增壹阿含經
TĂNG NHẤT A-HÀM
T2n125
Hán dịch:
Tam tạng Cù-đàm Tăng-già-đề-bà, người Kế Tân, thời Đông Tấn
Việt dịch:
Thích Đức Thắng
Hiệu chú: Tuệ Sỹ
[
MỤC LỤC
]
18. PHẨM
TÀM QUÍ
KINH SỐ 1
Nghe như vầy:
Một thời đức
Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế
tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có hai pháp
tinh diệu thủ hộ thế gian. Thế nào là hai pháp? Có tàm, có quí.
Này các Tỳ-kheo! Nếu không có hai pháp này, thì thế gian
sẽ không
phân biệt có cha, có mẹ, có anh, có em, vợ con, tri thức,
tôn trưởng, lớn nhỏ; sẽ cùng với lục súc heo, gà, chó, ngựa, dê … cùng
một loại. Vì thế gian có hai pháp này thủ hộ, nên thế gian phân biệt có
cha mẹ, anh em, vợ con, tôn trưởng, lớn nhỏ, và cũng không cùng đồng
loại với lục súc.”
“Cho nên, này
các Tỳ-kheo, hãy học tập có tàm, có quí. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy
học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời đức
Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế
tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thế gian có hai hạng người vì không biết chán,
đủ, nên nhận lấy cái chết. Hai hạng người ấy là gì? Người được tài vật
luôn cất giấu và, người có được tài vật lại thích cho người. Đó gọi là
hai hạng người không biết chán đủ, nên nhận lấy cái chết.”
Bấy giờ, có
Tỳ-kheo bạch Thế tôn:
“Bạch Thế tôn!
Chúng con không hiểu nghĩa tóm lược này. Thế nào là được vật luôn cất
dấu? Thế nào là được vật thích cho người? Nguyện xin Thế tôn giảng rộng
nghĩa này.”
Thế tôn bảo:
“Hãy lắng
nghe, lắng nghe, suy nghĩ kỹ! Ta sẽ phân biệt nghĩa này cho các ngươi.”
Thưa:
“Kính vâng.”
Bấy giờ Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Ở đây có
người thiện gia nam tử học các kỹ thuật, hoặc tập làm ruộng, hoặc tập
thư sớ, hoặc tập kế toán, hoặc tập thiên văn, hoặc tập địa lý, hoặc tập
bói tướng, hoặc học làm sứ giả phương xa, hoặc làm thần tá vua, không
tránh nóng lạnh, đói rét, cần khổ mà tự mưu sống cho mình. Người ấy làm
mọi công sức như vậy mà được tài vật, nhưng người kia không thể dám ăn
tiêu, cũng không cấp cho vợ con, cũng không [587c01]
cho nô tì, hay những bà con quyến thuộc; tất cả đều không cho. Những tài
vật có được ấy, hoặc bị vua tước đoạt, hoặc bị giặc trộm, hoặc bị lửa
thiêu, nước cuốn, phân tán chỗ khác, lợi kia không được hưởng; hoặc ngay
trong nhà có người phân tán vật này, không cho để yên một chỗ. Này
Tỳ-kheo, đó gọi là được tài luôn cất giấu.
“Kia, sao gọi
là được tài vật đem phân cho? Có người thiện gia nam tử học các kỹ
thuật, hoặc tập làm ruộng, hoặc tập thư sớ, hoặc tập kế toán, hoặc tập
thiên văn, hoặc tập địa lý, hoặc tập bói tướng, hoặc học sứ phương xa,
hoặc làm thần tá vua, không tránh nóng lạnh, đói rét, cần khổ mà tự mưu
sống cho mình. Người ấy làm mọi công sức như vậy mà được tài vật, nhưng
người kia đem bố thí cho chúng sanh, phụng dưỡng cho cha mẹ, nô tì, vợ
con, cũng chu cấp rộng rãi cho Sa-môn, Bà-la-môn, tạo ra các thứ công
đức, gieo trồng phước cõi trời. Này Tỳ-kheo, đó gọi là được tài mà đem
bố thí.
