增壹阿含經
TĂNG NHẤT A-HÀM
T2n125
Hán dịch:
Tam tạng Cù-đàm Tăng-già-đề-bà, người Kế Tân, thời Đông Tấn
Việt dịch:
Thích Đức Thắng
Hiệu chú: Tuệ Sỹ
[
MỤC LỤC
]
12. PHẨM
NHẬP ĐẠO
KINH SỐ 1
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có con đường chỉ một lối vào,
làm thanh tịnh các hành của chúng sanh, trừ bỏ sầu ưu, không còn
mọi bức não, được trí tuệ lớn, thành tựu sự chứng đắc
Niết-bàn. Đó là hãy diệt trừ năm triền cái, tư duy bốn ý chỉ.
“Thế nào là một lối vào? Tâm chuyên nhất,
đó là một lối vào. Thế nào là đạo? Tám phẩm đạo Hiền thánh:
1. chánh kiến, 2. chánh trị,
3. chánh nghiệp, 4. chánh mạng, 5. chánh phương tiện, 6. chánh
ngữ,
7. chánh niệm, 8. chánh định. Đó gọi là đạo. Đó gọi là con
đường chỉ một lối vào.
“Thế nào là hãy diệt trừ năm triền cái? Tham
dục cái, sân nhuế cái, điệu hí
cái, thùy miên cái, nghi cái. Đó gọi là năm triền cái phải
diệt.
“Thế nào là tư duy bốn ý chỉ? Ở đây, này
Tỳ-kheo, bên trong tự quán thân
trừ bỏ niệm ác, không có sầu ưu; bên ngoài tự quán thân trừ
bỏ ác niệm, không có sầu ưu; trong ngoài quán thân trừ bỏ ác
niệm, không có sầu ưu. Trong quán thọ nơi thọ,
ngoài quán thọ nơi thọ, trong ngoài quán thọ trên thọ mà tự vui
thú.
Trong quán tâm, ngoài quán tâm, trong ngoài quán tâm mà tự vui
thú. Trong quán pháp, ngoài quán pháp, trong ngoài quán pháp mà
tự vui thú.
“Thế nào là Tỳ-kheo bên trong quán thân mà
tự vui thú*? Ở đây, Tỳ-kheo quán thân này tùy theo tánh hành của
nó: từ đầu đến chân, từ chân đến đầu; quán trong thân này tất
cả đều bất tịnh, không có gì đáng tham.
“Lại quán thân này có các thứ lông, tóc,
móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, não, mỡ cao,
ruột, bao tử, tim, gan, tỳ, thận; thảy đều quán biết hết. Phẩn,
tiểu, sanh tạng, thục tạng, nước mắt, đờm dãi, huyết mạch, mỡ,
mật; đều nên quán biết, không có gì đáng tham đắm. Như vậy, này
các Tỳ-kheo, hãy quán thân mà tự vui thú, trừ bỏ niệm ác, không
có sầu ưu.
“Lại nữa Tỳ-kheo lại quán thân này có đại
chủng đất chăng? Có đại chủng nước, lửa, gió chăng? Tỳ-kheo quán sát
thân này như vậy.
“Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân này, phân biệt
các giới; thân này có bốn đại chủng. Giống như người khéo mổ bò,
hoặc học trò người mổ bò, xẻ con bò từng phần để tự xem xét:
đây là chân, đây là tim, đây là đốt xương, đây là đầu. Cũng vậy,
Tỳ-kheo kia phân biệt giới này mà tự quán sát: thân này có
các đại chủng đất, nước, lửa, gió. Tỳ-kheo quán sát [568b01]
thân như vậy mà tự vui thú.
“Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân này có các lỗ
rỉ chảy không sạch. Giống như người kia quán sát vườn trúc hay
quán sát bụi lau. Cũng vậy Tỳ-kheo quán thân này có các lỗ
chảy ra các thứ bất tịnh.
“Lại nữa, Tỳ-kheo quán tử thi, hoặc chết đã
một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm
ngày, sáu ngày, bảy ngày; thân thể sình trướng, hôi thối không
sạch. Tỳ-kheo lại tự quán thân mình cùng với thân kia không khác,
thân ta không thoát khỏi hoạn này.
