增壹阿含經
TĂNG NHẤT A-HÀM
T2n125
Hán dịch:
Tam tạng Cù-đàm Tăng-già-đề-bà, người Kế Tân, thời Đông Tấn
Việt dịch:
Thích Đức Thắng
Hiệu chú: Tuệ Sỹ
[
MỤC LỤC
]
13.
PHẨM LỢI DƯỠNG
KINH SỐ 1
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Nhận lợi dưỡng người thật là không dễ. Nó làm
con người không đến được nơi vô vi. Vì sao vậy? Nếu
[571b01] Tỳ-kheo Tu-la-đà không tham lợi dưỡng, thì không bao giờ ở trong
pháp của Ta mà bỏ ba pháp y làm người cư gia. Tỳ-kheo Tu-la-đà vốn
tu hạnh A-luyện-nhã, đến giờ thì khất thực,
tại một nơi ngồi một chỗ,
hoặc ăn đúng ngọ, ngồi dưới bóng cây, ngoài trời, thích nơi
trống vắng, khoác y năm mảnh, hoặc trì ba y, hoặc thích nơi gò mả,
cần thân khổ hạnh, hành hạnh đầu đà này. Rồi khi ấy, Tỳ-kheo
Tu-la-đà thường nhận sự cúng dường thức ăn trăm vị cung cấp hằng
ngày của Quốc vương Bồ-hô.”
Bấy giờ, Tỳ-kheo kia nhiễm ý nơi thức ăn này, dần
dần bỏ hạnh A-luyện-nhã, như đến giờ thì khất thực, tại một nơi
ngồi một chỗ, hoặc ăn đúng ngọ, ngồi dưới bóng cây, ngoài trời,
thích nơi trống vắng, khoác y năm mảnh, hoặc trì ba y, hoặc thích nơi
gò mả, cần thân khổ hạnh. Đã bỏ hết hạnh này rồi, bỏ ba y, trở
về làm bạch y, giết bò, sát sinh không thể kể hết; khi thân hoại
mạng chung, sinh vào địa ngục.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, nhờ phương tiện này
mà biết lợi dưỡng thật là nặng, làm cho con người không đến được
đạo Vô thượng Chánh chơn. Nếu lợi dưỡng chưa sinh, hãy chế ngự chớ để
nó sinh; đã sinh rồi tìm cách khiến diệt. Như vậy, này các Tỳ-kheo,
hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Hãy diệt một pháp. Ta xác chứng các ngươi thành
quả thần thông, các lậu diệt tận. Một pháp gì? Nếm vị dục. Cho nên,
này các Tỳ-kheo, hãy diệt vị ngọt của dục này. Ta xác chứng các
ngươi thành quả thần thông, các lậu diệt tận.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ này:
Chúng sanh đắm vị này,
Chết đọa vào đường ác.
Nay nên bỏ dục này,
Liền thành A-la-hán.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, thường nên bỏ tưởng
đắm vị này. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 3
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, trong thành Xá-vệ có một gia chủ vừa
mất một người con trai [571c01]
mà ông rất yêu mến, thương nhớ, chưa từng lìa xa. Ông thấy con chết,
liền phát cuồng điên; đi lang thang qua lại khắp nơi. Nếu gặp ai thì
cũng hỏi: có gặp con tôi không?
Rồi thì, người kia đi lần đến tinh xá Kỳ-hoàn,
đến chỗ Thế tôn, đứng qua một bên, người kia bạch Thế tôn rằng:
“Sa-môn Cù-đàm, thấy con tôi không?”
Thế tôn hỏi gia chủ:
“Tại sao mặt mũi không vui, các căn thác loạn
vậy?”
Lúc ấy gia chủ thưa Cù-đàm rằng:
“Không vậy sao được? Vì sao vậy? Hiện tại tôi
chỉ có một đứa con trai, vì vô thường nó đã bỏ tôi. Tôi rất yêu
mến thương nhớ chưa từng rời khỏi mắt; vì thương mến đứa con kia
nên khiến tôi phát cuồng. Nay tôi hỏi Sa-môn, thấy con tôi không?”
Thế tôn bảo:
“Đúng vậy, Gia chủ, như những gì ông đã hỏi.
