20. PHẨM
THIỆN TRI THỨC
KINH SỐ 1
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ đức Thế tôn dạy chư Tỳ-kheo:
“ Nên gần gũi thiện tri thức, đừng tập theo ác
hành, tin vào ác nghiệp. Vì sao vậy? Chư Tỳ-kheo, gần gũi thiện tri
thức, tín được tăng trưởng; văn, thí, trí huệ, hết thảy đều tăng trưởng.
Nếu các Tỳ-kheo gần gũi thiện tri thức, thì không tập theo các ác hành.
Vì sao vậy? Nếu gần ác tri thức, sẽ không có tín, không có giới, văn,
thí, trí tuệ. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy gần gũi thiện tri thức, đừng
gần gũi ác tri thức. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, [597a01]
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở tại Ca-la-đà,
trong Trúc viên, thành La-duyệt, thuyết pháp cho năm trăm đại Tỳ-kheo
vây quanh trước sau.
Bấy giờ, Đề-bà-đạt-đâu
dẫn năm trăm Tỳ-kheo đi ngang qua, cách Như lai không xa. Đức Thế tôn từ
xa thấy Đề-bà-đạt-đa tự dẫn môn đồ đi, liền nói kệ nầy:
Đừng gần ác tri thức,
Cũng đừng dại theo hầu.
Nên gần thiện tri thức,
Bậc tối thắng trong người.
Người vốn không có ác;
Tập gần ác tri thức,
Sau tất trồng gốc ác,
Ở mãi trong tối tăm.
Lúc đó, năm trăm đệ tử Đề-bà-đạt-đa nghe đức Thế
tôn nói kệ nầy, liền đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát chân Phật, rồi ngồi
qua một bên. Không lâu, họ rời chỗ ngồi, hướng về đức Thế tôn hối lỗi:
“Chúng con ngu muội không hiểu biết gì. Cúi xin
đức Thế tôn nhận sự sám hối chúng con.”
Bấy giờ Thế tôn nhận sự sám hối của năm trăm vị
Tỳ-kheo kia, rồi thuyết pháp cho họ, khiến được tín căn.
Bấy giờ năm trăm Tỳ-kheo ở nơi nhàn tịnh, tư duy
pháp mầu. Vì sao vậy? Vì mục đích mà thiện gia nam tử, với lòng tin kiên
cố, tu phạm hạnh vô thượng. Bấy giờ năm trăm Tỳ-kheo kia thành A-la-hán,
tự biết như thật rằng, sanh tử đã hết, việc cần làm đã xong, phạm hạnh
đã lập, không còn tái sinh nữa. Bấy giờ, năm trăm người thành A-la-hán.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 3
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế tôn thuyết pháp cho vô số chúng vây
chung quanh. Lúc đó Đàm-ma-lưu-chi
một mình tư duy trong tĩnh thất, nhập thiền tam-muội, quán thấy tiền
thân làm thân cá dài bảy trăm do tuần, ở trong biển lớn. Tức thì, ông
rời tĩnh thất, trong khoảnh khắc như lực sĩ trong khoảng co duỗi cánh
tay, đến biển lớn, đi kinh hành trên xác chết cũ. Bấy giờ,
Đàm-ma-lưu-chi nói kệ nầy:
Sanh tử vô số kiếp,
Lưu chuyển không thể tính.
[597b01] Mỗi
mỗi cầu được an;
Số số chịu khổ não.
Dù thấy lại thân rồi,
Ý muốn tạo nhà cửa;
Tất cả chi tiết hoại,
Hình thể không nguyên vẹn.
Tâm đã lìa các hành,
Ái trước đã diệt tận,
Không thọ lại thân nầy;
Mãi vui trong niết-bàn.
Sau khi Tôn giả Đàm-ma-lưu-chi nói kệ nầy rồi, bèn
biến mất khỏi chỗ đó, xuất hiện đến chỗ Thế tôn tại tinh xá Kỳ-hoàn,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế tôn thấy Đàm-ma-lưu-chi đến, liền bảo rằng:
“Lành thay, Đàm-ma-lưu-chi, lâu lắm mới đến chốn
nầy.”
Đàm-ma-lưu-chi bạch Thế tôn:
“Kính vâng, bạch Thế tôn, lâu lắm con mới đến chốn
nầy.”