“Hoặc Tỳ-kheo quán tử thi bị quạ, se sẻ, kên
kên ăn nuốt, hoặc bị hổ lang, chó sói, các loài trùng thú
trông thấy ăn thịt. Tỳ-kheo lại tự quán thân mình cùng kia không
khác, thân ta không tránh khỏi hoạn này. Đó là Tỳ-kheo tự quán
thân mà vui thú.
“Lại nữa, Tỳ-kheo quán tử thi hoặc bị ăn
một nửa, rơi vãi trên đất, hôi thối không sạch. Tỳ-kheo lại tự
quán thân mình cùng kia không khác, thân ta không tránh khỏi pháp
này.
“ Lại nữa, quán tử thi đã hết thịt, chỉ
còn có xương bê bết máu. Tỳ-kheo lại đem thân mình quán sát như
thân kia cũng không khác. Tỳ-kheo quán thân này như vậy.
“Lại nữa, Tỳ-kheo quán tử thi, gân ràng rịt
như bó củi. Tỳ-kheo lại quán thân mình cùng kia không khác.
Tỳ-kheo quán thân này như vậy.
“Lại nữa, Tỳ-kheo quán tử thi, từng đốt
xương phân tán rơi vãi khắp nơi. Hoặc xương tay, xương chân mỗi thứ
một nơi, hoặc xương đùi, xương hông, hoặc xương cùng, hoặc xương
tay, hoặc xương vai, hoặc xương sườn, hoặc xương sống, hoặc xương
cổ, hoặc đầu lâu. Lại nữa, thân này cùng kia không khác. Ta
không thoát khỏi pháp này. Thân ta cũng sẽ bại hoại. Như vậy
Tỳ-kheo quán thân này mà tự vui thú.
“Lại nữa, Tỳ-kheo quán tử thi màu trắng,
màu ngọc trắng.
Tỳ-kheo lại tự quán thân cùng kia không khác, ta không lìa khỏi
pháp này. Đó là Tỳ-kheo tự quán thân.
“Lại nữa, nếu Tỳ-kheo thấy tử thi, tưởng
xương xanh bầm, không có gì đáng tham đắm, hoặc cùng màu tro đất
không thể phân biệt. Như vậy, Tỳ-kheo tự quán thân, trừ bỏ niệm
ác, không có sầu lo. Thân này vô thường, là pháp phân tán. Như
vậy Tỳ-kheo nội tự quán thân, ngoại quán thân, nội ngoại quán
thân, phân rã, không có gì.
“Thế nào là Tỳ-kheo nội quán thọ nơi thọ?
Ở đây, Tỳ-kheo khi có cảm thọ lạc, tức thì tự giác tri rằng ta có
cảm thọ lạc. Khi có cảm thọ khổ, tức thì tự giác tri rằng ta có
cảm thọ khổ. Khi có cảm thọ không lạc không khổ, [568c01]
tự giác tri rằng ta có cảm thọ không lạc không khổ. Nếu khi được
cảm thọ lạc bởi ăn,
liền tự giác tri ta được cảm thọ lạc bởi ăn*. Nếu khi được cảm
thọ khổ bởi ăn*, liền tự giác tri ta được cảm thọ khổ bởi ăn*.
Nếu khi được cảm thọ không lạc không khổ bởi ăn*, liền tự giác
tri ta được cảm thọ không lạc không khổ bởi ăn*. Nếu khi được cảm
thọ lạc không bởi ăn,
liền tự giác tri ta được cảm thọ lạc không bởi ăn. Nếu được cảm
thọ khổ không bởi ăn, liền tự giác tri ta được cảm thọ khổ không
bởi ăn. Nếu khi được cảm thọ không lạc không khổ không bởi ăn, liền
tự giác tri ta được cảm thọ không lạc không khổ không bởi ăn.
Tỳ-kheo bên trong tự quán thọ như vậy.
“Lại nữa, nếu Tỳ-kheo lúc được cảm thọ
lạc, lúc ấy không có cảm thọ khổ, bấy giờ tự giác tri ta đang cảm
thọ lạc. Nếu lúc được cảm thọ khổ, lúc ấy không có cảm thọ
lạc, bấy giờ tự giác tri ta đang cảm thọ khổ. Nếu khi được cảm
thọ không lạc không khổ, lúc đó không có lạc, không có khổ, thì
tự giác tri ta đang cảm thọ không lạc không khổ.