Sinh, già, bệnh, chết là thường pháp của thế gian. Ân ái biệt ly là
khổ, oán ghét gặp nhau là khổ. Người con vì vô thường bỏ ông, há
không nhớ nghĩ được sao? “
Lúc đó, người kia nghe những gì Thế tôn nói mà
không để vào lòng, liền bỏ đi. Trên đường gặp người, lại nói như
vầy: “Sa-môn Cù-đàm nói rằng: ‘Ân ái mà biệt ly liền có khoái
lạc.’
Như những gì Sa-môn đã nói, xét thật ra có đúng không?”
Người trên đường đáp:
“Ân ái biệt ly, có gì là khoái lạc?”
Lúc đó, cách thành Xá-vệ không xa, có nhiều
người đang cùng nhau chơi bạc. Người kia tự nghĩ: “Những người nam
này, thông minh trí tuệ, không việc gì không biết. Bây giờ ta đem
nghĩa này hỏi những người kia.” Nghĩ xong liền đến chỗ chơi cờ
bạc, hỏi mọi người rằng:
“Sa-môn Cù-đàm nói với tôi rằng: ‘Ân ái biệt ly
khổ,
oán ghét gặp nhau khổ*, đó là khoái lạc.’ Nay theo ý mọi người
thế nào?”
Lúc đó những người chơi bạc đáp người này
rằng:
“Ân ái biệt ly có gì khoái lạc? Nói khoái
lạc, nghĩa này không đúng.”
Lúc đó, người kia liền tự nghĩ: “Xét lời Như
Lai thì không bao giờ hư vọng. Sao ân ái biệt ly mà sẽ có khoái lạc?
Nghĩa này không đúng.”
Bấy giờ, người kia vào thành Xá-vệ; đến bên
ngoài cửa cung nói lên:
“Sa-môn Cù-đàm dạy như vầy: ‘Ân ái biệt ly, oán
ghét gặp nhau, đó là khoái lạc.”
Bấy giờ, cả thành Xá-vệ và trong cung đều rao
truyền lời này; khắp mọi nơi không đâu là không tới. Ngay lúc đó,
Đại vương Ba-tư-nặc cùng Ma-lợi Phu nhơn ở trên lầu cau đang vui đùa
với nhau. Khi ấy, Vua Ba-tư-nặc [572a01]
bảo Ma-lợi Phu nhơn rằng:
“Chắc là Sa-môn Cù-đàm có nói những lời này
chăng: ‘Ân ái biệt ly, oán ghét gặp nhau, chúng đều khoái lạc.’?”
Phu nhơn đáp:
“Tôi không được nghe những lời dạy này từ nơi
Như Lai. Nhưng nếu Như Lai có dạy những lời này, thì điều này cũng
không phải là hư dối.”
Vua Ba-tư-nặc bảo rằng:
“Giống như thầy dạy đệ tử: ‘Nên làm điều này,
nên bỏ điều này.’ Thì đệ tử thưa rằng: ‘Xin vâng, Đại sư.’ Nay
Ma-lợi, bà cũng lại như vậy. Sa-môn Cù-đàm kia tuy có như vậy,
nhưng bà ưng theo nên bảo rằng đúng vậy không khác, không có hư
vọng. Bà hãy đi nhanh đi, không cần đứng trước mặt ta nữa.”
Bấy giờ, Ma-lợi Phu nhơn bảo Bà-la-môn Trúc-bác
rằng:
“Bây giờ, ông đến tinh xá Kỳ-hoàn, đến chỗ Như
Lai, nhân danh ta, qùy gối sát chân Như Lai, lại đem nghĩa này bạch
đầy đủ lên Thế tôn rằng: ‘Người trong thành Xá-vệ, và trong cung
đang bàn luận về những lời mà Sa-môn Cù-đàm đã nói: Ân ái biệt
ly, oán ghét gặp nhau, đây là điều khoái lạc. Không rõ Thế tôn có
dạy điều này không?’ Nếu Thế tôn có dạy điều gì, thì ông hãy
khéo ghi nhận trở về nói lại cho ta.”