Bấy giờ các Thượng tọa và các Tỳ-kheo đều tự nghĩ
:
“Đàm-ma-lưu-chi nầy thường ở bên cạnh Thế tôn,
nhưng nay Thế tôn bảo rằng: ‘Lành thay! Đàm-ma-lưu-chi, lâu lắm mới đến
chốn nầy’?”
Bấy giờ, Thế tôn biết được những ý nghĩ trong tâm
các Tỳ-kheo, muốn dứt nghi ngờ, nên bảo chư Tỳ-kheo:
“Chẳng phải vì Đàm-ma-lưu-chi lâu lắm đến chốn nầy
mà Ta nói nghĩa này. Vì sao vậy? Vì vô số kiếp quá khứ xưa kia có đức
Đính Quang
Như lai Chí chân, Đẳng chánh giác, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian
giải, Vô thượng sĩ, Đạo pháp ngự, Thiên nhơn sư, Phật Chúng hựu xuất
hiện ở đời, giáo hóa tại đại quốc Bát-ma
cùng với mười bốn ngàn tám trăm đại Tỳ-kheo. Bấy giờ chúng bốn bộ không
thể tính kể. Quốc vương, đại thần, quan lại, nhơn dân, đều đến cúng
dường, cung cấp những phẩm vật nhu yếu.
“Bấy giờ có Phạm chí tên Da-nhã-đạt
sống bên sườn Tuyết sơn, xem sấm bí mật, thiên văn, địa lý, tất cả đều
rất thông thạo; sách sớ, văn tự, cũng đều hiểu biết, đọc tụng một câu
năm trăm từ; tướng của bậc đại nhơn cũng đều biết rõ. Ông thờ các thần
lửa, mặt trời, mặt trăng, tinh tú và dạy năm trăm đệ tử đêm ngày không
mỏi. Phạm chí Da-nhã-đạt có đệ tử tên là Vân Lôi,
tướng mạo xinh đẹp hiếm có trên đời; mắt
màu xanh biếc. Phạm chí Văn Lôi thông minh, thấy rộng, thông hiểu mọi
thứ, thường được Da-nhã-đạt yêu mến không chút rời xa. Bấy giờ, những
chú thuật mà Bà-la-môn làm đều đem ra dạy đủ hết. Lúc ấy Phạm chí Vân
Lôi liền suy nghĩ như vầy: ‘Nay ta đã đủ hết những gì nên học.’ Song lại
tự nghĩ: ‘Sách vở [597c01]
có ghi, những Phạm chí có học, người hành pháp thuật xong, phải báo ơn
thầy. Nay những gì cần học ta đều biết hết. Nay ta phải báo đáp ân thầy.
Nhưng mình nghèo thiếu, trống không, không có gì để cúng dường thầy. Ta
hãy đi khắp nơi trong nước tìm những thứ cần.’
“Bấy giờ Phạm chí Vân-lôi liền đến chỗ thầy, bạch
thầy rằng: ‘Những phương pháp kỹ thuật mà Phạm chí học, nay đã biết rồi.
Nhưng trong sách lại ghi, những người học pháp thuật rồi phải báo ơn
thầy. Song lại nghèo thiếu, không có vàng bạc trân bảo có thể dùng cúng
dường, nay con muốn đi khắp nơi trong nước tìm kiếm tài vật dùng cúng
dường thầy.’
“Khi ấy, Bà-la-môn Da-nhã-đạt liền tự nghĩ: ‘Phạm
chí Vân Lôi nầy được ta yêu mến, không rời khỏi tâm, dù ta có chết còn
không thể xa lìa, huống chi hôm nay muốn bỏ ta đi. Nay ta phải làm sao
để giữ ở lại cho được?’
“Khi đó Phạm chí Da-nhã-đạt liền bảo Vân-lôi: ‘Anh
Phạm chí, nay vẫn có điều Bà-la-môn cần phải học mà anh còn chưa biết.’
Phạm chí Vân-lôi liền đến trước bạch thầy: ‘Cúi mong được chỉ dạy, những
gì chưa đọc tụng.’
“Khi đó Phạm chí Da-nhã-đạt liền suy nghĩ làm ra
bài tụng năm trăm từ, bảo Vân-lôi: ‘Nay có sách nầy gọi là tụng năm trăm
lời, anh nên học thuộc.’