“Vị đó quán pháp tập khởi
mà tự vui thú*, cũng quán pháp diệt tận,
lại quán pháp tập diệt.
Hoặc lại có thọ hiện ở trước mà có thể biết, có thể thấy;
vị ấy tư duy nguồn gốc của nó, không nương tựa vào đâu mà tự vui
thú, không khởi niệm tưởng về gian thế gian.
Ở trong đó cũng không kinh sợ. Do không kinh sợ mà đạt đến
Niết-bàn, như thật biết rằng: ‘Sinh
đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc phải làm đã làm xong, không
còn tái sinh đời sau nữa.’ Tỳ-kheo bên trong tự quán thọ như vậy,
trừ bỏ loạn niệm không có sầu lo. Bên ngoài tự quán thọ,
nội ngoại quán thọ, trừ bỏ loạn niệm không có sầu lo. Như vậy
Tỳ-kheo nội ngoại quán thọ.
“Thế nào là quán tâm, tâm pháp
mà tự vui thú*? Ở đây, Tỳ-kheo có tâm ái dục, liền tự giác tri
có tâm ái dục; không có tâm ái dục cũng tự giác tri không có
tâm ái dục. Có tâm sân nhuế, liền tự giác tri có tâm sân nhuế;
không có tâm sân nhuế, cũng tự giác tri không có tâm sân nhuế.
Nếu có tâm ngu si, liền tự giác tri có tâm ngu si; không có tâm
ngu si, liền tự giác tri ta không không có tâm ngu si. Nếu có tâm
ái niệm, liền tự giác tri có tâm ái niệm; không có tâm ái
niệm, cũng tự giác tri không có tâm ái niệm. Có tâm thọ nhập,
thì tự giác tri có tâm thọ nhập; không tâm thọ nhập, thì tự
giác tri không tâm thọ nhập. Nếu có tâm loạn,
thì tự giác tri có tâm loạn; không có tâm loạn niệm, cũng tự
giác tri không [569a01]
có tâm loạn niệm. Có tâm tán lạc,
liền tự giác tri có tâm tán lạc; không có tâm tán lạc, liền tự
giác tri không có tâm tán lạc. Có tâm phổ biến, liền tự giác tri
có tâm phổ biến; không có tâm phổ biến, cũng tự giác tri không
có tâm phổ biến. Có tâm lớn, liền tự giác tri có tâm lớn;
không có tâm lớn cũng tự giác tri không có tâm lớn. Có tâm vô
lượng, liền tự giác tri có tâm vô lượng; không có tâm vô lượng,
cũng tự giác tri không có tâm vô lượng. Có tâm tam-muội, liền
giác tri có tâm tam-muội;
không có tâm tam-muội, cũng giác tri không có tâm tam-muội. Tâm
chưa giải thoát, liền tự giác tri tâm chưa giải thoát; tâm đã
giải thoát, cũng tự giác tri tâm đã giải thoát.
“Như vậy, Tỳ-kheo tu ý chỉ với sự quán sát tướng
của tâm nơi;
quán tập pháp, quán diệt pháp, cùng quán pháp tập diệt*; tư
duy quán pháp mà tự vui thú. Những gì mà
có thể biết, có thể thấy, có thể tư duy, không thể tư duy, không nương
tựa cái gì, không khởi lên niệm tưởng thê gian.
Đã không khởi tưởng liền không sợ hãi. Đã không sợ hãi liền
được vô dư. Đã được vô dư liền được Niết-bàn, như thật biết rằng:
‘Sinh* đã dứt. phạm hạnh đã vững, việc phải làm đã làm xong,
không còn thọ thân đời sau nữa.’
“ Như vậy, Tỳ-kheo tu tập ý chỉ, bên trong tự
quán tự tâm, trừ bỏ loạn tưởng, không có sầu lo; tu tập ý chỉ,
bên ngoài tự quán tâm, nội ngoại quán tâm, trừ bỏ loạn niệm,
không có sầu lo. Như vậy, Tỳ-kheo tu tập ý chỉ quán tướng của tâm nơi
tâm*.
