KINH TRUNG A-HÀM (I)
PHẨM THỨ 5
PHẨM TẬP TƯƠNG ƯNG
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ Đức Thế Tôn nói rằng:
“Này A-nan, người giữ giới không nên nghĩ rằng: ‘Mong sao tôi không có sự hối hận’. Này A-nan, bởi v́ pháp tánh vốn vậy[2] ai giữ giới, người ấy được sự không hối hận.
“Này A-nan, người đă được sự không hối hận, không nên nghĩ rằng: ‘Mong sao tôi được hân hoan. Này A-nan, bởi v́ pháp tánh vốn như vậy, ai không hối hận người ấy được hân hoan.
“Này A-nan, người đă được sự hân hoan không nên nghĩ rằng: ‘Mong sao tôi được hỷ’. Này A-nan, bởi v́ pháp tánh vốn vậy, ai có hân hoan, người ấy được hỷ.
“Này A-nan, người đă có hỷ không nên nghĩ rằng: ‘Mong sao tôi được tĩnh chỉ’. Này A-nan, bởi v́ pháp tánh vốn như vậy, ai có hỷ, người ấy được tĩnh chỉ.
“Này A-nan, người đă được tĩnh chỉ không nên nghĩ rằng: ‘Mong sao tôi có lạc’. Này A-nan, bởi v́ pháp tánh vốn vậy, ai đă có tĩnh chỉ, người ấy được cảm thọ lạc.
“Này A-nan, người đă có lạc không nên nghĩ rằng: ‘Mong sao tôi có định’. Này A-nan, bởi v́ pháp tánh vốn vậy, ai có lạc, người ấy có định.
“Này A-nan, người đă có định không nên nghĩ rằng: ‘Mong sao tôi thấy như thật, biết như chân’. Này A-nan, bởi v́ pháp tánh vốn vậy, ai có định, người ấy thấy như thật, biết như chân.
“Này A-nan, người thấy như thật, biết như chân không nên nghĩ rằng: ‘Mong sao tôi có sự yếm ly’. Này A-nan, bởi v́ pháp tánh vốn như vậy, ai thấy như thật, biết như chân, người ấy có sự yếm ly.
“Này A-nan, người đă có sự yếm ly không nên nghĩ rằng: ‘Mong sao tôi được vô dục’. Này A-nan, bởi v́ pháp tánh vốn như vậy, ai có sự yếm ly người ấy được vô dục.
“Này A-nan, người đă vô dục không nên nghĩ rằng: ‘Mong sao tôi được giải thoát’. Này A-nan, bởi v́ pháp tánh vốn như vậy, ai đă vô dục người ấy được giải thoát hết thảy dâm, nộ, si.
“Này A-nan, đấy là nhân tŕ giới mà được không hối hận, nhân không hối hận mà được hân hoan, nhân hân hoan mà được hỷ, nhân hỷ mà được chỉ, nhân chỉ mà được lạc, nhân lạc mà được định.
“Này A-nan, Đa văn Thánh đệ tử nhân định mà có tri kiến như thật, nhân có tri kiến như thật mà có yếm ly, nhân có yếm ly mà được vô dục, nhân vô dục mà được giải thoát, nhân giải thoát mà có giải thoát tri kiến, biết đúng như thật rằng: ‘Sự sanh đă dứt, phạm hạnh đă vững, việc cần làm đă làm xong, không c̣n tái sanh nữa’.
“Này A-nan, đó chính là các pháp hỗ trợ lẫn nhau, làm nhân cho nhau. Như vậy, giới này đưa đến chỗ cao tột, tức là đưa từ bờ này đến tận bờ kia.
Phật thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
q
Chú thích
[1] Tương đương Pāli: A.x.2. Cetanā, tư, không có nghĩa bất như bản Hán.
[2] Hán: pháp tự nhiên 法 自 然. Pāli: dhammatā esā, pháp tánh là như thế.
|
|
|