“Vân-lôi bạch: ‘Mong thầy truyền thọ, con muốn
được đọc tụng.’
“Tỳ-kheo nên biết, bấy giờ Da-nhã-đạt liền truyền
cho đệ tử bài tụng năm trăm lời nầy. Qua chưa được mấy ngày, tất đều
thông suốt.
“Bấy giờ Bà-la-môn Da-nhã-đạt bảo năm trăm đệ tử:
‘Phạm chí Vân Lôi nầy, kỷ thuật đầy đủ, không việc gì không thông. Ta
đặt tên ngay là Siêu Thuật.’
“Phạm chí Siêu Thuật nầy rất là tài cao; thiên
văn, địa lý không gì không xuyên suốt; thư sớ, văn tự cũng đều biết rõ.
Phạm chí Siêu Thuật qua mấy ngày lại thưa với thầy: ‘Pháp kỷ thuật mà
Phạm chí đã học, nay con biết hết rồi. Song trong sách ghi lại, những
người học pháp thuật rồi phải báo ơn thầy. Nhưng con lại nghèo thiếu,
không có vàng bạc, trân bảo, có thể cúng dường thầy. Nay muốn đi khắp
nơi trong nước tìm kiếm tài vật để cúng dường thầy. Cúi mong thầy cho
phép’. Bấy giờ Phạm chí Da-nhã-đạt bảo: ‘Anh biết đúng thời.’
“Phạm chí Siêu Thuật đến trước lễ sát chân thầy
rồi liền lui [598a01]
đi.
“Bấy giờ, cách thị trấn của đại quốc Bát-ma không
xa, có nhiều Phạm chí tập hội lại một chỗ, đang thiết đại tế đàn và cũng
để giảng luận. Lúc đó, có tám vạn bốn ngàn Phạm chí cùng tụ tập. Vị
thượng tọa đệ nhất cũng đọc tụng thư sớ ngoại đạo, không gì không tinh
tường. Hiểu biết thiên văn địa lý, tinh tú biến quái tất đều biết rõ.
Mỗi người khi sắp giải tán, họ liền lấy năm trăm lượng vàng, một cây gậy
vàng, bồn tắm bằng vàng và một ngàn con bò dùng dâng lên vị thượng sư và
thượng toạ đệ nhất.
“Bấy giờ Phạm chí Siêu Thuật nghe cách nước lớn
Bát-ma không xa có tám vạn bốn ngàn Phạm chí đang tụ tập lại một chỗ. Họ
có thi nghệ thuật. Người thắng được năm trăm lượng vàng, một cây gậy
vàng, một bồn tắm bằng vàng và một ngàn con bò.
“Phạm chí Siêu Thuật tự nghĩ: ‘Nay ta sao phải đi
khất cầu từng nhà? Chẳng bằng đến đám đông kia cùng so tài nghệ.’
“Rồi Phạm chí Siêu Thuật liền đến chỗ đám đông.
Bấy giờ, nhiều Phạm chí từ xa trông thấy Phạm chí Siêu Thuật, mọi người
đều hô to: ‘Lành thay Từ chủ!
Nay được lợi lớn mới khiến Phạm Thiên đích thân giáng hạ.’
“Khi ấy tám vạn bốn ngàn Phạm chí đều đứng dậy
cùng nghinh đón, đồng loạt nói rằng: ‘Kính Đại Phạm Thần Thiên mới đến!’
“Phạm chí Siêu Thuật nghĩ thầm: ‘Các Phạm chí nầy,
gọi ta là Phạm Thiên, nhưng ta lại chẳng phải Phạm Thiên!’
“Rồi Phạm chí Siêu Thuật nói với các vị Bà-la-môn
rằng: ‘Thôi, Thôi, các Hiền giả, chớ gọi tôi là Phạm Thiên. Quí vị không
nghe sao? Phía Bắc Tuyết Sơn có thầy của chúng Phạm chí tên Da-nhã-đạt,
thiên văn địa lý không gì không tinh thông.’
“Các Phạm chí nói: ‘Chúng tôi có nghe, nhưng chưa
từng gặp.’
“Phạm chí Siêu Thuật nói: ‘Tôi chính là đệ tử của
vị ấy, tên là Siêu Thuật.’