“Thế nào là Tỳ-kheo tu ý chỉ, quán tướng của
pháp nơi pháp? Ở đây, Tỳ-kheo tu niệm giác ý,
y quán, y vô dục, y diệt tận, trừ bỏ các pháp ác. Tu pháp giác
ý,
tu tinh tấn giác ý, tu niệm giác ý,
tu ỷ giác ý,
tu tam-muội giác ý, tu hộ giác ý,
y quán, y vô dục, y diệt tận, trư bỏ các pháp ác. Như vậy,
Tỳ-kheo tu ý chỉ, quán tướng của pháp nơi pháp.
“Lại nữa, Tỳ-kheo đã giải thoát khỏi ái dục,
trừ pháp ác bất thiện, có giác, có quán,
có ỷ niệm và lạc,
ở nơi sơ thiền mà tự vui thú. Như vậy, Tỳ-kheo tu ý chỉ, quán tướng
của pháp nơi pháp.
“Lại nữa, Tỳ-kheo xả hữu giác, xả hữu quán,
bên trong phát hoan hỷ,
chuyên nhất ý,
thành không giác, không quán, niệm ỷ hỷ an;
vào nhị thiền mà tự vui thú. Như vậy, Tỳ-kheo tu ý chỉ, quán tướng
của pháp nơi pháp.
“Lại nữa, Tỳ-kheo xả niệm, tu nơi hộ,
hằng tự giác tri,
[69b01]
thân có tri giác lạc, điều mà các hiền thánh mong cầu, hộ và niệm
thanh tịnh
hành nơi tam thiền. Như vậy, Tỳ-kheo tu ý chỉ, quán tướng của pháp
nơi pháp.
“Lại nữa, Tỳ-kheo xả tâm lạc khổ, không còn
có ưu và hỷ, không lạc không khổ, hộ niệm thanh tịnh,
vui thú nơi tứ thiền. Như vậy, Tỳ-kheo tu ý chỉ, quán tướng của pháp
nơi pháp.
“Vị ấy, hành pháp tập, hành pháp diệt tận,
cùng hành pháp tập diệt mà tự vui thú, liền được ý chỉ nơi
pháp mà hiện ra trước,
có thể biết, có thể thấy, trừ bỏ loạn tưởng, không nương tựa
cái gì, không khởi tưởng thế gian. Đã không khởi tưởng liền không
sợ hãi. Đã không sợ hãi thì như thật biết rằng, ‘Sinh* đã dứt.
phạm hạnh đã vững, việc phải làm đã làm xong, không còn thọ
thân nữa.’
“Này các Tỳ-kheo, y chỉ trên con đường một lối
vào mà chúng sanh được thanh tịnh, xa lìa sầu ưu, lại không có
tưởng ưu
hỷ, đạt được trí tuệ, chứng ngộ Niết-bàn.
Đó là diệt năm triền cái, tu bốn ý chỉ.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Ta ở trong đây không thấy một pháp nào đưa
đến hoại diệt nhanh như ganh ghét, đố kỵ đối với người phạm hạnh.
Cho nên, các Tỳ-kheo nên tu hành từ nhẫn, thân hành từ, khẩu
hành từ, ý hành từ. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều
này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 3
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Có một người mà khi xuất hiện ở thế gian,
thì tối tôn, tối thượng trên cả chư thiên, loài người, ma, cùng ma
thiên, Sa-môn, bà-la-môn tối tôn, ai sánh bằng; đó là ruộng
phước, bậc nhất đáng thừa sự, đáng tôn kính. Thế một người ấy
là ai? Là Như Lai, bậc A-la-hán Chánh đẳng Chánh giác. Đó g̣ọi
là một người mà khi xuất hiện ở thế gian, thì tối tôn, tối
thượng, vượt qua chư thiên, loài người, A-tu-luân, ma cùng ma
thiên, Sa-môn, bà-la-môn không ai sánh bằng; đó là ruộng phước
bậc nhất, đáng thừa sự, đáng tôn kính. Cho nên, này các
Tỳ-kheo, nên thường cúng dường Như Lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo,
hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
[569c01]
Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ai chăm sóc bệnh nhơn, là người ấy đã chăm
sóc Ta. Ai khán hộ bệnh nhơn, là người ấy đã khán hộ Ta. Vì sao
vậy? Ta nay muốn đích thân khán hộ người tật bệnh.
