KINH TRUNG A-HÀM (I)
PHẨM THỨ 8
PHẨM UẾ
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du hóa tại Câu-xá-di, trong vườn Cù-sư-la[2]. Bấy giờ Tôn giả Đại Chu-na vào lúc xế, từ chỗ tĩnh tọa đứng dậy, đi đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi xuống một bên, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, trong đời, các kiến chấp phát sanh và phát sanh, tức các chủ trương có thần ngă, có chúng sanh, có nhân, có thọ, có mạng, có thế gian[3]. Bạch Thế Tôn, biết như thế nào, thấy như thế nào để các kiến chấp này được tiêu diệt, được xả ly và khiến cho các tà kiến khác không tiếp diễn, không bị chấp thủ?”
Bấy giờ Thế Tôn nói rằng:
“Chu-na, trong đời, các kiến chấp phát sanh và phát sanh, tức các chủ trương có thần ngă, có chúng sanh, có nhân, có thọ, có mạng, có thế gian. Chu-na, nếu muốn các pháp diệt tận không dư, th́ phải biết như vậy, thấy như vậy mới có thể khiến cho các kiến chấp này được tiêu diệt, được xả ly và khiến cho các kiến chấp khác không tiếp diễn, không bị chấp, hăy học pháp tiệm giảm[4].
“Chu-na, trong Thánh pháp luật, thế nào là tiệm giảm? Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện, cho đến chứng đắc Tứ thiền, thành tựu an trụ, vị ấy nghĩ như vầy: ‘Ta đă thực hành sự tiệm giảm’. Này Chu-na, trong Thánh pháp luật không phải chỉ có sự tiệm giảm này[5].
“Có bốn tăng thượng tâm, hiện pháp lạc trú[6], hành giả từ đó xuất rồi lại nhập trở lại. Vị ấy nghĩ như thế này: ‘Ta thực hành sự tiệm giảm này’. Này Chu-na, trong Thánh pháp luật không phải chỉ có sự tiệm giảm này.
“Tỳ-kheo vượt khỏi mọi sắc tưởng, cho đến chứng đắc phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, thành tựu an trụ. Vị ấy nghĩ như thế này: ‘Ta thực hành sự tiệm giảm’. Này Chu-na, trong Thánh pháp luật không phải chỉ có sự tiệm giảm này.
“Có bốn tịch tĩnh giải thoát[7], ĺa sắc, chứng đắc vô sắc, hành giả từ đó khởi lên sẽ nói cho người khác biết. Vị ấy nghĩ như thế này: ‘Ta thực hành sự tiệm giảm’. Này Chu-na, trong Thánh pháp luật không phải chỉ có sự tiệm giảm này.
“Chu-na, ‘Người khác có ác dục, niệm dục; ta không có ác dục, niệm dục’. Hăy học tiệm giảm[8].
“Chu-na, ‘Người khác có sân hại ư[9]; ta không có sân hại ư’. Hăy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác có sát sanh, lấy của không cho, phi phạm hạnh; ta không phi phạm hạnh’. Hăy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác có tham lam[10], tâm năo hại[11], thụy miên triền[12], trạo cử[13], cống cao và có nghi hoặc[14]; ta không có nghi hoặc’. Hăy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác có sân kết[15], dua siểm, lừa gạt, vô tàm, vô quư; ta có tàm quư’. Hăy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác có mạn, ta không có mạn’. Hăy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác có tăng thượng mạn, ta không có tăng thượng mạn[16]’. Hăy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác không đa văn, ta có đa văn’. Hăy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác không quán các thiện pháp, ta quán các thiện pháp’. Hăy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác hành phi pháp, ác hạnh; ta hành đúng pháp, diệu hạnh’. Hăy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác có nói láo, hai lưỡi, nói cộc cằn, nói thêu dệt, ác giới; ta không ác giới’. Hăy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác có bất tín, giải đăi, vô niệm, vô định mà lại có ác tuệ; ta không có ác tuệ’. Hăy học tiệm giảm.
“Chu-na, chỉ cần phát tâm nghĩ muốn cầu học các thiện pháp c̣n được nhiều sự lợi ích, huống chi thân và khẩu thực hành thiện pháp?