Lúc đó, Bà-la-môn Trúc-bác vâng theo lời dạy
của phu nhơn, tìm đến tinh xá Kỳ-hoàn, đến chỗ Thế tôn, chào hỏi
nhau. Sau khi chào hỏi nhau xong, ngồi lui qua một bên, Phạm chí kia
bạch Thề́ tôn:
“Ma-lợi phu nhơn xin lễ sát chân Thế tôn, thăm
hỏi Như Lai đi đứng có nhẹ nhàng, thoải mái, khí lực có mạnh khoẻ
không? Giáo hóa kẻ mê mờ ngu muội có mệt lắm không? Lại thưa như
vầy: ‘Khắp nơi trong thành Xá-vệ này rao truyền về những lời dạy
của Sa-môn Cù-đàm như vầy: Ân ái biệt ly, oán ghét gặp nhau, đó
là điều khoái lạc.’ Không rõ Thế tôn có dạy những lời này không?”
Bấy giờ, Thế tôn bảo Bà-la-môn Trúc-bác rằng:
“Ở trong thành Xá-vệ này, có một gia chủ mất
một người con trai. Ông ta nhớ người con này đến độ cuồng điên mất
tánh, chạy lang thang khắp nơi, gặp người liền hỏi: ‘Ai thấy con
tôi?’ Như vậy, thì này Bà-la-môn, ân ái biệt ly khổ, oán ghét gặp
nhau khổ. Đó là điều không có hoan lạc.
“Ngày xưa trong thành Xá-vệ này, lại có một
người vì vô thường mất mẹ già, cũng lại cuồng điên không biết đông
tây là gì. Lại có một người vì vô thường mất cha già, cũng lại vì
vô thường anh em, chị em đều mất cả. Họ nhận thấy sự biến đổi
của vô thường này nên phát cuồng điên, mất tánh, không còn biết
đông tây là gì.
“Này Bà-la-môn, ngày xưa trong thành Xá-vệ này
có một người, mới rước về một người vợ đoan chánh vô song. [572b01]
Sau đó một thời gian không lâu, người kia tự nhiên nghèo túng. Lúc
ấy người cha mẹ của người vợ thấy người này nghèo, liền nảy sinh
ý nghĩ này: ‘Ta hãy đoạt con gái lại gả cho người khác.’
“Người kia, sau đó rình nghe được chuyện cha mẹ
nhà vợ muốn đoạt lại vợ mình để gả cho người khác. Một hôm,
người kia dắt dao bén trong áo, đến nhà vợ. Trong lúc đó, vợ ông
ta đang dệt ở ngoài vách. Lúc này ông ta bước đến chỗ cha mẹ vợ
hỏi:
“ - Hiện tại vợ con đang ở đâu?
“Mẹ vợ đáp:
“ - Vợ con đang dệt dưới bóng mát ngoài vách.
“Lúc này, người kia liền đến chỗ vợ, đến rồi
hỏi vợ rằng:
“ - Rằng cha mẹ nàng muốn đoạt nàng để gả cho
người khác phải không?
“Vợ đáp:
“ - Không sai, có lời này. Nhưng tôi không thích
nghe lời này vậy.
“Bấy giờ, người kia liền rút dao bén đâm chết
vợ, rồi lấy dao bén tự đâm vào bụng mình và nói lời này: ‘Cả
hai ta cùng chọn lấy cái chết.’
“Này Bà-la-môn, hãy bằng phương tiện này để
biết, ân ái biệt ly, oán ghét gặp nhau khổ. Đó là điều sầu lo,
thật không thể nào nói được.”
Bấy giờ, Bà-la-môn Trúc Bác bạch Thế tôn:
“Đúng vậy, bạch Thế tôn. Có những điều bức não
này thật khổ, không vui. Vì sao vậy? Xưa con có một đứa con cũng
vì vô thường bỏ con, ngày đêm thương nhớ canh cánh bên lòng. Vì nhớ
con nên tâm ý cuồng điên, rong ruổi khắp nơi, gặp người liền hỏi:
‘Ai thấy con tôi?’ Nay những gì Sa-môn Cù-đàm đã nói thật đúng như
vậy. Vì việc nước bận rộn đa đoan, con muốn trở về chỗ mình.”
Thế tôn bảo:
“Hiện tại đã đúng lúc.”