“Này các Tỳ-kheo, Ta không thấy một người nào
mà bố thí cho vị ấy thì sự bố thí này không gì vượt qua, tối thương trên
cả sự bố thí cho chư thiên, thế gian, Sa-môn, bà-la-môn. Hành thí
này mới đích thật là thí, được quả báo lớn, được công đức
lớn, tiếng đồn vang khắp, được pháp vị cam lồ. Nghĩa là bố thí
đến Như Lai Chí chơn, Đẳng chánh giác. Nên biết, đó là bố thí tối
thượng trong sự bố thí, không có gì vượt qua. Hành thí này mới
đích thật là thí, được quả báo lớn, được công đức lớn. Nay Ta
vì nhân duyên này mà nói ra như vậy: Chăm sóc bệnh nhơn, tức là
đã chăm sóc Ta không khác. Các ngươi lâu dài được phước lợi lớn.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Ai tán thán A-luyện-nhã tức là đã tán
thán Ta. Vì sao vậy? Vì hiện tại lúc nào Ta cũng tự tán thán
hạnh A-luyện-nhã. Ai bài báng A-luyện-nhã tức là đã bài báng
Ta.
“Ai tán thán khất thực tức là đã tán thán
Ta. Vì sao vậy? Vì lúc nào Ta cũng tán thán người hay khất
thực. Ai hủy báng khất thực tức là đã hủy báng Ta.
“Ai tán thán người ngồi một mình tức là
đã tán thán Ta. Vì sao vậy? Vì Ta thường tán thán người hay
ngồi một mình. Ai hủy báng người ngồi một mình tức là đã
hủy báng Ta.
“Ai tán thán người một lần ngồi một lần ăn
tức là đã tán thán Ta. Vì sao vậy? Vì Ta thường tán thán
người một lần ngồi một lần ăn. Ai hủy báng người một lần
ngồi một lần ăn tức là đã hủy báng Ta.
“Ai tán thán người ngồi dưới bóng cây, tức
là đã tán thán thân Ta không khác. Vì sao vậy? Vì Ta thường
tán thán người ngồi dưới bóng cây. Ai hủy báng người ngồi
dưới bóng cây, tức là đã hủy báng Ta.
“Ai tán thán người ngồi ngoài trời tức là
đã tán thán Ta. Vì sao vậy? Vì Ta thường tán thán người ngồi
ngoài trời. Ai hủy nhục người ngồi ngoài trời, tức là đã hủy
nhục Ta.
“Ai tán thán người ở nơi trống vắng, tức là
đã [ 570a01]
tán thán Ta. Vì sao vậy? Vì Ta thường tán thán người ở nơi
trống vắng. Ai hủy nhục người ở nơi trốngvắng, tức là đã hủy
nhục Ta.
“Ai tán thán người khoác y năm mảnh, tức là
đã tán thán Ta. Vì sao vậy? Vì Ta thường tán thán người khoác
y năm mảnh. Ai hủy nhục người khoác y năm mảnh tức là đã hủy
nhục Ta.
“Ai tán thán người trì ba y tức là đã tán
thán Ta. Vì sao vậy? Vì lúc nào Ta cũng tán thán người trì ba
y. Ai hủy nhục người trì ba y tức là đã hủy nhục Ta.
“Ai tán thán người ngồi nơi gò mả tức là
đã tán thán Ta. Vì sao vậy? Vì Ta thường tán thán người ngồi
nơi gò mả. Ai hủy nhục người ngồi nơi gò mả tức là đã hủy
nhục Ta.
“Ai tán thán người ăn một lần tức là đã
tán thán Ta. Vì sao vậy? Vì Ta thường tán thán người ăn một
lần. Ai hủy nhục người ăn một lần tức là đã hủy nhục Ta.
“Ai tán thán người ăn đúng giữa ngày, tức
là đã tán thán thân Ta. Vì sao vậy? Vì Ta thường tán thán
người ăn đúng giữa ngày. Ai hủy nhục người ăn đúng giữa ngày,
tức là đã hủy nhục Ta.
“Ai tán thán hạnh đầu đà tức là đã tán
thán Ta. Vì sao vậy? Vì Ta thường tán thán các hạnh đầu đà. Ai
hủy nhục hạnh đầu đà, tức là đã hủy nhục Ta.
