21.
PHẨM TAM BẢO
KINH SỐ 1
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tự quy có ba đức. Những gì là ba? Đó là quy y
Phật là đức thứ nhất; quy y Pháp là đức thứ hai; [602a01]
quy y Tăng là đức thứ ba.
“Sao gọi là đức quy y Phật? Có những chúng sanh
hai chân, bốn chân, nhiều chân; hoặc có sắc, không sắc; hoặc có tưởng,
không tưởng; cho đến trên trời Nê-duy-tiên,
trong đó, Như lai là bậc tối tôn, tối thượng không ai có
thể sánh bằng. Như từ bò được sữa; từ sữa được lạc; từ lạc được tô, từ
tô được đề-hồ. Song ở trong đó đề-hồ lại tối tôn, tối thượng, không gì
có thể sánh bằng. Đây cũng như vậy, có những chúng sanh thuộc loài hai
chân, bốn chân, nhiều chân; hoặc có sắc, không sắc; hoặc có tưởng, không
tưởng; cho đến trên Nê-duy-tiên thiên, trong đó, Như lai là bậc tối tôn,
tối thượng, không ai có thể sánh bằng. Có những chúng sanh phụng thờ
Phật, đó gọi là phụng thờ đức thứ nhất. Đã được đức thứ nhất, liền hưởng
phước trời ngay trong loài người. Đây gọi là đức thứ nhất.
“Sao gọi là đức tự quy y Pháp? Các
pháp hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi, vô dục, vô nhiễm, diệt tận,
niết-bàn; trong các pháp đó, pháp niết-bàn là tối tôn, tối thượng, không
pháp nào có thể sánh bằng. Như từ bò được sữa; từ sữa được lạc; từ lạc
được tô; từ tô được đề-hồ. Song trong đó đề-hồ lại tối tôn, tối thượng,
không gì có thể sánh bằng. Đây cũng như vậy, các pháp hữu lậu, vô lậu,
hữu vi, vô vi, vô dục, vô nhiễm, diệt tận, niết-bàn. Song ở trong các
pháp đó, pháp niết-bàn là tối tôn tối thượng, không pháp nào có thể sánh
bằng. Chúng sanh nào phụng thờ pháp, đó gọi là phụng thờ đức thứ nhất.
Đã được đức thứ nhất, liền hưởng phước trời ở ngay trong loài người. Đây
gọi là đức thứ nhất.
“Sao gọi là đức tự quy y Thánh
chúng? Trong các đại chúng, đại tụ tập, trong các loại hữu hình, trong
các chúng sanh, trong các chúng ấy, Chúng Tăng của Như lai là tối tôn,
tối thượng, không chúng nào có thể sánh bằng. Như từ bò được sữa; từ sữa
được lạc; từ lạc được tô; từ tô được đề-hồ. Song trong đó đề-hồ lại tối
tôn, tối thượng, không gì có thể sánh bằng. Đây cũng như vậy, trong các
đại chúng, đại tụ tập, trong các loại hữu hình, trong các chúng sanh
trong các chúng ấy, Chúng Tăng của Như lai là tối tôn, tối thượng, không
chúng nào có thể sánh bằng. Đó gọi là phụng thờ đức thứ nhất. Đã được
đức thứ nhất, liền hưởng phước trời trong loài người. Đây gọi là đức thứ
nhất.
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ này:
[602b01]Thứ
nhất tôn thờ Phật,
Tối tôn không gì hơn.
Kế lại tôn thờ Pháp
Vô dục, không dính trước.
Kính phụng Chúng Hiền Thánh,
Là ruộng phước tốt nhất.
Người đó trí bậc nhất,
Thọ phước ở trước hết.
Nếu ở trong trời người,
Thủ lãnh trong các chúng.
Ngồi trên chỗ vi diệu;
Tự nhiên thọ cam lồ;
Thân mặc y bảy báu;
Được người đời tôn kính.