“Này Tỳ-kheo,
đó gọi là hai hạng người không biết chán đủ. Như người thứ nhất, có được
tài vật mà cất giấu, các ngươi nên nghĩ tưởng tránh xa. Người thứ hai,
có được mà đem bố thí rộng rãi, hãy học nghiệp này. Như vậy, này các
Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo
sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 3
Nghe như vầy:
Một thời đức
Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế
tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy thường
xuyên tập thí pháp, chớ nên tập thí thực. Vì sao vậy? Các ngươi đã có được phước báo, nên khiến đệ tử của Ta cung
kính pháp, không tham lợi dưỡng. Nếu người nào tham lợi dưỡng, người đó
có lỗi lớn đối Như Lai. Vì sao? Vì chúng sanh không phân biệt được pháp,
nên hủy báng lời dạy Thế tôn. Đã hủy báng lời dạy Thế tôn, sau đó không còn đến được đạo Niết-bàn. Ta
rất lấy làm xấu hổ. Vì sao vậy? Vì đệ tử của Như Lai tham đắm lợi dưỡng,
không thực hành nơi pháp, không phân biệt pháp, hủy báng lời dạy Thế
tôn, không thuận chánh pháp. Đã hủy báng lời dạy Thế tôn, sẽ không còn
đến được đạo Niết-bàn.
“Này Tỳ-kheo,
các ngươi nên nghĩ đến thí pháp, đừng tư duy đến thí dục,
rồi các ngươi được danh thơm vang khắp bốn phương. Cung kính pháp, không
tham tài vật, Ta sẽ không lấy làm xấu hổ. Vì sao vậy? Vì đệ tử của Như
Lai chỉ thích thí pháp, không ham nghĩ thí dục.
“Cho nên các
Tỳ-kheo, nên nghĩ thí pháp, chớ học thí tài. Tỳ-kheo các ngươi, Ta nói
nghĩa này, vì nhân
[588a01]
nghĩa gì mà nói duyên này?”
Bấy giờ các
Tỳ-kheo, bạch Thế tôn:
“Nguyện xin
Thế tôn, phân biệt chi tiết.”
Bấy giờ Thế
tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Xưa kia, có
một người thỉnh Ta cúng dường. Rồi bấy giờ Ta có thức ăn dư tàn, có thể vất bỏ. Có hai Tỳ-kheo từ phương xa lại, thân thể mệt mỏi, nhan
sắc biến đổi. Bấy giờ Ta bảo hai Tỷ-kheo kia những lời như vầy: ‘Có thức
ăn dư tàn có thể vất bỏ, nếu các ngươi thấy cần thì có thể lấy mà dùng.’
“Lúc ấy, một
Tỳ-kheo liền tự nghĩ: ‘Hôm nay Thế tôn có thức ăn tàn dư thực có thể vất
bỏ. Ai thấy cần thì có thể lấy. Nếu chúng ta không lấy ăn, thì thức ăn
này sẽ đem bỏ nơi đất sạch hay trút vào trong nước. Vậy, nay chúng ta
nên lấy thức ăn này để lấp đầy vào chỗ đói thiếu, tăng thêm khí lực.’
“Bấy giờ,
Tỳ-kheo kia lại học điều này: ‘Phật cũng đã từng dạy: Nên hành thí pháp,
chớ nghĩ đến thí dục. Vì sao vậy? Vì cao nhất trong bố thí không gì hơn
thí tài, nhưng thí pháp ở trong đó được tôn trọng nhất. Nay ta cam chịu
suốt ngày không ăn, ngõ hầu để được tự cứu, không cần nhận phước tín thí
kia.’ Lúc ấy Tỳ-kheo kia liền tự dừng ý nghĩ, và không lấy vật thí kia,
thân thể mệt mỏi, không cần để ý đến mạng sống.
“Trong khi ấy,
Tỳ-kheo thứ hai lại tự nghĩ: ‘Thế tôn có thức ăn tàn dư đáng bị vất bỏ.
Nếu chúng ta không lấy ăn, sẽ mệt mỏi. Nay nên lấy thức ăn này để lấp
đầy vào chỗ đói thiếu, tăng thêm khí lực, ngày đêm an ổn.’ Bấy giờ,
Tỳ-kheo kia liền lấy ăn, khí lực sung mãn, ngày đêm an ổn.”
Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tuy Tỳ-kheo kia đã nhận lấy đồ cúng dường kia, đã
trừ bỏ được cái thiếu đói, khí lực sung mãn, nhưng không như Tỳ-kheo
trước là đáng kính, đáng quí, rất đáng được tôn trọng. Tỳ-kheo ấy lâu
dài tiếng khen được đồn xa, đối y theo luật mà biết đủ, dễ thỏa mãn. Này
các Tỳ-kheo, hãy học thí pháp, chớ học nghĩ đến thí dục. Những điều được
Ta nói trước đó là do nhân duyên này.”
Sau khi Thế tôn nói những lời này xong, rời chỗ
ngồi đứng dậy ra về. Lúc ấy, các Tỳ-kheo lại tự nghĩ: “Thế tôn vừa rồi
chỉ nói tóm lược điều cốt yếu, chứ không nói rộng rãi, rồi từ chỗ ngồi
đứng dậy, im lặng vào thất. Hiện tại trong chúng này, ai có khả năng
kham nhận đối với nghĩa sơ lược này mà diễn giải rộng nghĩa của chúng?”
Bấy giờ, số đông các Tỳ-kheo lại nghĩ: “Hiện nay
[588b01]
Tôn giả Xá-lợi-phất được Thế tôn khen ngợi. Chúng ta hãy cùng nhau đến
chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất.” Rồi các Tỳ-kheo liền đến chỗ Tôn giả
Xá-lợi-phất, vái chào nhau, ngồi qua một bên. Sau khi ngồi qua một bên
rồi, các Tỳ-kheo đem những điều đã nghe được từ Thế tôn trình lại hết
cho Tôn giả Xá-lợi-phất.
Lúc ấy, Tôn
giả Xá-lợi-phất bảo các Tỳ-kheo:
“Thế nào là đệ
tử Thế tôn tham đắm lợi dưỡng không tu hành pháp? Thế nào là đệ tử Thế
tôn ham tu hành pháp không tham lợi dưỡng?”
Lúc đó, các
Tỳ-kheo thưa Xá-lợi-phất:
“Chúng tôi là
những người từ xa đến, xin hỏi nghĩa này để tu hành. Tôn giả Xá-lợi-phất
có khả năng xin diễn rộng nghĩa này cho chúng tôi.”
Tôn giả
Xá-lợi-phất bảo:
“Hãy lắng
nghe, lắng nghe, suy nghĩ kỹ, tôi sẽ diễn rộng nghĩa này cho các ngươi.”
Lúc ấy các
Tỳ-kheo thưa:
“Xin vâng.”
Xá-lợi-phất
bảo:
“Cái học của
đệ tử Thế tôn là tịch tĩnh, niệm an tĩnh, nhưng đệ tử Thinh văn không
học như vậy.[325]
Thế tôn tuôn ra giáo pháp, những điều phải diệt, mà các Tỳ-kheo đối với
các pháp đó lười biếng không chịu diệt, lại khởi lên các loạn tưởng;
những điều đáng làm mà không chịu làm, những điều không nên làm, thì
liền tu hành.
“Bấy giờ, này
Chư hiền, Tỳ-kheo trưởng lão liền có ba trường hợp đáng hỗ thẹn. Thế nào
là ba? Thế tôn thường ưa nơi tịch tĩnh nhưng các Thanh văn không học điều này, nên Tỳ-kheo trưởng lão liền có
sự hỗ thẹn. Thế tôn dạy, các ngươi hãy diệt pháp này, nhưng Tỳ-kheo lại
không diệt pháp này, nên Tỳ-kheo trưởng lão liền có sự hỗ thẹn. Ở trong
đó khởi lên niệm tưởng loạn, ý không chuyên nhứt, nên Tỳ-kheo trưởng lão liền có sự hỗ thẹn.
“Chư Hiền giả
nên biết, Tỳ-kheo trung tọa có ba trường hợp đáng hỗ thẹn. Thế nào là
ba? Thế tôn thường ưa nơi tịch tĩnh nhưng các Thanh văn không học điều
này, nên Tỳ-kheo trung tọa liền có sự hỗ thẹn. Thế tôn dạy, các ngươi
hãy diệt pháp này, nhưng Tỳ-kheo lại không diệt pháp này, nên Tỳ-kheo
trung tọa liền có sự hỗ thẹn. Ở trong đó khởi lên niệm tưởng loạn, ý
không chuyên nhứt, nên Tỳ-kheo trung tọa liền có sự hỗ thẹn.