“Lúc nầy Phạm chí Siêu Thuật liền quay sang vị
thượng tọa đệ nhất trong chúng ấy báo rằng: ‘Nếu ngài biết kỹ thuật xin
nói cho tôi nghe.’
“Bấy giờ, người đứng đầu trong chúng kia liền quay
sang Phạm chí Siêu Thuật tụng ba tạng kỷ thuật
không hề sai sót. Bà-la-môn Siêu Thuật nói với vị thượng tọa kia rằng:
‘Một câu năm trăm lời, ông hãy nói đi!’
“Lúc đó, vị Thượng tọa kia nói: ‘Tôi không hiểu
nghĩa nầy. Cái gì là một câu năm trăm lời?’
“Phạm chí Siêu Thuật bảo: ‘Quí vị, hãy yên lặng
nghe nói một câu năm trăm lời; nói về tướng [598b01]
của bực đại nhơn.’
“Tỳ-kheo, nên biết, bấy giờ Phạm chí Siêu Thuật
liền tụng thuật ba tạng và, một câu năm trăm lời, về tướng của bực đại
nhơn. Bấy giờ, tám vạn bốn ngàn Phạm chí khen, ‘Chưa từng có, thật là kỳ
đặc, từ trước chúng ta chưa nghe một câu năm trăm lời về tướng của bực
đại nhơn. Nay tôn giả nên đứng đầu làm thượng toạ đệ nhứt.’
“Bấy giờ Phạm chí Siêu Thuật thay chỗ thượng tọa
kia rồi, liền ngồi vào chỗ cao nhứt. Lúc đó, thượng tọa của chúng kia
trong lòng rất tức giận, phát thệ nguyện như vầy: ‘Nay người nầy thay
chỗ ngồi của ta, tự thế vào chỗ đó. Nay những phước mà ta có được nhờ
tụng kinh, trì giới, khổ hạnh, đều đem hết để vào lời thề: Những nơi nào
người nầy sanh ra, những việc gì muốn làm, ta luôn luôn phá hỏng công
việc của người đó.’
“Lúc đó người chủ cúng thí liền xuất năm trăm lạng
vàng và một cây gậy vàng, một bồn tắm bằng vàng, một ngàn con bò và một
cô gái đẹp đem đưa cho thượng tọa để chú nguyện.
“Bấy giờ thượng tọa bảo chủ nhơn rằng: ‘Nay tôi
nhận năm trăm lạng vàng, gậy vàng và bồn tắm bằng vàng nầy đem cúng
dường thầy tôi. Còn cô gái và một ngàn con bò nầy trả lại cho thí chủ.
Vì sao vậy? Vì tôi không tập hành dục, cũng không chứa của.’
“Bấy giờ Phạm chí Siêu Thuật nhận gậy và bồn tắm
rửa bằng vàng rồi liền đến nước lớn Bác-ma. Vua nước đó tên là Quang
Minh.
Lúc đó, nước này thỉnh Như lai Định Quang và chúng Tỳ-kheo cúng dường y
phục ẩm thực. Bấy giờ, vua nước này thông báo trong thành: ‘Người dân
nào có hương hoa hết thảy không được bán, nếu có ai bán sẽ phạt nặng. Ta
tự xuất tiền ra mua không cần đem bán.’ Lại ra lệnh nhân dân rưới nước
quét dọn làm cho sạch, không để có đất cát dơ bẩn, treo tràng phan bảo
cái lụa là, rưới hương thơm trên đất, xướng ca kỹ nhạc không thể tính
kể.
“Phạm chí kia thấy vậy, liền hỏi người đi đường
rằng: ‘Nay là ngày gì mà rưới nước quét dọn đường sá, dẹp bỏ bất tịnh,
treo tràng phan bảo cái lụa là, không thể tính kể, chẳng lẽ thái tử của
quốc chủ hay kết hôn chăng?’
“Người đi đường kia đáp: ‘Phạm chí không biết sao?
