增壹阿含經
TĂNG NHẤT A-HÀM
T2n125
Hán dịch:
Tam tạng Cù-đàm Tăng-già-đề-bà, người Kế Tân, thời Đông Tấn
Việt dịch:
Thích Đức Thắng
Hiệu chú: Tuệ Sỹ
[
MỤC LỤC
]
22. PHẨM
BA CÚNG DƯỜNG
KINH SỐ 1
[607a01]
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có ba người, xứng đáng được người đời cúng dường. Ba
người ấy là ai? Như lai Chí chơn Đẳng chánh giác, xứng đáng được người đời
cúng dường. Đệ tử của đức Như lai, A-la-hán lậu tận, xứng đáng được người
đời cúng dường. Chuyển Luân Thánh Vương, xứng đáng được người đời cúng
dường.
“Có nhân duyên gì mà Như lai xứng đáng được người đời
cúng dường? Như lai điều phục những ai chưa được điều phục, hàng phục những
ai chưa được hàng phục, độ những ai chưa được độ, giải thoát những ai chưa
được giải thoát, khiến thành Niết-bàn những ai chưa bát-niết-bàn, cứu hộ
những ai chưa được cứu hộ, làm con mắt cho những ai mù mắt. Như lai là tối
tôn đệ nhất, là ruộng phước tối tôn, đáng kính, đáng quý giữa Ma, hoặc Ma
thiên, trời và người, làm đạo sư hướng dẫn loài người biết con đường chánh,
thuyết đạo giáo cho những ai chưa biết đạo. Do nhân duyên này, Như lai là
xứng đáng được người đời cúng dường.
“Có nhân duyên gì mà đệ tử của Như lai, A-la-hán lậu
tận, xứng đáng được người đời cúng dường? Tỳ-kheo nên biết, A-la-hán lậu tận
đã vượt qua được dòng sanh tử, không còn tái sinh, đã đắc pháp vô thượng;
dâm, nộ, si vĩnh viễn diệt tận không còn, là ruộng phước của đời. Do nhân
duyên này, A-la-hán lậu tận xứng đáng được người đời cúng dường.
“Lại nữa, do nhân duyên gì mà Chuyển Luân Thánh Vương
xứng đáng được người đời cúng dường? Các Tỳ-kheo nên biết, Chuyển Luân Thánh
Vương dùng pháp để trị hóa, trọn không sát sanh, lại dạy dỗ người khiến
không sát sanh; tự mình không trộm cắp và cũng dạy người khác không trộm
cắp; tự mình không dâm dật và dạy người khác không dâm dật; tự mình không
nói vọng ngữ và dạy người khác không vọng ngữ; tự mình không nói hai lưỡi
đấu loạn kia-đây, lại cũng dạy người khác khiến không nói hai lưỡi; tự mình
không ganh ghét, sân, si, lại dạy người khác cũng không tập pháp này; tự
hành theo chánh kiến và dạy người khác không hành theo tà kiến. Do nhân
duyên này, Chuyển Luân Thánh Vương xứng đáng được người đời cúng dường.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ
phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ đức Thế tôn bảo A-nan:
“Có ba thiện căn không thể cùng [607b01]
tận, đưa dần đến Niết-bàn giới. Những gì là ba? Gieo trồng công đức ở nơi
Như lai, thiện căn này không thể cùng tận. Gieo trồng công đức ở nơi Chánh
pháp, thiện căn này không thể cùng tận. Gieo trồng công đức ở nơi Thánh
chúng, thiện căn nầy không thể cùng tận. Này A-nan, đó gọi là có ba thiện
căn không cùng tận này, đưa đến Niết-bàn giới. Cho nên A-nan, hãy tìm cầu
phương tiện để đạt được phước không thể cùng tận này.
“A-nan, hãy học tập điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ
phụng hành.
KINH SỐ 3
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có ba thọ* này. Những gì là ba? Đó là cảm thọ lạc,
cảm thọ khổ, cảm thọ không khổ không lạc.
