增壹阿含經
TĂNG NHẤT A-HÀM
T2n125
Hán dịch:
Tam tạng Cù-đàm Tăng-già-đề-bà, người Kế Tân, thời Đông Tấn
Việt dịch:
Thích Đức Thắng
Hiệu chú: Tuệ Sỹ
[
MỤC LỤC
]
19. PHẨM
KHUYẾN THỈNH
KINH SỐ 1
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ngồi dưới gốc cây tại đạo tràng,
nước Ma-kiệt. Bấy giờ Thế tôn đắc đạo chưa lâu, liền tự nghĩ như vầy:
‘Nay Ta đạt pháp rất sâu khó hiểu khó rõ, khó có thể giác tri, không thể
tư duy; pháp tịch tĩnh vi diệu, được giác tri bởi người trí, được phân
biệt nghĩa lý, tu tập không chán, liền được hoan hỷ.
Nếu Ta nói pháp vi diệu này cho mọi người, họ sẽ không tin nhận, cũng
không phụng hành; không những uổng công vô ích mà còn bị tổn giảm nữa.
Nay Ta [593b01]
nên im lặng, cần gì phải nói pháp?’
Bấy giờ, Phạm Thiên ở trên cõi Phạm thiên, biết
những ý nghĩ của Như Lai. Trong khoảnh khắc giống như lực sĩ co duỗi
cánh tay, ông biến mất khỏi Phạm thiên, hiện đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ
sát chân, rồi đứng qua một bên. Khi ấy Phạm Thiên bạch Thế tôn:
“Cõi Diêm-phù-đề này chắc sẽ bị tan hoại, ba cõi
mất đi con mắt, vì Như Lai, Chí chơn, Đẳng chánh giác xuất hiện ở thế
gian đáng ra sẽ diễn Pháp bảo, nhưng nay lại không diễn nói pháp vị! Cúi
mong Như Lai khắp vì tất cả chúng sanh mà rộng nói pháp sâu xa. Hơn nữa,
căn nguyên của chúng sanh này dễ độ; nếu chúng không nghe, vĩnh viễn mất
pháp nhãn.
Ngài hãy vì những đứa con côi cút của Pháp.
Giống như hoa sen Ưu-bát, hoa Câu-mâu-đầu, hoa Phân-đà-lợi, tuy ra khỏi
bùn đất, nhưng chưa lên khỏi nước, cũng chưa nở bung ra. Khi ấy, hoa kia
sinh trưởng dần, nhưng vẫn không ra khỏi mặt nước. chưa ra khỏi nước. Có
khi, hoa kia đã lên khỏi nước, hoặc khi ấy hoa kia không bị thấm nước. Ở
đây cũng vậy, các loài chúng sanh được thấy bị bức bách bởi sinh, già,
bệnh, chết, các căn đã chín mùi, nhưng vì không được nghe pháp nên bị
diệt vong, há không khổ sao? Nay thật đúng thời, nguyện xin Thế tôn nên
vì họ nói pháp.”
Bấy giờ, Thế tôn biết mọi ý nghĩ trong tâm Phạm
Thiên và, vì lòng từ mẫn đối tất cả chúng sanh, nên nói kệ này:
Nay Phạm Thiên khuyến thỉnh
Như Lai mở cửa pháp.
Người nghe dốc lòng tin,
Phân biệt pháp yếu sâu.
Như trên đỉnh núi cao,
Xem khắp loài chúng sanh.
Nay Ta có pháp này,
Mắt pháp hiện lầu cao.
Bấy giờ Phạm Thiên liền tự nghĩ: “Như Lai chắc sẽ
vì chúng sanh nói pháp thâm diệu,” nên trong lòng vui mừng phấn khởi
không tự kiềm chế được, đảnh lễ sát chân rồi liền trở về trời.
Phạm Thiên sau khi nghe những gì đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở tại vườn Nai trong khu Tiên
nhơn,
tại nước Ba-la-nại. Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có hai sự này, người học đạo không nên gần gũi.
Hai sự ấy là gì? Tham đắm pháp dục và lạc.