Hôm nay vua nước lớn Bát-ma thỉnh Định Quang Như lai, Chí chơn, Đẳng
chánh giác, cúng dường y phục đồ ăn thức uống, nên mới sửa sang đường xá
bằng phẳng, treo tràng phan bảo cái lụa là.’Vả lại, trong bí điển của
Phạm chí cũng có lời nầy: ‘Như lai xuất thế rất khó gặp được. Rất lâu
mới xuất hiện; thật khó có thể gặp được. Cũng như hoa ưu-đàm-bát thật
rất lâu mới xuất hiện. Đây cũng [598c01]
như vậy, Như lai xuất hiện ở đời thật không thể gặp được. Lại trong sách
Phạm chí cũng nói: ‘Có hai người ra đời rất khó gặp được. Hai người ấy
là ai? Như lai và Chuyển luân Thánh vương. Hai người nầy xuất hiện rất
khó gặp được.’
“Bấy giờ người kia lại nghĩ rằng: ‘Nay ta sao phải
cấp tốc báo ân thầy? Nay ta hãy đem năm trăm lạng vàng nầy dâng lên đức
Định Quang Như lai.’ Lại nghĩ như vầy: ‘Trong sách có ghi, Như lai không
nhận vàng bạc trân bảo, ta có thể đem năm trăm lạng vàng này, dùng mua
hoa hương rải lên Như lai.’ Lúc đó, Phạm chí liền vào trong thành tìm
mua hương hoa. Bấy giờ, người đi lại trong thành bảo rằng: ‘Phạm chí
không biết sao? Quốc vương có ra lệnh, ai bán hương hoa sẽ bị phạt
nặng.’
“Bấy giờ, Phạm chí Siêu Thuật kia liền nghĩ như
vầy: ‘Ta đây phước mỏng, tìm hoa không được. Nên biết làm sao?’ Liền trở
ra khỏi thành, đứng ở ngoài cổng. Bấy giờ có nữ Bà-la-môn tên là Thiện
Vị
cầm bình đi lấy nước, tay cầm năm cành hoa. Phạm chí thấy vậy, nói với
người nữ kia: Này cô em, tôi đang cần hoa. Cô em bán cho tôi.’
“Nữ Phạm chí hỏi: ‘Tôi làm em
ông hồi nào? Có biết cha mẹ tôi không?’Khi ấy, Phạm chí Siêu
Thuật lại nghĩ rằng cô gái nầy tánh hạnh phóng khoáng, có ý
đùa giỡn. Liền nói lại rằng: ‘Thưa cô, tôi sẽ trả giá phải
chăng. Xin cô nhường lại tôi hoa nầy.’
“Nữ Phạm chí đáp: ‘Há không nghe
Đại vương có nghiêm cấm không được bán hoa sao?’ Phạm chí nói: ‘Thưa
cô, việc nầy không khó. Vua không làm gì cô đâu.
Nay tôi cần gấp năm cành hoa nầy. Tôi được hoa nầy, cô được giá cao.’
“Nữ Phạm chí hỏi: ‘Ông cần gấp hoa
để làm gì?’
“Phạm chí đáp: ‘Hôm nay tôi thấy
có đất lành, nên muốn trồng hoa nầy.’
“Nữ Phạm chí nói: ‘Hoa nầy đã bị
lìa khỏi gốc nó, chắc chắn không thể sống. Làm sao lại nói, tôi muốn
trồng?’
“Phạm chí đáp: ‘Như hôm nay, tôi
thấy ruộng tốt, trồng tro nguội còn sống huống chi hoa nầy.’
“Nữ Phạm chí hỏi: ‘Ruộng tốt gì mà
trồng tro nguội cũng sống?’
“Phạm chí đáp: ‘Thưa cô, có đức
Phật Định Quang Như lai, Chí chân, Đẳng chánh giác xuất hiện ở đời.’
“Nữ Phạm chí hỏi: ‘Phật Định Quang
Như lai là hạng người nào?’
“Phạm chí liền trả lời cô kia:
‘Định Quang Như lai có đức như vậy, có [599a01]
giới như vậy; làm nên các công đức.’
“Nữ Phạm chí nói: ‘Giả sử vị ấy có
công đức; nhưng ông muốn cầu phước gì?’
“Phạm chí trả lời: ‘Mong tôi đời
sau như đức Định Quang Như lai, Chí chân, Đẳng chánh giác; công đức cấm
giới cũng sẽ như vậy.’
“Nữ Phạm chí nói: ‘Nếu ông hứa tôi
đời đời làm vợ chồng, tôi sẽ cho ông hoa nầy.’