“Chư Hiền giả
nên biết, Tỳ-kheo niên thiếu liền có ba trường hợp đáng hỗ thẹn. Thế nào
là ba? Đệ tử Thế tôn thường ưa nơi tịch tĩnh nhưng các Thanh văn không học điều này,
nên Tỳ-kheo niên thiếu liền có sự hỗ thẹn. Thế tôn dạy, các ngươi hãy
diệt pháp này, nhưng Tỳ-kheo lại không
[588c01]
diệt pháp này, nên Tỳ-kheo niên thiếu liền có sự hỗ thẹn. Ở trong đó
khởi lên niệm tưởng loạn, ý không chuyên nhứt, nên Tỳ-kheo niên thiếu
liền có sự hỗ thẹn.
“Này chư Hiền
giả, đó gọi là tham đắm tài, không đắm pháp.”
Các Tỳ-kheo
thưa Xá-lợi-phất:
“Thế nào là
Tỳ-kheo tham đắm pháp, không đắm tài?”
Xá-lợi-phất
nói:
“Này Tỳ-kheo,
ở đây Như Lai ưa nơi tịch tĩnh, Thanh văn cũng học theo Như Lai mà ưa
nơi tịch tĩnh. Thế tôn dạy, các ngươi hãy nên diệt pháp này; các Tỳ-kheo
liền diệt pháp này. Không lười biếng, không loạn, những điều đáng làm
liền tu hành, những điều không đáng làm liền không làm.
“Chư Hiền giả
nên biết, Tỳ-kheo trưởng lão liền có ba trường hợp được tiếng khen. Thế
nào là ba? Thế tôn ưa nơi tịch tĩnh, Thanh văn cũng thích nơi tịch tĩnh,
nên Tỳ-kheo trưởng lão liền được tiếng khen. Thế tôn dạy, các ngươi hãy
diệt pháp này, bấy giờ Tỳ-kheo liền diệt pháp này, nên Tỳ-kheo trưởng
lão liền được tiếng khen. Ở trong đó không khởi lên niệm tưởng loạn, ý
thường chuyên nhứt, nên Tỳ-kheo trưởng lão liền được tiếng khen.
“Chư Hiền giả
nên biết, Tỳ-kheo trung tọa liền có ba trường hợp được tiếng khen. Thế
nào là ba? Thế tôn ưa nơi tịch tĩnh, Thanh văn cũng thích nơi tịch tĩnh,
nên Tỳ-kheo trung tọa liền được tiếng khen. Thế tôn dạy, các ngươi hãy
diệt pháp này, bấy giờ Tỳ-kheo liền diệt pháp này, nên Tỳ-kheo trung tọa
liền được tiếng khen. Ở trong đó không khởi lên niệm tưởng loạn, ý
thường chuyên nhứt, nên Tỳ-kheo trung tọa liền được tiếng khen.
“Chư Hiền giả
nên biết, Tỳ-kheo niên thiếu liền có ba trường hợp được tiếng khen. Thế
nào là ba? Ở đây, này Tỳ-kheo,Thế tôn ưa nơi tịch tĩnh, Thanh văn cũng
thích nơi tịch tĩnh, nên Tỳ-kheo niên thiếu liền được tiếng khen. Thế
tôn dạy, các ngươi hãy diệt pháp này, bấy giờ Tỳ-kheo liền diệt pháp
này, nên Tỳ-kheo niên thiếu liền được tiếng khen. Ở trong đó không khởi
lên niệm tưởng loạn, ý thường chuyên nhứt, nên Tỳ-kheo niên thiếu liền
được tiếng khen.
“Chư Hiền giả
nên biết, tham là bệnh, rất là đại tai hoạn. Sân nhuế cũng vậy. Ai diệt
được tham dâm, sân nhuế, liền được trung đạo, sinh nhãn, sinh trí, các trói buộc được dứt trừ, đến được Niết-bàn. Xan
tham, tật đố là bệnh, cũng lại rất nặng, bị phiền não nấu nung. Kiêu mạn
cũng sâu. Huyễn ngụy không chơn thật, không tàm, không quí, không thể
lìa bỏ dâm dục, bại hoại chánh chân; mạn, tăng thượng mạn cũng không bỏ.