Giới thành tựu bậc nhất;
Các căn không khuyết mất;
Cũng được biển trí huệ;
Dần đến niết-bàn giới.
Ai có ba quy nầy
Đến đạo cũng không khó.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ
phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có ba phước nghiệp nầy.
Sao gọi là ba? Thí là phước nghiệp, bình đẳng là phước nghiệp, tư duy là
phước nghiệp.
“Sao gọi thí là phước nghiệp? Nếu có một người mở
lòng bố thí Sa-môn Bà-la-môn, người bần cùng, người cô độc, người lang
thang; ai cần thức ăn cho thức ăn, cần nước uống cho nước uống, quần áo,
đồ ăn thức uống, gường chiếu, ngọa cụ, thuốc trị bệnh, hương hoa, ngủ
nghỉ, tùy theo nhu cầu không gì luyến tiếc. Đây gọi là nghiệp phước bố
thí.
“Sao gọi là bình đẳng là phước nghiệp? Nếu có một
người không sát sanh, không trộm cắp, thường biết tàm quý,
không nảy tưởng ác. Cũng không
trộm cắp, ưa ban thí cho người, không có tâm tham lam keo kiết, lời nói
hòa nhã không tổn thương lòng người. Cũng không gian dâm vợ người, tự tu
phạm hạnh, tự đủ với sắc mình. Cũng không vọng ngữ, thường nghĩ chí
thành, không lời dối trá, được người đời tôn kính, không có thêm bớt.
Cũng không uống rượu, luôn biết tránh xa loạn động.
“Lại rải tâm từ trải khắp một
phương, hai phương, ba phương, bốn phương cũng như vậy; tám phương trên
dưới, trải khắp trong đó, vô lượng, vô hạn, không thể cùng, không thể
tính kể; rải tâm từ này phủ khắp tất cả, mong cho được an ổn.
“Lại rải tâm bi, hỷ, xả
trải khắp một phương, hai phương, ba phương, bốn phương cũng như vậy;
tám phương trên dưới, tất khắp trong đó, vô lượng, vô hạn, [0602c01]
không thể tính kể; rải tâm bi, hỷ, xả nầy tất khắp trong đó. Đó gọi là
bình đẳng là phước nghiệp.
“Sao gọi tư duy là phước nghiệp? Ở
đây, Tỳ-kheo tu hành niệm giác ý, y vô dục, y vô quán, y diệt tận, y
xuất yếu; tu trạch pháp giác ý, tu niệm giác ý, tu ỷ giác ý, tu định
giác ý, tu xả* giác ý; y vô dục, y vô quán, y diệt tận, y xuất yếu.
Đó gọi tư duy là phước nghiệp. Như vậy Tỳ-kheo, có ba phước nghiệp
này.”
Bấy giờ Thế tôn liền nói kệ rằng:
Bố thí và bình đẳng
Từ tâm, xả*, tư duy
Có ba xứ sở
nầy
Được người trí gần gũi.
Đời nầy thọ báo kia,
Trên trời cũng như vậy.
Duyên có ba xứ này
Sanh thiên ắt không nghi.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm
phương tiện cầu ba xứ* nầy. Các Tỳ-kheo, hãy học tập điều nầy như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 3
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có ba nhân duyên thức đến thọ thai.