“Này các Tỳ-kheo, nên biết, cảm thọ lạc kia là sứ giả
của ái dục. Cảm thọ khổ kia là sứ giả của sân nhuế sai khiến. Cảm thọ không
khổ không lạc kia là sứ giả của si. Cho nên, này Tỳ-kheo, hãy học phương
tiện tìm cầu diệt các sứ giả này. Vì vậy, các ngươi hãy tự nhiệt hành, tự tu
hành pháp cần phải tu hành, đắc pháp vô tỷ. Các Tỳ-kheo nên biết, sau khi Ta
diệt độ, nếu có Tỳ-kheo nào tự niệm nhiệt hành tu hành pháp này, đắc pháp vô
tỷ, người ấy chính là đệ nhất Thanh văn.
“Thế nào, Tỳ-kheo, hãy tự nhiệt hành, tự tu hành pháp
cần phải tu hành, đắc pháp vô tỷ. Ở đây, Tỳ-kheo bên trong tự quán thân nơi
thân, ngoài tự quán thân nơi thân, trong ngoài tự quán thân mà tự vui thú*;
trong quán thọ ngoài quán thọ, trong ngoài quán thọ; trong quán ý ngoài quán
ý, trong ngoài quán ý; trong quán pháp, ngoài quán pháp, trong ngoài quán
pháp tự vui thú*.
“Như vậy Tỳ-kheo, hãy tự nỗ lực tu hành pháp ấy, đắc
pháp vô tỷ. Những Tỳ-kheo nào thực hành pháp nầy, người ấy là đệ tử bậc nhất
ở trong hàng Thanh văn.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ
phụng hành.
KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ đức Thế tôn bảo Tỳ-kheo:
“Có ba sự, che khuất thì tốt, hiển lộ thì không tốt.
Những gì là ba? Một là nữ nhơn, che khuất thì tốt, hiển lộ thì không
tốt. Hai là chú thuật Ba-la-môn, che khuất thì tốt, hiển lộ thì không tốt.
Ba là nghiệp của tà kiến, [607c01]
che khuất thì tốt, hiển lộ thì không tốt. Tỳ-kheo, đó gọi là có ba sự này,
che khuất thì tốt, hiển lộ thì không tốt.
“Lại có ba sự mà hiển lộ thì tốt, che khuất thì không
tốt.
Những gì là ba? Mặt trời, mặt trăng, hiển lộ thì tốt, che khuất thì
không tốt. Pháp ngữ của Như lai, hiển lộ thì tốt, che khuất thì không tốt.
Tỳ-kheo, đó gọi là có ba sự này mà hiển lộ thì tốt, che khuất thì không
tốt.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ này:
Nữ nhơn cùng chú thuật,
Tà kiến hành bất thiện:
Đây ba pháp ở đời
Che dấu thì rất tốt.
Nhật, nguyệt chiếu khắp nơi;
Lời chánh pháp Như lai:
Đây ba pháp ở đời
Hiện bày là đẹp nhất.
“Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy hiển bày pháp Như lai, chớ
để che khuất.
“Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ
phụng hành.
KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có ba tướng hữu vi của hữu vi. Những là ba? Biết nó
sinh khởi; biết nó biến thiên; biết nó diệt tận.
“Sao gọi đó là biết nó sinh khởi? Biết nó sanh, nó
lớn, thành hính năm ấm, đến đến các giới và xứ.
Đó gọi là biết nó sinh khởi.
“Sao gọi là nó diệt tận? Nó chết, mạng đã qua, không
tồn tại, vô thường, các ấm tan hoại, dòng họ chia lìa, mạng căn cắt dứt. Đó
gọi là biết diệt tận. ‘Sao gọi là nó biến dịch? Răng rụng, tóc bạc, khí lực
hao mòn, tuổi cao sức yếu, thân thể rã rời. Đó gọi là biệt pháp biết pháp
biến dịch’.
“Tỳ-kheo, đó là ba tướng hữu vi của hữu vi. Nên biết
ba tướng hữu vi của hữu vi nầy. Hãy khéo phân biệt.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ
phụng hành.
KINH SỐ 6
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Người ngu có ba tướng, ba pháp không thể trông cậy.
Ba pháp gì? Ở đây, điều mà người ngu không nên tư duy mà cứ tư duy; điều
không nên luận nói mà cứ luận thuyết; điều không nên hành mà cứ tu tập.
“Thế nào là người ngu tư niệm điều không nên tư duy? Ở
đây, người ngu khởi ba hành của ý, rồi tư duy, ức niệm. Những gì là ba? [608a01]
Ở đây, người ngu khởi tâm ganh tị tài sản và nữ sắc nơi người khác, tâm nghĩ
lời ác làm trổi dậy tâm ganh ghét, rằng ‘Mong những cái mà người ấy thuộc về
ta.’ Như vậy người ngu tư duy điều không nên tư duy.
