KINH TRUNG A-HÀM (I)
PHẨM THỨ 8
PHẨM UẾ
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong Đông viên, giảng đường Lộc mẫu. Hắc Tỳ-kheo[2], con bà Lộc Mẫu, thường ưa tranh căi, đi đến chỗ Phật. Thế Tôn thấy Hắc Tỳ-kheo từ xa đi lại, nhân v́ có Hắc Tỳ-kheo nên Ngài nói với các Tỳ-kheo:
“Hoặc có người thường ưa tranh căi, không khen việc đ́nh chỉ tranh căi. Nếu có người thường ưa tranh căi, không khen việc đ́nh chỉ tranh căi, th́ đó là pháp không thể ái lạc, không thể ái hỷ, không thể khiến cho có ái niệm, không thể khiến cho có kính trọng, không thể khiến tu tập, không thể khiến nhiếp tŕ, không thể khiến xứng đáng là Sa-môn, không thể khiến được nhất ư[3], không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người ác dục, không khen việc đ́nh chỉ ác dục. Nếu có người ác dục, không khen việc đ́nh chỉ ác dục, th́ đó là pháp không thể ái lạc, không thể ái hỷ, không thể khiến ái niệm, không thể khiến kính trọng, không thể khiến tu tập, không thể khiến nhiếp tŕ, không thể khiến xứng đáng là Sa-môn, không thể khiến được nhất ư, không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người phạm giới, vượt giới, sứt mẻ giới, làm rách giới, ô uế giới và không khen việc tŕ giới. Nếu có người phạm giới, vượt giới, sứt mẻ giới, làm rách giới, ô uế giới, th́ đó là pháp không thể ái lạc, không thể ái hỷ, không thể khiến ái niệm, không thể khiến cho có kính trọng, không thể khiến tu tập, không thể khiến nhiếp tŕ, không thể khiến xứng đáng là Sa-môn, không thể khiến được nhất ư, không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người có sân triền, có phú kết, có bỏn sẻn, tật đố, có dua siểm, dối trá, có vô tàm, vô quư, không khen tàm quư[4]. Nếu có người có sân triền, có phú kết, bỏn sẻn, tật đố, có dua siểm, dối trá, có vô tàm, vô quư, không khen tàm quư, th́ đó là pháp không thể ái lạc, không thể ái hỷ, không thể khiến cho có ái niệm, không thể khiến cho có kính trọng, không thể khiến tu tập, không thể khiến nhiếp tŕ, không thể khiến xứng đáng là Sa-môn, không thể khiến được nhất ư, không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người không tiếp đăi các vị đồng phạm hạnh, không khen sự tiếp đăi các vị đồng phạm hạnh. Nếu có người không tiếp đăi các vị đồng phạm hạnh, không khen sự tiếp đăi các vị đồng phạm hạnh, th́ đó là pháp không thể ái lạc, không thể ái hỷ, không thể khiến ái niệm, không thể khiến cho có kính trọng, không thể khiến tu tập, không thể khiến nhiếp tŕ, không thể khiến xứng đáng là Sa-môn, không thể khiến được nhất ư, không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người không quán các pháp, không khen việc quán các pháp. Nếu có người không quán các pháp, không khen việc quán các pháp, th́ đó là pháp không thể ái lạc, không thể ái hỷ, không thể khiến ái niệm, không thể khiến cho có kính trọng, không thể khiến tu tập, không thể khiến nhiếp tŕ, không thể khiến xứng đáng là Sa-môn, không thể khiến được nhất ư, không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người không tĩnh tọa[5], không khen tĩnh tọa. Nếu có người không tĩnh tọa, không khen tĩnh tọa, th́ đó là pháp không thể ái lạc, không thể ái hỷ, không thể khiến cho có ái niệm, không thể khiến cho có kính trọng, không thể khiến tu tập, không thể khiến nhiếp tŕ, không thể khiến xứng đáng là Sa-môn, không thể khiến được nhất ư, không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Những người như thế tuy nghĩ rằng: ‘Mong các vị đồng phạm hạnh cúng dường, cung kính, lễ sự ta’, nhưng các vị đồng phạm hạnh không cúng dường, cung kính, lễ sự người ấy. V́ sao? V́ người ấy có vô lượng điều ác này. Nhân v́ người ấy có vô lượng điều ác này nên khiến cho các vị đồng phạm hạnh không cúng dường, cung kính, lễ sự người ấy.
“Cũng như con ngựa dữ bị nhốt vào trong chuồng, tuy nó nghĩ rằng: ‘Mong người ta nhốt tôi ở chỗ an ổn, cho đồ ăn thức uống tươi tốt và thích ngắm nghía tôi’, nhưng người ta không nhốt nó ở chỗ an ổn, không cho nó đồ ăn thức uống tốt tươi và không thích ngắm nghía nó. V́ sao? V́ con ngựa ấy có sự dữ, nghĩa là v́ nó hết sức thô tệ, không hiền lành, nên khiến cho người ta không nhốt nó ở chỗ an ổn, không cho đồ ăn thức uống tốt tươi và không thích ngắm nghía nó. Cũng như vậy, người này dù nghĩ rằng ‘Mong các vị đồng phạm hạnh cúng dường, cunh kính, lễ sự ta’, nhưng các vị đồng phạm hạnh không cúng dường, cung kính, lễ sự người ấy. V́ sao? V́ người ấy có vô lượng điều ác này. Nhân v́ người ấy có vô lượng điều ác này nên khiến cho các vị đồng phạm hạnh không cúng dường, cung kính, lễ sự người ấy.