Bà-la-môn Trúc Bác từ chỗ ngồi ̣đứng dậy,
nhiễu quanh Phật ba vòng, rồi ra đi. Về chỗ Ma-lợi phu nhơn, ̣đem
nhân duyên này tâu lại đầy đủ cho phu nhơn. Lúc ấy, Ma-lợi phu nhơn
lại đến chỗ vua Ba-tư-nặc, đến rồi, tâu đại vương rằng:
“Hôm nay tôi có điều muốn hỏi, nguyện xin Đại
vương nghe qua rồi trả lời cho từng việc:
“Thế nào đại vương, có tưởng đến Vương tử Lưu-ly
không?”
Vua trả lời:
“Rất nhớ, thương yêu canh cánh bên lòng.”
Phu nhơn hỏi:
“Nếu Vương tử có biến đổi gì, Đại Vương có lo
không?”
Vua lại trả lời:
“Đúng vậy, Phu nhơn. Như những gì Bà nói.”
Phu nhơn hỏi:
“Đại vương nên biết, ân ái biệt ly đều dẫn đến
lại thái sầu khổ. Thế nào, tâu Đại vương, có tưởng đến Vương tử Y-la
không?”
Vua trả lời:
“Ta rất yêu quí.”
Phu nhơn hỏi:
“Đại vương. Nếu Vương tử có biến đổi gì, Đại vương
có sầu ưu không?”
[572c01]Vua
trả lời:
“Rất là sầu ưu.”
Phu nhơn bảo:
“Nên bằng phương tiện này để biết ân ái biệt ly
không mang lại hoan lạc. Thế nào, Đại vương có tưởng đến Bà
Tát-la-đà dòng Sát-lợi
không?”
Vua trả lời:
“Thật là yêu quí thương nhớ.”
Phu nhơn nói:
“Thế nào, tâu Đại vương, giả sử nếu Tát-la phu
nhơn có biến đổi gì, Đại vương có sầu lo không?”
Vua trả lời:
“Ta có sầu lo.”
Phu nhơn nói:
“Đại vương nên biết, ân ái biệt ly, điều này là
khổ.”
Phu nhơn nói:
“Vua nhớ thiếp không?”
Vua nói:
“Yêu nhớ khanh.”
Phu nhơn nói:
“Giả sử thân thiếp có biến đổi gì, Đại vương có
sầu ưu không?”
Vua nói:
“Giả sử thân khanh có mất đi, thì ta rất sầu
ưu.”
“Đại vương, nên bằng phương tiện này để biết ân
ái biệt ly, oán ghét gặp nhau, không có gì hoan lạc.”
Phu nhơn nói:
“Thế nào, Đại vương có tưởng đến dân chúng Ca-thi
và Câu-tát-la không?”
Vua nói:
“Ta rất yêu nhớ nhơn dân Ca-thi và Câu-tát-la.”
Phu nhơn nói:
“Giả sử nhơn dân Ca-thi và Câu-tát-la có biến đổi
gì, Đại vương có sầu ưu không?”
Vua nói:
“Nếu nhơn dân Ca-thi và Câu-tát-la có biến đổi gì,
thì mạng ta cũng không còn; huống chi nói đến sầu ưu. Vì sao vậy?
Vì ta nhờ vào sức nhơn dân nước Ca-thi và Câu-tát-la nên được tồn
tại. Bằng phương tiện này mà biết mạng cũng không còn, huống chi
là không sinh sầu ưu.”
Phu nhơn nói:
“Do đây để biết, ân ái biệt ly đều có khổ này,
mà không có hoan lạc.”
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc, quỳ gối phải sát đất,
chắp tay hướng về Thế tôn, nói như vầy: ‘Thật là kỳ lạ. Thật là
kỳ lạ. Thế tôn kia đã nói pháp này. Nếu Sa-môn Cù-đàm kia đến, tôi
sẽ cùng bàn luận.’
Vua lại bảo phu nhơn:
“Từ nay về sau ta sẽ xem trọng khanh hơn thường
ngày, cho phép phục sức không khác ta.”
Bấy giờ, Thế tôn nghe Ma-lợi phu nhơn lập ra
luận cứ này cho Đại vương, liền bảo các Tỳ-kheo:
“Ma-lợi Phu nhơn thật rất là thông minh. Giả sử
nếu Vua Ba-tư-nặc hỏi Ta những lời này, thì Ta cũng dùng nghĩa
này để nói cho Vua kia, như những gì Phu nhơn đã nói cho Vua không
có khác.”