Đó là pháp phàm phu hạ tiện. Lại nữa, đây là trăm đầu mối của mọi thứ
khổ não.
Đó là hai việc mà người học không nên gần gũi. Như vậy, sau khi xả bỏ
hai sự này, Ta tự có con đường chí yếu thành tựu được Chánh giác, sinh
nhãn, [593c01]
sinh trí, ý được tịch tĩnh, đắc các thần thông, thành quả Sa-môn, đạt
đến Niết-bàn. Thế nào là con đường chí yếu
thành tựu được Chánh giác, sinh nhãn, sinh trí, ý được tịch tĩnh, đắc
các thần thông, thành quả Sa-môn, đạt đến Niết-bàn? Đó là tám phẩm đạo
Hiền thánh, là đẳng kiến, đẳng trị, đẳng ngữ, đẳng nghiệp, đẳng mạng,
đẳng phương tiện, đẳng niệm, đẳng định. Đó gọi là con đường chí yếu,
khiến Ta thành tựu được Chánh giác, sinh nhãn, sinh trí, ý được tịch
tĩnh, đắc các thần thông, thành quả Sa-môn, đạt đến Niết-bàn.
“Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học xả bỏ hai sự
ấy, và tu tập đạo chí yếu. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Kệ tóm tắt:
La-vân, Ca-diếp, rồng.
Hai Nan-(đà), Đại Ái Đạo,
Phỉ báng, phi, Phạm thỉnh,
Hai sự tại sau cùng.
KINH SỐ 3
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ Đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thích Đề-hoàn Nhơn đến chỗ Thế tôn, đảnh
lễ sát chân, rồi đứng qua một bên, bạch Thế tôn:
“Thế nào là Tỳ-kheo đoạn ái dục, tâm được giải
thoát,
cho đến chỗ cứu cánh an ổn, không có mọi tai hoạn, được trời người tôn
kính?”
Bấy giờ, Thế tôn bảo Thích Đề-hoàn Nhơn:
“Này Câu-dực, ở đây nếu Tỳ-kheo nào nghe pháp
Không
này, tỏ rõ là không có gì, vị ấy liền hiểu rõ được tất cả các pháp. Rồi
với pháp khổ, lạc, hay pháp không khổ không lạc, mà thân giác tri được,
tức ở ngay nơi thân này, vị ấy quán chúng đều vô thường, đều trở về
không. Khi đã quán biết như thật về sự biến dịch của cái không khổ không
lạc này, vị ấy cũng không tưởng khởi.
Đã không tưởng khởi nên không sợ hãi.
Đã không sợ hãi nên Bát-niết-bàn, như thật biết rằng, sinh tử đã dứt,
phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, không còn tái sinh đời
sau nữa. Này Thích Đề-hoàn Nhơn! Đó gọi là Tỳ-kheo đoạn ái dục được tâm
giải thoát, cho đến, chỗ cứu cánh an ổn, không có tai hoạn, được trời
người tôn kính.”
Bấy giờ, Thích Đề-hoàn Nhơn đảnh lễ sát chân Thế
tôn, rồi nhiễu quanh ba vòng mà lui.
Trong lúc đó, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên ngồi kết
già cách Thế tôn không xa, chánh thân, chánh ý, cột niệm trước mặt. Khi
ấy, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên tự nghĩ: “Có phải vừa rồi [594a01]
Đế Thích do được đạo tích mà hỏi việc, hay là không do được đạo tích mà
hỏi nghĩa chăng? Nay ta nên thử xem.”
Bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên liền dùng thần
túc, trong khoảnh khắc như co duỗi cánh tay, lên đến Tam thập tam thiên.
Thích Đề-hoàn Nhơn từ xa trông thấy Đại Mục-kiền-liên đến, liền đứng lên
tiếp đón, và nói:
“Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, khéo đến! Đã lâu lắm,
Tôn giả không đến đây. Mong được cùng Tôn giả luận thuyết nghĩa pháp.
Mời Tôn giả ngồi nơi này.”
Bấy giờ, Mục-kiền-liên hỏi Thích Đề-hoàn Nhơn:
“Thế tôn đã nói pháp đoạn ái dục cho ông, tôi muốn
nghe nó. Nay là lúc thích hợp, hãy nói cho tôi nghe.”