“Chu-na, ‘Người khác có ác dục, niệm dục; ta không có ác dục, niệm dục’. Hăy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác có sân hại ư; ta không có sân hại ư’. Hăy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác có sát sanh, lấy của không cho, phi phạm hạnh; ta không phi phạm hạnh’. Hăy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác có tham lam, tâm năo hại, thụy miên triền, trạo cử và cống cao và có nghi hoặc; ta không có nghi hoặc’. Hăy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác có sân kết, dua siểm, lừa gạt, vô tàm, vô quư; ta có tàm quư’. Hăy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác có mạn, ta không có mạn’. Hăy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác có tăng thượng mạn, ta không có tăng thượng mạn’. Hăy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác không đa văn, ta có đa văn’. Hăy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác không quán các thiện pháp, ta quán các thiện pháp’. Hăy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác hành phi pháp, ác hạnh; ta hành đúng pháp, diệu hạnh’. Hăy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác có nói láo, nói hai lưỡi, nói cộc cằn, nói thêu dệt, ác giới; ta không ác giới’. Hăy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác có bất tín, giải đăi, vô niệm, vô định mà lại có ác tuệ; ta không có ác tuệ’. Hăy phát tâm.
“Chu-na, ví như con đường xấu, có con đường tốt đối lại; bến đ̣ xấu, có bến đ̣ tốt, đối lại. Cũng vậy, này Chu-na, ác dục có phi ác dục đối lại. Hại ư sân, có không hại ư sân đối lại. Sát sanh, lấy của không cho, phi phạm hạnh, có phạm hạnh đối lại. Tham lam, năo hại, thụy miên, trạo cử cống cao, nghi hoặc, có sự không nghi hoặc đối lại. Sân kết, dua siểm, lừa gạt, vô tàm, vô quư; có tàm quư đối lại. Mạn, có không mạn đối lại. Tăng thượng mạn có không tăng thượng mạn đối lại. Không đa văn, có đa văn đối lại. Không quán các thiện pháp, có quán các thiện pháp đối lại. Hành phi pháp, ác hạnh; có hành đúng pháp, diệu hạnh đối lại. Nói láo, nói hai lưỡi, nói cộc cằn, nói thêu dệt, ác giới; có thiện giới đối lại. Bất tín, giải đăi, vô niệm, vô định, ác tuệ; có thiện tuệ đối lại.
“Chu-na, hoặc có pháp đen, có quả báo đen, dẫn đến ác xứ; hoặc có pháp trắng, có quả báo trắng, dẫn lên thiện xứ. Cũng như thế, này Chu-na, người ác dục th́ do phi ác dục mà đi lên. Người có hại ư sân th́ do không có hại ư sân mà đi lên. Người sát sanh, lấy của không cho, phi phạm hạnh, th́ do phạm hạnh mà đi lên. Người tham lam, năo hại, thụy miên, trạo cử cống cao, nghi hoặc th́ do không nghi hoặc mà đi lên. Người sân nhuế, dua siểm, lừa gạt, vô tàm, vô quư th́ do tàm quư mà đi lên. Người mạn th́ do không mạn mà đi lên, Người tăng thượng mạn th́ do không tăng thượng mạn mà đi lên. Người không đa văn th́ do đa văn mà đi lên. Người không quán các thiện pháp th́ do quán các thiện pháp mà đi lên. Người hành phi pháp, ác hạnh th́ do hành đúng pháp, diệu hạnh mà đi lên. Người nói láo, nói hai lưỡi, nói cộc cằn, nói thêu dệt, ác giới th́ do thiện giới mà đi lên. Người bất tín, giải đăi, vô niệm, vô định, ác tuệ th́ do thiện tuệ mà đi lên.
“Chu-na, nếu có người tự ḿnh không điều phục, người khác không điều phục, mà muốn có sựï điều phục, sự kiện ấy không bao giờ có. Tự ḿnh ch́m, người khác ch́m mà muốn vớt lên, sự kiện ấy không bao giờ có. Tự ḿnh không Bát-niết-bàn, người khác không Bát-niết-bàn mà muốn dẫn đến nhập Niết-bàn, sự kiện ấy không bao giờ có.
“Chu-na, nếu có người tự ḿnh điều phục được, người khác không điều phục được, mà muốn có sự điều phục, sự kiện ấy có xảy ra. Tự ḿnh không ch́m, người khác bị ch́m mà muốn vớt lên, sự kiện ấy có xảy ra. Tự ḿnh Bát-niết-bàn, người khác không Bát-niết-bàn mà muốn đưa đến Niết-bàn, sự kiện ấy có xảy ra.