“Phạm chí nói: ‘Sự tu hành của tôi
là ý không dính mắc dục.’
“Nữ Phạm chí nói: ‘Như thân tôi
hiện tại, không mong làm vợ ông. Nhưng đời sau sẽ làm vợ ông.’
“Phạm chí Siêu Thuật nói: ‘Sở hành
của Bồ tát làm không có yêu tiếc. Nếu như cô làm vợ tôi, đó là phá hoại
tâm tôi.’
“Nữ Phạm chí nói: ‘Tôi quyết không
phá hoại tâm ý bố thí của ông. Ngay dù ông đem thân tôi bố thí cho
người khác, tôi quyết không phá hoại tâm bố thí.’
“Bấy giờ, ông liền đem năm trăm
tiền vàng dùng mua năm cành hoa, cùng với người nữ kia lập thề
nguyện với nhau, rồi từ biệt đi.
“Bấy giờ, Định Quang Như lai, Chí
chân, Đẳng chánh giác, đến giờ, khoác y cầm bát cùng với Tỳ-kheo
Tăng vây quanh trước sau đi vào nước lớn Ba-ma. Phạm chí Siêu Thuật
từ xa thấy đức Định Quang Như lai dung mạo đoan chánh, ai thấy
cũng hoan hỷ; các căn tịch tịnh, bước đi tề chỉnh, có ba mươi hai
tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, giống như nước lắng trong không có
cợn nhơ, ánh sáng chiếu khắp không bị ngăn chận, cũng như núi
báu xuất hiện trên các núi. Thấy rồi, trong lòng rất hoan hỷ đối
với Như lai, cầm năm cành hoa nầy đến chỗ Định Quang Như lai. Đến
nơi rồi đứng qua một bên.
“Phạm chí Siêu Thuật bạch Phật
Định Quang rằng: ‘Mong Thế tôn, hãy nhận lấy và thọ ký cho con.
Nay nếu Thế tôn không thọ ký, con sẽ dứt mạng căn ngay tại đây, không
mong sống nữa.’
“Bấy giờ Thế tôn bảo rằng:
‘Phạm chí, không thể chỉ với năm cành hoa nầy mà được thọ ký Vô
thượng Đẳng chánh giác.’
“Phạm chí bạch: ‘Mong Thế tôn
thuyết cho con nghe sở hành của Bồ tát.’
“Đức Phật Định Quang bảo: ‘Sở hành
của Bồ tát là không tiếc lẩn.’
“Bấy giờ Phạm chí liền nói kệ:
Không dám đem cha mẹ
Mà bố thí cho người.
Chư Phật, bậc cao cả,
Lại càng không dám thí.
Nhựt nguyệt xoay thế gian,
Hai thứ không thể thí.
Ngoài ra thí được hết,
Ý quyết, không gì khó.
“Bấy giờ đức Phật Định Quang dùng
kệ này đáp Phạm chí:
Sự thí mà ông nói
Cũng chẳng phải lời Phật.
Nên nhẫn khổ ức kiếp;
Thí đầu, thân, tai, mắt,
Vợ con, nước, của báu,
Xe, ngựa và tôi tớ;
Nếu ông kham chịu thí
Nay Ta thọ ký cho.
“Bấy giờ Ma-nạp lại
nói kệ này:
Núi lớn hừng như lửa,
Ức kiếp chịu đội mang.
Không thể phá đạo tâm;
Chỉ mong giờ thọ ký.
“Bấy giờ,
Định Quang Như lai yên lặng không nói. Phạm chí kia tay cầm năm cành
hoa, gối phải chấm đất, rải lên đức Định Quang Như lai và nói như vầy:
‘Nguyện đem phước lành nầy dành đời sau sẽ được như Định Quang Như lai,
Chí chân, Đẳng chánh giác không có khác.’ Rồi ông trải tóc mình lên vũng
bùn, thầm nguyện: ‘Nếu Như lai truyền thọ ký cho tôi thì hãy dùng chân
dẫm lên tóc tôi mà đi qua.’
“Tỳ-kheo nên biết, bấy giờ, Định
Quang Như lai quán sát những suy nghĩ trong tâm Phạm chí, liền bảo Phạm
chí: ‘Tương lai ông sẽ làm Phật Thích- ca Văn Như lai, Chí chân, Đẳng
chánh giác.’