Lại bảo các Tỳ-kheo:
“Trong hàng Thanh văn của Ta, Ưu-bà-tư chứng chí
tín kiên cố bậc nhất, chính là Ma-lợi Phu nhơn.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Nai trong rừng
Quỷ,
núi Thi-mục-ma-la,
nước Bạt-kỳ.
Bấy giờ, gia chủ Ông của Na-ưu-la,
đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi lui qua một bên, giây
lát lui khỏi chỗ ngồi, bạch Thế tôn rằng:
“Tuổi con ngày đã suy yếu, lại mang tật bệnh, có
nhiều điều ưu não. Nguyện xin Thế tôn tùy thời dạy dỗ khiến cho
chúng sanh được lâu dài an ổn.”
Bấy giờ, Thế tôn bảo Gia chủ rằng:
“Như những gì Ông đã nói, thân có nhiều lo sợ,
đau đớn, nào đáng để cậy nương. Nó chỉ có lớp da mỏng bao phủ lên.
Trưởng giả nên biết, ai ỷ tựa vào thân này, để có thể thấy được cái vui
trong chốc lát, đó là tâm niệm của kẻ ngu, chứ không phải là điều quí của
người trí. Cho nên, này Trưởng giả, dù thân
có bệnh, nhưng không để tâm bệnh. Như vậy, này Trưởng giả, hãy học điều
này.”
Trưởng giả sau khi nghe Phật nói những điều này, từ
chỗ ngồi đứng dậy, làm lễ sát chân Thế tôn, rồi ra về.
Bấy giờ, Trưởng giả lại tự nghĩ: “Nay ta có thể đến
chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất để hỏi nghĩa này.”
Lúc đó, Xá-lợi-phất đang ngồi dưới bóng cây cách đó
không xa. Ông của Na-ưu-la đến chỗ Xá-lợi-phất, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi
sang một bên.
Bấy giờ, Xá-lợi-phất hỏi Trưởng giả:
“Hôm nay, Trưởng giả nhan sắc tươi vui, các căn tịch
tĩnh, ắt có lý do. Này Trưởng giả, chắc Ông đã nghe pháp từ Phật phải
không?”
Lúc đó, Trưởng giả bạch Xá-lợi-phất rằng:
“Thế nào, Tôn giả Xá-lợi-phất, làm sao mặt mày không
tươi vui được? Vì sao vậy? Vì con đã được Thế tôn đem pháp cam lồ tưới rót
vào lòng.”
Trưởng giả thưa tiếp:
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, con đến chỗ Thế tôn, đảnh
lễ sát chân, rồi ngồi sang một bên. Lúc ấy tôi bạch Thế tôn rằng: ‘Tuổi con
đã lớn, suy yếu, thường mang tật bệnh, khổ đau nhiều điều, không thể kể
xiết. Nguyện xin Thế tôn phân biệt thân này khiến tất cả chúng sanh đều được
sự an ổn này.’ Lúc ấy, Thế tôn liền bảo con rằng: ‘Đúng vậy, Trưởng giả!
Thân này nhiều sợ hãi, khổ đau, chỉ có lớp da mỏng bao phủ. Trưởng giả
nên biết, ai ỷ tựa vào thân này để có thể thấy được cái vui trong chốc lát,
không biết lâu dài phải chịu vô lượng khổ. Cho nên, này Trưởng giả, ở đây dù
thân có hoạn, nhưng không để tâm tai hoạn. Như vậy, này Trưởng giả, hãy học
điều này.’ Thế tôn đem pháp cam lồ này [573b01]
tưới rót vào lòng con.”
Xá-lợi-phất nói:
“Thế nào, Trưởng giả, sao không hỏi thêm Như Lai nghĩa
này? Thế nào là thân có hoạn, tâm không hoạn? Thế nào là thân có bệnh, tâm
không bệnh? “
Trưởng giả bạch Xá-lợi-phất rằng:
“Đúng là con đã không đem việc này hỏi thêm Thế tôn,
thân có hoạn, tâm có hoạn; thân có hoạn, tâm không hoạn. Tôn giả
Xá-lợi-phất, chắc ngài biết việc này, mong phân biệt đầy đủ.”
Xá-lợi-phất nói:
“Hãy lắng nghe, lắng nghe và suy nghĩ kỹ! Tôi sẽ vì
ông mà diễn rộng nghĩa này.”