Thích Đề-hoàn Nhơn bạch rằng:
“Hiện tại, tôi bận rộn nhiều việc, vừa có việc
riêng, lại vừa có việc của chư thiên. Những gì tôi nghe được tức thì
quên mất. Ngài Mục-liên! Xưa kia khi đánh nhau với các A-tu-luân, trong
trận đánh ngày hôm đó, các chư thiên đắc thắng, A-tu-luân bị bại. Bấy
giờ, đích thân tôi tự đi chiến đấu, sau đó thống lãnh chư thiên trở về
thiên cung, ngồi tại giảng đường Tối thắng. Vì nhờ đánh thắng nên gọi là
giảng đường Tối thắng.
Đường cái thành hàng, đường sá giao nhau. Mỗi một đầu đường
có bảy trăm lầu các, trên mỗi một lầu các đều có bảy ngọc nữ, mỗi một
ngọc nữ đều có bảy người hầu. Xin mời Tôn giả Mục-liên ngắm xem nơi đó.”
Bấy giờ, Thích Đề-hoàn Nhơn cùng Thiên vương
Tỳ-Sa-môn, theo sau Tôn giả Mục-liên đến nơi giảng đường Tối thắng. Bấy
giờ, Thích Đề-hoàn Nhơn và Thiên vương Tỳ-Sa-môn, bạch Đại
Mục-kiền-liên:
“Đây là giảng đường Tối thắng, tất có thể dạo
xem.”
Mục-liên bảo Thiên vương:
“Chỗ này rất là vi diệu, đều do tiền thân đã tạo
ra phước đức, nên được mời đến bảo đường tự nhiên này. Giống như nhơn
gian có một chỗ vui nhỏ cũng đã tự chúc mừng rồi, như cung trời không
khác, đều do tiền thân tạo ra phước mà được như vây.”
Lúc ấy, ngọc nữ hai bên Thích Đề-hoàn Nhơn đều
chạy tứ tán. Giống như có chỗ cấm kỵ nhơn gian, họ đều trong lòng hổ
thẹn. Đám ngọc nữ chỗ Thích Đề-hoàn Nhơn cũng lại như vậy, từ xa trong
thấy Đại Mục-kiền-liên đến, các cô đều chạy tứ tán mất. Khi ấy, Đại
Mục-kiền-liên liền tự nghĩ: “Thích Đề-hoàn Nhân này ý rất phóng dật, ta
nên làm cho ông ấy sợ hãi.”
Bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên liền dùng ngón
chân phải [594b01]
ấn xuống đất, làm cho cung điện kia bị chấn động sáu cách. Khi ấy, Thích
Đề-hoàn Nhân cùng Thiên vương Tỳ-Sa-môn trong lòng sợ hãi, lông áo dựng
đứng, tự nghĩ: “Đại Mục-kiền-liên này có thần túc lớn nên mới có thể làm
cho cung điện này chấn động sáu cách. Kỳ diệu thay, chưa từng có việc
này!”
Lúc này, Đại Mục-kiền-liên tự nghĩ: “Nay tự thân
Đế Thích này đã sinh lòng sợ hãi, ta phải hỏi về nghĩa sâu kia.”
“Thế nào Câu-dực?
Kinh trừ ái dục mà Như Lai đã thuyết, nay là lúc thích hợp, xin ông nói
lại cho chúng tôi nghe.”
Thích Đề-hoàn Nhân đáp:
“Mục-liên, trước đây tôi có đến chỗ Thế tôn, đảnh
lễ sát chân rồi đứng qua một bên. Lúc ấy tôi liền bạch Thế tôn: ‘Thế nào
là Tỳ-kheo đoạn ái dục tâm được giải thoát, cho đến, cứu cánh đến chỗ vô
vi, không có khổ hoạn, được trời người tôn kính?’ Bấy giờ Thế tôn liền
bảo tôi rằng: ‘Này Câu-dực, ở đây các Tỳ-kheo sau khi nghe pháp này rồi,
không còn gì gì để đắm trước,
cũng không đắm vào sắc, tỏ rõ hết thảy các pháp đều vô sở hữu. Do đã tỏ
rõ tất cả các pháp rồi, hoặc khổ hoặc lạc, hoặc không khổ hoặc không
lạc, quán chúng là vô thường, diệt hết không còn, cũng không đoạn hoại.
