增壹阿含經
TĂNG NHẤT A-HÀM
T2n125
Hán dịch:
Tam tạng Cù-đàm Tăng-già-đề-bà, người Kế Tân, thời Đông Tấn
Việt dịch:
Thích Đức Thắng
Hiệu chú: Tuệ Sỹ
[
MỤC LỤC
]
10. PHẨM
HỘ TÂM
KINH SỐ 1
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Hãy tu hành một pháp. Hãy truyền rộng một
pháp. Khi đã tu hành một pháp, truyền rộng một pháp rồi, liền
được thần thông, các hành tịch tĩnh, được quả Sa-môn, ̣đến
Niết-bàn giới. Một pháp đó là gì? Đó là hành không phóng dật.
Thế nào là hành không phóng dật? Là phòng hộ tâm. Thế nào là
phòng hộ tâm? Ở đây, Tỳ-kheo thường thủ hộ tâm khỏi pháp hữu lậu.
Khi Tỳ-kheo thủ hộ tâm khỏi pháp hữu lậu, vị ấy liền ở nơi pháp hữu
lậu mà được an vui, cũng có tín lạc, an trụ không di dịch, hằng
chuyên tâm ý, luôn tự lực cố gắng. Như vậy, này Tỳ-kheo, vị kia
hành không phóng dật, hằng tự cẩn thận, nếu dục lậu chưa sinh
thì khiến không sinh; dục lậu đã sinh, thì có thể khiến nó diệt.
Hữu lậu chưa sinh thì khiến không sinh, hữu lậu đã sinh, thì có
thể khiến nó diệt. Vô minh lậu chưa sinh thì khiến không sinh; vô
minh lậu đã sinh, thì có thể khiến nó diệt. Tỳ-kheo ở đó hành
không phóng dật, ở một nơi vắng vẻ, thường tự giác tri, an trú,
liền được giải thoát khỏi tâm dục lậu; liền được giải thoát khỏi
tâm hữu lậu, vô minh lậu. Khi đã được giải thoát, liền được
giải thoát trí, biết rằng, sinh tử đã hết, phạm hạnh đã lập,
những gì cần làm đã làm xong, không còn tái sinh nữa.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ này:
Không mạn
,
dấu cam lồ.
Phóng dật, con đường chết;
Không mạn, thì không chết,
Ai mạn, tức là chết.
[564a01] “Cho
nên, này các Tỳ-kheo, hãy niệm tu hành hạnh không phóng dật. Như
vậy, này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Hãy tu hành một pháp. Hãy truyền rộng một
pháp. Khi đã tu hành một pháp, truyền rộng một pháp rồi, liền
được thần thông, các hành tịch tĩnh, được quả Sa-môn, ̣đến
Niết-bàn giới. Một pháp đó là gì? Đó là hành không phóng dật đối
với các thiện pháp. Thế nào là hành không phóng dật? Không gây
nhiễu tất cả chúng sanh, không gây hại tất cả chúng sanh, không
não hại tất cả chúng sanh. Đó là hành không phóng dật. Kia sao
gọi là thiện pháp? Đó là tám đạo phẩm Hiền thánh: đẳng kiến,
đẳng phương tiện,
đẳng ngữ, đẳng hành,
đẳng mạng, đẳng trị,
đẳng niệm, đẳng định. Đó gọi là thiện pháp.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ:
Thí tất cả chúng sanh,
Không bằng người thí pháp.
Thí chúng sanh tuy phước,
Pháp thí một người hơn.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tu hành thiện
pháp. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 3
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Các ngươi quán đàn-việt thí chủ như thế
nào?”
Lúc ấy, các Tỳ-kheo bạch Thế tôn:
“Thế tôn là chủ
các pháp. Nguyện xin Thế tôn nói nghĩa này cho các Tỳ-kheo. Sau
khi nghe, chúng con sẽ thọ trì.”
Bấy giờ Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy lắng nghe, lắng nghe, hãy suy nghĩ kỹ, Ta
sẽ phân biệt nghĩa này cho các ngươi.”
Các Tỳ-kheo bạch:
“Kính vâng, bạch Thế tôn.”