Đáp:
“Xin vâng.”
Xá-lợi-phất bảo Trưởng giả:
“Này Gia chủ, người phàm phu không gặp Thánh nhơn,
không lãnh thọ Thánh giáo, không theo lời giáo huấn, cũng không gặp thiện
tri thức, không theo hầu thiện tri thức; nên chúng chấp sắc là ngã, sắc là
của ngã, ngã là của sắc; trong sắc có ngã, trong ngã có sắc; sắc kia, sắc ta
cùng hòa họp một chỗ. Sắc kia sắc ta vì đã tập họp một chỗ; bấy giờ sắc bị
bại hoại, di chuyển không dừng, ở đó lại sinh khởi sầu lo, khổ não. Đối với
thọ*, tưởng, hành, thức đều nhận thấy ngã có ... thức, trong thức có ngã,
trong ngã có thức; thức kia, thức ta hòa họp một chỗ. Thức kia, thức ta vì
đã hòa họp một chỗ; nên khi thức bị bại hoại, di chuyển không dừng, ở đó lại
sinh khởi sầu lo, khổ não. Như vậy, này Trưởng giả, thân cũng có hoạn, tâm
cũng có hoạn.”
Trưởng giả hỏi Xá-lợi-phất:
“Thế nào là thân có hoạn, tâm không hoạn?”
Xá-lợi-phất nói:
“Trưởng giả, ở đây đệ tử Hiền thánh thừa sự Thánh
hiền, tu hành cấm pháp, cùng theo hầu thiện tri thức, gần gũi thiện tri
thức. Họ cũng không quán ngã có sắc, không thấy trong sắc có ngã, trong ngã
có sắc, không thấy sắc là của ngã, ngã là của sắc; mà sắc kia di chuyển
không dừng. Khi sắc kia chuyển dịch, vị ấy không sinh ra sầu lo khổ não đối
với tai hoạn của sắc. Cũng lại không thấy thọ*, tưởng, hành, thức; không
thấy trong thức có ngã, trong ngã có thức; cũng không thấy thức là của ngã,
cũng không thấy ngã là của thức. Thức kia, thức ta hội họp một chỗ; mà khi
thức bị bại hoại, ở đây không sinh khởi sầu lo, khổ não. Như vậy, này Trưởng
giả, thân có hoạn mà tâm không hoạn.
“Như vậy, này Trưởng giả, nên tu tập điều này, quên
thân, trừ tâm, cũng không nhiễm đắm. Này Trưởng giả, hãy học điều đó.”
Ông của Na-Ưu-la sau khi nghe những gì Xá-lợi-phất
nói, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 5
[573c01]
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn thuyết pháp cho hàng vạn người đang vây
quanh trước sau. Lúc ấy, có Bà-la-môn Giang Trắc
vai gánh một gánh nặng đến chỗ Thế tôn. Đến rồi, đặt gánh một bên chỗ
Thế tôn, đứng im lặng. Bấy giờ, Bà-la-môn suy nghĩ như vầy: “Hôm nay Sa-môn
Cù-đàm thuyết pháp cho hàng vạn nghìn người vây quanh trước sau. Hiện tại ta
thanh tịnh không khác gì Sa-môn Cù-đàm. Vì sao vậy? Vì Sa-môn Cù-đàm ăn lúa
gạo cùng các loại thức ăn tốt, hiện tại ta chỉ ăn trái cây để tự nuôi mạng
sống.”
Bấy giờ, Thế tôn đã biết những ý nghĩ trong tâm
Bà-la-môn, nên bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu có chúng sanh nào mà tâm bị nhuộm dính với hai
mươi mốt kết, thì nên quán sát rằng người đó chắc chắn sẽ đọa đường dữ,
không sinh về cõi lành. Những gì là hai mươi mốt kết? Sân tâm kết, nhuế hại
tâm kết, thùy miên tâm kết, điều hí tâm kết, nghi tâm kết, nộ tâm kết, kỵ
tâm kết, não tâm kết, tật tâm kết, tắng tâm kết, vô tàm tâm kết, vô quý tâm
kết, huyễn tâm kết, gian tâm kết, ngụy tâm kết, tránh tâm kết, kiêu tâm kết,
mạn tâm kết, đố tâm kết, tăng thượng mạn tâm kết, tham tâm kết. Này các
Tỳ-kheo, nếu người nào mà tâm bị nhuộm dính với hai mươi mốt kết, thì nên
quán sát rằng người đó chắc chắn sẽ đọa đường dữ, không sinh về cõi lành.