Những gì là ba? Ở đây, Tỳ-kheo, mẹ có dục ý, cha
mẹ hội hợp ở một chỗ và cùng ngủ chung, nhưng thức bên ngoài chưa đến
kịp lúc thì chẳng thành thai. Nếu thức muốn đến,
nhưng cha mẹ không hội hợp một chỗ, chẳng thành
thai. Nếu người mẹ không dục, dù cha mẹ hội hợp
một chỗ, nhưng lúc đó dục ý của
cha thạnh mà mẹ thật không
ân cần, chẳng thành thai. Nếu cha mẹ cung
hợp một chỗ, dục ý của mẹ thạnh
mà cha thật không ân cần, chẳng
thành thai. Nếu cha mẹ cùng hợp một chỗ,
cha mắc bệnh phong, mẹ mắc bệnh lãnh, chẳng thành thai. Nếu khi
cha mẹ cùng hợp một chỗ, mẹ bị bệnh phong, cha bị bệnh lãnh, chẳng
thành thai. Nếu có khi cha mẹ hợp một chỗ, nhưng chỉ riêng thân cha thủy
khí nhiều, mẹ không có chứng này, chẳng thành thai. Nếu khi cha mẹ
cùng hợp một chỗ, tướng cha có con, tướng mẹ không con, chẳng
thành thai. Nếu khi cha mẹ [603a01]
cùng hợp một chỗ, tướng mẹ có con, tướng cha không con, chẳng
thành thai. Nếu khi tướng cha mẹ đều không con, chẳng thành thai.
Nếu có khi thần thức đến thai, mà cha đi vắng, chẳng thành thai.
Nếu khi cha mẹ đáng hợp một chỗ, nhưng mẹ đi xa, không có mặt, không
có thai. Nếu có lúc cha mẹ đáng hợp một chỗ, nhưng người cha gặp bệnh
nặng, khi thần thức đến, chẳng thành thai. Nếu cha mẹ đáng hợp
một chỗ, thần thức có đến, song người mẹ mắc bệnh nặng, chẳng
thành thai.Nếu có lúc cha mẹ nên hợp một chỗ, thần thức đến,
nhưng cha mẹ đều mắc bệnh, chẳng thành thai.
“ Lại nữa, Tỳ-kheo, nếu cha mẹ
hợp ở một chỗ, cha mẹ không chứng tật gì, thần thức đến, tướng
cha mẹ đều có con, đây thành thai. Đó gọi là có ba nhân duyên
thức đến thọ thai. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm phương tiện
đoạn dứt ba nhân duyên.
“Này các Tỳ kheo, hãy học tập
điều nầy như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp
Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thê tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu có chúng sanh muốn khởi từ
tâm, có ý chí tín,
vâng phục phụng sự cha mẹ, anh em, tông tộc, gia thất,
bè bạn tri thức, nên an lập những người
này trên ba xứ khiến không di động.
Những gì là ba? Khiến họ phát tâm hoan hỷ đối với Như lai,
tâm không di động rằng: ‘Ngài là Như lai, Chí chân, Đẳng chánh giác,
Minh hạnh túc,
Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự,
Thiên nhơn sư, hiệu Phật Thế tôn.’ Lại khiến họ phát tâm hoan hỷ nơi
Chánh pháp
rằng: ‘Pháp được Như lai khéo nói, vô ngại, cực kỳ vi diệu, do đây mà
thành quả; pháp như vậy được học và biết bởi người trí.’ Cũng khiến họ
phát tâm hoan hỷ nơi Thánh chúng này
rằng: ‘Thánh Chúng của Như lai tất cả đều hòa hợp, không có lẫn lộn,
thành tựu pháp, thành tựu giới, thành tựu tam-muội, thành tựu trí huệ,
thành tựu giải thoát, thành tựu giải thoát kiến huệ. Thánh chúng ấy gồm
có bốn đôi tám hạng, mười hai Hiền Thánh. Đây là Thánh Chúng của Như
lai, đáng kính, đáng quí. Đây là ruộng phước vô lượng thế gian.’ Các
Tỳ-kheo nào học ba xứ nầy sẽ thành tựu quả báo lớn.
“Này các Tỳ-kheo, hãy học tập điều
nầy như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết pháp, [603b01]
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Tỳ-kheo Cù-ba-li
đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên. Lúc đó vị
Tỳ-kheo kia bạch Phật:
“Những việc mà Tỳ-kheo Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên
này làm, thật là xấu xa, làm các ác hành.”
Thế tôn bảo rằng:
“Chớ nói những lời như vậy. Ông hãy phát tâm hoan
hỷ đối Như lai. Những việc mà Tỳ-kheo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên làm
đều là thuần thiện, không có việc nào xấu ác.”