“Cũng như thế, này Chu-na, người ác dục th́ do phi ác dục mà nhập Niết-bàn. Người có hại ư sân th́ do không có hại ư sân mà nhập Niết-bàn. Người sát sanh, lấy của không cho, phi phạm hạnh th́ do phạm hạnh mà nhập Niết-bàn. Người tham lam, năo hại, thùy miên, trạo cử, cống cao, nghi hoặc, th́ do không nghi hoặc mà nhập Niết-bàn. Người sân kết, dua nịnh, vô tàm, vô quư, th́ do tàm quư mà nhập Niết-bàn. Người tăng thượng mạn th́ do không tăng thượng mạn mà nhập Niết-bàn. Người không đa văn th́ do đa văn mà nhập Niết-bàn. Người không quán các thiện pháp th́ do quán các thiện pháp mà nhập Niết-bàn. Người hành phi pháp, ác hạnh th́ do hành đúng pháp, diệu hạnh mà nhập Niết-bàn. Người nói láo, nói hai lưỡi, nói cộc cằn, nói thêu dệt, ác giới, th́ do thiện giới mà nhập Niết-bàn. Người bất tín, giải đăi, vô niệm, vô định, ác tuệ, th́ do thiện tuệ mà nhập Niết-bàn.
“Chu-na, đó là Ta đă nói cho ngươi nghe về pháp tiệm giảm, đă nói pháp phát tâm, đă nói pháp đối trị, đă nói pháp thăng thượng, đă nói pháp nhập Niết-bàn. Như bậc Tôn sư đối với đệ tử khởi tâm đại từ, thương xót, thương tưởng, mong cầu cho đệ tử được phước lợi và thiện ích, mong cầu an ổn khoái lạc. Ta đă làm như vậy. Các ngươi cũng nên tự ḿnh làm. Hăy đến nơi rừng vắng, núi sâu, dưới gốc cây, chỗ an tĩnh không nhàn, tĩnh tọa tư duy, đừng phóng dật, không ngừng tinh tấn, chớ để ân hận mai sau. Đó là lời khuyến giáo, lời huấn thị của Ta”.
Phật thuyết như vậy. Tôn giả Đại Chu-na và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
q
Chú thích
[1] Tương đương Pāli, M.8. Sallekha-suttaṃ.
[2] Xem kinh 90 trên.
[3] Các kiến chấp: thần 神 (Pāli: attā), chúng sanh 眾 生 (satta), nhân 人(puggala), thọ 夀 (āyu), mạng 命 (jīva), thế 世 (loka) đều liên hệ đến quan niệm linh hồn hay tiểu ngă (attavāda). Baûn Pāli chỉ nêu: attavādapaṭisaṃyuttā lokavādapaṭisaṃyuttā (diṭṭhiyo), các kiến chấp liên hệ đến các thuyết về hữu ngă và thế giới (thường hay vô thường v.v...).
[4] Tiệm giảm. Pāli: sallekha, tổn giảm, theo nghĩa kiểm thức, sống khắc khổ.
[5] Pāli: na kho panete, cunda, ariyassa vinaye sallekhā vuccanti, diṭṭhadhamma- sukhavihārā ete ariyassa vinaye vuccanti, trong luật của bậc Thánh, chúng không được gọi là tiệm giảm, mà được gọi là hiện pháp lạc trú.
[6] Hiện pháp lạc cư 現 法 樂 居; chỉ tính chất của bốn thiền sắc giới.
[7] Nguyên. Hán: tức giải thoát 息 解 脫, tức tịch tịnh giải thoát, chỉ bốn vô sắc giới định. Pāli: santā vimokkhā.
[8] Pāli: pare vihaṃsakā bhavissanti, maya ettha avihisakā bhavissāmā, những người khác có thể sẽ là bạo hại; chúng ta sẽ không là bạo hại, nên học tiệm giảm như vậy.
[9] Hán: hại ư sân 害 意 瞋. Pāli: vihiṃsaka, bạo hành.
[10] Tăng tứ 增 伺; Pāli: abhijjhālu.
[11] Tránh ư 諍 意; Pāli: vyāpannacitta.
[12] Thụy miên sở triền 睡 眠 所 纏, triền cái thụy miên. Pāli: thīnamiddhapariyuṭṭhāna, mê ngủ nghỉ, bị buồn ngủ khống chế.
[13] Điệu cống cao, hay trạo cử ố tác hay trạo hối. Pāli: uddahacca-kukkucca, vị kích động và vọng động.
[14] Liệt kê năm triền cái (Pāli: pañca nīvaraṇāni): tham, sân, thụy miên, trạo hối và nghi.
[15] Sân kết 瞋 結, chỗ khác (xem kinh 89 trên) gọi là bất ngữ kết, Pāli: makkha, ngụy thiện và ác ư hay ác cảm.
[16] Tăng mạn 增 慢. Pāli: atimāna, tự cao.
|
|
|