Giống như tấm dạ trắng mới, để lâu ngày nên mục nát,
có nhiều bụi bặm. Dù có muốn nhuộm thành màu xanh, vàng, đỏ, đen, rốt cuộc
cũng không thành được. Vì sao? Vì có bụi bặm. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu
có người mà tâm bị nhuộm dính với hai mươi mốt kết, thì nên quán sát rằng
người đó chắc chắn sẽ đọa đường dữ, không sinh về cõi lành.
“Giả sử lại có người nào mà tâm không bị nhuộm bởi hai
mươi mốt kết này, thì nên biết, người này chắc sẽ sinh lên cõi trời, không
đọa vào trong địa ngục. Giống như dạ mới, trắng sạch, tùy theo ý muốn thành
gì, màu xanh, vàng, đỏ, đen, thì chắc sẽ thành những màu này, không hề hư
hại. Vì sao vậy? Vì sự tinh sạch của nó. Ở đây, cũng như vậy, người nào mà
tâm không bị nhuộm bởi hai mươi mốt kết này, thì nên biết, người đó chắc
chắn sinh lên cõi trời, không đọa vào đường ác.
“Nếu đệ tử Hiền thánh kia khởi sân tâm kết; quán sát
biết rồi, liên dứt trừ chúng. Hoặc khởi nhuế hại tâm kết, [574a01]
khởi thùy miên tâm kết, khởi điều hí tâm kết, khởi nghi tâm kết, khởi nộ tâm
kết, khởi kỵ tâm kết, khởi não tâm kết, khởi tật tâm kết, khởi tắng tâm kết,
khởi vô tàm tâm kết, khởi vô quý tâm kết, khởi huyễn tâm kết, khởi gian tâm
kết, khởi ngụy tâm kết, khởi tránh tâm kết, khởi kiêu tâm kết, khởi mạn tâm
kết, khởi đố tâm kết, khởi tăng thượng mạn tâm kiết, khởi tham tâm kiết;
quán biết rồi liền có thể dứt trừ chúng.
“Nếu đệ tử Hiền thánh kia không sân, không nhuế, không
có ngu si, tâm ý hòa vui, đem tâm từ trải khắp một phương mà tự vui thú*;
hai phương, ba phương, bốn phương cũng như vậy; bốn góc, trên dưới, ở trong
tất cả cũng như tất cả thế gian, với tâm không oán, không hận, vô lượng, vô
hạn, không thể tính biết, mà tự vui thú, đem tâm từ này rải khắp tràn đầy, ở
trong đó được hoan hỷ rồi, tâm ý liền chính.
“Lại đem tâm bi trải khắp một phương mà tự vui thú*;
hai phương, ba phương, bốn phương cũng như vậy; bốn góc, trên dưới, ở trong
tất cả cũng như tất cả thế gian, với tâm không oán, không hận, vô lượng, vô
hạn, không thể tính biết, mà tự vui thú, đem tâm bi này trang trải đầy khắp,
ở trong đó được hoan hỷ rồi, thì tâm ý liền chính.
“Lại đem tâm hỷ trải khắp một phương mà tự vui thú*;
hai phương, ba phương, bốn phương cũng như vậy; bốn góc, trên dưới, ở trong
tất cả cũng như tất cả thế gian, với tâm không oán, không hận, vô lượng, vô
hạn, không thể tính biết, mà tự vui thú, đem tâm hỷ này rải khắp tràn đầy, ở
trong đó được hoan hỷ rồi, tâm ý liền chính.
“Lại đem tâm hộ trải khắp một phương mà tự vui thú*;
hai phương, ba phương, bốn phương cũng như vậy; bốn góc, trên dưới, ở trong
tất cả cũng như tất cả thế gian, với tâm không oán, không hận, vô lượng, vô
hạn, không thể tính biết, mà tự vui thú, đem tâm hộ này trang trải đầy khắp,
ở trong đó được hoan hỷ rồi, thì tâm ý liền chính.