[589a01]
Nếu hai mạn này diệt, liền được ở vào trung đạo, sinh nhãn, sinh trí,
các trói buộc được dứt trừ, đến được Niết-bàn.”
Tỳ-kheo thưa:
“Tôn giả
Xá-lợi-phất! Thế nào là ở trung đạo, sinh nhãn, sinh trí, các trói buộc
được dứt trừ, đến được Niết-bàn?”
Xá-lợi-phất
nói:
“Chư Hiền giả,
nên biết, đó là tám đạo phẩm của Hiền thánh: Chánh kiến, chánh tri,
chánh ngữ, chánh hành, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh
tam-muội. Đó gọi là ở trung đạo, sinh nhãn, sinh trí, các trói buộc được
dứt trừ, đến được Niết-bàn.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Tôn giả
Xá-lợi-phất nói, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở tại Ca-lan-đà trong Trúc viên,
thành La-duyệt, cùng với năm trăm vị đại Tỳ-kheo.
Bấy giờ đã đến giờ Thế tôn đắp y cầm bát vào thành
La-duyệt khất thực tại một ngõ hẻm. Lúc ấy tại ngõ hẻm kia có vợ một
Phạm chí muốn đãi cơm Bà-la-môn, bèn ra ngoài cửa. Từ xa, bà trông thấy
Thế tôn, liền đến chỗ Thế tôn, hỏi Thế tôn rằng:
“Ngài có thấy Bà-la-môn không?”
Bấy giờ Tôn giả Đại Ca-diếp đã có mặt trước nơi
đó. Thế tôn liền đưa tay chỉ, bảo rằng:
“Đó là Bà-la-môn .”
Lúc ấy vợ Bà-la-môn nhìn chăm chăm vào mặt Như
Lai, im lặng không nói.
Bấy giờ Thế tôn liền nói kệ này:
Người không dục, không nhuế,
Xả ngu, không có si;
Lậu tận A-la-hán,
Đó gọi là Phạm chí.
Người không dục không nhuế,
Bỏ ngu, không có si;
Do bỏ tụ kết sử,
Đó gọi là Phạm chí.
Người không dục, không nhuế,
Xả ngu, không có si;
Do đoạn mạn ngô, ngã,
Đó gọi là Phạm chí.
Nếu ai muốn biết pháp,
Những gì Tam-phật
nói;
Chí thành tự quy y,
Tối tôn không gì hơn.
Bấy giờ Thế tôn bảo Tôn già Đại Ca-diếp:
“Ngươi có thể đến vợ Phạm chí, khiến thân hiện tại
của bà thoát được tội cũ.” Ca-diếp vâng theo lời Phật, đi đến nhà vợ
Phạm chí, ngồi vào chỗ ngồi. Lúc ấy, vợ Bà-la-môn kia liền bày biện các
thứ đồ ăn thức uống ngon bổ đề cúng dường Ca-diếp.
[589b01]
Bấy giờ, Ca-diếp nhận đồ ăn thức uống, vì muốn độ người cho nên nói cho
bà nghe bài kệ này:
Tế tự, lửa trên hết,
Các thư, tụng hơn hết;
Vua tôn quý giữa người,
Các dòng, biển là nhất.
Các sao, trăng đứng đầu,
Chiếu sáng, mặt trời trước;
Bốn bên, trên và dưới,
Ở các phương, cảnh vức,
Trời cùng người thế gian,
Phật là bậc tối thượng.
Ai muốn cầu phước kia,
Nên quy y Tam-phật*.
Vợ Phạm chí sau khi nghe những lời dạy, vui mừng
hớn hở không tự làm chủ được, đến trước Đại Ca-diếp bạch:
“Nguyện xin Phạm chí thường xuyên nhận lời mời của
tôi đến thọ thực tại nhà này.”
Lúc ấy, Đại Ca-diếp liền nhận lời mời thọ thực tại
nơi đó. Vợ Bà-la-môn thấy Ca-diếp thọ thực xong, liền lấy một chiếc ghế
thấp đặt ngồi trước Ca-diếp. Sau đó, Ca-diếp nói pháp vi diệu cho bà như
luận về bố thí, trì giới, sanh thiên, dục là bất tịnh, đoạn tận lậu là
trên hết, xuất gia là thiết yếu.