Bấy giờ các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy. Thế
tôn bảo:
“Đối với đàn-việt thí chủ, nên cung kính như là
con hiếu thuận mẹ cha, nuôi dưỡng, hầu hạ, khiến cho năm ấm được
tăng ích, để ở nơi cõi Diêm-phù-lợi mà hiện các thứ nghĩa. Quán
đàn-việt thí chủ hay thành tựu giới, văn, tam-muội, trí tuệ
cho người; các Tỳ-kheo được nhiều lợi ích, ở trong Tam bảo không có
điều gì quái ngại.
“Thí chủ hay cho các ngươi áo chăn, ẩm thực, khăn
trải giường chõng, thuốc thang cho bệnh tật. Cho nên, này các Tỳ-kheo,
hãy có [564b01]
tâm từ đối với đàn-việt. Ân nhỏ thường không quên, huống chi ân
lớn. Hằng đem tâm từ hướng về đàn-việt kia mà nói hành thanh
tịnh của thân, khẩu, ý. Thân hành từ, khẩu hành từ, ý hành
từ, không thể tính đếm, không thể hạn lượng, khiến cho vật sở thí
của đàn-việt kia trọn không bị phế bỏ, được quả lớn, thành
tựu phước hựu lớn, có danh xưng lớn, truyền khắp thế gian, pháp
vị cam lồ. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ:
Thí, để thành của lớn,
Sở nguyện cũng thành tựu.
Vua cùng các đạo tặc,
Không thể đoạt vật này.
Thí, để được vương vị,
Nối tiếp ngôi chuyển luân;
Thành bảy báu đầy đủ,
Đạt được nhờ bố thí.
Bố thí, thành thân trời,
Đầu đội mũ đa bảo;
Cùng kỹ nữ dạo chơi,
Báo này nhờ bố thí.
Thí, được Thiên-đế Thích,
Vua trời oai lực thạnh;
Nghìn mắt thân trang nghiêm,
Báo này nhờ bố thí.
Bố thí thành Phật đạo,
Đủ ba mươi hai tướng;
Chuyển pháp luân vô thượng,
Báo này cũng nhờ thí.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Đàn-việt thí chủ làm sao để thừa sự,
cúng dường các bậc Hiền thánh tinh tấn trì giới?”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo bạch Thế tôn:
“Thế tôn là chủ* các pháp. Xin nguyện Thế
tôn nói nghĩa này cho các Tỳ-kheo. Nghe rồi, chúng con sẽ thọ
trì.”
Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy lắng nghe, lắng nghe, hãy suy nghĩ kỹ,
Ta phân biệt nghĩa này cho các ngươi.”
Các Tỳ-kheo bạch:
“Kính vâng, bạch Thế tôn.”
Các Tỳ-kheo vang nghe những lời Phật dạy như
vậy. Thế tôn bảo:
“Đàn-việt thí chủ mà thừa sự, cúng dường
các bậc đa văn, tinh tấn trì giới, cũng giống như chỉ bảo đường
cho người mê, cung cấp thức ăn cho người thiếu thốn lương thực,
khiến người sợ hãi không lo phiền, dạy bảo người kinh sợ chớ
sợ hãi, che chở giúp cho người không nhà cửa, [564c01]
làm con mắt cho người mù, làm y vương cho người bệnh; giống như
nông phu nhà ruộng sửa sang nghiệp ruộng trừ khử cỏ dại để có
thể thành tựu lúa ăn. Còn Tỳ-kheo thì thường nên trừ bỏ bệnh
năm thạnh ấm,
cầu mong vào thành Niết-bàn, chỗ không có sợ hãi. Như vậy, này
các Tỳ-kheo, đàn-việt thí chủ thừa sự cúng dường các bậc đa
văn tinh tấn trì giới là như vậy.”
Lúc bấy giờ, Gia chủ A-na-bân-trì
đang ở trong chúng. Bấy giờ, Gia chủ A-na-bân-trì bạch Thế tôn:
“Đúng vậy, bạch Thế tôn. Đúng vậy, bạch Như
Lai. Tất cả thí chủ đến với người nhận, giống như bình cát
tường. Những vị nhận bố thí như Tỳ-sa vương. Khuyên người hành
bố thí như cha mẹ thân; người nhận thí là phước lành đời sau.