“Bấy giờ, đối với Như Lai thành tựu tín căn, gốc rễ di
dời, dựng cờ cao hiển không bị lay động. Chư thiên, Long thần, A-tu-la,
Sa-môn, Bà-la-môn, hay Người đời, ở trong đó được hoan hỷ rồi, thì tâm ý
liền chính. Đó là Chí chơn, Đẳng chánh giác, Minh hạnh túc,
Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Đạo pháp ngự, Thiên nhơn sư, Phật
Chúng hựu, ở trong đó được hoan hỷ rồi, tâm ý liền chính.
“Đối với [574c01]
pháp cũng lại thành tựu. Pháp của Như Lai thật là thanh tịnh, không thể đổi
dời, được mọi người người yêu kính. Người trí nên quán như vậy, thì ngay
trong đó được hoan hỷ.
“Đối với Chúng cũng lại thành tựu. Thánh chúng của Như
Lai rất là thanh tịnh, tánh hạnh thuần hòa, thành tựu pháp pháp,
thành tựu mọi giới, thành tựu tam-muội, thành tựu trí tuệ, thành tựu giải
thoát, thành tựu giải thoát kiến tuệ. Thánh chúng ấy gồm có bốn đôi tám bậc.
Đó là Thánh chúng của Như Lai, đáng yêu đáng quí, thật đáng thừa sự, ở trong
đó được hoan hỷ, tâm ý liền chính.
“Vị ấy lại bằng tâm tam-muội, thanh tịnh không vết
nhơ, các kết liền dứt sạch, cũng không còn cáu bẩn, tánh hạnh nhu nhuyến,
chứng đắc thần thông, liền tự biết mọi việc trong vô lượng đời trước. Từ nơi
nào đến, không đâu là không biết; hoặc là một đời, hai đời, ba đời, bốn đời,
năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời,
một trăm đời, một nghìn đời, trăm nghìn đời; kiếp thành, kiếp bại, kiếp
không thành bại, kiếp thành bại, không thành bại; vô số kiếp thành bại, vô
số kiếp không thành bại; ta đã từng ở nơi kia chữ gì, tên gì, họ gì, sống
như vậy, ăn như vậy, chịu khổ vui như vậy, thọ mạng có ngắn dài; chết từ chỗ
kia sinh chỗ nọ, chết từ chỗ kia sinh chỗ này. Tự biết mọi việc trong vô
lượng đời trước.
“Vị ấy lại bằng tâm tam-muội này, thanh tịnh không vết
nhơ, biết mọi suy nghĩ trong tâm của chúng sanh. Vị ấy lại dùng thiên nhãn
quán sát các loài chúng sanh, kẻ này sinh, kẻ kia chết, sắc đẹp, sắc xấu,
đường lành, đường dữ; hoặc tốt, hoặc xấu tùy hành vi chúng sanh đã tạo đưa
đến quả báo; thảy đều biết tất cả. Hoặc có chúng sanh thân hành ác, khẩu
hành ác, tâm hành ác, phỉ báng Thánh hiền, tạo ra hành tà kiến, thân hoại
mạng chung sinh trong địa ngục, ba đường dữ. Hoặc lại có chúng sanh thân
hành thiện, khẩu hành thiện, tâm hành thiện, không phỉ báng Thánh hiền,
chánh kiến, không có tà kiến, thân hoại mạng chung sinh về cõi lành trên
trời. Đó gọi là thiên nhãn thanh tịnh quán sát các loài chúng sanh, kẻ này
sinh, kẻ kia chết, sắc đẹp, sắc xấu, đường lành, đường dữ; hoặc tốt, hoặc
xấu tùy hành vi chúng sanh đã tạo đưa đến quả báo; thảy đều biết tất cả.
“Vị ấy lại bằng tâm tam-muội này, thanh tịnh không vết
nhơ, không có kết sử, tâm tánh nhu nhuyến, chứng đắc thần thông. Lại dùng
lậu tận thông mà tự vui thú*. Vị ấy quán biết như thật đây là khổ. Lại quán
tập khởi khổ. [574c01]
Lại quán diệt tận khổ. Lại quán xuất yếu của khổ. Vị ấy quán biết như thật
rồi, tâm dục lậu được giải thoát; tâm hữu lậu, tâm vô minh lậu được giải
thoát. Đã được giải thoát rồi, liền được trí giải thoát, biết rằng ‘Sinh* đã
hết, p |