Lúc này Tôn giả Đại Ca-diếp đã biết tâm ý của vợ
Phạm chí kia đã được khai mở, lòng rất vui mừng. Khi Tôn giả giả Đai
Ca-diếp nói cho vợ Phạm chí nghe pháp mà chư Phật thường nói là khổ,
tập, tận, đạo, vợ Phạm chí liền ngay trên chỗ ngồi mà các trần cấu đều
sạch hết, được pháp nhãn tịnh. Giống như tấm lụa mới trắng tinh, không
có bụi dơ, dễ bị nhuộm màu; vợ Phạm chí cũng như vậy, ngay ở trên chỗ
ngồi mà được pháp nhãn tịnh. Bà đã đắc pháp, thấy pháp, phân biệt pháp
kia không còn hồ nghi, đã đắc vô uý, tự qui y ba ngôi Phật, Pháp, Thánh
chúng, và thọ trì năm giới. Bấy giờ, Tôn giả Đại Ca-diếp vì vợ Phạm chí
thuyết pháp vi diệu lại lần nữa, rồi rời chỗ ngồi đứng dậy mà ra về.
Sau khi Ca-diếp đi chưa bao lâu, người chồng trở
về đến nhà. Ông Bà-la-môn thấy nhan sắc vợ rất vui tươi, không còn như
người thường. Bà-la-môn liền hỏi vợ mình. Người vợ đem nhân duyên này
thuật lại đầy đủ cho chồng. Sau khi Bà-la-môn nghe những lời này xong,
liền dẫn vợ mình cùng đến tinh xá, đến chỗ Thế tôn. Bà-la-môn cùng Thế
tôn chào hỏi rồi ngồi qua một bên. [589c01]
Vợ Bà-la-môn đảnh lễ sát chân Thế tôn rồi, cũng ngồi qua một bên.
Bà-la-môn bạch Thế tôn rằng:
“Vừa rồi có Bà-la-môn đã đến nhà tôi, hiện ở đâu?”
Bấy giờ, Tôn giả Đại Ca-diếp hiện đang ngồi kiết
già cách Thế tôn không xa, chánh thân, chánh ý, đang tư duy pháp vi
diệu.
Thế tôn từ xa chỉ Đại Ca-diếp bảo:
“Đó là Tôn trưởng Bà-la-môn.”
Bà-la-môn nói:
“Thế nào Cù-đàm! Sa-môn tức Bà-la-môn chăng?
Sa-môn cùng Bà-la-môn há không khác chăng?”
Thế tôn bảo:
“Muốn nói Sa-môn thì chính thân Ta. Vì sao vậy? Ta
tức là Bà-la-môn. Những giới luật gì mà các Sa-môn phụng trì, Ta đều đã
đắc. Vậy nay muốn luận về Bà-la-môn, thì cũng chính là thân Ta. Vì sao
vậy? Ta tức là Bà-la-môn. Các Bà-la-môn quá khứ, đã trì những pháp hạnh
nào, Ta cũng đã biết hết.
“Muốn luận về Sa-môn, thì chính là Đại Ca-diếp. Vì
sao vậy? Có những luật gì của các Sa-môn, Tỳ-kheo Ca-diếp đều bao gồm
cả. Muốn luận về Bà-la-môn, thì cũng chính là Tỳ-kheo Ca-diếp. Vì sao
vậy? Có những cấm giới gì mà các Bà-la-môn phụng trì, Tỳ-kheo Ca-diếp
đều biết rõ hết.”
Bấy giờ Thế tôn liền nói kệ này:
Ta không nói Phạm chí,
Người rành biết chú thuật;
Nói rằng sinh Phạm thiên,
Đây vẫn chưa lìa trói.
Không trói, không đường sinh,
Hay thoát tất cả kết;
Không còn nói phước trời,
Tức Sa-môn Phạm chí.
Bấy giờ, Bà-la-môn bạch Thế tôn:
“Nói kết phược, những gì gọi là kết?”
Thế tôn bảo:
“Dục ái là kết. Sân nhuế là kết. Ngu si là kết.
Như Lai không dục ái này, vĩnh viễn đã diệt tận không còn. Sân nhuế, ngu
si cũng lại như vậy. Như Lai không còn kết này.”
Bà-la-môn thưa:
“Nguyện xin Thế tôn thuyết pháp thâm diệu về sự
không còn các kết phược này.”