Khi đó, Tỳ-kheo Cù-ba-li hai ba lần bạch Thế tôn:
“Những điều đức Như lai nói thật không hư vọng.
song những việc Tỳ-kheo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên làm đều thật xấu
ác, không có gốc rễ thiện.”
Đức Thế tôn bảo:
“Này kẻ ngu si kia, ngươi há không tin những gì
Như lai đã nói sao? Vì vậy mà ngươi nói những việc Tỳ-kheo Xá-lợi-phất,
Mục-kiền-liên làm đều rất xấu ác. Nay ông tạo hành vi xấu ác này, sau
không lâu sẽ nhận quả báo.”
Bấy giờ, Tỳ-kheo kia ngay trên chỗ ngồi, thân mọc
nhọt độc lớn bằng hạt cải, chuyển như hạt đậu lớn, dần dần bằng trái
a-ma-lặc, gần bằng hồ đào, rồi bằng nắm tay, máu mủ tuôn ra, thân hoại
mạng chung, sanh trong địa ngục Hoa sen.
Lúc đó, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nghe Cù-ba-li
mạng chung, liền đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên.
Một lát sau, rời khỏi chỗ ngồi, bạch Thế tôn:
“Tỳ-kheo Cù-ba-li bị sinh nơi nào?”
Thế tôn bảo:
“Người đó mạng chung, sinh trong địa ngục Hoa
sen.”
Mục-liên bạch đức Thế tôn:
“Nay con muốn đi đến địa ngục kia giáo hóa người
này.”
Thế tôn bảo:
“Mục-liên, không cần đến đó.”
Mục-liên lập lại bạch Thế tôn lần nữa:
“Con muốn đến địa ngục kia giáo hóa người đó.”
Bấy giờ, Thế tôn cũng im lặng không đáp. Khi đó,
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, trong khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi cánh
tay, từ Xá-vệ biến mất, hiện đến trong địa ngục lớn Hoa sen. Ngay lúc
đó, Tỳ-kheo Cù-ba-li thân thể bị lửa đốt, lại có hàng trăm con trâu cày
trên lưỡi ông.
Bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đang ngồi kiết
già ở giữa không trung, búng ngón tay gọi Tỳ-kheo kia. Tỳ-kheo kia liền
ngửa mặt hỏi:
“Ông là người nào?”
Mục-kiền-liên đáp:
“Cù-ba-li, ta là đệ tử của đức Phật Thích-ca Văn,
tên Mục-kiền-liên, họ Câu-lị-đà.”
Khi Tỳ-kheo thấy [603c01]
Mục-liên, liền buông lời hung dữ như vầy: “Nay ta đọa ác thú nầy, còn
không tránh khỏi ông ở trước mặt sao?” Nói như vậy rồi, ngay lúc đó có
ngàn con trâu cày lên lưỡi ông. Mục-liên thấy vậy càng thêm sầu não,
trong lòng hối tiếc, biến mất ở nơi đó, trở về Xá-vệ, đi đến chỗ Thế
tôn, đảnh lễ sát chân, rồi đứng qua một bên. Bấy giờ, Mục-liên đem nhân
đem nhân duyên nầy bạch đầy đủ lên Thế tôn.
Thế tôn bảo:
“Trước Ta đã nói với ông, không cần đến đó gặp
người ác nầy.”
Bấy giờ Thế tôn nói kệ thế nầy:
Phàm người sinh ra,
Búa ở trong miệng.
Sở dĩ chém thân,
Do lời ác kia.
Người dứt ta dứt,
Cả hai đều thiện.
Đã tạo hành ác,
Tất đọa đường ác.
Đó là cực ác,
Có hết, không hết.
Ác đối Như lai,
Tội nầy rất nặng.
Một vạn ba ngàn
Sáu mốt ngục Tro;
Chê Thánh rơi vào,
Do thân khẩu tạo.
Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nên học ba pháp, thành tựu hạnh mình. Thế nào là
ba? Thân làm thiện, miệng nói thiện, và ý nghĩ thiện.
“Các Tỳ-kheo, hãy học tập những điều nầy như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ
phụng hành.
KINH SỐ 6
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu có Tỳ-kheo nào thành tựu ba pháp, ở trong
hiện pháp khéo được khoái lạc, dõng mãnh tinh tấn hữu lậu dứt sạch.
Thế nào là ba? Ở đây, Tỳ-kheo, các căn tịch tịnh,
ăn uống biết tiết độ, không bỏ kinh hành.
“Tỳ-kheo, thế nào các căn tịch tịnh? Ở đây,
Tỳ-kheo khi mắt thấy sắc, không khởi tưởng đắm, không có thức niệm,
được sự thanh tịnh ở nơi nhãn căn; vì để giải thoát khỏi những cái ấy
nên luôn thủ hộ nhãn căn. Khi tai nghe tiếng, mũi ngưởi hương, lưỡi biết
vị, thân biết mịn láng, ý biết pháp, không khởi tưởng đắm, không có thức
niệm, được sự thanh tịnh ở nơi nhãn căn; vì để giải thoát khỏi những cái
ấy nên luôn thủ hộ ý căn. Như vậy là Tỳ-kheo có các căn tịch tịnh.
“Sao gọi là Tỳ-kheo ăn uống biết tiết độ? Ở đây,
Tỳ-kheo suy xét những đồ ăn thức uống từ đâu mà đến; ăn không vì để mập
trắng, mà chỉ muốn duy trì [604a01]
thân hình, tứ đại được nguyên vẹn: ‘Nay tôi phải trừ cảm thọ cũ,
khiến cảm thọ* mới không sanh, để thân đủ sức, được tu hành đạo, khiến
cho phạm hạnh không dứt.’ Cũng như thân nam, nữ nổi lên nhọt độc, phải
dùng cao mỡ bôi nhọt. Sở dĩ bôi nhọt là muốn chóng khỏi. Đây cũng như
vậy, các Tỳ-kheo, ăn uống biết tiết độ. Ở đây, Tỳ-kheo suy xét đồ ăn
thức uống từ đâu mà đến; ăn không vì để mập trắng, mà chỉ muốn duy trì
thân hình, tứ đại được nguyên vẹn: ‘Nay tôi phải trừ cảm thọ* cũ, khiến
cảm thọ* mới không sanh, để thân đủ sức, được tu hành đạo, khiến cho
phạm hạnh không dứt.’Cũng như xe cộ chở nặng, sở dĩ bôi mỡ trục là muốn
đem vật nặng đến nơi. Tỳ-kheo cũng lại như vậy, ăn uống biết tiết độ,
suy xét những đồ ăn thức uống từ đâu đến, ăn không vì để mập trắng, mà
chỉ muốn duy trì thân hình, tứ đại được nguyên vẹn: ‘Nay tôi phải trừ
cảm thọ* cũ, khiến cảm thọ* mới không sanh, để thân đủ sức, được tu hành
đạo, khiến cho phạm hạnh không dứt.’ Tỳ-kheo ăn uống biết tiết độ là như
vậy.
“Sao gọi là Tỳ-kheo không bỏ kinh hành? Ở đây,
Tỳ-kheo, đầu hôm cuối hôm luôn nhớ kinh hành không sai thời khóa, thường
niệm tưởng buộc ý vào trong đạo phẩm. Nếu là ban ngày, hoặc đi hoặc
ngồi, tư duy diệu pháp, trừ khử ấm cái.
Rồi lúc đầu hôm, hoặc đi hoặc ngồi, tư duy diệu pháp, trừ khử ấm cái.
Rồi vào giữa đêm nằm nghiêng bên phải, tư duy buộc ý vào nơi ánh sáng.