“Nay Ta dạy các Tỳ-kheo nên như sở hành của
đại Ca-diếp, không để có điều rơi rớt mất. Vì sao vậy? Vì Tỳ-kheo
Ca-diếp có các hạnh này. Cho nên sở học của các Tỳ-kheo
thường nên như Ca-diếp. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều
này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 6
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở tại Ca-lan-đà trong Trúc
viên, tại thành La-duyệt, cùng câu hội với năm trăm vị đại
Tỳ-kheo.
Bấy giờ, Tôn giả Đại Ca-diếp sống ở
A-luyện-nhã, đến giờ khất thực thì không phân biệt giàu nghèo.
Ở một nơi ngồi một chỗ không bao giờ di dịch. Ngồi dưới bóng
cây, hay ngoài trời, hoặc nơi trống vắng. Khoác y năm mảnh, hoặc
trì ba y, hoặc ở gò mả, hoặc ăn một bữa, hoặc ăn đúng ngọ,
hoặc hành đầu đà dù tuổi cao già cả.
Bấy giờ, Tôn giả Đại Ca-diếp sau khi ăn xong,
liền đến dưới bóng cây thiền định. Thiền định xong, từ chỗ
ngồi đứng dậy, sửa y [570b01]
phục, đến chỗ Thế tôn. Lúc ấy, Thế tôn từ xa nhìn thấy
Ca-diếp lại. Thế tôn bảo rằng:
“Thiện lai, Ca-diếp.”
Ca-diếp đến chỗ Thế tôn đảnh lễ sát chân,
rồi ngồi qua một bên.
Thế tôn bảo:
“Ca-diếp. Nay Thầy tuổi đã cao già cả, chí
kém, suy nhược. Nay Thầy nên bỏ khất thực, cho đến các hạnh
đầu đà; cũng nên nhận lời mời của các gia chủ, và nhận xiêm
y.”
Ca-diếp thưa:
“Hôm nay, con không dám theo lời dạy của Như
Lai. Vì sao vậy? Vì nếu Như Lai không thành tựu đạo vô thượng
chánh chơn, thì con sẽ thành Bích-chi Phật. Nhưng Bích-chi Phật
kia lúc nào cũng hành A-luyện-nhã hết, đến giờ khất thực thì
không phân biệt giàu nghèo. Ở một nơi ngồi một chỗ không bao
giờ di dịch. Ngồi dưới bóng cây, hay ngoài trời, hoặc nơi trống
vắng. Khoác y năm mảnh, hoặc trì ba y, hoặc ở gò mả, hoặc ăn
một bữa, hoặc ăn đúng ngọ, hoặc hành đầu đà. Thật hôm nay, con
không dám bỏ thói quen gốc cũ, mà học hạnh khác.”
Thế tôn bảo:
“Lành thay, lành thay, Ca-diếp! Đã làm nhiều
lợi ích và độ người vô lượng; rộng đến tất cả trời người
được độ. Vì sao vậy? Vì này Ca-diếp, nếu hành đầu đà này còn
ở thế gian, thì pháp của Ta cũng sẽ tồn tại lâu ở thế gian.
Nếu pháp mà tồn tại ở đời thì thiên đạo sẽ tăng, ba đường dữ
liền giảm, cũng thành tựu Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, và
đạo ba thừa đều còn ở đời.
“Này các Tỳ-kheo, phải học như những gì
Ca-diếp đã tu tập. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Sau khi các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 7
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Lợi dưỡng rất nặng, làm cho con người không
đến được đạo Vô thượng Chánh chơn. Vì sao vậy? Này các
Tỳ-kheo, vì Đề-bà-đạt-đâu ngu si kia nhận lấy năm trăm chõ thức
ăn cúng dường của Vương tử Bà-la-lưu-chi kia. Nếu ông ta không
cúng dường, thì Đề-bà-đạt-đâu ngu si không bao giờ làm việc ác
này. Vì Vương tử Bà-la-lưu-chi ngày nào cũng đem năm trăm chõ
thức ăn đến cúng dường, nên Đề-bà-đạt-đâu mới khởi lên ác ngũ
nghịch, thân hoại mạng chung sẽ sinh vaò trong địa ngục Ma-ha
A-tỳ. Vì phương tiện này, nên biết, lợi dưỡng là rất nặng sẽ
làm cho con người không đến được đạo Vô thượng Chánh chơn. Nếu
tâm chưa sinh lợi dưỡng thì chớ để nó sinh, đã sinh thì hãy diệt
nó. Như vậy, này các Tỳ-kheo, [570c01]
hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 8
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật,
thành Vương-xá, cùng câu hội với năm trăm vị đại Tỳ-kheo.