Bấy giờ, Thế tôn lần lượt nói các đề tài vi diệu
cho Bà-la-môn kia; đó luận về thí, luận về giới, luận về sanh thiên; dục
là bất tịnh, đoạn tận lậu là trên hết, xuất gia là thiết yếu.
Bấy giờ, Thế tôn biết tâm ý Bà-la-môn kia đã khai
mở, trong lòng rất vui mừng. Thế tôn bèn nói cho Bà-lôn-môn pháp mà chư
Phật thời xa xưa đã thuyết: Khổ, tập, tận, đạo. Tức thì, [590a01]
Bà-la-môn ngay trên chỗ ngồi mà dứt sạch các trần cấu, đắc pháp nhãn
tịnh. Giống như tấm lua mớit trắng tinh, không có bụi dơ, dễ nhuộm màu;
Bà-la-môn cũng như vậy, ngay trên chỗ ngồi mà đắc pháp nhãn tịnh. Ông đã
đắc pháp, thấy pháp, phân biệt pháp kia không còn hồ nghi, đã được vô uý
rồi, tự quy y tam tôn: Phật, Pháp, Thánh chúng, thọ trì ngũ giới, là đệ
tử chơn thật Như Lai, không còn thối thất nữa.
Vợ chồng Bà-la-môn kia sau khi nghe những gì đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở tại Ca-lan-đà, trong Trúc
viên, thành La-duyệt, cùng với năm trăm vị đại Tỳ-kheo.
Bấy giờ, vua A-xà-thế có con voi tên Na-la-kỳ-lê
rất là hung dữ, bạo ngược, dũng mãnh, thường đánh bại kẻ địch bên ngoài.
Nhờ sức voi này mà khiến không đâu không phục một nước Ma-kiệt.
Bấy giờ, Đề-bà-đạt-đâu, đến chỗ vua A-xà-thế, nói
như vầy:
“Đại vương, nên biết, hiện tại con voi ác này có
khả năng hàng phục các kẻ thù. Nên dùng rượu mạnh cho voi này uống say.
Sáng mai Sa-môn Cù-đàm ắt sẽ vào thành khất thực, hãy thả voi say này
dẫm đạp chết ông ta!”
Vua A-xà-thế nghe lời xúi của Đề-bà-đạt-đâu, ra
lệnh trong nước: ‘Sáng sớm ngày mai sẽ thả voi say, cấm không cho người
dân đi lại nơi các ngã đường trong thành.’
Rồi Đề-bà-đạt-đâu nói với A-xà-thế rằng:
“Nếu Sa-môn Cù-đàm kia có nhất thiết trí biết việc
tương lai, thì ngày mai ắt sẽ không vào thành khất thực.”
Vua A-xà-thế nói:
“Như lời Tôn giả dạy, nếu có nhứt thiết trí thì
sáng sớm ngày mai sẽ không vào thành khất thực.”
Bấy giờ, nam nữ lớn nhỏ trong thành đều phụng sự
Phật, nghe vua A-xà-thế sớm mai sẽ thả voi say hại Như Lai. Nghe xong
mọi người đều trong lòng buồn lo, liền đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát
chân, đứng qua một bên, bạch Thế tôn:
“Sáng sớm ngày mai xin Thế tôn chớ vào thành nữa.
Vì sao vậy? Vua A-xà-thế hôm nay có ra lệnh, bắt mọi người dân trong
thành, ngày mai chớ đi lại nơi các ngã đường, ta muốn thả voi say hại
Sa-môn Cù-đàm. Nếu Sa-môn Cù-đàm có nhứt thiết trí, thì sáng sớm ngày
mai sẽ không vào thành khất thực. Nguyện xin Thế tôn chớ vào thành nữa!
Nếu Như Lai mà bỗng dưng bị hại thì người thế gian sẽ mất [590b01]
con mắt, không còn ai cứu giúp.”
Thế tôn bảo:
“Thôi! Thôi! Các Ưu-bà-tắc chớ ôm lòng sầu não. Vì
sao vậy? Thân của Như Lai không phải là thân thế tục, nên không bị người
khác hại được. Không bao giờ có việc này. Các Ưu-bà-tắc, nên biết, đất
Diêm-phù, Đông Tây rộng bảy nghìn do tuần, Nam Bắc dài hai mươi mốt
nghìn do tuần. Cù-da-ni ngang rộng tám nghìn do tuần như nửa hình mặt
trăng. Phất-vu-đãi ngang rộng chín nghìn do tuần đất đai vuông vức.