Tất cả mọi thí chủ đến với người nhận giống như cư sĩ.”
Thế tôn bảo:
“Đúng vậy, Gia chủ. Như những gì ông đã
nói.”
Gia chủ A-na-bân-trì bạch Thế tôn:
“Từ nay về sau, cửa nhà con không đóng kín,
cũng không cự tuyệt Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di,
cùng những người đi đường thiếu lương thực.”
Bấy giờ, Gia chủ A-na-bân-trì bạch Thế tôn:
“Nguyện xin Thế tôn cùng chúng Tỳ-kheo nhận
lời thỉnh của đệ tử.”
Bấy giờ, Thế tôn im lặng nhận lời thỉnh
của Gia chủ. Gia chủ thấy Thế tôn im lặng nhận lời, liền lễ
Phật, nhiễu quanh ba vòng trở về chỗ ở. Đến nhà rồi, ngay
trong đêm đó bày biện thịnh soạn đủ các loại đồ ăn, thức uống
ngon ngọt, trải tọa cụ rộng rãi xong, tự đến bạch:
“Đồ ăn đã dọn xong. Cúi xin Thế tôn kịp thời
quang lâm chiếu cố.”
Bấy giờ, Thế tôn dẫn chúng Tỳ-kheo, đắp y
ôm bát đến nhà Gia chủ tại thành Xá-vệ. Đến xong, mọi người
tự tìm chỗ ngồi, và các Tỳ-kheo Tăng cũng theo thứ tự mà
ngồi.
Bấy giờ, Gia chủ thấy Phật và chúng
Tỳ-kheo ngồi đã an định rồi, tự tay đi dâng các thứ đồ ăn thức
uống. Sau khi đi dâng các thứ đồ ăn thức uống xong, thu dọn bát,
rồi đến ngồi chỗ thấp trước Như Lai, muốn nghe pháp. Gia chủ
bấy giờ bạch Thế tôn:
“Lành thay, Như Lai. Cho phép các Tỳ-kheo tùy
theo những vật cần như ba y, bình bát, ống đựng kim, ni-sư-đàn,
giải buộc y,
bồn tắm,
cùng tất cả những vật khác của Sa-môn, được phép nhận hết
tại nhà đệ tử.”
Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu các người cần y áo, bình bát,
ni-sư-đàn, bồn tắm cùng tất cả những vật tạp của Sa-môn, thì
cho phép đến đó nhận, chớ có nghi nan mà khởi tưởng tâm đắm
trước.”
Bấy giờ, Thế tôn nói pháp vi diệu cho Gia
chủ A-na-bân-trì. [565a01]
Nói pháp vi diệu xong, liền từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
Lúc bấy giờ, A-na-bân-trì nơi bốn cửa thành
lại bố thí rộng rãi. Lần thứ năm ở trong chợ, lần thứ sáu ở
tại nhà. Ai cần đồ ăn thì cho đồ ăn, cần thức uống thì cho
thức uống, cần xe cộ, kỹ nhạc, hương xông, anh lạc, thì cho tất
cả.
Bấy giờ, Thế tôn nghe Gia chủ A-na-bân-trì
bố thí rộng rãi trong bốn cửa thành, và nơi chợ lớn; bố thí
cho kẻ nghèo thiếu. Nơi nhà lại bố thí vô lượng. Bấy giờ, Thế
tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Trong hàng đệ tử của Ta, Ưu-bà-tắc ưa
thích bố thí bậc nhất đó là Gia chủ Tu-đạt.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Gia chủ A-na-bân-trì
đến chỗ Thế tôn, đầu mặt lễ sát chân Phật, rồi ngồi qua một
bên. Thế tôn bảo:
“Thế nào Gia chủ, quý gia chủ thường bố
thí cho những người nghèo thiếu phải không?”
Gia chủ thưa:
“Đúng vậy, bạch Thế tôn. Con thường bố thí
cho những người nghèo thiếu. Nơi bốn cửa thành thì bố thí
rộng rãi. Tại nhà thì cung cấp những gì cần dùng. Bạch Thế
tôn, có lúc con tự nghĩ muốn bố thí cho các loài cầm thú như
chim chóc, heo, chó. Con cũng không nghĩ là đây nên cho, đây không
nên cho; cũng lại không nghĩ là đây nên cho nhiều, đây nên cho ít.