“Thế nào là người ngu luận thuyết điều không nên luận
thuyết? Ở đây, người ngu gây bốn tội lỗi nơi miệng. Những gì là bốn? Ở đây,
người ngu thường thích vọng ngôn, ỷ ngữ, ác khẩu, gây đấu loạn giữa người
này người kia. Người ngu bốn tội lỗi nơi miệng như vậy.
“Thế là người ngu tạo các hành vi ác? Ở đây, người ngu
tạo hành vi ác bởi thân, thường nghĩ đến sát sanh, trộm cắp, dâm dật. Người
ngu tạo các ác hành như vậy.
“Như vậy, Tỳ-kheo, người ngu có ba hành tích nầy,
người ngu si tập hành ba sự nầy.
“Lại nữa, Tỳ-kheo, người trí có ba sự cần được niệm
tưởng tu hành. Những gì là ba? Ở đây, người trí tư duy điều đáng tư duy;
luận thuyết điều đáng luận thuyết; hành thiện điều đáng tu hành thiện.
“Thế nào là người trí tư duy điều đáng tư duy? Ở đây,
người trí tư duy ba hành vi của ý. Những gì là ba? Ở đây, người trí không
ganh ghét, oán giận, si mê; thường hành chánh kiến, thấy tài sản của người
khác không sanh tưởng niệm. Như vậy, người trí tư duy điều đáng tư duy.
“Thế nào là người trí luận thuyết điều đáng luận
thuyết? Ở đây, người trí thành tựu bốn hành vi bởi miệng. Những gì là bốn? Ở
đây, người trí không nói dối, cũng không dạy người khác nói dối, thấy người
nói dối, ý không hoan hỷ. Đó gọi là người trí giữ gìn miệng mình. Lại nữa,
người trí không nói thêu dệt, ác khẩu, tranh loạn kia đây, cũng không dạy
người khiến nói thêu dệt, ác khẩu, gây đấu loạn giữa người này người kia.
Như vậy, người trí thành tựu bốn hành vi bởi miệng.
“Thế nào là người trí thành tựu ba hành vi của thân? Ở
đây, người trí tư duy thân hành không có điều gì xúc phạm; song người trí
lại tự mình không sát sanh, cũng không dạy người sát sanh, thấy người khác
giết hại, tâm không hoan hỷ; tự mình không trộm cắp, không dạy người trộm
cắp, thấy người khác trộm cắp tâm không hoan hỷ; cũng không dâm dật, thấy nữ
sắc của kẻ khác tâm không khởi tưởng, cũng không dạy người khiến hành dâm
dật. Nếu thấy người già thì xem như mẹ, người vừa như chị, người nhỏ như em,
ý không cao thấp. Người trí đã thành tựu ba hành của thân như vậy.
“Đó gọi là những hành tích của người trí.
“Như vậy, này Tỳ-kheo, có ba tướng hữu vi này của hữu
vi. [608b01]
Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy thường xả ly ba tướng của người ngu. Chớ nên
phế bỏ ba điều sở hành của người trí.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ
phụng hành.
KINH SỐ 7
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có ba pháp nầy, vì không được giác tri, không được
thấy, không được nghe, nên trải qua sinh tử mà chưa từng nhìn ngắm; Ta và
các ngươi trước đây chưa từng thấy nghe. Những gì là ba? Đó là giới Hiền
thánh, không thể giác tri, không thấy, không nghe, nên trải qua sinh tử mà
chưa từng nhìn ngắm; Ta và các ngươi trước đây chưa từng thấy nghe. Tam muội
Hiền thánh, trí huệ Hiền Thánh, không thể giác tri, không thấy, không nghe.
Nay, như thân Ta, cùng với các ngươi, thảy đều giác tri cấm giới Hiền thánh,
tam muội Hiền thánh, trí huệ Hiền thánh, thảy đều thành tựu, nên không còn
tái sinh nữa, đã đoạn nguồn gốc sanh tử. Như vậy, các Tỳ-kheo, hãy niệm
tưởng tu hành ba pháp này.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều nầy như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ
phụng hành.