Bấy giờ, Đề-bà-đạt-đâu loạn phá Tăng, đả
thương chân Như Lai, xúi A-xà-thế sát hại phụ vương, lại giết
Tỳ-kheo-ni A-la-hán. Ở trong chúng, ông lại nói như vầy: “Chỗ
nào có ác? Ác sinh ra từ đâu? Ai làm ác này, phải chịu báo
đó. Ta cũng không làm ác này, mà chịu báo đó.”
Bấy giờ, có các Tỳ-kheo vào thành La-duyệt
khất thực mà nghe những lời này: “Kẻ ngu Đề-bà-đạt-đâu, ở
trong đại chúng tuyên bố rằng: ‘Chỗ nào có ác? Ác sinh ra từ
đâu? Ai làm ác này, phải chịu báo đó. Ta cũng không làm ác
này, mà chịu báo đó.’” Sau khi các Tỳ-kheo ăn xong, cầm lấy y
bát, vắt ni-sư-đàn lên vai phải, liền đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ
sát chân, rồi ngồi lui qua một bên. Bấy giờ, các Tỳ-kheo bạch
Thế tôn:
“Kẻ ngu Đề-bà-đạt-đâu ở trong đại chúng
tuyên bố rằng: ‘Tại sao làm ác không có tai ương, làm phước
không có báo? Không có ai nhận báo thiện ác cả.’”
Bấy giờ Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có ác thì có tội. Thiện hành, ác hành đều
có báo ứng cả. Nếu kẻ ngu Đề-bà-đạt-đâu kia biết có báo
thiện ác, thì sẽ sầu lo khô héo không vui, sẽ ói ra máu sôi.
Vì kẻ ngu Đề-bà-đạt-đâu kia không biết có báo thiện ác, cho nên
ở trong đại chúng mới tuyên bố là không có báo thiện ác; làm
ác không tai ương, làm phước không có phước.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ này:
Người ngu xét tự rõ,
Làm ác không có báo.
Nay Ta biết rõ trước,
Báo ứng của thiện ác.
“Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy lìa xa ác, làm
phước chớ mệt mỏi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều
này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 9
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Nhận lợi dưỡng người rất nặng, không dễ;
nó khiến con người không đến được nơi vô vi. Vì sao vậy? Vì báo
lợi dưỡng cắt vào da người. Đã cắt da rồi cắt thịt. Đã cắt [571a01]
thịt rồi cắt xương. Đã cắt xương liền thấu tủy.
“Cho nên các Tỳ-kheo, nhờ phương tiện này mà
biết lợi dưỡng rất là nặng. Nếu tâm lợi dưỡng chưa sinh thì
chớ để nó sinh, đã sinh thì tìm cách diệt nó. Như vậy, này các
Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 10
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Nhận lợi dưỡng người thật là không dễ; nó
khiến con người không đến được nơi vô vi. Vì sao vậy? Vì nếu
Tỳ-kheo Sư-lợi-la
kia không tham lợi dưỡng, thì sẽ không tạo ra việc sát sinh vô
lượng như vậy, để thân hoại màng chung sinh vào trong địa ngục.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ này:
Nhận nhiều lợi dưỡng người,
Phá hạnh thanh bạch người.
Cho nên phải giữ tâm,
Chớ tham đắm vào vị.
Sư-lợi nhờ đắc định,
Cho đến cung Thiên đế;
Liền sút giảm thần thông,
Rơi vào lò sát sinh.
“Cho nên các Tỳ-kheo, nhờ vào phương tiện
này mà biết việc nhận lợi dưỡng người thật là không dễ. Tâm
lợi dưỡng chưa sinh, chế ngự nó đừng cho sinh. Tâm này đã sinh tìm
cách diệt. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
|