Con thường tự nghĩ tất cả chúng sanh đều do ăn uống mà sinh
mạng tồn tại; có ăn thì sống, không ăn thì chết.”
Thế tôn bảo:
“Lành thay, lành thay, Gia chủ. Ông đã bằng
tâm Bồ-tát, chuyên tinh nhất ý mà huệ thí rộng rãi. Đúng vậy,
chúng sanh nhờ ăn uống mà được cứu sống, không ăn uống thì
liền chết. Này Gia chủ, Ông sẽ được quả lớn, được tiếng tăm
nhiều; được quả báo lớn mà tiếng đồn thấu mười phương; được
pháp vị cam lồ. Vì sao vậy? Vì hàng Bồ-tát thường đem tâm
bình đẳng để bố thí, lúc nào cũng một lòng mà nhớ đến các
loài chúng sanh, nhờ ăn uống mà tồn tại, có ăn uống tức được
cứu sống, không ăn uống tức chết. Này Gia chủ, đó là tâm
Bồ-tát ở tại chỗ yên ổn mà bố thí rộng rãi.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ:
Nên bố thí khắp cả,
Quyết không lòng hối tiếc;
Ắt sẽ gặp bạn lành,
Được giúp đến bờ kia.
[565b01]
“Cho nên Gia chủ, hãy dùng tâm bình đẳng mà bố thí rộng rãi.
Như vậy, Gia chủ hãy học điều này.”
Gia chủ sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 6
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Như Ta ngày nay biết rõ căn nguyên chỗ đến
của chúng sanh, cũng biết quả báo của việc bố thí một nắm
cơm dư cuối cùng, mình đã không ăn mà đem bố thí cho người
khác. Lúc ấy, tuy không khởi tâm ghen ghét dù bằng lông tóc,
nhưng vì chúng sanh này không biết quả báo của việc bố thí.
Còn như Ta thì biết rõ điều đó. Quả báo của bố thí, báo của sự
bình đẳng, tâm không có gì khác. Cho nên, chúng sanh vì không thể bố
thí bình đẳng mà tự thân đọa lạc, hằng bị tâm keo kiệt, ganh tị trói
buộc tâm ý.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ:
Chúng sanh không tự giác,
Lời dạy của Như Lai:
Thường nên bố thí khắp,
Chuyên hướng chỗ chơn nhơn.
Chí tánh đã thanh tịnh,
Được phước nhiều gấp bội;
Cùng cộng phần phước đó,
Sau được quả báo lớn.
Nay lành thay bố thí,
Tâm hướng ruộng phước rộng;
Chết ở cõi người này,
Ắt sinh lên trên trời.
Cho đến xứ lành kia,
Khoái lạc tự vui sướng;
Cát tường rất hoan vui,
Tất cả không thiếu thốn.
Do nghiệp trời oai đức,
Ngọc nữ theo chung quanh;
Báo bố thí bình đẳng,
Nên được phước đức này.
Các Tỳ-kheo Sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 7
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Các ngươi chớ sợ phước báo. Vì sao vậy?
Vì đây là sự báo ứng của việc thọ lạc rất đáng yêu kính. Sở
dĩ gọi là phước vì có báo lớn này. Các ngươi nên sợ vô
phước. Vì sao vậy? Vì đây là nguồn gốc của khổ, sầu lo, khổ
não, không thể kể hết, không có yêu thích. Đây gọi là vô phước.
Này Tỳ-kheo, Ta tự nhớ xưa kia bảy năm hành từ tâm. Lại trải
qua bảy kiếp Ta không đến cõi này. Lại trong bảy kiếp [565c01]
Ta sinh về trời Quang âm, bảy kiếp sinh vào chốn Không Phạm thiên
làm Đại Phạm thiên không ai sánh bằng, thống lĩnh trăm nghìn
thế giới. Ba mươi sáu lần Ta làm thân Thiên đế Thích, vô số đời
làm vua Chuyển Luân.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tạo phước chớ
mệt mỏi. Vì sao vậy? Vì đây gọi là sự báo ứng của thọ lạc
rất đáng yêu kính, đó gọi là phước. Các ngươi nên sợ vô phước.