KINH SỐ 8
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có ba pháp rất đáng mến yêu mà người đời tham muốn.
Ba pháp gì? Trẻ khỏe là pháp đáng mến yêu mà người đời tham muốn. Không bệnh
là pháp đáng mến yêu mà người đời tham muốn. Tuổi thọ bệnh là pháp đáng mến
yêu mà người đời tham muốn. Tỳ-kheo, đó gọi là có ba pháp đáng mến yêu mà
người đời tham muốn.
“Lại nữa Tỳ-kheo, tuy có ba pháp đáng mến yêu mà người
đời tham đắm này, nhưng lại có ba pháp không đáng mền yêu mà người đời không
tham muốn. Ba pháp gì? Tỳ-kheo nên biết, tuy có trẻ khỏe, nhưng ắt sẽ già,
pháp không đáng mến yêu mà người đời không tham muốn. Tỳ-kheo nên biết, tuy
có không bệnh, song tất sẽ bệnh, pháp không đáng mến yêu mà người đời không
tham muốn. Tỳ-kheo nên biết, tuy có sống lâu, song tất sẽ chết, pháp không
đáng mến yêu mà người đời không tham muốn. Cho nên, này các Tỳ-kheo, tuy có
trẻ khỏe, nhưng phải tìm cầu cái không già, đến Niết-bàn giới. Tuy có không
bệnh, nhưng phải tìm cầu phương tiện để không có cái bệnh. Tuy có sống lâu,
nhưng hãy [608c01]
tìm cầu phương tiện để không bị chết.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều nầy như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ
phụng hành.
KINH SỐ 9
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Giống như mùa Xuân. Trời mưa đá lớn. Cũng lại như
vậy, nếu Như Lai không xuất hiện ở đời, chúng sanh sẽ rơi vào địa ngục. Bấy
giờ người nữ vào địa ngục nhiều hơn đối người nam. Vì sao vậy? Tỳ-kheo nên
biết, do ba sự nên các loài chúng sanh thân hoại mạng chung rơi vào ba đường
dữ. Những gì là ba? Đó là tham dục, ngủ nghỉ, điệu hý.
Bị ba sự nầy quấn chặt tâm ý, thân hoại mạng chung rơi vào ba đường ác.
“Người nữ cả ngày tập hành ba pháp mà tự vui thú*.
Ba pháp gì? Sáng sớm để cho tâm ganh tị quấn chặt mình. Buổi trưa lại để
cho ngủ nghỉ quấn chặt mình. Buổi chiều để cho tâm tham dục quấn chặt mình.
Do nhân duyên nầy khiến người nữ kia thân hoại mạng chung sanh vào ba đường
dữ. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy niệm tưởng tránh xa ba pháp nầy.”
Bấy giờ, đức Thế tôn liền nói kệ rằng:
Ganh tị, ngủ, điệu hý;
Tham dục là pháp ác
Lôi người vào địa ngục,
Cuối cùng không giải thoát.
Vì vậy phải lìa bỏ
Ganh tị, ngủ, điệu hý.
Và cũng xả bỏ dục,
Đừng tạo hành ác kia.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy niệm tránh xa sự ganh
tị, không có tâm keo kiệt, thường hành huệ thí, không ham ngủ nghỉ, thường
hành không nhiễm,
không đắm tham dục.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ
phụng hành.
KINH SỐ 10
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có ba pháp nầy, tập
hành chúng, thân cận chúng, không hề
biết chán đủ, lại cũng không thể đến
chỗ tĩnh chỉ. Những gì là ba? Đó là tham dục, nếu có
người nào tập pháp nầy, ban đầu không chán đủ. Hoặc lại có người tập uống
rượu, ban đầu không chán đủ. Hoặc lại có người tập ngủ nghỉ, ban đầu không
chán đủ. Này Tỳ-kheo, đó gọi là có người tập ba pháp nầy, ban đầu không chán
đủ, lại cũng không thể đến nơi diệt tận. Cho nên, Tỳ-kheo, thường phải lìa
bỏ ba pháp nầy, không gần gũi nó.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều nầy như
vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết
pháp, hoan hỷ phụng hành.
Kệ tóm tắt:
Cúng dường, ba thiện căn,
Ba thọ, ba khuất lộ,
Tướng, pháp, ba bất giác,
Mến yêu, xuân, không đủ.
|