 

[304] Tỳ-ni-đà 毗 尼 陀, ở trên gọi là núi Điều phục調 伏; xem cht. 63, phẩm 1 Châu Diêm-phù-đề. 

[305] Kim cang luân 金 剛 輪, ở trên dịch là Kim cang vi 金 剛 圍. Xem cht. 64, phẩm 1 Châu Diêm-phù-đề. 

[306] Hỏa tai 火 災.

[307] Năi thành vi tai 乃 成 為 災. Trong bản Hán, từ tai và bại đồng một từ gốc Skt.: saṃvartanī. Tham chiếu, Câu xá luận 12, Huyền Tráng: Năi chí khí tận, tổng danh hoại kiếp 乃 至 器 盡 總 名 壞 劫.

[308] Tô du 酥 油, tức bơ.

[309] Xem cht. 296.

[310] Thủy tai 水 災, Skt. apsaṃvartanī.

[311] Hán: hộ niệm thanh tịnh護 念 清 淨; Pāli: upekkhāsāti parisuddhim. Xem cht.126 kinh số 2 “Du hành iii.” 

[312] Xem cht. 288.

[313] Tức ba đợt hủy diệt (Skt. saṃvartana), và ba đợt sáng tạo (Skt. vivartana).