Rồi đến cuối hôm thức dậy, hoặc đi, hoặc tư duy diệu pháp, trừ khử ấm
cái. Như vậy là Tỳ-kheo không bỏ kinh hành.
“Nếu có Tỳ-kheo nào mà các căn tịch tịnh, ăn uống
biết tiết độ, không bỏ kinh hành, thường niệm buộc ý vào trong đạo phẩm,
Tỳ-kheo này liền thành nhị quả, ở trong hiện pháp đắc A-na-hàm. Cũng như
người đánh xe giỏi, ở trên đường bằng thẳng, đánh xe tứ mã không bị
ngưng trệ, muốn đến nơi nào, chắc chắn được không nghi ngờ. Tỳ-kheo nầy
cũng lại như vậy, các căn tịch tịnh, ăn uống biết tiết độ, không bỏ kinh
hành, thường niệm buộc ý ở trong đạo phẩm, Tỳ-kheo nầy liền thành nhị
quả, ở trong hiện pháp dứt sạch các lậu, đắc A-na-hàm.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ
phụng hành.
KINH SỐ 7
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thê tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có ba bệnh lớn. Những gì là [604b01]
ba? Phong là bệnh lớn; đàm là bệnh lớn; lãnh là bệnh lớn. Các Tỳ-kheo,
đó gọi là ba bệnh lớn. Lại có ba thứ thuốc hay. Những gì là ba? Nếu bệnh
phong, tô
là thuốc hay, và tô dùng làm thức ăn. Nếu bệnh đờm, mật làm thuốc hay,
và mật dùng làm thức ăn. Nếu bệnh lãnh, dầu
là thuốc hay, và dầu dùng làm thức ăn. Tỳ-kheo, đó gọi là ba loại bệnh
lớn này, có ba thứ thuốc này.
“Cũng vậy, Tỳ-kheo cũng có ba loại bệnh lớn. Những
gì là ba? Đó là tham dục, sân nhuế, ngu si. Tỳ-kheo, đó gọi là có ba
loại bệnh lớn này. Song, ba loại bệnh lớn nầy, lại có ba thứ thuốc hay.
Những gì là ba? Nếu lúc tham dục khởi, thường trị bằng bất tịnh, và tư
duy bất tịnh đạo. Nếu bệnh lớn là sân nhuế, thường trị bằng từ tâm, và
tư duy từ tâm đạo. Nếu bệnh lớn là ngu si, thường trị bằng trí huệ, và
duyên khởi đạo. Này Tỳ-kheo, đó gọi là ba loại bệnh lớn này, có ba thứ
thuốc này. Cho nên Tỳ-kheo phải cầu phương tiện tìm ba loại thuốc nầy.
“Này các Tỳ-kheo, hãy học tập điều nầy như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ
phụng hành.
KINH SỐ 8
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thê tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có ba hành vi ác. Những gì là ba? Đó là thân làm
ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Tỳ-kheo, đó gọi là có ba hành vi ác nầy,
phải tìm cầu phương tiện tu ba hành vi thiện. Những gì là ba? Nếu thân
làm ác, phải tu hành vi thiện nơi thân. Miệng nói ác, phải tu hành vi
thiện nơi miệng. Ý nghĩ ác, phải tu hành vi thiện nơi ý.”
Bấy giờ Thế tôn liền nói kệ này:
Giữ thân không hành ác;
Tu tập thân thiện hành.
Niệm xả thân ác hành;
Hãy học thân thiện hành.
Giữ miệng không hành ác;
Tu tập miệng hành thiện.
Niệm xả miệng nói ác
Hãy học miệng nói thiện.
Giữ ý không hành ác;
Tu tập ý nghĩ thiện.
Niệm xả ý hành ác;
Hãy học ý nghĩ thiện.
Lành thay, thân hành thiện!
Khẩu hành cũng như vậy
[604c01]Lành
thay ý hành thiện!
Tất cả cũng như vậy.
Giữ khẩu ý thanh tịnh,
Thân không hành vi ác.