“Bấy giờ, Phạm chí Siêu Thuật có
người đồng học tên là Đàm-ma-lưu-chi đứng bên cạnh Như lai, thấy Định
Quang Như lai truyền thọ ký cho Phạm chí Siêu Thuật, lại dùng chân đạp
lên tóc. Thấy vậy, liền nói như vầy: ‘Sa-môn đầu trọc này sao dám dẫm
chân lên tóc của Phạm chí thanh tịnh này? Đây là hành vi của phi nhân.’
“Phật bảo các Tỳ-kheo: ‘Phạm chí
Da-nhã-đạt lúc đó, há là người nào khác chăng? Chớ có nghĩ như vậy. Bởi
vì Da-nhã-đạt lúc ấy nay chính là Bạch Tịnh Vương. Vị thượng tọa của tám
vạn bốn ngàn Phạm chí lúc đó, nay là Đề-bà-đạt-đâu. Phạm chí Siêu Thuật
lúc đó, nay chính là Ta. Nữ Phạm chí bán hoa lúc đó, nay chính là Cù-di.
Từ chủ lúc ấy, nay chính là Phạm chí Chấp Trượng.
Đàm-ma-lưu-chi lúc đó, miệng tuôn lời thô tục, nay chính là
Đàm-ma-lưu-chi hiện nay. Song Đàm-ma-lưu-chi trong vô số kiếp lại thường
làm súc sanh. Thọ thân sau cùng là thân cá dài bảy trăm do-tuần trong
đại dương. Từ đó mạng chung sanh đến chốn nầy, theo hầu thiện tri thức,
thường gần gũi thiện tri thức, tập các pháp lành, các căn thông lợi. Vì
nhân duyên này, nên [599c01]
Ta nói lâu đến chốn nầy.”
Đàm-ma-lưu-chi lại cũng tự trình
bày:
“Đúng vậy, bạch Thế tôn! Lâu rồi
con mới đến nơi nầy. Cho nên các Tỳ-kheo thường phải tu tập thân, khẩu,
ý nghiệp. Này
các Tỳ-kheo, hãy học điều nầy như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp
Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay ta sẽ thuyết về có người như
sư tử, có người như dê. Các ngươi hãy lắng nghe, suy nghĩ kỹ.”
Các Tỳ-kheo đáp:
“Kính vâng, Thế tôn!”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo vâng lời Phật
dạy. Thế tôn bảo:
“Người kia vì sao như sư tử? Ở
đây, này Tỳ-kheo, hoặc có người được cúng dường y phục, đồ ăn thức uống,
giường chiếu, ngọa cụ, thuốc men chữa bệnh. Người đó được rồi liền tự
dùng, không khởi tâm nhiễm trước, cũng không có dục ý, không khởi các
tưởng, hoàn toàn không có những niệm này, tự biết pháp xuất yếu. Cho dù
không được lợi dưỡng, không khởi loạn niệm, không tâm tăng giảm. Như sư
tử chúa ăn thịt thú nhỏ. Lúc đó, vua loài thú cũng không nghĩ: ‘Cái này
ngon, cái này không ngon;’ không khởi tâm đắm nhiễm, cũng không dục ý,
không khởi các tưởng. Người nầy cũng lại như vậy. Nếu được cúng dường y
phục, đồ ăn thức uống, giường chiếu, ngọa cụ, thuốc men chữa bệnh. Người
đó được rồi liền tự dùng, không khởi ý tưởng đắm trước, cho dù không
được cũng không có các niệm tưởng.
“Lại có người nhận người cúng
dường y phục, đồ ăn thức uống, gường chiếu, ngọa cụ, thuốc men chữa
bệnh, được rồi liền tự dùng, lại khởi tâm nhiễm trước, sinh tâm ái dục,
không biết đạo xuất yếu. Giả sử không được, thì thường sinh niệm tưởng
này. Nếu người đó được cúng dường, đối với các Tỳ-kheo, mà tự cống cao,
hủy báng người khác: ‘Những y phục, đồ ăn thức uống, giường chiếu, tọa
cụ, thuốc trị bệnh mà ta có, các Tỳ-kheo kheo này không thể có được
vậy.’ Cũng như trong đàn dê lớn, có một con dê rời đàn, thấy đống phân
lớn. Con dê này ăn phân no rồi, quay lại trong đàn dê, liền tự cống cao:
‘Ta có được ăn ngon, bầy dê nầy không thể ăn được.’ Ở đây cũng như vậy,
nếu có một người được lợi dưỡng, y phục, giường chiếu, ngọa cụ, thuốc
men chữa bệnh, khởi các loạn tưởng, sanh tâm nhiễm trước liền đối với
các Tỳ-kheo, mà tự cống cao: ‘Ta có được [600a01]
cúng dường, các Tỳ-kheo này không được cúng dường.’