Do quán như vậy rồi, không còn gì để đắm trước. Do không khởi lên thế
gian tưởng
nên không còn sợ hãi. Do không sợ hãi nên Bát-niết-bàn, như thật biết
rằng, sinh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong,
không còn tái sinh đời sau nữa. Này Thích Đề-hoàn Nhơn! Đó gọi là
Tỳ-kheo đoạn ái dục tâm được giải thoát, cho đến, chỗ cứu cánh vô vi,
không có khổ hoạn, được trời người tôn kính.’ Sau khi nghe những lời dạy
như vậy, tôi liền đảnh lễ sát chân Thế tôn, nhiễu quanh ba vòng, rồi
thối lui trở về trời.”
Khi ấy, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên bền nói pháp sâu
xa cho Thích Đề-hoàn Nhân và Tỳ-Sa-môn nghe, phân biệt đầy đủ. Sau khi
đã thuyết pháp đầy đủ, Mục-kiền-liên trong khoảnh khắc giống như lực sĩ
co duỗi cánh tay biến mất khỏi Tam thập tam thiên, trở về vườn Cấp Cô
Độc, rừng cây Kỳ-đà, thành Xá-vệ, đến chỗ Thế tôn đảnh lễ sát chân, rồi
ngồi lui qua một bên. Khi ấy Mục-kiền-liên ngay trên chỗ ngồi bạch Thế
tôn:
“Trước đây Như Lai nói cho Thích Đề-hoàn Nhân nghe
pháp trừ dục. Nguyện xin Thế tôn hãy nói cho con.”
Bấy giờ, Thế tôn bảo Mục-kiền-liên:
“Ngươi nên biết, Thích Đề-hoàn Nhân đến chỗ Ta, [594c01]
đảnh lễ sát chân, đứng qua một bên. Rồi Thích Đề-hoàn Nhân đem nghĩa này
hỏi Ta: ‘Thế tôn! Thế nào là Tỳ-kheo đoạn ái dục tâm đắc giải thoát?’
Bấy giờ, Ta bảo Thích Đề-hoàn Nhân rằng: ‘Này Câu-dực, nếu Tỳ-kheo tỏ rõ
tất cả các pháp là không, hoàn toàn không có gì, cũng không có cái gì để
chấp trước, Tỳ-kheo ấy hiểu rõ hết tất cả các pháp vô sở hữu. Do biết
tất cả các pháp là vô thường, diệt hết không còn, cũng không đoạn hoại.
Tỳ-kheo ấy quán như vậy rồi, không có gì để đắm trước. Do không khởi thế
gian tưởng nên không còn sợ hãi.
Do không sợ hãi nên Bát-niết-bàn, biết như thật rằng, sinh tử đã dứt,
phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, không còn tái sinh đời
sau nữa. Này Thích Đề-hoàn Nhơn! Đó gọi là Tỳ-kheo đoạn ái dục tâm được
giải thoát. Bấy giờ Thích Đề-hoàn Nhân từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát
chân, rồi thối lui trở về trời.”
Đại Mục-kiền-liên sau khi nghe những gì đức Phật
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ Đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thế gian có hai hạng này, nếu có thấy nghe điện
chớp sấm gầm thì cũng không sợ hãi. Hai hạng ấy là ai? Sư tử vua muôn
thú, và A-la-hán lậu tận.
Này Tỳ-kheo, đó là gọi là ở thế gian nếu có hai hạng này, dù có thấy
nghe điện chớp sấm gầm cũng không sinh lòng sợ hãi.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy học A-la-hán lậu
tận. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này."
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ Đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có hai pháp này, khiến người không có trí tuệ.
Hai pháp gì? Không thích hỏi người hơn mình; chỉ ham ngủ nghỉ, không ý
siêng năng. Này Tỳ-kheo, có hai pháp này, khiến cho người không có trí
tuệ.