Uất-đơn-việt ngang rộng mười nghìn do tuần đất dai tròn như mặt trăng
đầy. Ví như voi say đầy khắp trong bốn thiên hạ này, giống như lúa mè,
rừng rậm; số như vậy, cũng không thể nào đụng đến mảy may sợi lông của
Như Lai, huống chi là hại được Như Lai. Không bao giờ có việc này. Ngoài
bốn thiên hạ ra, dù có cả nghìn thiên hạ, nghìn mặt trời, mặt trăng,
nghìn núi Tu-di, nghìn nước bốn biển, nghìn Diêm-phù-đề, nghìn Cù-da-ni,
nghìn Phất-vu-đãi, nghìn Uất-đơn-việt, nghìn Tứ thiên vương, nghìn Tam
thập tam thiên, nghìn Đâu-thuật thiên, nghìn Diệm thiên, nghìn Hóa tự
tại thiên, nghìn Tha háo tự tại thiên, đó gọi là nghìn thế giới. Cho đến
hai nghìn thế giới, đó gọi là trung thiên thế giới. Cho đến ba nghìn thế
giới, đó gọi là tam thiên đại thiên thế giới. Trong đó đầy khắp long
vương Y-la-bát còn không thể động một sợi lông của Như Lai, huống lại là
voi này muốn hại Như Lai được sao? không bao giờ có trường hợp đó. Vì
sao vậy? Thần lực của Như Lai là bất khả tư nghì. Như Lai xuất hiện ở
đời, vĩnh viễn không thể bị người đả thương được. Các ngươi hãy trở về
nhà mình. Như Lai tự biết việc gì sẽ xảy ra.”
Bấy giờ, Thế tôn đã vì bốn bộ chúng thuyết pháp vi
diệu rộng rãi. Các Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-tư sau khi nghe chánh pháp rồi, từ
chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Pật, thối lui ra về.
Sáng sớm hôm đó, Thế tôn đắp y, ôm bát tính vào
thành La-duyệt khất thực. Khi ấy thiên vương Đề-đầu-lại-tra dẫn
Càn-đạp-hòa v.v… từ phương Đông đến theo hầu Thế tôn. Lại có Tỳ-lưu-lặc
vương dẫn chúng Câu-bàn-trà, từ phương Nam đến theo hầu Như Lai. Phương
Tây Thiên vương Tỳ-lưu-lặc-xoa dẫn các chúng Rồng theo hầu Như Lai.
Phương Bắc Thiên vương Câu-tỳ-la dẫn chúng quỷ La-sát theo hầu Như Lai.
Lại có Thích Đề-hoàn Nhơn dẫn nghìn vạn chúng các chư thiên biến mất từ
trời Đâu-thuật mà hiện đến chỗ Thế tôn. Lại có Phạm thiên vương [590c0]
dẫn nghìn vạn chúng các Phạm thiên từ trên Phạm thiên đến chỗ Thế tôn.
Lại có Thích Phạm, Tứ thiên vương cùng nhị thập bát thiên, đại quỷ thần
vương, cùng bảo nhau: “Hôm nay chúng ta phải xem hai thần voi và rồng
đấu với nhau. Ai là người thắng, kẻ bại?”
Lúc này bốn bộ chúng thành La-duyệt, từ xa trông
thấy Thế tôn cùng các Tỳ-kheo vào thành khất thực, mọi người dân trong
thành đều cất tiếng kêu la. Vua A-xà-thế lại nghe những tiếng này, hỏi
tả hữu:
“Đây là những âm vang gì mà lọt thấu nơi này?”
Thị thần đáp:
“Đây là những âm thanh phát xuất từ nhơn dân khi
thấy Như Lai vào thành khất thực.”
A-xà-thế nói:
“Sa-môn Cù-đàm cũng không có Thánh đạo, không biết
tâm người, rồi sẽ kinh nghiệm việc gì sẽ xảy ra.”
Vua A-xà-thế liền bảo tượng sư:
“Ngươi hãy mau đem rượu mạnh cho voi uống, cột
kiếm bén vào vòi, và lập tức thả cho nó chạy.”
|