“Hoặc có người không thích tranh căi, khen ngợi việc đ́nh chỉ tranh căi. Nếu có người không thích tranh căi, khen ngợi việc đ́nh chỉ tranh căi, th́ đây là pháp khả lạc, khả ái, khả hỷ, có thể khiến ái niệm, có thể khiến kính trọng, có thể khiến tu tập, có thể khiến nhiếp tŕ, có thể khiến xứng đáng là Sa-môn, có thể khiến được nhất ư, có thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người không ác dục, khen ngợi việc đ́nh chỉ ác dục. Nếu có người không ác dục, khen ngợi việc đ́nh chỉ ác dục, th́ đây là pháp khả lạc, khả ái, khả hỷ, có thể khiến ái niệm, có thể khiến kính trọng, có thể khiến tu tập, có thể khiến nhiếp tŕ, có thể khiến xứng đáng là Sa-môn, có thể khiến được nhất ư, có thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người không phạm giới, vượt giới, sứt mẻ giới; không làm rách giới, ô uế giới và khen ngợi việc tŕ giới. Nếu có người không phạm giới, vượt giới, sứt mẻ giới; không làm rách giới, ô uế giới và khen ngợi việc tŕ giới, th́ đây là pháp khả lạc, khả ái, khả hỷ, có thể khiến ái niệm, có thể khiến kính trọng, có thể khiến tu tập, có thể khiến nhiếp tŕ, có thể khiến xứng đáng là Sa-môn, có thể khiến được nhất ư, có thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người không có sân triền, không phú kết, không bỏn sẻn, tật đố, không dua siểm, dối trá, không vô tàm, không vô quư và khen ngợi tàm quư. Nếu có người không có sân triền, không phú kết, không bỏn sẻn, tật đố, không dua diểm, dối trá, không vô tàm, không vô quư và khen ngợi tàm quư, th́ đây là pháp khả lạc, khả ái, khả hỷ, có thể khiến ái niệm, có thể khiến kính trọng, có thể khiến tu tập, có thể khiến nhiếp tŕ, có thể khiến xứng đáng là Sa-môn, có thể khiến được nhất ư, có thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người có tiếp đăi các vị đồng phạm hạnh, khen ngợi việc tiếp đăi các vị đồng phạm hạnh. Nếu có người tiếp đăi các vị đồng phạm hạnh, khen ngợi việc tiếp đăi các vị đồng phạm hạnh, th́ đây là pháp khả lạc, khả ái, khả hỷ, có thể khiến ái niệm, có thể khiến kính trọng, có thể khiến tu tập, có thể khiến nhiếp tŕ, có thể khiến xứng đáng là Sa-môn, có thể khiến được nhất ư, có thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người quán các pháp, khen ngợi việc quán các pháp. Nếu có người quán các pháp, khen ngợi việc quán các pháp, th́ đây là pháp khả lạc, khả ái, khả hỷ, có thể khiến ái niệm, có thể khiến kính trọng, có thể khiến tu tập, có thể khiến nhiếp tŕ, có thể khiến xứng đáng là Sa-môn, có thể khiến được nhất ư, có thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người tĩnh tọa, khen ngợi tĩnh tọa. Nếu có người tĩnh tọa, khen ngợi tĩnh tọa, th́ đây là pháp khả lạc, khả ái, khả hỷ, có thể khiến ái niệm, có thể khiến kính trọng, có thể khiến tu tập, có thể khiến nhiếp tŕ, có thể khiến xứng đáng là Sa-môn, có thể khiến được nhất ư, có thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Người này tuy không nghĩ rằng: ‘Mong các vị đồng phạm hạnh cúng dường, cung kính, lễ sự nơi ta’, nhưng các vị đồng phạm hạnh vẫn cúng dường, cung kính, lễ sự người ấy. V́ sao? V́ người ấy có vô lượng điều lành này. Nhân người ấy có vô lượng điều lành này khiến cho các vị đồng phạm hạnh cúng dường, cung kính, lễ sự người ấy.
“Giống như con ngựa hiền nhốt trong chuồng, tuy nó không nghĩ rằng: ‘Mong người ta nhốt tôi ở chỗ an ổn, cho đồ ăn thức ống tốt tươi và thích ngắm nghía tôi’, nhưng người ta vẫn nhốt nó ở chỗ an ổn, cho đồ ăn thức uống tốt tươi và vẫn thích ngắm nghía nó. V́ sao? Bởi v́ đó là con ngựa lành, nghĩa là nó rất thuần thục, rất hiền lành, nên người ta nhốt nó ở chỗ an ổn, cho đồ ăn thức uống tốt tươi và thích ngắm nghía nó. Cũng như vậy, người này tuy không nghĩ rằng ‘Mong các vị đồng phạm hạnh cúng dường, cung kính, lễ sự nơi ta’, nhưng các vị đồng phạm hạnh vẫn cúng dường, cung kính, lễ sự người ấy”.
Phật thuyết như vậy. Các vị Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
q
Chú thích
[1] Tương đương Pāli A.10.87. Nappiya-sutta (Adhikaraṇa-sutta hay Kālaha-bhikkhu-sutta).
[2] Hắc Tỳ-kheo 黑 比 丘. Pāli: Kālaka-bhikkhu.
[3] Nhất ư 一 意. Pāli: ekībhava, nhất thể, hiệp nhất.
[4] Xem các kinh 90 và 93 trên.
[5] Yến tọa 宴 坐; ngồi chỗ yên tĩnh, vắng vẻ. Pāli: patisallāno, độc cư, nhàn tĩnh, ẩn dật.
|
|
|