“Lại có hai pháp khiến cho người thành trí tuệ
lớn. Hai pháp gì? Thích hỏi nghĩa người khác; không ham ngủ nghỉ, có ý
siêng năng. Này Tỳ-kheo, có hai pháp này khiến cho người có trí tuệ. Các
ngươi hãy học lìa xa pháp ác.
“Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này."
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 6
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ Đà, nước Xá-vệ. [595a01]
Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có hai pháp này khiến người bần tiện, không có
tài sản. Hai pháp gì? Khi thấy người khác bố thí thì ngăn cản; tự mình
thì không chịu bố thí. Này Tỳ-kheo, có hai pháp này khiến cho người bần
tiện, không có của báu.
“Tỳ-kheo nên biết, lại có hai pháp khiến người phú
quý. Hai pháp gì? Khi thấy người cho vật người khác, hoan hỷ trợ giúp;
và tự mình cũng thích bố thí. Này Tỳ-kheo, có hai pháp này khiến cho
người phú quý.
“Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học huệ thí, chớ có
lòng tham.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 7
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ Đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có hai pháp khiến cho người sinh vào nhà bần
tiện. Hai pháp gì? Bất hiếu cha mẹ, các bậc sư trưởng; cũng không thừa
sự người hơn mình. Này Tỳ-kheo, có hai pháp này khiến cho người sinh vào
nhà bần tiện.
“Tỳ-kheo nên biết, lại có hai pháp, sẽ khiến người
sinh vào nhà hào tộc. Hai pháp gì? Cung kính cha mẹ, anh em, dòng họ;
đem những gì có được của nhà mình ra bố thí. Này Tỳ-kheo, có hai pháp
này, sẽ sinh vào nhà hào tộc.
“Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này."
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 8
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ Đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, có nữ Phạm chí tên Tu-thâm đến chỗ Tôn
giả Đại Câu-hy-la. Đến nơi rồi, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Lúc
này nữ Phạm chí kia bạch Câu-hy-la rằng:
“Ưu-đạp-lam-phất,
La-lặc-ca-lam
không được hóa độ ở trong pháp sâu này, rồi mạng chung. Thế tôn thọ ký
cho hai người này rằng: ‘ Một người sinh vào Bất dụng xứ,
một người sinh vào Hữu tưởng vô tưởng xứ.
Hai người này sau khi thọ mạng ở đó hết, lại mạng chung. Một người sẽ
làm quốc vương nơi biên địa, sát hại nhơn dân không thể kể xiết. Một
người sẽ làm chồn ác có cánh, các loài thú hoặc bay, hoặc chạy nhảy đều
không thoát được nó. Sau khi chúng mạng chung sẽ sinh vào trong địa
ngục.’ Nhưng Thế tôn lại không thọ ký cho họ lúc nào sẽ tận cùng biên tế
khổ. Cớ sao Thế tôn không thọ ký cho họ tận cùng biên tế khổ?”
Bấy giờ, Tôn giả Câu-hy-la bảo nữ nhơn Tu-thâm:
“Sở dĩ Thế tôn không [595b01]
thọ ký là do vì không có người hỏi về nghĩa này, cho nên Thế tôn không
thọ ký họ lúc nào sẽ hết biên tế khổ.”
Nữ nhơn Tu-thâm thưa:
“Bây giờ, Như Lai đã vào Niết-bàn, cho nên không
hỏi được. Nếu Ngài còn tại thế, con sẽ đến hỏi nghĩa này. Vậy, nay Tôn
giả Câu-hy-la nói cho con biết lúc nào họ sẽ hết biên tế khổ?”
Bấy giờ, Tôn giả Câu-hy-la liền nói kệ này:
Các loại quả không đồng,
Hướng chúng sanh cũng vậy.
Người tự giác, giác tha,
Đây, tôi không biện thuyết.
Biện Thiền trí giải thoát,
Nhớ đời trước, thiên nhãn;
Hay dứt nguồn gốc khổ,
Đây, tôi không biện thuyết.