Vì sao vậy? Vì là ngồn gốc của khổ, sầu lo, khổ não, không
thể kể hết, đó gọi là vô phước.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ này:
Vui thay, phước báo,
Sở nguyện tựu thành;
Mau đến diệt tận,
Đến chỗ vô vi.
Ví dù số ức,
Thiên ma Ba-tuần
Cũng không thể quấy
Người tạo nghiệp phước.
Kia thường tự cầu,
Đạo của Hiền thánh;
Liền trừ hết khổ,
Sau cùng không lo.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tạo phước chớ
chán nản. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 8
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Nếu có người thuận theo một pháp, không lìa
một pháp, thì thiên ma Ba-tuần không thể có được cơ hội, cũng
không thể đến để quấy nhiễu người. Những gì là một pháp? Là
công đức phước nghiệp. Vì sao vậy? Vì Ta nhớ xưa kia, dưới bóng
đạo thọ, cùng các Bồ-tát hội họp về một chỗ. Ác ma Ba-tuần đem
hàng nghìn vạn ức binh chúng, đủ các loại tướng mạo, hình
người đầu thú không thể kể hết: Trời, Rồng, Quỷ thần,
A-tu-luân, Ca-lưu-la, Ma-hưu-lặc v.v... đều đến tụ hội.”
Lúc ấy ma Ba-tuần nói với Ta rằng:
“Sa-môn, mau gọp mình sát đất.”
Phật dùng sức lớn phước đức hàng phục ma
oán, mọi trần cấu đều tiêu, không uế nhiễm, liền thành đạo vô
thượng chánh chơn.
“Các Tỳ-kheo nên quán sát nghĩa này. Nếu có
Tỳ-kheo nào đầy đủ công đức, ác ma Ba-tuần không thể có được
cơ hội để phá hoại công đức kia.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ này:
Có phước khoái lạc,
Vô phước thì khổ;
Đời này, đời sau,
Tạo phước thọ lạc.
“Cho nên các Tỳ-kheo, tạo phước chớ mệt
mỏi.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì [566a01]
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 9
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Nếu có Tỳ-kheo nào tu hành một pháp thì
không thể làm bại hoại các nẻo dữ. Một pháp thì hướng đến các nẻo
lành. Một pháp thì hướng đến Niết-bàn. Thế nào là tu hành một
pháp, thì không thể làm bại hoại các nẻo dữ? Là tâm không chí tín.
Đó gọi là tu một pháp này thì không thể làm hoại các nẻo ác.
“Thế nào là tu hành một pháp thì hướng đến
các nẻo thiện? Là tâm hành chí tín. Đó gọi là tu một pháp thì
hướng đến các nẻo lành.
“Thế nào là tu hành một pháp thì hướng đến
Niết-bàn? Là thường chuyên tâm niệm. Đó gọi là tu hành pháp
này được đến Niết-bàn.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy chuyên tinh tâm
ý niệm tưởng đến các gốc lành. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy
học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 10
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Phật bảo các
Tỳ-kheo:
“Nếu có một người mà xuất hiện ở thế gian,
thì chúng sanh ở đây liền tăng ích tuổi thọ, nhan sắc tươi
nhuận, khí lực sung mãn, khoái lạc vô cùng, âm thanh hòa nhã.
Một người ấy là ai? Là Như Lai Chí chơn, Đẳng chánh giác. Đây
g̣ọi là một người mà xuất hiện ở thế gian, khiến chúng sanh ở
đây liền tăng ích tuổi thọ, nhan sắc tươi nhuận, khí lực sung
mãn, khoái lạc vô cùng, âm thinh hòa nhã.”
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy thường chuyên
tinh nhất tâm niệm Phật. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều
này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Kệ tóm tắt:
Không mạn, hai niệm, đàn,
Hai thí, keo
không chán;
Thí phước, ma Ba-tuần,
Nẻo ác, và một người.
|