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy học
như sư tử chúa, chớ như con dê. Các Tỳ-kheo, hãy học những điều nầy như
vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời
đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, đức Thế tôn dạy các Tỳ-kheo:
“Nếu có chúng sanh biết báo đáp, người nầy đáng
kính, ân nhỏ còn không quên huống chi ân lớn. Cho dù cách chốn này ngàn
do tuần, trăm ngàn do tuần mà không là xa, cũng như gần Ta không khác.
Vì sao vậy? Tỳ-kheo nên biết, vì ta thường khen ngợi người biết báo đáp.
“Có những chúng sanh không biết báo đáp, ân lớn
còn quên huống chi ân nhỏ. Kẻ đó chẳng gần Ta. Ta chẳng gần kẻ đó. Giả
sử khoác Tăng-già-lê hầu hạ bên Ta, kẻ nầy cũng như xa. Vì sao vậy? Ta
không bao giờ nói về người không báo đáp. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy
nhớ báo đáp, chớ học không báo đáp.
“Các Tỳ-kheo, hãy học tập điều nầy như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 6
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp
Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, đức Thế tôn dạy các
Tỳ-kheo:
“Nếu có người lười biếng, gieo
trồng hành vi bất thiện, có sự tổn hại trong các sự. Nếu có người siêng
năng không lười biếng, người nầy tối diệu, có tăng ích trong các thiện
pháp. Vì sao vậy? Bồ-tát Di-lặc trải qua ba mươi kiếp, mới thành Phật
chí chân, Đẳng chánh giác. Ta nhờ tâm dõng mãnh, sức tinh tấn, nên khiến
Di-lặc ở sau. Hằng sa các Như lai, Ứng cúng, Đẳng chánh giác,
thời quá khứ, đều do dõng mãnh mà được thành Phật. Do phương tiện nầy,
nên biết, lười biếng là khổ, tạo các hạnh ác, có tổn hại trong các sự.
Nếu có tâm dõng mãnh tinh tấn mạnh, có tăng ích trong các công đức
thiện. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy niệm tinh tấn, chớ có lười biếng.
“Các Tỳ-kheo, hãy học tập điều nầy
như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 7
Nghe như vầy:
Một thời
đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. [600b01]
Bấy giờ, đức Thế tôn dạy các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo A-luyện nên tu hành hai pháp. Hai pháp
gì? Đó là Chỉ và Quán.
“Nếu Tỳ-kheo A-luyện đắc tịch tĩnh, tịch diệt,
tĩnh chỉ, thì thành tựu giới luật, không mất oai nghi, không phạm cấm
hạnh, tạo các công đức.
“Nếu Tỳ-kheo A-luyện lại được Quán rồi, liền quán
và biết như thật rằng, đây là khổ; quán biết như thật rằng đây là khổ
tập, khổ diệt, khổ đạo xuất yếu. Người đó quán như vậy rồi, tâm được
giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, vô minh lậu,
bèn được trí giải thoát, biết như thật rằng, sanh tử đã hết, phạm hạnh
đã lập, việc làm đã xong, không còn tái sinh nữa.
“Chư Như lai Chí chơn, Chánh đẳng Chánh giác* thời
quá khứ, nhờ hai pháp này mà được thành tựu. Vì sao vậy? Như khi Bồ-tát
ngồi dưới bóng thọ vương, trước tiên tư duy pháp Chỉ và Quán nầy. Nếu
Bồ-tát ma-ha-tát đã đắc Chỉ rồi, bèn có thể hàng phục được các ma oán.
Nếu Bồ tát đạt được Quán rồi, ngay sau đó liền đạt được ba đạt trí,