Lúc đó, nữ nhơn Tu-thâm liền nói kệ này:
Thiện thệ có trí này,
Chất trực không tì vết;
Dõng mãnh, đã chiến thắng,
Cầu nơi hạnh đại thừa.
Lúc này Tôn giả Câu-hy-la lại nói kệ này:
Ý này thật khó được,
Hay được pháp yếu khác;
Khó mà biện thuyết nổi,
Đối với sự kỳ diệu.
Bấy giờ, Tôn giả nói đầy đủ pháp yếu cho nhữ nhơn
Tu-thâm kia, khiến phát tâm hoan hỷ. Bấy giờ nữ nhơn kia rời chỗ ngồi
đứng dậy, đảnh lễ sát chân, rồi thối lui ra về.
Nữ nhơn Tu-thâm sau khi nghe những gì Tôn giả
Câu-hy-la dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 9
Nghe như vầy:
Một thời Tôn giả Ma-ha Ca-giá-diên
hướng dẫn chúng năm trăm đại Tỳ-kheo, du hành đến bên cạnh hồ sâu, nước
Bà-na.
Bấy giờ, Tôn giả Ca-giá-diên đang nổi tiếng khắp nơi. Có một Tôn giả
trưởng lão Bà-la-môn Gian-trà
cũng đang du hóa ở đây. Bà-la-môn nghe sau khi nghe tin Tôn giả
Ca-giá-diên hướng dẫn năm trăm Tỳ-kheo đang du hóa bên cạnh hồ này, bèn
nghĩ: “Tôn giả trưởng lão công đức đầy đủ, nay ta nên đến thăm hỏi người
này.”
Bấy giờ, Thượng Sắc Bà-la-môn
dẫn theo năm trăm đệ tử đến chỗ Tôn giả Ca-giá-diên, cùng chào hỏi, rồi
ngồi qua một bên. Bà-la-môn hỏi Tôn giả Ca-giá-diên:
“Như sở hành của Ca-giá-diên, thì đấy không phải
là pháp luật. Tỳ-kheo niên thiếu mà không chịu làm lễ các vị cao đức
Bà-la-môn chúng tôi!”
Ca-giá-diên nói:
“Bà-la-môn nên biết, Như Lai, Chí chơn, Đẳng chánh
giác chúng tôi nói về hai địa này. Hai địa gì? Một là địa vị già cả; hai
là vị trai tráng.”
Bà-la-môn hỏi:
“Sao gọi là địa vị già cả? Sao gọi là vị trai
tráng?”
Ca-giá-diên nói:
“Giả sử Bà-la-môn ở vào tuổi tám mươi, hay chín
mươi, nhưng người kia không đình chỉ dâm dục, tạo các ác hạnh, Bà-la-môn
đó tuy gọi là già cả, song hiện đang ở vào địa vị trai tráng.”
Bà-la-môn hỏi:
“Sao gọi là tuổi trai tráng ở vào địa vị già cả?”
Ca-giá-diên nói:
“Bà-la-môn, nếu có Tỳ-kheo tuy ở vào tuổi hai
mươi, hay ba mươi, bốn mươi, năm mươi, nhưng không tập hành dâm dục,
cũng không tạo ác hạnh. Đó gọi là, này Bà-la-môn, tuổi trai tráng ở vào
địa vị già cả.”
Bà-la-môn hỏi:
“Trong đại chúng này có một Tỳ-kheo nào không hành
dâm dục, không tạo ác hạnh không?”
Ca-giá-diên nói:
“Trong đại chúng của tôi không có một Tỳ-kheo nào
tập hành dục và tạo ác cả.”
Lúc ấy, Bà-la-môn từ chỗ ngồi đứng dậy, lễ sát
chân các Tỳ-kheo và nói lời này:
“Nay, các ông tuổi niên thiếu ở vào vị già cả, còn
tôi tuổi già cả ở vào vị niên thiếu!”
Sau đó Bà-la-môn kia trở lại chỗ Ca-giá-diên, đảnh
lễ sát chân rồi tự trình bày:
“Nay, con xin quy y Tôn giả Ca-giá-diên cùng
Tỳ-kheo Tăng, suốt đời không sát sinh.”
Ca-giá-diên nói:
“Nay ông chớ quy y tôi, mà ông nên hướng về chỗ
tôi đã quy y.”
Bà-la-môn hỏi:
“Tôn giả Ca-giá-diên đã quy y ai?”
Tôn giả Ca-giá-diên liền quỳ hướng về chỗ Như Lai
đã Bát-niết-bàn, nói: “Có người con dòng họ Thích xuất gia học đạo. Tôi
hằng quy y Ngài. Vậy, Người đó tức là Thầy tôi.”
Bà-la-môn thưa:
“Sa-môn Cù-đàm này hiện đang ở chỗ nào? Nay tôi
muốn gặp Ngài.”
Ca-giá-diên nói:
“Như Lai của tôi đã vào Niết-bàn rồi!”
Bà-la-môn thưa:
“Nếu Như Lai còn ở tại thế, thì dù trăm nghìn do
tuần con cũng đến thăm hỏi Ngài. Như Lai kia tuy đã vào Niết-bàn, nhưng
nay con một lần nữa quy y, làm lễ Phật, Pháp cùng Thánh chúng, suốt đời
không tái phạm sát sinh.”
Thượng Sắc Bà-la-môn sau khi nghe những gì Tôn giả
Ca-giá-diên dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 10
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ Đà, nước Xá-vệ. [596a01]
Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có hai hạng người xuất hiện thế gian, rất khó gặp
được. Hai hạng người ấy là ai? Người hay thuyết pháp xuất hiện ở thế
gian, thật là khó gặp được; người hay nghe pháp, thọ trì phụng hành,
thật là khó gặp được. Tỳ-kheo, đó là hai hạng người xuất hiện thế gian,
thật khó gặp được.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy học thuyết pháp.
Hãy học nghe pháp. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này."
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 11
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật du hóa tại nước Ma-kiệt, lần hồi
đến thành Tỳ-xá-ly. Bấy giờ, Ngài cùng với năm trăm chúng đại Tỳ-kheo
đang ở trong vườn Am-bà-bà-lợi
phía bắc thành Tỳ-xá-ly.
Lúc này, nữ Am-bà-bà-lợi
nghe Thế tôn cùng năm trăm đại Tỳ-kheo đến ở trong vườn, cô liền thắng
xe có gắn lông chim
ra khỏi thành Tỳ-xá-ly, đến ngã đường hẹp là đến chỗ Thế tôn, cô tự
xuống xe, đến chỗ Phật. Bấy giờ, từ xa Thế tôn trông thấy người nữ kia
đến, liền bảo các Tỳ-kheo:
“Tất cả hãy chuyên tinh, chớ sinh tà niệm.”
Lúc ấy, người nữ đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát
chân, ngồi qua một bên. Bấy giờ nói cho cô nghe pháp cự kỳ vi diệu. Sau
khi nói pháp vi diệu xong, cô bạch Phật rằng:
“Cúi xin Thế tôn cùng Tỳ-kheo Tăng nhận lời mời
của con.”
Bấy giờ Thế tôn im lặng nhận lời mời. Cô thấy Thế
tôn đã im lặng nhận lời mời rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát
chân, rồi thối lui ra về.
Bấy giờ, nam nữ lớn nhỏ trong thành Tỳ-xá-ly nghe
tin Thế tôn cùng năm trăm chúng đại Tỳ-kheo đang ở trong vườn
Am-bà-bà-lợi. Lúc ấy, trong thành có năm trăm
đồng tử đi các loại xe có gắn lông chim*; trong đó hoặc đi xe trắng thì
ngựa trắng, áo, dù, lọng, người theo hầu đều cùng trắng; đi xe đỏ thì
ngựa đỏ, áo, dù, lọng, người theo hầu đều cùng đỏ; đi xe xanh thì ngựa
xanh, áo, dù, lọng, người theo hầu đều cùng xanh; đi xe vàng thì ngựa
vàng, áo, dù, lọng, người theo hầu đều cùng vàng. Cử chỉ, ăn mặc như
vương pháp. Họ ra khỏi thành, đến chỗ Thế tôn. Chưa đến, giữa đường gặp
người nữ kia đang dong xe đánh bò |